Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.32 / 35
Chapter 32

Hạt sen mềm giữa lòng thành phố

Sương mai còn đọng trên những đài sen tươi xếp lớp bên góc sạp quen của dì Mến ở chợ Đông Ba, tỏa ra phong vị ngọt ngào và thanh khiết.

Buổi sớm mai, khu chợ cổ kính nằm nép mình bên bờ sông Hương chưa kịp bừng lên những thanh âm huyên náo của buổi chợ trưa. Không khí mát lạnh của những ngày chớm đông phả lên từng phiến đá xanh ẩm ướt rải dọc lối đi, quyện chặt vào mùi thơm nồng đượm của các loại hoa khô, quế hồi, vỏ bưởi khô và thảo mộc phơi nỏ được treo lủng lẳng trước các gian hàng gia vị. Gió sông mang theo hơi nước ngai ngái thổi qua vòm mái tôn cũ kỹ, làm rung rinh những chùm bồ kết đen óng ả. Dì Tôn Nữ Bích Mến ngồi ngay ngắn sau chiếc sạp gỗ lim đã bóng nhẵn nước thời gian, đôi bàn tay thon dài dẫu đã chớm đồi mồi nhưng vẫn thoăn thoắt, nhịp nhàng gập từng tàu lá sen già xanh thẫm, dai và thơm ngát, chuẩn bị sẵn để gói hạt cho khách sành ăn.

Nhác thấy bóng dáng My bước vào với chiếc làn mây đan mộc mạc bên hông, gương mặt vốn giữ vẻ nghiêm cẩn, kín đáo đặc trưng của phụ nữ dòng dõi phủ đệ bỗng chốc giãn ra trong một nụ cười hiền hậu hiếm thấy. Đôi mắt dì ánh lên sự ấm áp, như người mẹ dõi theo từng bước trưởng thành của đứa con gái sau chuỗi ngày nhọc nhằn bươn chải.

“Đến lấy sen hồ Tịnh Tâm hả con?” Dì Mến cất giọng hỏi, âm vực trầm ấm, ngọt ngào mà kín đáo của người xứ kinh kỳ. “Dì dặn người nhà bên mạn hồ Tịnh hái từ canh năm, lúc sương còn chưa tan hết trên mặt lá. Sen ni là lứa cuối mùa, vét những đài sen cuối cùng trước khi trời chuyển gió bấc lạnh căm căm. Nhưng đất lòng hồ cổ vẫn giữ được cái khí chất riêng của nó, không nơi mô bì đặng. Hạt nào hạt nấy đanh chắc mà mẩy tròn, vỏ ngoài phớt hồng nhạt tự nhiên, không như sen bãi lai tạp bón phân thúc lớn ngoài các chợ đầu mối mô.”

Nói đoạn, dì Mến cẩn trọng dỡ lớp lá sen tươi bọc ngoài chiếc thúng mủng lót vải xô trắng. Bên dưới lớp lá còn ươn ướt hơi sương là những hạt sen tươi trắng ngà, từng hạt đều đặn, mây mẩy như những hạt ngọc trai thô chưa qua mài giũa, tỏa ra làn hơi dịu ngọt, tinh khôi. My khẽ nghiêng người, nâng một vốc hạt sen mát rượi đưa lên gần chóp mũi. Một mùi hương tinh sạch, bùi ngậy và phảng phất chút thơm thoang thoảng của bùn non cổ kính, của nước hồ lắng đọng ngàn năm lập tức tràn ngập lồng ngực. Đó tuyệt nhiên không phải là thứ mùi thơm nồng gắt do tẩm ướp hóa chất bảo quản, mà là sự chắt chiu thuần khiết nhất của đất trời xứ Huế qua bao mùa mưa nắng gắt gao.

“Dì lựa từng hạt một cho con rồi tề,” dì Mến khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay My, cái chạm nhẹ đầy chở che và nâng đỡ. “Sen ni mà đem nấu chè thì ngọt thấu tâm can, bở tơi như bột sắn mịn mà không khi mô sợ vỡ nát. Nhớ lời dì dặn nghe My, chè sen hồ Tịnh Tâm kỵ nhất là thói nôn nóng của người đời. Lửa mà hỗn hào thì hạt sen sượng trơ ra như đá cuội, mà đường phèn cho vào sớm quá thì hạt co rúm lại, chai cứng vĩnh viễn, có ninh đến cạn nồi cũng nỏ mềm đặng.”

“Dạ, con nhớ kỹ từng lời dì dạy rồi,” My mỉm cười, ánh mắt chan chứa niềm xúc động, hai tay trân trọng đón lấy gói sen được bọc cẩn thận trong hai lớp lá tươi dày dặn, bên ngoài buộc thắt nút bằng sợi lạt giang mềm mại. “Món thứ mười hai, món cuối cùng trong cuốn sổ di nguyện của nội, con nhất định sẽ nấu bằng tất cả sự cẩn trọng và tĩnh lặng của lòng mình.”

Dì Mến nhìn sâu vào đôi mắt My, đôi mắt người phụ nữ từng trải như nhìn thấu qua những biến chuyển âm thầm bên trong tâm hồn cô gái trẻ: “Cứ thong thả mà làm con nề. Gian bếp của mệ Lành đã chờ đợi ngày ni lâu lắm rồi. Mệ ở bên kia mây trắng chắc chắn cũng đang dõi nhìn từng nhịp tay của con.”

Rời khỏi chợ Đông Ba, My đạp chiếc xe đạp cọc cạch chầm chậm quay về căn nhà rường cổ ở sâu trong kiệt An Cựu. Đường phố Huế buổi sáng chớm đông hiện ra trong một màn sương lãng đãng mơ hồ. Dòng sông Hương phẳng lặng như một tấm gương lớn màu ngọc bích, đôi bờ rợp bóng những hàng long não và phượng vĩ già đang trút những chiếc lá vàng cuối cùng. Gió chớm đông thổi qua làn tóc mai, mang theo cái lạnh se sắt nhưng lại khiến tâm trí My tỉnh táo và sáng rõ hơn bao giờ hết.

