Lá thư và cuộc họp gia đình thứ hai
Ánh đèn dầu hắt lên vách gỗ bóng mờ, soi rõ những dòng mực tím đã phai màu trên trang giấy pơ-luya mỏng tang mà ông Quang run rẩy mở ra.
Mép giấy đã ngả sang sắc vàng úa của thời gian, giòn xốp như một chiếc lá khô được ép kỹ qua nhiều mùa mưa bão. Lớp sáp niêm phong màu đỏ thắm khắc nổi hình đóa hoa sen thanh mảnh vừa bị ngón tay chai sần của ông tách đôi, vỡ vụn thành những vệt bột mịn vương trên mặt bàn gỗ mít. Từng nếp gấp thẳng thớm, ngay ngắn hiện ra dưới quầng sáng vàng vọt, vẹn nguyên cái nết ăn ở tằn tiện, cẩn trọng và chỉn chu đến từng đường kim mũi chỉ của bà Lành suốt một đời dâu con xứ Huế.
Gian nhà giữa im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng gió lùa nhè nhẹ qua khe cửa liếp và tiếng bấc đèn dầu lách tách cháy khẽ trong đêm muộn. Thứ mùi dầu hỏa ngai ngái quen thuộc của những năm tháng cũ hòa lẫn trong hương trầm thơm ngát vừa thắp trên bàn thờ gia tiên, bảng lảng vương trên những hàng cột gỗ lim lên nước đen bóng. Bà Hà ngồi nép sát bên cạnh chồng, hai bàn tay thon gầy đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn, đốt ngón tay trắng bệch vì siết mạnh. Đôi mắt bà đã đỏ hoe, ngấn nước từ lúc chiếc phong bì cũ kỹ được lôi ra khỏi túi áo, chăm chú dõi theo từng cử động ngập ngừng nơi bàn tay người đàn ông đầu gối tay ấp.
My đứng lặng bên mép chiếc phản gỗ gõ đỏ, nín thở ngắm nhìn bờ vai hao gầy của cha đang rung lên từng nhịp rất khẽ dưới lớp áo sơ mi bạc màu. Suốt hai mươi mấy năm làm con, cô chưa từng thấy dáng vẻ này của ba. Trong ký ức tuổi thơ của My, ông Kiều Đức Quang luôn là người đàn ông nghiêm cẩn, khắc kỷ, ít nói, người luôn giữ cho mình một khoảng cách sừng sững như một bức tường thành kiên cố trước mọi sóng gió của gia đình. Nhưng lúc này đây, bức tường thành ấy đang rạn vỡ trước mảnh giấy mỏng manh của người mẹ đã khuất.
Bàn tay ông Quang cầm tờ giấy run rẩy đến mức bóng những con chữ chập chờn nhảy múa trên vách gỗ ván thưng. Đôi mắt kèm nhèm sau cặp kính lão dày cộp của ông nhòe đi vì ngấn lệ. Ông đưa ống tay áo quệt vội qua khóe mắt, hít một hơi thật sâu để nén tiếng nấc nghẹn nơi cuống họng, rồi ghé sát mặt lại gần ngọn đèn hoa kỳ, run rẩy đọc từng nét chữ thân thương:
*“Quang à,*
*Khi con cầm được lá thư ni trên tay, chắc mẹ đã về nằm dưới chân núi Thiên Thai cùng ba con rồi. Hoặc giả như mẹ còn sống, thì cái đầu mẹ cũng lẫn lộn, chẳng còn nhớ rành rẽ được mặt đứa con trai mẹ dứt ruột đẻ ra nữa.*
*Mẹ viết mấy dòng ni nhờ thằng Lộc giữ giùm, dặn nó chừng mô con tự bước chân về đứng trước hiên nhà rường thì mới trao. Mẹ biết bảy năm trước, cái đêm con dắt díu vợ con bỏ vào Nam sau cơn cãi vã, con đã uất ức và đau lòng dữ lắm. Con giận mẹ cổ hủ, giận mẹ khắt khe, giận mẹ vì sao cứ níu kéo một mái nhà mục nát bên bờ sông An Cựu mà không chịu theo con vào Sài Gòn hưởng phước.*
*Nhưng Quang ơi, mẹ xin lỗi con.*
*Cả đời mẹ vụng về chữ nghĩa, ăn nói cộc lốc cạn dòng, chỉ biết mượn mâm cơm bát canh để bày tỏ lòng dạ. Mẹ đã sai rồi con à. Mẹ cứ ngỡ giữ con ở lại đất thần kinh ni mới là trọn vẹn gia phong, mà không hiểu được cái gánh nặng mưu sinh trên vai đứa con trai trưởng. Mẹ đã làm cho con phải giằng xé đến rách nát cả ruột gan, nửa muốn làm tròn chữ hiếu phụng dưỡng mẹ già nơi quê hương đói nghèo, nửa lại canh cánh trách nhiệm xây dựng tổ ấm riêng cho vợ và con gái nơi đất khách phồn hoa.*
*Mẹ biết chuyện xưởng gỗ ở Bình Dương của con bị bể nợ năm đó. Thằng Vinh nó giấu mẹ, sợ mẹ lên cơn tăng xông, nhưng mẹ đẻ con ra, mẹ nghe tiếng thở dài qua điện thoại là mẹ biết con đang trắng tay cơ cực. Rứa mà con vì mặc cảm, vì xấu hổ của đứa con trưởng không lo được cho mẹ mà đâm ra sợ hãi, không dám về nhà. Mẹ không trách con, chưa từng trách con lấy nửa lời. Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng, có ai lại đi đòi nợ bát cơm hột gạo bao giờ hả con?*
*Con vào trút gánh nơi phương Nam, làm ăn lương thiện, lo cho cái Hà với con My nên người, rứa là con đã tròn chữ hiếu với mẹ rồi. Mẹ ở lại với thằng Vinh, căn nhà ni có mẹ con sớm tối chia nhau bát nước chè Truồi, con đừng có tự đày đọa mình nữa nghe con.*
*Hãy tha thứ cho sự vụng về, ích kỷ của một bà già xứ Huế. Căn nhà rường ni là của chung các con, nhưng tình thương của mẹ thì chia đều vẹn nguyên cho từng đứa, không đứa mô hơn, không đứa mô kém…”*
Lá thư kết thúc bằng chữ ký nắn nót nghiêng nghiêng bằng thứ mực Cửu Long màu tím thẫm đã nhạt bớt theo năm tháng. Nơi góc dưới cùng của trang giấy pơ-luya, có hai vệt nước tròn đã khô đanh lại từ bảy năm về trước, làm nhòe đi một khoảng mực mỏng, như chính những giọt nước mắt lặng thầm của người mẹ già xứ Huế trong đêm khuya thanh vắng gởi theo đứa con trai lưu lạc phương xa.
Ông Quang không đọc thành tiếng nổi nữa. Đôi môi ông mấp máy, run rẩy đến tái nhợt. Tờ giấy pơ-luya tuột khỏi những ngón tay chai sần, rơi khẽ như cánh bướm xuống mặt bàn gỗ mít. Rồi như một con đê bị vỡ sau bao năm tháng gồng mình ngăn lũ, người đàn ông cả đời kiệm lời, luôn giữ vẻ mặt khắc khổ và uy quyền nghiêm nghị trước mặt vợ con bỗng nhiên gục hẳn đầu xuống hai cánh tay đang khoanh tròn trên bàn, bật khóc nức nở.
Đó không phải là tiếng khóc lặng lẽ thường thấy của người lớn tuổi, mà là tiếng khóc vỡ òa, tức tưởi của một đứa trẻ sau bao năm trời lưu lạc bỗng tìm lại được hơi ấm vòng tay mẹ. Từng nhịp nấc nghẹn bật ra từ lồng ngực gầy guộc của ông làm rung chuyển cả thân mình.
Bao nhiêu năm bôn ba nơi đất khách quê người, bao nhiêu cay đắng của những đêm trắng nhìn xưởng gỗ phá sản ngập trong nợ nần, bao nhiêu mặc cảm tự ti của một đứa con trai trưởng thất bại không làm tròn bổn phận, bao nhiêu nỗi ám ảnh nhục nhã vì trốn chạy trách nhiệm, đùn đẩy hết gánh nặng chăm sóc người mẹ ốm đau liệt giường cho vợ chồng người em trai út… tất cả tảng đá ngàn cân đè nặng lên buồng phổi ông suốt mấy mươi năm qua, giờ đây vỡ vụn ra thành từng dòng nước mắt đầm đìa, ướt đẫm cả mặt bàn gỗ.
Bà Hà nghẹn ngào ôm chầm lấy vai chồng. Bà tựa cằm lên bờ vai đang rung bần bật của ông, nước mắt giàn giụa thấm qua lớp vải áo:
“Anh Quang ơi… Mẹ thương anh như rứa đó. Mẹ chưa từng oán trách anh một câu mô cả… Anh ơi, cởi bỏ hết trong lòng đi anh…”
My bước chậm rãi lại gần, quỳ một bên gối xuống nền gạch tàu mát lạnh bên cạnh cha. Cô đặt bàn tay thon gầy, thô ráp vì khói than và dao thớt suốt ba tháng qua lên mu bàn tay gân guốc, run rẩy của ông Quang. Hơi ấm từ da thịt con gái truyền qua khiến người cha từ từ ngẩng mặt lên. Trong đôi mắt đỏ hoe, nhòa lệ của ông, My không còn nhìn thấy vẻ né tránh, dò xét hay bức tường phòng thủ lạnh lùng thường ngày nữa. Nơi ấy giờ đây chỉ còn lại sự nhẹ nhõm vô bờ, một sự cởi trói tâm can sâu sắc mà chỉ có lòng bao dung vô lượng của người mẹ mới có thể mang lại cho đứa con lầm lạc.