Bánh xe lăn đều qua những con ngõ lát gạch đỏ uốn lượn, đưa cô trở về chiếc cổng gỗ mộc phủ đầy dây leo xanh biếc. Mái ngói Phước Tích màu gan gà của ngôi nhà rường cổ mới được bác thợ Tuấn và những người thợ nề lành nghề đảo lại sau cơn bão dữ, nay ánh lên sắc đỏ sẫm trầm mặc, vững chãi dưới vòm trời xám nhạt.

Bước qua khoảng sân gạch rêu phong rợp bóng giàn hoa thiên lý đang tỏa hương thơm ngát và cây khế ngọt Hương Long mà cô cùng Thiện đã dày công vun gốc, một cảm giác bình yên, ấm cúng đến lạ lùng lập tức bao bọc lấy tâm trí My. Nơi này, từng tấc đất, từng viên gạch, từng vách gỗ lim đều in hằn những vết dấu nhọc nhằn nhưng ngập tràn yêu thương mà suốt ba tháng qua cô đã dùng cả mồ hôi và nước mắt để phục dựng lại từ đống hoang tàn sau tang lễ của bà nội.

My cẩn thận đặt chiếc làn tre xuống tấm phản gỗ mít dưới hiên nhà, kéo chiếc đòn thấp quen thuộc ngồi xuống. Gió sớm khẽ lướt qua hàng chè tàu tỉa ngay ngắn, lay động những giọt sương mai còn sót lại rớt khẽ khàng xuống thềm đá hoa cương.

My mở lớp lá sen bọc ngoài, hít vào một hơi thật sâu mùi lá non thanh mát. Trước mắt cô, những hạt sen hồ Tịnh Tâm tròn đều, căng bóng nằm ngoan ngoãn trong lòng lá. Công việc đầu tiên đòi hỏi sự tỉ mỉ là dùng móng tay bóc tách thật sạch lớp màng lụa mỏng màu hồng phấn còn sót lại bám chặt trên thân hạt sen. Lớp màng này mỏng manh như cánh ve sầu, nếu sơ ý để sót lại, khi nấu nước chè sẽ bị xỉn màu và có vị chát nhẹ. My cẩn thận lột từng chút một, để lộ ra phần thịt sen trắng ngà, mịn màng và không một tì vết.

Tiếp theo là công đoạn đòi hỏi sự nhẫn nại và tĩnh tâm tột cùng: thông tâm sen.

Cầm que tăm tre vót nhọn một đầu, My ngồi ngay ngắn, thẳng lưng, hít thở nhịp nhàng. Cô cẩn thận đặt đầu nhọn của que tăm vào đúng phần rốn tròn ở cuống hạt sen—nơi mầm sống bắt đầu hình thành. Bằng một lực ngón tay vừa phải, chuẩn xác, không quá mạnh cũng không quá nhẹ, My từ từ đẩy que tre dọc theo trục giữa của hạt.

Một tiếng *tách* cực khẽ vang lên trong thinh lặng của buổi sáng sớm, êm dịu như tiếng giọt sương rơi trên lá sen. Từ đầu đối diện của hạt sen, mầm tâm sen xanh ngắt, mỏng manh như một sợi chỉ ngọc từ từ trồi ra, trọn vẹn, nguyên vẹn không hề đứt đoạn.

Hạt sen sau khi thông tâm vẫn giữ nguyên vẹn hình khối tròn trịa, không bị toét miệng, không xuất hiện một vết nứt hay trầy xước nào trên bề mặt nhẵn bóng. My nhặt mầm sen xanh đặt sang một chiếc mẹt nhỏ rải vải xô để phơi trong bóng râm làm trà an thần, rồi nhẹ nhàng thả hạt sen trắng muốt vào âu nước mưa trong vắt đặt cạnh chân. Tiếng hạt sen chạm vào đáy âu sành vang lên giòn giã, trong trẻo như tiếng chuông khánh.

Từng hạt sen, từng hạt sen lần lượt đi qua đôi bàn tay cô. Mỗi nhịp đẩy tăm tre là một nhịp thở chậm rãi, sâu lắng. Tâm sen xanh ngắt kia chính là nơi kết tinh tất cả vị đắng gắt nồng nàn của trời đất; nếu người nấu sơ suất, lơ đễnh để sót lại dù chỉ một nhánh mầm nhỏ bằng đầu kim, toàn bộ nồi chè sen thanh nhã sẽ lập tức bị ám vị nhặng đắng khó chịu, phá hỏng toàn bộ sự cân bằng tinh tế của món ăn. Nhưng nếu người nấu vụng về, nôn nóng dùng sức thô bạo làm toét hạt sen, tinh bột bên trong sẽ rã ra khi gặp nước sôi, biến nồi chè trong vắt thành một âu nước đục ngầu, hạt sen sứt sẹo mất hết vẻ tôn nghiêm của thức quà chốn cung đình.

Ngồi dưới mái hiên thân thương, nhìn bóng nắng mai bắt đầu rải những vệt vàng óng ả qua kẽ lá khế xuống đôi bàn tay mình, My chợt nhận ra bản thân của hiện tại đã khác xa người con gái của ba tháng trước biết nhường nào.

Ba tháng trước, Kiều My là một quản lý tiếp thị sắc sảo, tự phụ ở một tập đoàn đa quốc gia tại Sài Gòn phồn hoa. Cô từng quen sống trong những tòa nhà kính chọc trời máy lạnh phả buốt giá, quen nhìn đồng hồ đếm từng giây, quen điều khiển công việc và con người bằng những bảng tính Excel vô hồn, những biểu đồ tiến độ căng thẳng đỏ lòm và những chiến dịch tiếp thị tốc lực triệu đô. Cô từng là kẻ tôn sùng chủ nghĩa hiệu quả tối đa, luôn gắt gỏng và phát điên khi mọi việc không diễn ra ngay lập tức, xem sự chậm rãi là kẻ thù của thành công. Thậm chí, khi trở về Huế chịu tang bà nội, cô vẫn mang theo chiếc máy tính bảng và thói quen cắm mặt vào những cuộc họp trực tuyến vô tận, xem gian bếp cổ kính phủ đầy bồ hóng của nội như một di tích lạc hậu cần sớm thanh lý để quay lại cuộc đua kim tiền.

Thế nhưng giờ đây, người con gái ấy lại có thể ngồi yên hàng giờ đồng hồ trên chiếc đòn gỗ mục, nghe tiếng chim sẻ hót ríu rít ngoài hàng rào dâm bụt, cẩn trọng nâng niu từng hạt sen nhỏ bé và cảm nhận trọn vẹn niềm hạnh phúc giản dị khi đẩy được một chiếc tâm sen xanh ra khỏi thân hạt mà không làm xước một mảnh vỏ. Sự nôn nóng, bồn chồn, những cơn hoảng loạn vô cớ từng gặm nhấm tâm can cô dường như đã lặng lẽ tan biến tự bao giờ, theo cùng những mẻ khói bếp cay xè mắt, những mẻ tro than đượm lửa của mười một món ăn gian truân vừa qua.

“Cứ nhẫn nại như rứa thì sen mới không phụ lòng người, em nề,” một giọng nói quen thuộc, trầm ấm vang lên bên hàng rào dâm bụt trổ hoa đỏ thắm.

My ngẩng đầu lên, bắt gặp nụ cười hiền hậu của Thiện. Anh mặc chiếc áo len dệt mỏng màu xám tro, mái tóc hơi rối vì gió sớm, trên tay xách một chiếc rổ tre lớn đựng đầy những thanh củi nhãn khô khén đã được chẻ đều đặn tăm tắp, vỏ cây sần sùi mang màu nâu xám bạc phếch vì sương nắng.

“Anh Thiện,” My mỉm cười, đôi mắt sáng bừng lên, tay vẫn không ngừng nhịp đẩy tăm tre đều đặn. “Sen hồ Tịnh sáng nay dì Mến chọn cho em đẹp lắm anh. Hạt đanh chắc, mẩy đều tăm tắp, hạt mô hạt nấy thơm ngát mùi bùn cổ.”

Thiện đẩy nhẹ cánh cổng gỗ bước vào sân, sải những bước chân dài, vững chãi đi lại gần hiên nhà rồi đặt rổ củi nhãn xuống cạnh bệ bếp: “Anh biết bữa ni em nấu món chè sen cuối cùng, nên từ sớm đã sang mé đồi thông phía sau chùa Thiên Mụ, tìm cho đặng mớ củi nhãn ni. Củi nhãn ni anh chặt từ nhánh cây cổ thụ gãy sau bão hồi năm ngoái, đem gác trên giàn bếp suốt cả mùa hè, khô kiệt từ trong thớ gỗ rồi. Lát nữa em nhóm lửa luộc sen và rim đường thì tuyệt nhất trần đời. Củi nhãn cháy không bốc ngọn hỗn hào, than đượm lâu, tàn tro mịn trắng như phấn, lại thoang thoảng mùi mật thơm tự nhiên. Nấu chè sen cung đình kỵ nhất là củi tạp nhiều tinh dầu cay nồng hay than đá hôi hám, chỉ cần một làn khói hôi ám vào là hỏng cả âu chè.”

“Cảm ơn anh Thiện nhiều lắm,” My nhìn những thanh củi nhãn được chẻ vuông vức, xếp ngay ngắn trong rổ tre, lòng dâng lên một niềm cảm kích sâu sắc và kín đáo.

Suốt chặng đường mười một món ăn đầy thử thách vừa qua—từ bát bún bò cay nồng gắt gao của ngày đầu tiên, đĩa bánh bèo mỏng manh như sương sớm, cho đến mẻ mứt gừng cay xè rát bỏng bàn tay—Thiện luôn hiện diện bên cạnh cô như một điểm tựa vững chãi và thầm lặng. Anh không bao giờ can thiệp thô bạo vào quá trình tự trải nghiệm của cô, không làm thay cô bất cứ công đoạn nào để cô ỷ lại, nhưng luôn lặng lẽ chuẩn bị một thanh củi khô đúng loại, một ấm nước giếng trong vắt, gánh giúp cô gánh nước mưa, hay chỉ đơn giản là cất lên một lời nhắc nhở nhẹ nhàng, đúng lúc để giữ cho cô không ngã quỵ trước những thất bại ê chề. Sự đồng hành nhẫn nại và tinh tế ấy của Thiện quý giá hơn ngàn lời an ủi sáo rỗng.

Khi hạt sen cuối cùng rơi vào âu nước trong veo với một tiếng *tì bõm* thanh nhẹ, My đứng dậy vươn vai, khẽ xoay bờ vai đã hơi mỏi sau hàng giờ ngồi yên. Trút bỏ chiếc que tăm tre sang chiếc đĩa gốm, cô hai tay bưng chiếc âu sành đựng đầy những hạt sen trắng muốt, tinh sạch bước vào gian bếp chái sau nhà rường.

Gian bếp nhỏ giờ đây đã hoàn toàn khô ráo, thơm tho sau trận bão dữ tàn phá hồi đầu tháng. Những hàng rui mè bằng gỗ kiền kiền ngâm dầu rái thơm mùi gỗ mới nâng đỡ mái ngói âm dương vững chãi bên trên. Chiếc bếp lò nung bằng đất sét sông Hương đã được quét dọn sạch sẽ tro tàn từ sáng sớm.

My xếp vài cọng rơm khô vàng óng vào đáy lò, đặt những thanh củi nhãn nhỏ chẻ mỏng lên trên theo hình tháp rồi châm lửa bằng một que diêm nhỏ. Ngọn lửa màu cam đỏ bập bùng bén nhanh qua lớp bổi khô giòn, tỏa ra ánh sáng ấm áp soi rọi từng góc chạn bát bằng gỗ mít thân quen của bà nội. Khi lửa đã bắt chắc vào thân củi nhãn, cô nhẹ nhàng dùng thanh sắt điều chỉnh cửa gió dưới đáy lò, ghìm cho ngọn lửa cháy liu riu, êm ả như một dải lụa mềm uốn lượn quanh đáy chiếc nồi đồng dày dặn.

My múc nước mưa đầu mùa đã lắng trong chiếc lu sành cổ đặt ở góc sân—thứ nước mưa thanh khiết được hứng qua những máng tre sạch sẽ, ngọt lịm và không vướng chút phèn chua—đổ vào nồi đồng. Sau đó, cô nhẹ nhàng trút phần hạt sen đã ráo nước vào. Làn nước mát lạnh từ từ ấm lên dưới sức nóng dịu dàng của củi nhãn.