“Ba…,” My khẽ thì thầm, giọng cô run run nhưng từng lời rành rọt, rót thẳng vào cõi lòng đang dậy sóng của ông. “Nội đã tha thứ cho cả con và ba từ rất lâu rồi. Nội chưa bao giờ giận ba hết.”
Ông Quang đưa bàn tay đẫm mồ hôi và nước mắt nắm chặt lấy những ngón tay của con gái, gật đầu liên hồi trong cơn nấc nghẹn. Ánh sáng vàng dịu từ ngọn đèn dầu soi tỏ ba gương mặt đầm đìa nước mắt nhưng ngập tràn sự giải thoát. Gian nhà rường như ấm hẳn lên giữa đêm đông xứ Huế, xua đi cái buốt lạnh ẩm ướt của những ngày mưa bão dai dẳng vừa quét qua bờ sông An Cựu.
***
Sáng hôm sau, xứ Huế thức dậy trong làn sương mù bảng lảng giăng kín mặt sông Hương. Gió bấc vẫn thổi từng cơn se sắt qua rặng tre ngà ven bờ, nhưng bầu trời phía đông đã le lói những vệt rạng đông màu hồng nhạt xuyên qua màn mây xám bạc.
Đúng sáu giờ ba mươi phút sáng, chiếc đò ngang rẽ nước đưa ông Quang và My sang bãi bồi Cồn Hến. Nước sông sớm mai phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ màu ngọc thạch pha xám, thỉnh thoảng xao động bởi những nhát chèo khua nước nhịp nhàng, bì bõm của người lái đò già. Đứng ở mũi thuyền, ông Quang mặc chiếc áo khoác dạ cũ sờn màu hạt dẻ—chiếc áo ấm duy nhất ông mang theo từ miền Nam ra—hai tay đút sâu vào túi áo, ánh mắt dán chặt vào doi đất xanh rì nổi lên giữa đôi dòng nước biếc.
Đã ba mươi năm rồi, kể từ ngày ông rời trường Quốc Học, cất bước tha hương vào phương Nam lập nghiệp rồi chìm nổi trong những cơn lốc mưu sinh, ông chưa từng một lần đặt chân trở lại bến sông này. Mỗi khúc quanh của dòng sông, mỗi rặng bắp non run rẩy trong gió sớm bên triền đất bãi đều gợi về trong tâm trí ông những ký ức tuổi thơ tưởng chừng đã bị lớp bụi thời gian vùi lấp vĩnh viễn.
Mũi thuyền chạm nhẹ vào bờ đất phù sa mềm nhão. Bước lên bãi bồi Cồn Hến, mùi khói củi mùn cưa quyện với mùi bùn non phù sa nồng ngậy và hương thơm thanh ngọt, đậm đà đặc trưng của hến luộc lập tức xông thẳng vào cánh mũi. My dẫn cha đi men theo con đường đất nhỏ quen thuộc, lách qua những chiếc giàn phơi cào hến đan bằng tre già và những đống vỏ hến trắng xóa chất cao như những ngọn đồi thu nhỏ bên mép sông.
Phía trước một căn chòi lợp lá mía tạm bợ bên mép nước, một cột khói trắng xóa đang cuồn cuộn bốc lên nghi ngút từ chiếc chảo gang khổng lồ bắc trên bếp lò dã chiến nung bằng đất sét. Người đàn ông luống tuổi với nước da ngăm đen vì mưa nắng, mái tóc hoa râm búi gọn sau gáy bằng một sợi dây chuối khô, đang lom khom dùng chiếc dầm gỗ to bản đảo nhẹ những mẻ hến vừa vớt từ đáy sông lên. Nước hến sôi sùng sục, nhả bọt trắng xóa, tỏa ra làn hơi ấm sực át đi cái giá rét của buổi sớm mai.
“Bác Lộc ơi!” My cất tiếng gọi trong sương sớm.
Ông Trần Hữu Lộc dừng tay dầm, lau vệt mồ hôi lấm tấm bên thái dương bằng chiếc khăn rằn vắt ngang cổ rồi quay đầu lại. Khi ánh mắt ông chạm phải người đàn ông đứng cạnh My—người đàn ông trán hằn sâu những nếp nhăn nhọc nhằn, tóc đã điểm bạc quá nửa, đôi vai hơi so lại trong chiếc áo dạ cũ—cả thân hình lực lưỡng của người thợ cào hến bỗng sững sờ như hóa đá. Chiếc dầm gỗ trên tay ông khẽ tuột xuống mép chảo gang, va vào thành kim loại phát ra một tiếng *keng* thanh mảnh ngân dài giữa thinh không.
Hai người bạn già đứng lặng nhìn nhau qua làn khói hến nghi ngút bốc lên từ chảo gang đỏ lửa. Khoảng cách mười bước chân dường như kéo dài suốt ba mươi năm đằng đẵng của những hiểu lầm, tự ti, trốn chạy và mặc cảm phận nghèo.
“Lộc… Lộc ‘cào’… phải mi đó không?” Giọng ông Quang run bần bật, vỡ òa giữa không gian bến sông sớm mai, nghẹn ngào như tiếng gọi đò thuở thiếu thời.