Chẳng mấy chốc, những bọt khí li ti bắt đầu xuất hiện dưới đáy nồi, rồi từ từ dâng lên. Hơi nước bốc lên nghi ngút, mang theo hương thơm ngát dịu dàng, thanh khiết của sen tươi hồ Tịnh Tâm. Mùi hương ấy quyện chặt vào mùi khói củi nhãn thanh tao, bảng lảng lan tỏa khắp gian bếp nhỏ, rồi chậm rãi len lỏi qua từng kẽ lá, từng thớ gỗ lim của ngôi nhà rường cổ kính.

Đứng bên ánh lửa bập bùng, ngắm nhìn những hạt sen trắng ngà đang khẽ chuyển mình nhè nhẹ trong làn nước sôi tăm tắp, My bỗng thấy tim mình thắt lại trong một cơn rung động sâu xa đến nghẹt thở. Mùi sen tươi quyện khói lửa mộc mạc ấy tựa như một chiếc chìa khóa vạn năng bằng đồng cũ kỹ, khẽ khàng xoay mở cánh cửa ký ức phủ đầy bụi thời gian mà cô ngỡ mình đã đánh mất vĩnh viễn suốt hơn hai mươi năm sống vội vã, xa cách ở phương Nam.

Đó là một buổi chiều mưa dầm cố đô mịt mùng khi cô mới vừa tròn sáu tuổi.

Mưa xứ Huế ngày ấy rả rích, dầm dề suốt từ ngày này qua tháng khác, nước mưa táp vào những phiến ngói rêu phong cổ kính tạo nên những thanh âm buồn bã muôn thuở. Nước từ máng xối róc rách chảy thành dòng trắng xóa xuống chiếc lu sành trước cửa bếp. Căn bếp nhỏ chiều đông tối om om, lạnh buốt thấu xương, chỉ có vầng sáng bập bùng phát ra từ miệng lò củi ấm sực là nơi trú ngụ duy nhất của sự sống.

Cô bé Kiều My thuở ấy mặc chiếc áo hoa nhí rộng thùng thình của mẹ để lại, ngồi co ro trên chiếc đòn gỗ nhỏ, hai bàn tay lạnh cóng đan chặt vào nhau, run rẩy vì sợ những tiếng sấm rền vang ngoài trời xa xôi.

Bà nội—bà Lành—trong chiếc áo bà ba màu nâu sồng giản dị, mái tóc hoa râm búi lọn tròn thanh nhã sau gáy cài chiếc trâm bạc đã mòn vẹt, đang đứng lặng lẽ bên bếp lửa. Bà không quay lại, nhưng dường như người bà xứ Huế ấy có một linh tính kỳ diệu, cảm nhận được trọn vẹn nỗi sợ hãi và cái lạnh đang bủa vây đứa cháu gái bé nhỏ của mình. Bà khẽ quay sang, đôi mắt hiền từ như vầng trăng rằm, đưa bàn tay ấm áp, thô ráp và đượm mùi gừng sả thoang thoảng xoa nhẹ lên mái đầu bù xù của cô bé.

*“My à, lại đây với nội con.”*

Giọng bà trầm ấm, ngọt ngào như giọt mật mía rỉ ra từ kẽ nứa. Bà kéo cô bé lại gần mép lò, để hơi ấm nồng nàn của củi lửa xua đi cái rét mướt cắt da của buổi chiều đông xứ Huế. Rồi bà nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay nhỏ bé, non nớt, lạnh buốt của cô, bao bọc nó trọn vẹn trong lòng bàn tay gầy guộc đầy những vết chai sần của mình. Cùng nhau, hai bà cháu nắm chặt chiếc muôi gỗ mun nhẵn thín, khuấy nhẹ từng vòng tròn êm ả trong nồi chè đường phèn đang sôi liu riu trên bếp đất.

*“Con nhìn tề,”* tiếng bà Lành thủ thỉ bên tai cô bé, hòa cùng tiếng mưa rơi lộp độp trên mái ngói xưa. *“Nấu chè sen hồ Tịnh, cái tay mình khuấy phải thật êm, thật nhẹ. Không được quấy đảo mạnh bạo làm sen giật mình mà vỡ nát tan tành. Hạt sen cũng giống như lòng người rứa đó con, muốn ngậm được vị ngọt thanh khiết của đường phèn thì tự thân nó phải chín mềm, chín bở từ tận bên trong trước đã. Lửa phải thật êm, tâm người nấu phải thật tịnh, thì bát chè mới tỏa hương thanh lành đặng. Người nôn nóng, tâm còn vướng bận sân si, đố kỵ thì nấu ra bát chè chỉ có vị ngọt khé, hạt sen sượng trơ, nỏ ai nuốt trôi…”*

Bàn tay bà Lành ngày ấy ấm lắm. Hơi ấm từ lòng bàn tay bà truyền qua những ngón tay non nớt của cô, chảy thẳng vào trái tim thơ dại. Chiều hôm ấy, hai bà cháu đã cùng ngồi bên hiên nhà rường, chia nhau từng muỗng chè sen ngọt mát, bùi ngậy giữa màn mưa giăng trắng xóa dòng sông An Cựu.

Ký ức ấu thơ ngọt ngào ấy tưởng chừng đã bị vùi lấp vĩnh viễn dưới hàng ngàn trang tài liệu tiếp thị, những cuộc gọi đối tác thâu đêm, những buổi tiệc tùng xa hoa nhưng rỗng tuếch ở trung tâm Sài Gòn và những tham vọng thăng tiến ngút ngàn. Nhưng hóa ra, nó chưa từng mất đi. Ký ức ấy vẫn nằm yên nơi đó, sâu thẳm trong một góc khuất tinh khôi nhất của tâm hồn cô, chỉ đợi làn khói thơm của sen tươi và củi nhãn đánh thức để ùa về, vẹn nguyên, mãnh liệt và thổn thức đến nghẹn ngào.

My đưa mu bàn tay quệt ngang giọt nước mắt nóng hổi vừa lăn dài trên gò má. Cô nhìn xuống đôi bàn tay mình—đôi bàn tay từng chỉ biết gõ phím máy tính bóng bẩy, nay đã có những vết chai nhẹ ở ngón cái vì cầm dao bài gọt gừng, cắt củ cải, đôi bàn tay đã quen với tro than, củi lửa và mùi mắm ruốc nồng nàn. Bàn tay của nội không còn bằng xương bằng thịt để cầm tay cô nữa, nhưng những lời chỉ dạy ngày thơ ấu, linh hồn và tâm tính của nội đã hòa vào từng mạch máu, từng chuyển động của cô hôm nay.

Thiện đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ chái bếp, lặng lẽ dõi nhìn My. Nhìn thấy giọt nước mắt lặng thầm và ánh mắt chan chứa hoài niệm của cô, anh không bước tới làm phiền khoảnh khắc thiêng liêng ấy. Anh hiểu rằng có những nỗi đau chỉ có thể được chữa lành bằng ký ức, và có những hành trình trưởng thành chỉ thực sự hoàn tất khi con người ta biết rơi nước mắt vì những điều giản dị nhất. Anh chỉ khẽ nghiêng người, cời thêm một thanh củi nhãn nhỏ vào miệng lò, giữ cho ngọn lửa tiếp tục đượm nhiệt êm ru, không một tiếng nổ lách tách.

Hạt sen trong nồi nước mưa bắt đầu chuyển động nhè nhẹ.

Rút kinh nghiệm sâu sắc từ những lần thất bại ê chề ở các món ăn trước—khi từng làm khét lẹt mẻ nước dùng bún bò vì đùn củi quá lớn, làm cháy đen mẻ đường sên mứt gừng vì nôn nóng thúc than, hay làm nát vụn từng khúc cá bống thệ vì dùng đũa đảo thô bạo—My hoàn toàn làm chủ từng thao tác, từng hơi thở của mình. Cô không còn cần đến chiếc đồng hồ bấm giây trên điện thoại thông minh hay chiếc nhiệt kế điện tử đo độ ẩm mà cô từng mang theo từ thành phố. Giờ đây, cô quan sát độ chín bằng mắt, lắng nghe tiếng sôi bằng tai và cảm nhận linh hồn của nguyên liệu bằng trực giác thuần thục của một người đầu bếp thực thụ.

Nấu chè hạt sen xứ Huế có một quy tắc vàng bất di bất dịch mà bất cứ người nội trợ sành sỏi nào cũng phải khắc cốt ghi tâm: luộc sen chín tới rồi mới rim đường phèn. Tuyệt đối không bao giờ được nấu chung sen sống với đường ngay từ đầu. Bởi lẽ, nếu cho đường vào quá sớm khi hạt sen còn sống sượng, nồng độ đường đậm đặc sẽ hút cạn nước bên trong, làm các tế bào tinh bột co thắt lại, hạt sen sẽ bị chai cứng vĩnh viễn, dẫu có ninh hầm thâu đêm suốt sáng cũng trơ như sỏi đá. Ngược lại, nếu luộc sen quá nhừ, để hạt sen nứt toác rồi mới thả đường vào, tinh bột sẽ tan rã ra hòa lẫn vào nước, biến bát chè sen cung đình thanh nhã thành một nồi cháo đục ngầu, hạt sen bấy nát thảm hại.

My dùng chiếc muôi gỗ mun vớt thử một hạt sen lên, đặt nhẹ nhàng vào lòng chiếc đĩa sứ trắng men lam. Chờ vài giây cho hạt sen nguội bớt, cô dùng đầu ngón tay trỏ khẽ ấn nhẹ xuống. Hạt sen lập tức vỡ tan ra thành từng mảng bột mịn màng, mềm thấu tận tâm can nhưng màng ngoài trước khi ấn vẫn giữ nguyên vẹn hình hài tròn trịa, không hề có một vết nứt hay sứt mẻ nào.

“Đến độ rồi,” My thầm nhủ trong lòng, một niềm vui sướng khẽ dâng lên nơi đáy mắt.

Cô nhanh tay nhấc chiếc nồi đồng ra khỏi bếp lò, dùng chiếc muôi thủng bằng tre nhẹ nhàng vớt từng hạt sen chín tới ra một chiếc âu sành lớn, để lại phần nước luộc sen trong vắt, thơm ngát bên cạnh để dùng sau.

Ở chiếc nồi đồng thứ hai đã được chuẩn bị sẵn trên bệ bếp bên cạnh, My cho vào những tảng đường phèn Quảng Ngãi màu vàng rơm óng ả cùng một lượng nước mưa vừa vặn. Đường phèn nấu chè sen phải là loại đường kết tinh tự nhiên trên những sợi chỉ tơ, hạt đường trong suốt như hổ phách, mang vị ngọt thanh tao, dịu mát chứ không ngọt sắc gắt cổ như đường cát trắng tinh luyện.

Cô nhóm lửa than hoa đượm nhiệt, đun cho những tảng đường phèn tan chảy hoàn toàn vào làn nước mưa. Khi nước đường bắt đầu sôi sủi những bọt bèo tăm tắp, My cẩn thận dùng chiếc muôi nhỏ vớt sạch từng lớp bọt mỏng nổi lên trên bề mặt, giữ cho làn nước đường đạt đến độ trong suốt tuyệt đối. Sau đó, cô gạt bớt than đỏ ra ngoài, chỉ để lại một lớp than hồng ủ kín dưới lớp tro bếp mịn màng, hạ nhiệt độ xuống mức thấp nhất.

Lúc này, My mới nhẹ nhàng trút toàn bộ phần hạt sen đã luộc chín tới vào nồi nước đường phèn ấm nóng.

Đây chính là khâu tinh vi và quyết định nhất của món chè hạt sen Tịnh Tâm: rim sen (hay còn gọi là sên sen). Lửa dưới đáy nồi chỉ được phép giữ ở mức liu riu, nước đường chỉ khẽ lăn tăn như hơi thở nhẹ của mặt hồ buổi sớm. Từng hạt sen trắng ngà chìm trong làn nước đường trong suốt, từ từ ngậm lấy chất ngọt thanh tao vào sâu trong từng thớ tinh bột mịn màng.