Đôi môi khô nứt nẻ của ông Lộc giật giật. Đôi mắt người thợ thuyền quanh năm đối mặt với sóng dữ, với gió lạnh sông sâu bỗng đỏ hoe, ngấn nước:
“Quang… Thằng Quang ‘mộc’… Răng chừ mi mới chịu mò về hả con người vô tâm kia?”
Không ai bảo ai, hai người đàn ông tóc đã hoa râm cùng sải bước xông về phía nhau, bước chân vội vã giẫm lên lớp vỏ hến lạo xạo dưới chân. Bên cạnh chiếc rổ tre đựng hến luộc đang bốc hơi ngùn ngụt, tỏa ra thứ mùi thanh ngọt nồng đượm của lòng sông xứ sở, họ ôm chầm lấy nhau thật chặt. Cánh tay vạm vỡ, sần sùi đầy vết sẹo cào hến của ông Lộc đập mạnh vào lưng bạn; còn đôi tay gầy gò của người thợ mộc tha hương siết chặt lấy bờ vai ướt đẫm sương đêm của người bạn thuở ấu thơ.
Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên hai gương mặt hằn sâu nếp nhăn của năm tháng. Nỗi mặc cảm nghèo hèn, thân phận thợ thuyền lam lũ sợ làm phiền bạn sang của ông Lộc tan biến; sự tự ti, nhục nhã vì phá sản trốn chạy của ông Quang cũng rũ bỏ sạch trơn. Trước mặt nhau lúc này, họ không còn là người thợ cào hến nghèo kiết xác hay ông chủ xưởng gỗ vỡ nợ trốn chui trốn lủi, mà chỉ còn lại tình bạn thuần khiết từ những ngày còn cởi trần tắm sông Hương, cùng nhau lặn ngụp bắt từng con cá bống, chia nhau củ khoai nướng sém vỏ và cọng rau muống luộc chấm ruốc năm nào.
“Tao có lỗi với mi… Tao có lỗi với mẹ Lành…,” ông Quang nghẹn ngào, trán tựa vào vai bạn, tiếng nói đứt quãng trong hơi thở gấp gáp. “Bao nhiêu năm qua tao ngu muội, tao trốn tránh… Tao không dám đối diện với mi…”
“Thôi… thôi mi ơi,” ông Lộc vừa khóc vừa cười, đưa bàn tay thô ráp quệt ngang mắt, vỗ thùm thụp vào lưng bạn già. “Mẹ Lành trước khi nhắm mắt chỉ mong thấy mi về. Mảnh thư tao giữ cho mi bảy năm, cất kỹ dưới đáy hòm gỗ bọc vải điều, rốt cuộc bữa qua cũng đến được tay mi. Rứa là tao trả xong cái nợ nghĩa với mẹ rồi. Mi về đứng đây bằng xương bằng thịt là tốt rồi, thằng quỷ sứ à!”
Đứng bên cạnh bếp lửa ấm nồng, My lặng lẽ mỉm cười, nước mắt lăn dài trên má nhưng trái tim ngập tràn niềm thanh thản vô hạn. Dưới chân họ, dòng nước sông Hương êm ả lững lờ trôi, mang theo tất cả những u uất, nghẹn ngào của ba thập kỷ trôi xa về phía biển.
***
Gần trưa, sương mù tan hẳn nhường chỗ cho những vệt nắng đông hiếm hoi rọi xuống hiên nhà, hong khô những thảm rêu xanh rì bám trên chân tường đá ong và chiếu rọi qua những kẽ lá cây khế ngọt đầu sân. Trở về căn nhà rường ở kiệt An Cựu, không khí gia đình đã hoàn toàn khác hẳn sự ngột ngạt của những ngày trước.
Bên chiếc bàn gỗ mít đặt trang trọng giữa gian nhà, cuộc họp gia đình chính thức diễn ra. Bốn người ngồi quanh bàn: ông Kiều Đức Quang, chú Kiều Đức Vinh, bà Lê Thu Hà và Kiều My.
Mùi trầm hương thoang thoảng từ bàn thờ tổ tiên phía sau lưng tạo nên một bầu không khí trang nghiêm nhưng không còn chút ngột ngạt, căng thẳng như buổi đối chất gay gắt sáu tuần trước. Mảnh bạt dứa gia cố tạm trên mái chái bếp sau trận bão hôm trước đã được đội thợ ngói của nghệ nhân Nguyễn Khắc Tuấn tháo dỡ một phần. Phía trên giàn giáo, những người thợ lành nghề đang cẩn trọng gỡ từng viên ngói liệt mục nát, chuẩn bị đảo ngói âm dương mới bằng loại ngói nung củi truyền thống của làng gốm Phước Tích mà My đã cất công liên hệ đặt hàng. Tiếng gõ ngói lách cách vang lên đều đặn trên mái nhà, hòa cùng tiếng chim sẻ ríu rít chuyền cành trên hàng chè tàu ngoài ngõ kiệt, càng làm cho không gian thêm phần ấm cúng, tĩnh tại.
Chú Vinh ngồi thẳng lưng, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên mặt bàn gỗ. Gương mặt người cựu binh từng trải qua những năm tháng chăm sóc mẹ già liệt giường trông vẫn gầy gò, hốc hác, nhưng khóe mắt và đường nét trên môi đã giãn ra rất nhiều, không còn vẻ phòng thủ cay đắng, xù xì như ngày đầu My trở về.
My mở chiếc cặp tài liệu bằng da màu nâu sẫm, lấy ra tập hồ sơ được đóng gáy cẩn thận đặt lên giữa bàn. Cô hít một hơi thật sâu, nhìn quanh một lượt rồi cất lời:
“Thưa ba, thưa chú Vinh và mẹ. Hôm nay gia đình mình ngồi lại đây đông đủ, con xin phép được trình bày lại toàn bộ bảng dự toán tài chính và phương án vận hành Bếp Của Bà đã được điều chỉnh dựa trên thực tế ba tháng qua.”
My mở từng trang tài liệu được in ấn chỉn chu, rõ ràng, đưa mắt nhìn chú Vinh:
“Thứ nhất, về quy mô vận hành: Con đã hủy bỏ hoàn toàn ý định mở rộng ồ ạt hay biến căn nhà thành quán ăn thương mại đón năm mươi, một trăm khách mỗi ngày như đề án ban đầu con lập ở Sài Gòn. Học theo lời dạy về sự 'vừa vặn' của cô bác trong xóm kiệt và vợ chồng bác Sáu Bình, Bếp Của Bà sẽ tự giới hạn phục vụ tối đa ba mươi suất ăn mỗi ngày. Chúng con chỉ nhận khách đặt trước ít nhất hai mươi tư giờ để bảo đảm chất lượng món ăn, giữ trọn vẹn độ tươi ngon của nguyên liệu và quan trọng nhất là không phá vỡ không gian yên tĩnh của xóm làng. Thực đơn sẽ không làm dàn trải mà xoay vòng ba món chính và một món tráng miệng theo mùa tự nhiên của đất trời xứ Huế.”
Chú Vinh khẽ gật đầu, ánh mắt lộ vẻ tán đồng rõ rệt:
“Cái ni chú ưng. Đón khách nườm nượp thì cái kiệt hai mét ni tắc nghẽn, bà con lối xóm họ phiền lòng, mà căn nhà gỗ trăm tuổi của tổ tiên ni cũng không chịu nổi khói bụi, tiếng ồn. Giữ được cái tĩnh lặng thì cái nết nhà mới còn.”
“Dạ,” My tiếp lời, lật sang trang tính toán dòng tiền và mạng lưới liên kết. “Thứ hai, về mặt nhân sự và cung ứng: Con đã ký kết hợp đồng cộng sự độc lập với em Thảo Vy để phụ trách mảng bánh nậm, bánh bèo truyền thống; ký thỏa thuận bao tiêu hai sào nông sản sạch bãi bồi Hương Long với ông bà Sáu Bình để có nguồn rau củ hữu cơ tươi mới mỗi sớm; kết nối nguồn tôm đầm Cầu Hai tươi sống từ chị Tâm tiệm Bến Ngự và gừng sẻ Kim Long của dì Mến chợ Đông Ba. Mọi nguyên liệu đều minh bạch nguồn gốc, lấy tận gốc, không qua trung gian đắt đỏ.”
My chỉ ngón tay vào bảng số liệu chi tiết:
“Với quy mô ba mươi suất mỗi ngày, doanh thu dự kiến đạt khoảng bốn mươi lăm đến năm mươi lăm triệu đồng mỗi tháng. Sau khi trừ chi phí nguyên liệu tươi, thù lao thỏa đáng cho các cộng sự, tiền điện nước và chi phí vận hành thường nhật, lợi nhuận ròng tối thiểu mỗi tháng đạt từ mười lăm đến mười tám triệu đồng.”
Gian nhà lắng lại. Ông Quang chăm chú nhìn từng con số nắn nót, khoa học trên bảng tính của con gái. Là người từng lăn lộn kinh doanh xưởng gỗ hàng chục năm, từng nếm trải mùi vị của những bản kế hoạch viển vông dẫn đến phá sản, ông hiểu đây không phải là những con số vẽ ra trên giấy để đối phó, mà là những phép tính thận trọng, thực tế, đã tính đến cả những ngày mưa dầm dề và rủi ro thiên tai xứ Huế.
“Còn về vấn đề cốt lõi nhất,” My ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt chú Vinh, ánh mắt chan chứa sự kính trọng và chân thành, “đó là quyền sở hữu căn nhà và khoản nợ viện phí của gia đình.”