My đứng yên bất động bên bếp lửa, hai mắt dõi theo từng chuyển động nhỏ nhất trong nồi. Thỉnh thoảng, cô dùng hai tay lót khăn vải, cầm lấy hai quai nồi đồng khẽ lắc nhẹ theo vòng tròn đồng tâm để những hạt sen bên dưới đảo đều lên trên, tuyệt đối không dùng đũa hay muôi khuấy đảo thô bạo làm sứt mẻ hạt sen.

Mùi thơm ngào ngạt của sen tươi quyện chặt với vị ngọt thanh, êm dịu của đường phèn lan tỏa ấm sực khắp gian bếp. Sau khoảng hai mươi phút rim trên than ủ, từng hạt sen đã ngậm no đường, chuyển dần sang màu vàng ngà óng ả, bề mặt căng bóng như những viên ngọc thạch được phủ một lớp sáp mịn.

Lúc này, My mới nhẹ nhàng châm thêm phần nước luộc sen trong vắt ban đầu vào nồi chè, đun thêm vài phút với ngọn lửa êm đềm cho nước chè và nước sen hòa quyện đồng nhất làm một, rồi dứt khoát nhấc hẳn nồi đồng ra khỏi bếp than, đặt lên chiếc đế rơm bện dưới sàn bếp.

Nồi chè sen hoàn thành hiện ra đẹp như một bức tranh thủy mặc. Nước chè trong vắt như nước suối đầu nguồn, sánh nhẹ và ngả một màu hổ phách tuyệt đẹp dưới ánh sáng ban mai. Từng hạt sen nằm im lìm dưới đáy nồi, tròn đều tăm tắp, căng mẩy và bóng bẩy, không một hạt nào bị vỡ nát hay bung mép.

My dùng chiếc muôi sứ múc thử một lượng nhỏ nước chè kèm theo một hạt sen đưa lên miệng nếm thử.

Vị ngọt đầu tiên chạm vào đầu lưỡi là sự thanh mát, dịu dàng vô cùng của đường phèn Quảng Ngãi—thứ ngọt êm ru, sâu lắng, hoàn toàn không có một chút cảm giác khé cổ hay ngọt gắt của đường hóa học. Khi răng khẽ chạm vào, hạt sen lập tức bở tơi ra, mịn màng tan biến trên đầu lưỡi tựa như một làn mây bột, để lại hậu vị bùi béo, thơm ngậy sâu lắng và một làn hương thơm ngát tựa hoa sen sớm đọng lại rất lâu nơi cuống họng. Hoàn toàn không còn một chút vị đắng nào của tâm sen, chỉ có sự tinh khiết trọn vẹn của đất trời cố đô ngưng tụ lại trong một hạt ngọc nhỏ nhoi.

“Hoàn hảo rồi My ơi,” Thiện bước lại gần, cúi xuống nếm thử một muỗng từ chiếc chén nhỏ My vừa đưa, ánh mắt anh ánh lên vẻ thán phục và xúc động chân thành. “Mười một món ăn trước đã rèn giũa cho em đôi bàn tay khéo léo và chuẩn xác của một người làm bếp, nhưng bát chè sen ni… em đã nấu bằng cả sự tĩnh lặng tuyệt đối của tâm hồn mình. Hương vị ni đích thực là hương vị chè sen của mệ Lành ngày xưa. Mệ ở trên cao chắc chắn đang mỉm cười mãn nguyện nhìn con cháu.”

My mỉm cười, đôi mắt lấp lánh niềm hạnh phúc bình dị mà suốt những năm tháng thành đạt nơi phố thị phồn hoa cô chưa từng một lần cảm nhận được.

Cô đi lại chiếc chạn bát gỗ mít, cẩn thận lấy chiếc âu sứ hoa lam cổ của bà nội—chiếc âu men lam vẽ họa tiết hoa sen thanh thoát, viền chỉ vàng đã mòn vẹt theo năm tháng mà bà Lành chỉ dùng vào những dịp lễ lạt trang trọng nhất trong năm. My dùng một chiếc khăn vải màn trắng tinh, mềm mại lau thật khô từng góc cạnh của âu sứ.

Bằng tất cả sự nâng niu, cung kính và trân trọng, My múc từng muỗng chè sen sánh vàng vào âu sứ hoa lam, nhẹ nhàng đậy chiếc nắp men lam vừa khít lại. Làn hương sen ngào ngạt bị giữ lại bên trong chiếc âu, chỉ chực chờ hé mở để tỏa ngát.

Sau đó, cô bước vào gian nhà rường trang nghiêm. Trên chiếc bàn gỗ gụ đặt trước bàn thờ gia tiên nghi ngút khói trầm, cuốn sổ di nguyện bọc tấm vải nhung màu xanh thiên thanh nằm phẳng phiu. My kính cẩn lật giở từng trang giấy đã ố vàng theo thời gian. Mười một dấu tích mực đỏ son đánh dấu mười một món ăn ân tình đã hoàn thành qua bao thăng trầm, thử thách.

Bây giờ, ngón tay My dừng lại ở trang thứ mười hai—trang giấy cuối cùng của cuốn sổ, nơi lưu giữ những dòng chữ viết tay run rẩy, nghiêng nghiêng nhưng đầy cương nghị của bà Lành trước lúc lâm chung:

*“Món thứ mười hai: Chè hạt sen hồ Tịnh Tâm cho sư cô Tuệ An ở bếp chùa.* *Nấu hạt sen phải biết nhẫn, giữ lửa thật êm cho hạt sen chín bở mà không nát, ngậm đường vừa vặn thanh tao… Lòng người có tĩnh thì bát chè mới ngát hương đặng.”*

My đặt chiếc âu sứ hoa lam đựng đầy ắp chè sen vào chiếc giỏ mây tre đan lót sẵn lớp khăn lụa trắng muốt, rồi nhẹ nhàng khép cuốn sổ di nguyện lại. Chặng đường ba tháng ròng rã thực hiện di nguyện của bà nội sắp sửa đi đến đích cuối cùng.

***

Thiện dắt chiếc xe đạp phượng hoàng màu xanh rêu cổ điển ra trước cổng, cẩn thận buộc chiếc giỏ mây đựng âu chè vào giá đèo hàng phía sau. Anh chèn thêm những lớp vải bông dày xung quanh để đảm bảo âu sứ quý giá không bị xóc nảy hay nghiêng đổ dù chỉ một giọt nước trên suốt đoạn đường đi.