My dừng lại một nhịp, giọng nói chậm rãi nhưng vô cùng dứt khoát:
“Căn nhà rường này là tài sản thừa kế hợp pháp của cả hai anh em ba Quang và chú Vinh. Nhưng suốt năm năm qua, khi nội nằm liệt giường sau cơn tai biến, toàn bộ gánh nặng thuốc men, tã lót, viện phí cấp cứu hơn bốn trăm triệu đồng đều do một tay chú Vinh gánh vác, vay mượn khắp nơi. Ba con ở xa gửi về không đáng là bao, con thì mải mê chạy theo sự nghiệp riêng chốn Sài Gòn. Sự hy sinh thầm lặng và lòng hiếu thảo đó của chú Vinh là điều không có bất kỳ khoản tiền nào có thể đền đáp trọn vẹn.”
Hai hốc mắt chú Vinh khẽ giật giật, khóe mi ngân ngấn nước. Chú cúi đầu nhìn xuống mặt bàn, bàn tay chai sạn siết chặt vào mép gỗ.
“Do đó,” My tiếp tục, “gia đình chúng ta hôm nay phải định giá và phân chia thật minh bạch, công bằng: Phần quyền sở hữu nhà đất thửa số bốn mươi hai này sẽ được chia đôi đều đặn trên danh nghĩa pháp lý cho ba Quang và chú Vinh. Tuy nhiên, toàn bộ khoản chi phí bốn trăm triệu đồng viện phí mà chú Vinh đã gánh thay cho gia đình phải được ghi nhận là khoản nợ chung của hai anh em, trong đó phần của ba con và con có trách nhiệm hoàn trả lại sòng phẳng cho chú Vinh.”
Bà Hà lúc này mới lên tiếng, giọng dịu dàng nhưng đầy kiên quyết:
“Chú Vinh à. Chị với anh Quang đã bàn kỹ đêm qua rồi. Con My nó nói đúng trăm phần trăm. Năm xưa chú chịu trăm cay nghìn đắng một mình chăm sóc mẹ, tụi chị ở trong nớ dù khó khăn nợ nần xưởng gỗ cũng không thể lấy đó làm cớ trốn tránh trách nhiệm được. Phần nợ viện phí đó, gia đình chị nhất định phải hoàn trả sòng phẳng cho chú, để chú thảnh thơi đầu óc mà lo cho gia đình nhỏ của mình.”
Chú Vinh ngẩng lên, xua tay lia lịa, giọng run run nghẹn ngào:
“Anh… chị… cháu My… Tui nói thiệt, bữa trước tui làm căng đòi bán đất, bán nhà là vì cùng đường quá. Con Oanh nó đỗ trường nghề làm bánh trên Đà Nẵng, giấy báo nhập học đòi mười tám triệu rưỡi mà trong túi tui rỗng không, nợ nần bủa vây khắp kiệt. Tui xấu hổ, tui quẫn trí mới tính chuyện chia chác bán nhà tổ tiên… Chớ mấy tuần trước, con My nó đã trích mười bốn triệu tiền túi của nó chuyển thẳng cho con Oanh đóng học phí rồi. Con bé đã nhập học đàng hoàng, tuần mô cũng gọi điện về khoe học làm cốt bánh bông lan, làm bánh kem suôn sẻ lắm. Cái ơn ni của cháu My, người làm chú như tui khắc cốt ghi tâm…”
“Chú đừng nói ơn nghĩa chi ở đây,” My mỉm cười ấm áp. “Em Oanh là em gái ruột thịt của con, em ấy có đam mê với nghề bánh thì gia đình phải cùng nhau nâng đỡ. Khoản mười bốn triệu đó con xin góp cho em đi học, tuyệt đối không tính vào nợ nần chi hết.”
Lúc này, ông Quang mới từ tốn với tay lấy chiếc túi vải dù cũ đặt dưới chân ghế, mở khóa kéo. Từ bên trong, ông cẩn thận lấy ra một cuốn sổ tiết kiệm bọc ni-lông cẩn thận cùng một phong bì dày cộm đặt ngay ngắn lên mặt bàn, đẩy nhẹ về phía người em trai.
“Vinh à,” ông Quang trầm giọng nói, đôi mắt người anh cả nhìn em trai với tất cả sự ân hận và yêu thương ruột thịt. “Đây là khoản tiền tiết kiệm bảy mươi triệu đồng. Suốt mấy năm qua, dù làm ăn chật vật, anh vẫn âm thầm trích cóp từng đồng lương hưu và tiền làm công nhật, định bụng để dành lo việc tu sửa lại bàn thờ gia tiên và mái nhà rường khi mẹ trăm tuổi già. Bữa nay, trước mặt bàn thờ của mẹ, anh xin trích toàn bộ số tiền ni giao lại cho chú. Một phần ba mươi triệu để chú trang trải nốt các khoản nợ lặt vặt thuốc men còn tồn đọng; bốn mươi triệu còn lại, anh xin góp cùng với tiền của con My để lập thành Quỹ bảo tồn ban đầu cho căn nhà rường.”
Toàn bộ căn phòng như nín lặng. Chú Vinh mở to mắt nhìn tập tiền và cuốn sổ tiết kiệm, bờ môi run rẩy không nói nên lời:
“Anh Quang… số tiền ni là mồ hôi nước mắt của anh chắt chiu…”
“Tiền của anh thì cũng là tiền của mẹ dạy anh biết chắt chiu mà có,” ông Quang vỗ nhẹ lên mu bàn tay em trai. “Từ nay, anh cam kết mỗi tháng sẽ gửi về phụ thêm cùng con My trích lợi nhuận Bếp Của Bà, mỗi tháng trả dần cho chú mười triệu đồng, trả chừng nào dứt điểm khoản nợ bốn trăm triệu viện phí năm xưa mới thôi. Anh em mình chung một khúc ruột, mẹ nằm xuống rồi, chỉ còn hai anh em mình nương tựa nhau, đừng bao giờ nói chuyện bán căn nhà của tổ tiên nữa nghe em.”
Chú Vinh không kìm được xúc động nữa. Người cựu binh từng dạn dày trận mạc đưa hai bàn tay thô ráp ôm lấy mặt, những giọt nước mắt lăn dài qua kẽ ngón tay. Bao nhiêu cay đắng, uất ức, bao nhiêu năm tháng tủi hờn một mình gánh vác nơi đầu sóng ngọn gió giờ đây tan biến hoàn toàn trước tình thâm máu mủ.
My lật sang trang cuối cùng của biên bản thỏa thuận gia đình, đặt chiếc bút bi trước mặt ba và chú:
“Thưa ba, thưa chú. Để mọi việc được rõ ràng, minh bạch và có tính kỷ luật cao nhất, con đã soạn thảo Biên bản cam kết vận hành thử nghiệm Bếp Của Bà trong thời hạn đúng một năm. Trong một năm này:
Mốc thứ nhất: Sau ba tháng, bếp phải tự chủ hoàn toàn về dòng tiền vận hành, nghiệm thu xong toàn bộ hệ thống PCCC, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và không để xảy ra bất kỳ khiếu nại nào từ hàng xóm láng giềng.
Mốc thứ hai: Sau sáu tháng, bắt đầu trích đều đặn bốn mươi phần trăm lợi nhuận ròng hàng tháng chuyển vào tài khoản chú Vinh để thanh toán nợ viện phí, đồng thời lập quỹ dự phòng rủi ro mùa lũ cho ngôi nhà.
Mốc thứ ba: Sau mười hai tháng, gia đình sẽ tổ chức cuộc họp tổng kết. Nếu mô hình hiệu quả, bền vững và bảo tồn tốt ngôi nhà, chú Vinh và ba sẽ chính thức ủy quyền quyền quản lý, khai thác dài hạn cho con. Nếu thất bại hoặc vi phạm an toàn, con sẽ tự nguyện rút lui và gia đình sẽ cùng bàn phương án khác.”
Ông Quang cầm bút ký dứt khoát vào biên bản: “Ba hoàn toàn đồng ý.”
Chú Vinh lau nước mắt, cầm chiếc bút lên. Bàn tay từng cầm súng, cầm cuốc nện đất ký từng nét chữ vuông vắn, cứng cáp bên cạnh chữ ký của anh trai mình.
Ký xong, chú Vinh đứng dậy. Chú bước lại phía chiếc tủ chè cổ khảm ốc xà cừ ở góc gian giữa, cẩn thận dùng chiếc chìa khóa nhỏ đeo bên hông mở ngăn kéo bí mật bên dưới. Chú lấy ra một tập hồ sơ dày cộp bọc trong túi da màu đen cùng một chiếc chìa khóa bằng đồng thau đúc cổ kính, nặng trịch, có khắc chìm hoa văn chữ Thọ tinh xảo.
Chú bước lại bàn, trân trọng đặt tập hồ sơ trích lục bản đồ địa chính thửa đất số bốn mươi hai cùng chiếc chìa khóa đồng vào hai lòng bàn tay đang mở rộng của Kiều My:
“My à. Tập hồ sơ nhà đất ni và chiếc chìa khóa mở cửa gian thờ chính của mệ nội con, chú cất giữ suốt mấy mươi năm qua. Bữa nay, trước mặt vong linh của mệ và ba mẹ con, chú chính thức trao lại toàn quyền trông coi, gìn giữ căn nhà rường và căn bếp ni cho con. Chú tin con gái của anh Quang, cháu nội của mệ Lành, sẽ làm cho căn bếp ni đỏ lửa ấm áp như ngày mệ còn sống.”
My đón nhận chiếc chìa khóa đồng lạnh ngắt nhưng nặng trĩu nghĩa tình gia tộc. Kim loại mát lạnh chạm vào da thịt khiến cô run lên vì xúc động. Cô nhìn sâu vào mắt chú Vinh, rồi nhìn sang ba mẹ. Trong ánh mắt của mọi người, không còn sự hoài nghi, không còn sự giằng xé hay sợ hãi. Nơi đó chỉ còn niềm tin cậy tuyệt đối và tình yêu thương vô điều kiện đã được tôi luyện qua bão giông.
“Con cảm ơn ba, cảm ơn chú Vinh và mẹ,” My nghẹn ngào, ôm trọn chiếc chìa khóa vào lòng ngực. “Con xin hứa sẽ giữ cho căn bếp của nội luôn ấm lửa, giữ cho nếp nhà họ Kiều mình vẹn nguyên.”
***
Chiều buông xuống trên dòng sông An Cựu. Cơn gió đông thổi qua hàng hiên xào xạc, nhưng bên trong gian nhà rường, hơi ấm từ chiếc bếp củi vừa nhóm lại đã lan tỏa khắp không gian. Mùi thơm của gạo mới, của củi thông khô quyện trong làn khói lam chiều bảng lảng khiến ngôi nhà như bừng tỉnh sau một giấc ngủ đông dài dằng dặc.
My ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ nhỏ kê sát khung cửa sổ nhìn ra vườn khế. Những tia nắng cuối ngày nhuộm vàng những chùm quả đung đưa trong gió. Trước mặt cô, cuốn sổ công thức di nguyện bọc tấm vải nhung màu xanh thiên thanh nằm phẳng phiu dưới ánh sáng hoàng hôn ấm áp.
Mười một món ăn đã hoàn thành trọn vẹn, mỗi món ăn là một câu chuyện, một vết thương được chữa lành, một nhịp cầu nối lại những rạn nứt tưởng chừng không thể hàn gắn:
Tô bún bò cay nồng thơm lừng mùi sả và ruốc ngấu đã làm mềm lòng bà Năm Sương, cởi bỏ mối thù hận truyền kiếp giữa hai bên bờ kiệt;
Chén bánh bèo tôm chấy đỏ au rưới mỡ hành bóng bẩy trao tận tay bác thợ may Phúc, làm sống lại những ký ức vàng son về tà áo dài truyền thống;
Đĩa cơm hến cay xé lưỡi đượm tình sông nước cho bác Lộc Cồn Hến, mở đường cho lời tạ lỗi ba mươi năm của người bạn thuở thiếu thời;
Chén chè heo quay mặn ngọt hòa quyện công phu cho cô Hương, gỡ bỏ mặc cảm và những định kiến khắt khe về phận người đơn chiếc;
Mẻ mứt gừng cay ấm nồng đượm vị đường phèn cho dì Mến chợ Đông Ba, gắn kết lại tình bạn thuở hoa niên của nội;
Chiếc bánh khoái vàng giòn rụm bên chén nước lèo bùi béo cho chị Tâm tiệm Bến Ngự, củng cố sợi dây liên kết nghĩa tình giữa những người phụ nữ giữ lửa ẩm thực;
Niêu cá bống thệ kho ba lửa keo quánh đậm đà cho ông Cẩn, nhắc nhở về sự nhẫn nại và lòng khoan dung sâu thẳm của người già;
Âu canh mít non nấu tôm thanh tao cho bà mụ Diệu, trả lại trọn vẹn ân tình từ những ngày đầu tiên cất tiếng khóc chào đời;
Đĩa bánh nậm mỏng mịn gói trong lá chuối xanh cho Thảo Vy, trao truyền ngọn lửa nghề và niềm tin vào đôi bàn tay lao động lương thiện cho thế hệ tiếp nối;
Mâm tôm chua thịt luộc tròn vị chua cay mặn ngọt cho vợ chồng bác Sáu Bình, gắn kết tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau nơi bãi bồi Hương Long;
Và gói xôi đậu xanh hai lửa dẻo thơm, thanh khiết trao cho cô thủ thư Minh Châu, khép lại những trang sách dở dang của ký ức một thời hoa lửa…
Mười một món ăn là mười một mảnh ghép của ân tình, của sự tha thứ và lòng trắc ẩn mà nội đã dày công tích cóp cả một đời dâu con lam lũ.
Những ngón tay thon nhỏ của My khẽ chạm vào mép giấy, lật qua trang thứ mười một.
Trang thứ mười hai—trang giấy cuối cùng của cuốn sổ di nguyện—hiện ra dưới ánh chiều tà. Nét mực tím run rẩy, xiêu vẹo vì cơn bạo bệnh nhưng chan chứa sự thanh thản lạ kỳ của bà Lành trước lúc đi xa:
*“Món thứ mười hai: Chè hạt sen hồ Tịnh Tâm cho sư cô Tuệ An ở bếp chùa.* *Nấu hạt sen phải biết nhẫn, giữ lửa thật êm cho hạt sen chín bở mà không nát, ngậm đường vừa vặn thanh tao… Lòng người tĩnh thì bát chè mới ngát hương.”*
Gió bấc ngoài vườn khẽ lay động cành lá. Thoang thoảng trong làn gió lạnh đầu mùa, dường như có một làn hương thanh khiết, ngọt lành của những búp sen sớm hồ Tịnh Tâm từ chốn thiền môn bảng lảng bay về, bao bọc lấy gian bếp nhỏ của bà.
Mùi sen hồ Tịnh Tâm đầu mùa thoảng nhẹ trong sương sớm khi My giở trang cuối cùng của cuốn sổ tay.