“Đi thôi em,” Thiện quay lại nhìn My, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng và tin cậy.

Hai người đạp xe song song bên nhau, thong thả lăn bánh qua những con ngõ nhỏ quanh co của kiệt An Cựu. Buổi trưa mùa đông xứ Huế trời tạnh ráo lạ thường, những tia nắng vàng nhạt xuyên qua kẽ lá của những cây bồ đề cổ thụ, rải những đốm sáng lung linh nhảy múa trên mặt đường nhựa êm ả.

Đi qua sạp xôi đầu kiệt, bà Năm Sương đang dọn dẹp mẹt xôi bắp ngẩng đầu lên, vẫy vẫy chiếc nón lá cười giòn giã: “Đi dâng chè sen bếp chùa hả con My? Nấu cho khéo nghe con gái, làm rạng danh mệ Lành nghe!”; đi qua tiệm may Phúc nép mình dưới gốc cây ngô đồng, bác thợ may già ngẩng đầu khỏi chiếc máy may đạp chân Singer cổ lỗ sĩ, hạ cặp kính lão xuống sống mũi, khẽ mỉm cười gật đầu chào My qua khung cửa kính sáng loáng.

Những con người nơi kiệt nhỏ này, ba tháng trước từng nhìn My bằng ánh mắt xa lạ, nghi ngại, xem cô như một kẻ tha hương mất gốc đem thói kiêu căng phố thị về quấy rầy sự tĩnh lặng của xóm nghèo, thì giờ đây, qua từng món ăn, từng bát canh sẻ chia, từng nghĩa cử chân thành, họ đã trở thành một phần ruột thịt, máu thịt trong cuộc sống mới của cô tại mảnh đất cố đô này.

Họ rẽ qua đường Lê Lợi, đạp xe dọc theo con đường rợp bóng những hàng cây cổ thụ trăm tuổi chạy dài ven bờ sông Hương. Mặt nước sông Hương lững lờ trôi, phẳng lặng và xanh biếc, phản chiếu bầu trời xanh trong vắt không một gợn mây sau những ngày mưa bão dập dồn. Không gian thanh tịnh đến mức chỉ nghe thấy tiếng xích xe đạp lách cách đều đặn, tiếng lá khô xào xạc dưới bánh xe và tiếng chuông xe đạp vang lên từng nhịp trong trẻo, an yên.

My hít một hơi thật sâu lồng ngực không khí trong lành, mát rượi mang theo hơi nước sông Hương. Cô cảm thấy tâm hồn mình nhẹ bẫng tựa như một chiếc lá sen khô trôi trên mặt nước. Bao nhiêu gánh nặng, mặc cảm tội lỗi vì đã không kịp ở bên cạnh bà nội những ngày cuối đời, bao nhiêu áp lực cạnh tranh khốc liệt từng bóp nghẹt trái tim cô nơi đô thị phồn hoa dường như đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho một sự thanh thản, an nhiên vô biên chưa từng có.

Qua khỏi cây cầu sắt cổ kính, họ rẽ vào một con đường đất nhỏ rợp bóng những rặng tre ngà óng ả ven sông, dẫn thẳng đến một ngôi chùa cổ nép mình trầm mặc dưới bóng những cây đa, cây thị trăm năm tuổi. Ngôi chùa nhỏ không nguy nga, tráng lệ, không sơn son thiếp vàng rực rỡ, chỉ có những mái ngói liệt rêu phong phủ kín màu thời gian, in bóng trầm mặc xuống mặt nước hồ sen tĩnh lặng trước cổng tam quan.

Thiện dừng xe, dựng ngay ngắn dưới gốc cây đa cổ thụ rợp bóng mát, khẽ mỉm cười ra hiệu để My tự mình bưng chiếc giỏ mây bước vào bên trong. Đây là khoảnh khắc thiêng liêng thuộc về riêng cô, về lời hứa của cô với người bà đã khuất.

Bước qua khoảng sân gạch rải đầy những cánh hoa đại trắng muốt rụng sau đêm sương lạnh, My lần theo con đường lát đá nhỏ dẫn về gian bếp thiện nguyện nằm ở chái tây của ngôi chùa.

Gian bếp mộc mạc, đơn sơ thoang thoảng mùi hương trầm thơm dịu quyện cùng mùi khói rơm thanh khiết và mùi thơm ngọt ngào của những nồi canh củ sen, canh bí đỏ chay đang sôi sùng sục trên những bếp lò đất lớn. Nơi đây chính là nơi mà suốt mấy mươi năm qua, mỗi ngày đều đặn đỏ lửa từ canh năm để chuẩn bị hàng trăm suất cơm chay dinh dưỡng, ấm áp gửi trao tận tay những người nghèo khổ, những bệnh nhân cơ nhỡ tại các bệnh viện trong khắp thành phố Huế.

Bên chiếc bàn dài bằng gỗ mộc bào nhẵn thín đặt giữa gian bếp, một sư cô trạc ngoài năm mươi tuổi, khoác chiếc áo tràng màu nâu sồng giản dị, đầu đội mũ len xám đang thoăn thoắt nhặt từng ngọn rau ngót rừng xanh non. Gương mặt sư cô tròn đầy, phúc hậu, toát lên vẻ từ bi hỷ xả, đôi mắt sáng trong và tĩnh lặng như mặt nước hồ thu không một gợn sóng. Đó chính là sư cô Tuệ An—người bạn tri kỷ gắn bó với bà Lành suốt nửa đời người bên những nồi cơm thiện nguyện.

“Mô Phật. Con chào sư cô,” My khẽ cúi đầu, cất tiếng chào nhẹ nhàng, mềm mại để không làm xao động bầu không khí thanh tịnh, trang nghiêm của gian bếp chùa.

Sư cô Tuệ An dừng tay, đặt mớ rau ngót xuống chiếc rổ tre rồi từ từ ngẩng đầu lên nhìn My. Ánh mắt sư cô dừng lại ở chiếc giỏ mây mộc mạc trên tay cô gái trẻ, rồi dừng lại trên gương mặt lấm tấm mồ hôi nhưng rạng ngời sự thanh thản của cô. Một nụ cười hiền từ, thấu suốt như nhìn thấu qua vạn dặm hồng trần khẽ nở trên môi sư cô:

“Con là Kiều My, cháu nội của mệ Lành phải không?”

“Dạ thưa sư cô, đúng là con,” My nghẹn ngào đáp, hai tay nâng chiếc âu sứ hoa lam ra khỏi giỏ mây, cẩn trọng đặt nhẹ nhàng lên chiếc bàn gỗ mộc. “Hôm nay, con xin phép được mang món chè hạt sen hồ Tịnh Tâm đến dâng lên sư cô và gian bếp chùa, theo đúng tâm nguyện cuối cùng của nội con đã ghi lại trong cuốn sổ di nguyện.”

Sư cô Tuệ An khẽ nghiêng mình chắp tay, rồi đón lấy chiếc âu sứ hoa lam cổ. Bàn tay gầy guộc của sư cô khẽ chạm nhẹ lên những đường nét hoa văn men lam vẽ hoa sen đã mòn vẹt theo năm tháng, ánh mắt ánh lên sự xúc động sâu lắng khôn nguôi:

“Chiếc âu sứ ni… mệ Lành từng đựng chè sen mang sang chùa vào mỗi dịp rằm tháng Bảy suốt mấy mươi năm qua. Mệ đi rồi, mà ân tình mệ để lại cho đời vẫn còn thơm ngát như sen sớm.”

Sư cô Tuệ An nhẹ nhàng mở chiếc nắp men lam. Một làn khói nghi ngút bốc lên, mang theo hương thơm thanh khiết ngào ngạt của sen tươi hồ Tịnh và vị ngọt dịu dàng, êm ái của đường phèn lập tức lan tỏa, tràn ngập khắp gian bếp thiện nguyện.

Sư cô múc một phần chè ra chiếc chén sứ trắng nhỏ, chậm rãi nâng chén chè lên ngang ngực bằng cả hai tay như một nghi thức thanh tịnh hướng về mười phương chư Phật, rồi khẽ nhấp một ngụm nước chè trong vắt. Sau đó, sư cô khẽ đưa một hạt sen vàng ngà vào miệng, nhai thật chậm rãi.

Khoảnh khắc ấy, toàn bộ không gian dường như ngưng đọng lại trong sự vĩnh cửu. Tiếng gió xào xạc qua rặng tre ngoài vườn, tiếng lá khô rơi khẽ khàng trên mái ngói, tiếng chuông chùa ngân nga từ chánh điện vọng lại từng hồi trầm hùng, tất cả hòa quyện vào sự tĩnh lặng tuyệt đối của gian bếp nhỏ.

Sư cô Tuệ An khẽ nhắm mắt lại, cảm nhận vị ngọt thanh mát ngậm sâu trong từng thớ hạt sen mềm bở tơi xốp, cảm nhận sự tinh sạch của giọt nước mưa đầu mùa và hơi ấm của củi nhãn đượm than. Một lúc sau, sư cô từ từ mở mắt ra, nhìn sâu vào đôi mắt My bằng ánh mắt chan chứa sự bằng lòng, tán thán và từ ái vô biên:

“Hạt sen bở tơi mà tròn vẹn, nước chè trong vắt như hổ phách, vị ngọt thanh tao không gắt, hương thơm lắng đọng nơi tâm can. Bát chè sen ni, con đã nấu bằng một cái tâm vô cùng tĩnh lặng và thuần khiết. Chỉ có người thấu triệt được sự nhẫn nại, buông bỏ được những xao động vội vã của lòng mình mới có thể nấu ra được hương vị chè sen của mệ Lành.”

Sư cô mỉm cười, khẽ gật đầu:

“Món ăn thứ mười hai đã hoàn tất trọn vẹn rồi đó con.”

Nghe câu nói ấy từ miệng sư cô Tuệ An, My cảm thấy một luồng điện ấm áp chạy dọc sống lưng, lồng ngực cô rung lên bần bật, và những giọt nước mắt nóng hổi bấy lâu kìm nén bỗng vỡ òa lăn dài trên gò má. Mười hai món ăn—mười hai chặng đường gian nan của sự học hỏi, của mồ hôi, nước mắt, của những vết bỏng rát trên da thịt và những đêm thức trắng bên ánh lửa củi—đến giây phút này đã chính thức khép lại. Cô đã không bỏ cuộc. Cô đã vượt qua muôn vàn thử thách khắc nghiệt nhất để hoàn thành trọn vẹn lời hứa với người bà quá cố, tìm lại cội nguồn mà mình từng lãng quên.

My đưa mắt nhìn quanh gian bếp chùa ấm áp, nơi khói rơm vẫn lãng đãng bay trên những xà bần gỗ cũ. Bất chợt, ánh mắt cô dừng lại ở góc bếp phía sau vại tương sành cổ kính.

Nơi đó, trên chiếc móc bằng tre mộc mạc đính vào vách gỗ lim, treo một chiếc tạp dề cũ may bằng vải thô màu nâu sồng đã sờn rách mép. Chiếc tạp dề được giặt giũ sạch sẽ, gấp phẳng phiu từng nếp, trên góc áo bên ngực trái có thêu một bông sen nhỏ bằng chỉ tím đã phai màu theo năm tháng.

My nhận ra ngay bông sen thêu vụng về ấy—đó chính là chiếc tạp dề mà bà Lành thường mặc mỗi khi bước vào gian bếp ở nhà rường, và cũng là chiếc áo bà luôn mang theo mỗi lần sang chùa phụ giúp sư cô nấu cơm thiện nguyện cho người nghèo. Chiếc tạp dề treo đó, lặng lẽ, bình yên như đang kiên nhẫn chờ đợi một người tiếp nối ngọn lửa yêu thương chưa bao giờ tắt.

Sư cô Tuệ An dõi theo ánh nhìn đăm đắm của My, ánh mắt sư cô càng thêm sâu lắng và thâm trầm.

Sư cô Tuệ An đặt chén chè sen xuống bàn, khẽ hỏi My: 'Con đã nấu xong mười hai món, vậy gian bếp này từ nay sẽ nuôi dưỡng ai?'.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories