Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.22 / 35
Chapter 22

Tấm lá chuối gói tình người

Gian kho sau ẩm mùi gỗ mục bừng sáng dưới vệt nắng rọi qua kẽ ngói vỡ, soi rõ chiếc bàn ép lá chuối và những thanh tre chuốt mỏng dùng để têm bánh nậm mà bà Lành từng nâng niu suốt nửa đời người. Nắng sớm mùa đông xứ Huế không gay gắt, nó chỉ là một dải lụa mỏng manh rớt xuống từ vòm trời xám đục, xuyên qua lớp bụi lơ lửng giữa thinh không rồi đọng lại trên mặt phẳng nhẵn thín của phiến gỗ kiền kiền. Nơi ấy, những đường vân chìm nổi đã bị thời gian và hàng vạn lần miết lá mài nhẵn thớ, bóng loáng như một mặt ngọc thô trầm mặc.

My đứng lặng giữa gian phòng nhỏ vừa được giải thoát khỏi lớp bụi dày. Sau cuộc trò chuyện rút ruột với chú Vinh tối qua, chùm chìa khóa sắt cũ đã nằm yên trong túi áo khoác của cô, trút bỏ vẻ sắc lạnh của một vật phân tranh để trở về đúng chức phận một nhịp cầu nối. Tiếng sắt va vào nhau lách cách nhẹ bẫng qua lớp vải dạ, tựa như hơi thở phào của ngôi nhà cổ sau những dằng dặc nghi kị kéo dài suốt bao năm tháng. Bụi bặm bám trên lớp bao gai thô ráp phủi ra làm cô khẽ hắt hơi một tiếng, làn bụi mịn tung lên trong quầng sáng rồi lững thững tan vào góc tối ẩm ướt của bờ tường gạch vồ tróc lở.

Dưới lớp bao bố ấy là cả một gia tài bếp núc của người thợ già: những chiếc xửng hấp bằng nhôm Liên Xô đáy đục lỗ đều tăm tắp, thành nồi đã ngả màu xám bạc vì bao mùa khói củi; những chồng chậu thau tráng men Hải Phòng vẽ hình đôi cá chép đã sứt vài chấm men đen ở vành; những bó thanh tre được vót phẳng lì, hai đầu bo tròn mịn màng như phím đàn dùng để miết bột; và chiếc bàn ép lá chuối đóng bằng gỗ kiền kiền mòn vẹt bốn góc. Mỗi thớ gỗ, mỗi vành nhôm đều ngấm đượm một thứ mùi rất đỗi thân quen—mùi bột gạo khô ngâm nước lâu ngày dìu dịu chua thanh, mùi bồ hóng bám đáy chõ, mùi khói củi phi lao khô nỏ và hương tinh dầu lá chuối phơi tái tựa như chưa từng bị thời gian lãng quên. Những vật dụng ấy không nằm im như cổ vật trong tủ kính viện bảo tàng, chúng mang một sinh khí lặng thầm, thứ sinh khí được tích tụ từ ngàn vạn giọt mồ hôi, từ hơi nóng phả ra nơi bếp lò lúc tảng sáng của người đàn bà đã dành trọn kiếp người bên chõ bánh.

My khẽ rút cuốn sổ tay bọc vải hoa nhí ra khỏi túi ngực. Bìa vải sờn gáy khẽ lay động dưới ngón tay cô, mép vải bông xơ xác phai nhạt màu hoa cà theo năm tháng. Món thứ tám—canh mít non tôm rảo—đã hoàn thành, khép lại một khúc quanh trĩu nặng của gia đình họ Kiều, mở ra một khoảng thở nhẹ nhõm hiếm hoi giữa đôi vai cô. Nỗi thù hận, niềm hoài nghi của chú Vinh, những giọt nước mắt muộn màng bên mâm cơm gia đình... tất cả đã lắng xuống đáy lòng như phù sa sông Hương sau trận lũ đầu mùa. My hít một hơi sâu, luồng không khí lành lạnh mang vị rêu ẩm len vào lồng ngực. Ngón tay cô nhẹ nhàng lật sang trang thứ chín.

Mực tím của bà Lành hiện lên ngay ngắn trên trang giấy ố vàng, nét chữ thanh mảnh hơi nghiêng về bên phải, những nét móc dứt khoát của một người cả đời quen nắn nót từng nếp gấp bánh:

*“Món thứ chín: Bánh nậm xứ Huế — Làm cho cháu Thảo Vy (con gái mệ Lan bánh bèo nậm lọc bên kia cầu An Cựu).* *Lá chuối sứ rọc lấy sống mềm, bột gạo quấy vừa độ chín tái, nhân tôm đất thịt thăn xào ráo mỡ. Đời mệ Lan gánh bánh nuôi con sớm hôm, cái nợ gian bếp thuở hàn vi mệ chưa trả đặng thì người đã khuất. Nay trao lại cho con bé, mong nó giữ lấy cái nghề lương thiện mà nuôi thân, đừng nản lòng trước cái khó.”*

Kèm theo dòng chữ nắn nót ấy là địa chỉ một căn nhà nhỏ nằm nép sâu trong một con kiệt ngoằn ngoèo bên kia cầu An Cựu, thuộc khu xóm thợ nghèo. Từng con số, từng tên hẻm được bà ghi chú cẩn thận bằng mực tím đã phai sắc, góc trang giấy còn vương một vết ố tròn mờ mờ, dấu tích của một giọt nước bột gạo vô tình rớt xuống từ nhiều năm trước.

My khép cuốn sổ lại, lòng dâng lên một nỗi bồi hồi khó tả. Khác với những người trước—ông Phúc thợ may với tấm áo dài chật chội ký ức, ông Lộc cào hến lầm lũi bên bãi bồi cồn Hến, dì Mến đanh đá giữa chợ Đông Ba hay ông Cẩn dạn dày sóng gió đường sông—những chứng nhân thuộc thế hệ của bà, người nhận món ăn lần này lại là một cô gái trẻ. Một người con gái cùng trang lứa với cô, có lẽ cũng từng đi qua những ngã rẽ hoang mang của tuổi đôi mươi, nhưng thay vì phiêu bạt chốn văn phòng máy lạnh như My, người ấy lại chọn gánh trên vai chiếc đòn gánh truyền đời trĩu nặng của mẹ mình.

My bước ra sân, dắt chiếc xe đạp mini cũ dựng bên gốc khế ngọt. Xích xe khô dầu kêu lách cách khô khốc khi cô nhấn bàn đạp, lăn bánh qua con ngõ lát gạch phủ rêu xanh rì, hướng ra con đường rải nhựa ven bờ sông An Cựu. Mặt nước sông mùa đông lững lờ trôi, đục ngầu màu phù sa đỏ quạch sau những trận mưa dầm dề dai dẳng của tiết tiểu hàn. Hai bên bờ, những rặng sung cổ thụ trơ trụi cành khẳng khiu vươn ra mặt nước, chốc chốc lại thả xuống dòng chảy một chiếc lá vàng úa cô độc. Gió bấc từ phía phá Tam Giang thốc ngược lên, mang theo hơi nước buốt lạnh thấu xương thịt, cắn vào hai vành tai đỏ ửng của cô gái trẻ.

Qua khỏi cầu sắt An Cựu với những nhịp rỉ sét càu nhàu dưới bánh xe cộ, tiếng còi xe phố thị dần lùi lại sau lưng. Con đường nhựa phẳng phiu nhường chỗ cho một con kiệt hẹp trồi sụt ổ gà, ken dày những mái nhà cấp bốn lợp tôn xi măng xám xịt. Xóm thợ bánh nằm nép mình bên triền dốc thoải dẫn xuống một nhánh sông con, nơi không khí lúc nào cũng đặc quánh một thứ mù sương nhân tạo tạo ra từ hàng chục chiếc lò than bùn và lò trấu đun sớm muộn.

Xưởng bánh của Vy thực chất chỉ là một gian chái lợp tôn cườm chắp vá nép bên hông căn nhà gạch lồi lõm rêu phong. Mái tôn thấp tè, ám khói đen kịt ở những chỗ đặt ống thông hơi tự chế bằng ống bơ sữa bò. Chưa vào tới nơi, My đã ngửi thấy mùi hương đặc trưng không thể trộn lẫn của nghề bánh Huế: mùi nồng ngái hăng hắc của lá chuối luộc chín ngấm trong nước tro, mùi tinh bột gạo ngâm chua dìu dịu thoảng qua trong gió sớm, và tiếng hơi nước reo *phì phò* dồn dập từ chiếc bếp lò đun trấu rực lửa đang thở ra từng luồng khói trắng mỏng.

Bên trong gian chái mờ mịt khói lam, một cô gái trạc tuổi My đang thoăn thoắt đôi tay. Thảo Vy mặc chiếc áo bà ba màu nâu sẫm đã bạc thếch đôi vai, những đường chỉ may tay lộ rõ vết sờn rách được vá khéo léo bằng chỉ màu sáng hơn. Mái tóc đen dày của Vy được búi tó gọn gàng sau gáy bằng một chiếc kẹp tre tự đẽo, để lộ chiếc gáy gầy guộc và những sợi tóc con ướt đẫm mồ hôi dính bết vào làn da mai mái.

Đôi bàn tay của Vy khẳng khiu, nổi rõ những đường gân xanh nơi mu bàn tay nhưng lại dẻo quẹo lạ kỳ. Động tác của cô chuẩn xác tới mức cơ hồ không có một milimet thừa thãi: một tay cầm sống lá chuối đã rọc phẳng, tay kia cầm muỗng gỗ múc một lượng bột trắng ngần đặt vào lòng lá; chỉ cần một đường miết dứt khoát bằng lưng muỗng, bột đã dàn phẳng phiu mỏng tang như một dải lụa mờ; tay thoăn thoắt nhón thêm một nhúm tôm thịt xào đỏ au rải dọc sống giữa, hai ngón tay cái và ngón trỏ gập đôi mép lá, bẻ gập hai đầu nhét ngược xuống đáy—tất cả diễn ra nhịp nhàng, thuần thục trong chưa đầy ba giây ngắn ngủi. Từng chiếc bánh phẳng lì như những tấm thẻ tre được xếp đều chằn chặn vào chiếc mẹt tròn đặt bên cạnh.

“Dạ, xin lỗi… có phải Thảo Vy không?” My ngập ngừng đứng lại trước ngạch cửa đất nện trơn nhẫy vì nước bột rơi rớt lâu ngày.

Đôi tay thoăn thoắt của Vy chợt khựng lại giữa một nhịp miết lá. Đầu muỗng gỗ dừng lưng chừng trên phiến lá chuối sứ xanh biếc. Vy ngẩng đầu lên. Khuôn mặt cô gái trẻ thanh tú với sống mũi cao gầy, nhưng hai gò má hóp lại và quầng mắt thâm quầng vì những đêm thức trắng triền miên. Đôi mắt một mí sắc sảo ánh lên vẻ mệt mỏi cùng cực xen lẫn nét sắc lạnh, cảnh giác tột độ. Ánh mắt ấy lướt rất nhanh từ chiếc áo khoác gió còn mới tinh tươm của My xuống đôi giày thể thao trắng muốt không dính một hạt bùn, rồi dừng lại ở vẻ mặt có phần lúng túng, bỡ ngỡ của người đối diện.

“Tôi là Thảo Vy. Chị tìm ai?” Giọng Vy cất lên khô khốc, rành rọt từng tiếng Huế rặt, âm sắc đanh lại như tiếng hai thanh nứa cọ vào nhau giữa trưa hanh nồng.

“Chị là Kiều My, cháu nội của bà Lành… bà Lành ở căn nhà rường bên kiệt An Cựu,” My bước thêm một bước dè dặt, nở nụ cười hòa hoãn cố xua đi bầu không khí ngột ngạt. “Bà chị mất rồi, trước khi đi bà có để lại cuốn sổ…”

Chưa đợi My dứt câu, nét mặt Vy đã đanh lại như đóng băng. Bờ môi mỏng mím chặt, đôi chân mày thanh mảnh chau lại thành một nếp gấp sâu hoắm nơi vầng trán. Cô đặt thanh tre gạt bột xuống thành thau nhôm cái *keng* chát chúa, âm thanh sắc nhọn dội ngược vào vách tôn rỉ sét. Vy đứng thẳng dậy, vóc người mảnh khảnh nhưng toát ra một sự cứng cỏi gai góc. Cô thản nhiên phủi hai bàn tay dính đầy tinh bột gạo trắng xóa vào vạt tạp dề vải thô đã ố vàng.

“Tôi biết bà Lành,” Vy cắt ngang, giọng lạnh băng như nước sông An Cựu mùa giá rét. “Mẹ tôi ngày xưa lúc còn sống hay nhắc mệ. Nhắc chuyện mệ chỉ cách quấy bột, chia cho mớ củi gộc thuở mới dọn về xóm ni. Nhưng mệ mất rồi, mẹ tôi cũng nằm xuống dưới đất hai năm ni rồi. Chị tìm sang đây có việc chi?”

“Chị muốn làm món bánh nậm… theo đúng di nguyện của bà gửi lại cho em,” My nói, cố giữ giọng mình thật trầm tĩnh và chân thành, hai bàn tay siết chặt quai túi xách. “Bà nói ngày xưa mẹ em từng có ân tình, từng chia sẻ gian bếp thuở hàn vi…”

Vy khẽ nhếch mép, một nụ cười cay đắng, chát chúa thoáng qua gương mặt sạm nắng phong trần:

“Lại là chuyện tri ân? Hay là dự án chi mới của mấy người trên phố? Tháng trước cũng có mấy cô cậu mang máy ảnh to đùng, sổ sách dày cộp tới đây, bảo là lập dự án bảo tồn làng nghề truyền thống với cứu trợ phụ nữ đơn thân nghèo khó chi đó. Chụp hình tôi đang lấm lem bên bếp lò, chụp cái chõ bánh bốc khói, chụp cả bàn thờ mẹ tôi nghi ngút nhang tàn. Họ ghi ghi chép chép rồi đem hoàn cảnh gia đình tôi lên mạng kêu gọi tài trợ, biến tôi thành công cụ để đánh bóng tên tuổi cho cái hội nhóm từ thiện của họ. Sau đó thì răng? Họ nhận giải thưởng sáng tạo xã hội, nhận tài trợ bề nổi cả trăm triệu, còn tôi thì vẫn phải thức từ ba giờ sáng hít khói trấu cay xè mắt mà gói từng cái bánh năm trăm đồng bạc lẻ!”

Vy bước tới mép thềm đất nện, ánh mắt nhìn thẳng vào My không hề né tránh, đầy vẻ kiêu hãnh và tự trọng bị chà đạp:

“Chị là dân tiếp thị dưới Sài Gòn về đúng không? Thầy Thiện có kể qua rồi. Tôi nói cho chị biết, tôi nghèo, tôi nợ nần tiền thuốc men chạy thận của mẹ để lại thật, nhưng tôi sống bằng hai bàn tay ni. Tôi không cần lòng thương hại, càng không cần mấy thứ dự án tài trợ màu mè của dân thành phố. Chị muốn làm bánh chi thì về nhà rường của chị mà làm, đừng đem tôi ra làm cái bia cho sự tử tế cao sang của chị!”

Từng lời, từng chữ của Vy như nhát dao chém ngọt vào không khí oi nồng, sực nức mùi trấu cháy của gian chái bếp. My đứng chôn chân tại chỗ. Cảm giác nhói buốt chạy dọc sống lưng, lan tỏa lên từng chân tơ kẽ tóc. Đó là một cảm giác bẽ bàng quen thuộc của người làm nghề truyền thông khi bị lột trần những toan tính vô thức, nhưng lần này, kỳ lạ thay, thay vì tự ái bốc đồng hay bối rối thanh minh như những ngày đầu mới về Huế, My lại thấy một sự đồng cảm sâu sắc đến thắt nghẽn lồng ngực.

Nhìn những xấp lá chuối được lau chùi sạch bóng xếp ngay ngắn từng góc góc theo thứ tự lớn nhỏ, nhìn ngón tay trỏ của Vy bị bỏng rộp nước vì hơi nóng chõ hấp, nhìn chiếc bàn ép mòn vẹt bốn góc y hệt chiếc bàn trong kho sau của nội mình, My thấu hiểu tất cả. Sự phòng vệ gai góc, xù xì ấy không phải là lòng hận thù; đó là lớp vỏ bọc kiên cường cuối cùng để một người trẻ bảo vệ danh dự của mình trước những xô bồ giả tạo của cuộc đời. Vy sợ bị biến thành một "trường hợp cần cứu giúp", sợ nghề gia truyền của mẹ mình bị tầm thường hóa thành một món mồi câu cảm xúc rẻ tiền cho người ta bấm like trên mạng xã hội. Cô gái ấy thà cô độc gánh vác món nợ khổng lồ trong bóng tối còn hơn là nhận lấy thứ hào quang ban ơn bố thí.

My im lặng nhìn Vy vài giây. Trong khoảnh khắc ấy, mọi ngôn từ tiếp thị hoa mỹ đều trở nên kệch cỡm. Cô khẽ cúi đầu thật thấp, không biện bạch, không giải thích một lời nào:

“Chị hiểu rồi,” My nói khẽ, giọng bình thản và tôn trọng tuyệt đối. “Chị xin lỗi vì đã đường đột đến làm phiền lúc em đang dở mẻ bánh sớm. Chị không đến để làm từ thiện, càng không có máy ảnh hay dự án nào mang theo cả. Chị chỉ muốn hoàn thành một lời hứa với người đã khuất. Nếu em không tin… chị sẽ quay lại bằng chiếc bánh của chính tay mình.”

Nói rồi, My quay người dắt xe đạp bước ra ngõ, không nán lại thêm một giây nào để van nài hay chứng tỏ. Sau lưng cô, tiếng thanh tre gạt bột của Vy lại vang lên lách cách, nhưng nhịp điệu dường như đã có chút xáo trộn, ngập ngừng giữa làn khói bếp bảng lảng trôi ra ngõ nhỏ.

***

Đạp xe trở về căn nhà rường cổ kính bên kiệt An Cựu, lòng My như có một ngọn lửa hối thúc bùng cháy. Lời của Vy cứ văng vẳng bên tai, đập vào màng nhĩ cô từng nhịp buốt rát: *“Tôi sống bằng hai bàn tay ni.”*

Đó là lời tuyên ngôn của một người thợ chân chính. Muốn đối thoại với một người thợ như thế, không có thứ ngôn ngữ truyền thông nào có giá trị bằng chính mồ hôi, vết bỏng và tay nghề thực thụ. Nếu không thể tự tay làm ra một chiếc bánh nậm đạt chuẩn phong vị xứ Huế—mỏng tang, mềm mướt mà không nát, đậm đà mà thanh tao, dẻo dai mà tan biến trên đầu lưỡi—cô sẽ vĩnh viễn chỉ là một kẻ đứng ngoài mang theo thứ lòng tốt hời hợt, vô duyên.

Gian bếp nhà rường lập tức được My mở toang các cánh cửa gỗ chấn song để gió sông lùa vào xua bớt mùi ẩm mốc tích tụ qua đêm. Cô xắn cao tay áo, buộc gọn mái tóc dài sau gáy bằng chiếc nẹp tre cũ của bà Lành. Chiếc tạp dề vải thô màu chàm máng trên vách bếp được cô khoác lên mình, phảng phất mùi bồ hóng và tinh dầu sả khô thân thuộc.

Dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ từng dòng trong cuốn sổ của bà Lành, My bắt tay vào khâu chuẩn bị nguyên liệu. Bánh nậm Huế nhìn qua tưởng chừng là thứ bánh mộc mạc, bình dân nhất trong các món bánh kinh kỳ, đứng sau vẻ đài các của bánh bèo chén hay sự trong trẻo kiêu kỳ của bánh bột lọc bọc tôm thịt, nhưng kỳ thực lại là món ăn đòi hỏi độ nhạy cảm tinh vi bậc nhất ở khâu quấy bột và gói lá. Nó không giấu được lỗi sai. Bột đặc một chút là bánh cứng đờ như cục bột hấp; bột loãng một chút là bánh nhão nhoét, dính chặt vào lá không thể bóc nổi.

Nguyên liệu chính là gạo Khang Dân xay ướt, thứ gạo hạt tròn hơi đục nhưng cho lượng tinh bột dôi và đượm mùi đồng ruộng miền Trung. My dùng chiếc gáo dừa múc từng ca tinh bột trắng tinh đã được ngâm lắng qua ba lần nước trong lu sành, gạn bỏ hoàn toàn phần nước chua nổi váng phía trên. Theo ghi chép của bà Lành, để bột bánh nậm đạt độ mềm mướt mà vẫn giữ được phom dáng vuông vức khi bóc lá, người thợ phải pha thêm một phần nhỏ bột năng củ mì nguyên chất để tạo độ liên kết dẻo dai. Tỷ lệ nước và bột cho bánh nậm phải loãng hơn bánh bèo rất nhiều—thường là một phần bột hòa cùng ba phần rưỡi hoặc bốn phần nước lọc trong vắt, thêm một nhúm muối hột giã mịn và một muỗng mỡ lợn phi hành tăm để bột có độ bóng và không bị khô xác khi nguội. Bột phải lỏng như nước sữa tươi chưa nấu, chảy ròng ròng qua kẽ ngón tay thì khi chín mới đạt được độ mềm tan biến trên đầu lưỡi.

Khâu làm nhân cũng cầu kỳ không kém. Tôm đất đầm phá Tam Giang còn tươi rói, nhảy tanh tách trong chiếc rổ tre, My rửa sạch bằng nước muối loãng, ngắt bỏ đầu nhọn, bóc sạch vỏ mỏng và tỉ mẩn dùng tăm tre rút từng sợi chỉ đen dọc sống lưng. Tôm sau khi làm sạch không đem băm bằng dao thớt kim loại vì sẽ làm tôm tanh và mất nước ngọt; cô cho từng mẻ nhỏ vào cối đá xanh giã tay nhịp nhàng cho đến khi thịt tôm dập nát nhưng vẫn giữ được độ kết dính tự nhiên. Thịt nạc thăn heo tươi cắt hạt lựu thật nhỏ rồi băm mịn cùng vài củ hành khô và một vốc củ nén đập giập.

Bếp lửa bập bùng bén mỡ lợn gáy xèo xèo trong chiếc chảo gang sâu lòng. Mùi hành tăm phi thơm nức mũi bốc lên quấn quýt quanh xà nhà. My trút phần thịt thăn và tôm giã vào chảo, đảo liên tục trên ngọn lửa lớn. Mùi tôm quyện với mỡ lợn và nước mắm nhỉ cá cơm nguyên chất bốc lên thơm điếc mũi, làm sống dậy cả gian bếp thâm u. My nêm chút tiêu sọ xay mịn, vài hạt muối hột, liên tục đảo đều tay bằng đôi đũa bếp to bản bằng gỗ vông. Từng miếng thịt, từng thớ tôm dần tơi xốp ra dưới nhiệt độ cao, rút cạn nước, ngả sang màu đỏ gạch óng ả tự nhiên mà không cần dùng đến một giọt phẩm màu hay dầu điều. Nhân bánh nậm tuyệt đối không được để ướt hay chảy mỡ, bởi dầu mỡ dư thừa khi gói sẽ làm loang bột và khiến mép lá chuối bị trượt, không thể dính chặt vào nhau khi đưa vào chõ hấp. Khi mẻ nhân tôm thịt khô ráo, tơi như ruốc mịn, My trút ra chiếc đĩa sứ hoa lam để nguội.

Khâu tiếp theo là lá chuối. Bà Lành dặn rõ trong sổ: *“Bánh nậm chỉ được gói bằng lá chuối sứ hoặc chuối chát, tuyệt đối không dùng lá chuối tiêu vì sẽ làm bột bánh bị chát đắng và thâm đen sì.”*

My cầm con dao bài ra vườn sau, cẩn thận rọc từng tàu lá chuối sứ xanh ngắt, bản rộng không bị rách mép. Gió đông xào xạc trên những đọt chuối non làm rơi rụng vài giọt sương đêm sót lại trên tóc cô. My dùng một chiếc khăn bông ẩm lau sạch từng hạt bụi li ti và phấn trắng bám trên hai mặt lá. Sau đó, cô dùng mũi dao rọc bỏ phần sống lưng cứng ngắc, chỉ lấy hai bên phiến lá mềm mại, cắt thành từng miếng hình chữ nhật kích thước chừng mười lăm nhân hai mươi phân, cỡ bằng bàn tay xòe rộng của người lớn.

Một nồi nước sôi sùng sục được bắc lên bếp củi. My thả từng xấp lá chuối vào chần sơ trong nước sôi chừng vài chục giây cho lá vừa chín tái rồi vớt ngay ra ngâm vào thau nước lạnh ngắt. Nước nóng làm sống lá dịu lại, chuyển từ màu xanh nõn sang màu xanh ngọc bích đậm đà và dẻo dai như một tấm lụa mềm; khi gập mép vuông vức sẽ không bao giờ bị rách toạc hay gãy gập đường gân. Từng tấm lá được vớt ra, lau khô bằng khăn sạch rồi xếp chồng lên nhau ngay ngắn trên chiếc mẹt tre.

Chuẩn bị xong xuôi mọi thứ, My đứng trước âu bột pha sẵn, tự tin hít một hơi sâu:

“Được rồi, chỉ là quấy bột thôi mà. Công thức đã có sẵn hết rồi.”

Nhưng sự đời chưa bao giờ dễ dàng như những dòng chữ nằm phẳng phiu trên trang giấy hoa nhí.

Công đoạn quấy bột—hay người Huế xưa còn gọi là “lấy trùng bột”—chính là cửa ải nghiệt ngã và tinh vi nhất của người thợ làm bánh nậm. Bột bánh nậm không được nấu chín hoàn toàn trên bếp, mà chỉ quấy cho đến khi bột “chín tái” khoảng sáu mươi phần trăm, tức là trạng thái lơ lửng giữa sống và chín: bột vừa chuyển từ dạng sữa lỏng sang sền sệt, nửa trong nửa đục, mịn màng tuyệt đối và không được phép có một gợn óc trâu hay một hạt tinh bột vón cục nào.

My bắc nồi bột lên bếp củi. Nôn nóng muốn bột mau đặc để kịp gói trước buổi trưa, cô đùn thêm hai thanh củi phi lao khô vào cửa lò. Ngọn lửa bùng lên đỏ rực, liếm láp quanh đáy nồi nhôm Liên Xô mỏng manh.

Chỉ trong tích tắc vài chục giây, tai họa ập đến ngoài tầm kiểm soát của cô gái trẻ.

Nhiệt độ đáy nồi tăng vọt quá nhanh trong khi chiếc đũa bếp trên tay My đảo không kịp nhịp. Lớp tinh bột lắng sát đáy nồi lập tức bị sốc nhiệt, đông cứng lại thành từng mảng cháy sém bám chặt vào kim loại. Một mùi khét lẹt bốc lên nồng nặc. My hốt hoảng trợn tròn mắt, ra sức dùng đũa khuấy thật mạnh để cứu vãn, nhưng càng đảo cuống cuồng, những mảng bột đặc quánh, vón cục lổn nhổn màu xám xịt càng cuộn trào lên từ đáy, hòa lẫn vào phần bột còn loãng toẹt phía trên. Bột bị vón thành những cục óc trâu cứng đờ, nổi lềnh bềnh trong thứ nước sền sệt khét lẹt.

“Thôi chết rồi!” My cuống cuồng dùng hai chiếc giẻ bắc nồi nhấc phắt cái nồi ra khỏi bếp than, hai bàn tay run rẩy, rát bỏng vì quai nhôm nóng rẫy.

Nhìn nồi bột nham nhở nửa sống nửa chín, My cắn chặt môi dưới tiếc nuối đến nghẹn ngào. Nhưng sự tiếc của cùng lòng tự ái bốc đồng của tuổi trẻ lại khiến cô phạm tiếp sai lầm thứ hai. Thay vì đổ bỏ toàn bộ mẻ bột hỏng để làm lại từ đầu, cô lại cố dùng chiếc muỗng gỗ miết những cục bột vón vào thành nồi để nghiền nát chúng ra, tự huyễn hoặc rằng khi gói vào lá và đem hấp chín, bột sẽ tự động tan đều.

Trải tấm lá chuối lên mặt bàn ép, My múc một muỗng bột lớn trét lên sống lá. Vì bột bị vón cục và quấy quá đặc trên bếp, cô không thể nào dùng lưng muỗng miết mỏng bột ra như Thảo Vy đã làm. Lớp bột nằm chình ình trên mặt lá, dày cộp như một tảng bánh đúc thô kệch. My vội vàng rải một thìa nhân tôm thịt lên trên rồi vội vã gập đôi mép lá lại, bẻ hai đầu mép nhét xuống đáy. Chiếc bánh gồ ghề, phồng tướng như một chiếc bánh chưng mini, mép lá trơn tuột vì dính lớp bột thừa xì ra lem nhem chung quanh.

Cố đấm ăn xôi, My xếp hơn hai chục chiếc bánh vụng về, méo mó ấy vào chiếc chõ hấp, đậy nắp vung nhôm lại và thổi lửa thật to dưới đáy nồi nước.

Mười lăm phút sau, khi My hồi hộp mở nắp chõ, một cảnh tượng thảm hại phơi bày trước mắt cô gái trẻ.

Hơi nước quá mạnh cùng lớp bột trét quá dày bên trong đã làm các nếp gấp lá chuối bung toét. Lá chuối mở toang hoác trong xửng như những cánh buồm rách nát sau bão. Nước đọng từ nắp vung nhôm nhỏ tong tỏng xuống làm bột nhão nhoét, chảy tràn ra ngoài mặt lá, hòa lẫn với nhân tôm thịt xào mỡ thành một bãi lầy lội, nhờn nhợt và nhớp nhúa. Mùi khét lẹt của mẻ bột cháy đáy nồi ban nãy gặp hơi nước bốc lên nồng nặc, xộc thẳng vào mũi, át sạch hoàn toàn mùi thơm thanh khiết vốn có của lá chuối sứ.

My chết lặng. Chiếc nắp vung trên tay cô rớt xuống sàn gạch kêu *loảng xoảng*. Hai tay cô buông thõng bên hông chõ hấp. Nước mắt cô ứa ra, trào qua khóe mi, lăn dài trên gò má nóng bừng vì bất lực và cay đắng tột cùng.

Làm sao cô có thể đem thứ phế phẩm kinh khủng này đến đối diện với đôi mắt sắc lạnh và đầy kiêu hãnh của Thảo Vy? Một người thợ ngày ngày gói hàng trăm chiếc bánh nậm mỏng tang, nuột nà như lá lúa, sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy đống bột nhão cháy khét lẹt này? Vy sẽ càng khinh thường cô, sẽ càng tin chắc rằng cô chỉ là một đứa tiểu thư thành phố học đòi làm màu, đem di sản cả đời của người khác ra làm trò tiêu khiển, làm một bài thực hành hời hợt cho bản lý lịch tiếp thị rỗng tuếch.

“Muốn bột mịn thì tâm phải phẳng trước đã, My à.”

Một giọng nói trầm ấm, khoan thai và tĩnh lặng vang lên từ phía ngạch cửa chái bếp.

My giật mình quay ngoắt lại. Thiện đã đứng đó tự bao giờ. Anh mặc chiếc áo sơ mi đũi màu lam sẫm giản dị, trên tay bưng một chiếc ấm đất nung đựng nước chè xanh còn nghi ngút khói và một chiếc nẹp tre chuốt mỏng dùng để têm mép bánh.

“Anh Thiện…” My cúi gằm mặt xuống đất, vội vã đưa mu bàn tay quệt giọt nước mắt vừa lăn xuống cằm, ngượng ngùng chỉ vào chõ hấp bung bét phế phẩm. “Em… em làm hỏng hết cả rồi. Bột khét đáy, vón cục lổn nhổn, rồi hấp lên nó bung hết mép lá… Em vụng về quá…”

Thiện không hề cười, cũng không buông một lời trách móc hay trêu chọc. Anh bước chậm rãi vào bếp, đặt ấm trà lên góc bàn gỗ, cúi xuống nhìn kỹ chõ bánh hỏng, rồi cầm chiếc muỗng gỗ khều nhẹ một mẩu bột cháy đen dưới đáy nồi.

“Bột gạo pha nước loãng có tính chất lắng cặn rất nhanh,” Thiện từ tốn nói, giọng anh như một nốt trầm êm ả làm dịu đi sự hoảng loạn đang cào xé trong lòng My. “Em vừa đặt lên bếp mà ngọn lửa củi đã bùng to, bột dưới đáy bị sốc nhiệt đông cứng lại trước khi phần nước bên trên kịp ấm. Khi đáy nồi bắt đầu bén khét, em lại hoảng hốt quấy mạnh tay, thế là vô tình mang tro than trộn lẫn vào bột trắng. Cái tâm của em lúc ấy đang vội, em muốn chứng minh cho Vy thấy em làm được, nên ngọn lửa trong lòng em nó cháy to hơn ngọn lửa dưới đáy nồi.”

Anh quay sang nhìn My, ánh mắt đong đầy vẻ thấu cảm của một người đã chứng kiến bao thăng trầm của mảnh đất này:

“Bánh nậm không phải là món ăn của sự vội vã. Người Huế gói bánh nậm là gói cái sự khéo léo, gói sự nhẫn nại của đời người đàn bà. Hồi nãy anh đi ngang qua xóm thợ bên cầu An Cựu, thấy em từ nhà Vy lầm lũi đi ra. Con bé nói những lời khó nghe lắm phải không?”

My khẽ gật đầu, ngón tay bối rối mân mê gấu áo chàm:

“Vy nói em đem hoàn cảnh của em ấy ra làm màu… Em ấy ghét sự thương hại.”

Thiện khẽ thở dài một tiếng, kéo chiếc ghế đẩu gỗ lại gần bếp than:

“Mẹ Vy mất vì ung thư dạ dày cách đây hai năm. Suốt thời gian bà Lan nằm viện cấp cứu ở bệnh viện Trung ương Huế, bao nhiêu đồ đạc, đồ đồng gia bảo trong nhà bán sạch không còn một manh chiếu rách. Có những hội nhóm từ thiện đến quay phim, chụp ảnh, hứa tài trợ mổ xẻ này nọ nhưng rốt cuộc tiền chẳng thấy đâu, chỉ thấy hình ảnh tiều tụy của hai mẹ con phơi bày khắp nơi trên mạng xã hội để người ta thương vay khóc mướn. Con bé bị tổn thương sâu sắc, nó khép kín lòng mình lại từ dạo đó. Nhưng điều làm nó đau lòng nhất là nghề làm bánh của mẹ nó—thứ nuôi sống cả gia đình ba đời qua—đang chết dần từng ngày. Dạo gần đây, hàng quán ế ẩm, bột gạo, tôm thịt trượt giá tăng vọt, Vy đang tính bán nốt cái bếp trấu để vào Đà Nẵng làm công nhân may cho một xưởng gia công giày da. Nó không muốn bỏ bánh nậm, nhưng nó cô độc quá giữa cuộc mưu sinh nghiệt ngã ni.”

My ngước đôi mắt tròn xoe lên nhìn Thiện, trong lòng dâng lên một nỗi xót xa:

“Vy định bỏ nghề làm bánh thật sao anh?”

“Phải,” Thiện gật đầu, ánh mắt nhìn ra khoảng sân mờ mịt mưa phùn. “Cho nên khi em đến với danh nghĩa 'di nguyện' và 'ân tình', con bé nghĩ em cũng chỉ là một người qua đường hiếu kỳ nữa thôi, đến rồi lại đi như những kẻ mang máy ảnh khác. Nó cần một người hiểu được giá trị của từng giọt mồ hôi rơi trên tấm lá chuối này, chứ không bao giờ cần một người ban ơn.”

Thiện đứng dậy, xắn cao hai tay áo sơ mi, dứt khoát nhấc nồi nhôm cháy khét mang ra sàn nước sau vườn:

“Rửa sạch nồi đi My. Chúng ta làm lại từ đầu. Đêm nay, anh sẽ ngồi đây canh nhịp lửa cho em.”

***

Đêm mùa đông buông xuống kiệt An Cựu tịch mịch và lạnh buốt như cắt vào da thịt. Tiếng côn trùng rả rích dưới những khóm chè tàu ướt sũng hòa cùng tiếng gió mùa đông bắc rít qua từng khe vách gỗ của gian nhà rường cổ kính. Cả khu xóm thợ bên kia sông đã chìm vào giấc ngủ sâu sau một ngày mưu sinh nhọc nhằn, chỉ còn gian bếp nhỏ sau nhà bà Lành là vẫn bập bùng ánh lửa đỏ ấm áp.

My cọ sạch bong lớp bột cháy khét bám dưới đáy nồi nhôm bằng xơ mướp già và tro bếp mịn. Cô đong lại một âu bột gạo Khang Dân mới, hòa tan cùng nước mưa lắng trong vắt múc từ chiếc lu sành rêu phong theo đúng tỷ lệ vàng mà cuốn sổ tay đã ghi chép: một chén bột, ba chén rưỡi nước lọc, một thìa cà phê mỡ lợn phi thơm hành tăm và chút xíu muối hột. Bột được khuấy đều nhẹ nhàng rồi lọc qua chiếc rây bằng lụa mắt nhỏ hai lần; nước bột chảy xuống thau men mịn màng, trắng muốt và thuần khiết như dòng sữa mẹ.

Lần này, bếp lửa không còn những thanh củi phi lao bốc ngọn hung hãn. Thiện giúp cô nhóm một lò than đước đỏ rực, gắp bớt những hòn than bén lửa ngọn ra ngoài, chỉ giữ lại một lớp than hồng êm đềm, không hề có một ngọn lửa le lói nào, chỉ tỏa ra một nhiệt lượng sâu thẳm, dịu dàng và đều đặn từ bốn phía.

“Đặt nồi lên,” Thiện khẽ nhắc, tay anh cầm một thanh tre nhỏ gõ nhẹ từng nhịp *cốc… cốc… cốc* đều đặn lên mặt bàn gỗ như đang đếm nhịp cho một bản ca Huế cổ kính. “Cổ tay thả lỏng ra My. Quấy bột bánh nậm giống hệt như người ta nắn nót một nét bút chữ Nho hay chơi một khúc đàn tranh chậm rãi. Không được giật cục, không được ngừng tay dù chỉ trong một phần giây ngắn ngủi. Đáy vá tre phải luôn quét sát đáy nồi theo vòng tròn đồng tâm, gom từ mép thành nồi miết dần vào tâm điểm.”

My cầm chiếc vá tre thon dài. Nồi bột bắt đầu ấm dần lên dưới đáy nhôm. Đôi tay cô di chuyển nhịp nhàng theo tiếng gõ của Thiện, từng vòng, từng vòng tròn xoay đều không ngơi nghỉ. Hơi nước ấm áp mang theo mùi thơm dịu nhẹ, thanh khiết của bột gạo ngâm nước mưa bắt đầu lan tỏa khắp gian bếp nhỏ.

Mười phút, rồi mười lăm phút trôi qua. Bắp tay My mỏi rã rời, các khớp ngón tay bắt đầu co rút lại vì phải giữ chặt cán vá tre. Mồ hôi lấm tấm rịn ra trên trán, chảy dọc sống mũi dù gió đêm ngoài sân đang thổi buốt giá. Nhưng cô không dám dừng lại một nhịp nào. Dưới đáy nồi, cảm giác cản trở của dịch bột bắt đầu xuất hiện rõ rệt. Dòng sữa lỏng ban đầu dần chuyển sang trạng thái sánh mịn, nặng tay hơn.

“Giữ nguyên nhịp điệu, gắp bớt một thanh than nhỏ ra ngoài,” Thiện quan sát chăm chú từng chuyển động của mặt bột, giọng anh trầm tĩnh vang lên đúng thời khắc. “Bột đang lấy trùng đó em. Đừng sợ, không cháy được đâu. Đảo đều từ đáy lên, nhẹ tay thôi!”

Đúng như lời Thiện, lớp bột gạo dưới đáy nồi chuyển dần từ màu trắng sữa đục sang màu trắng trong ngà ngà. Bột đặc quánh lại nhưng kỳ diệu thay, không hề có một gợn óc trâu nào xuất hiện. Cả khối bột mịn màng, dẻo quánh như kem lụa thượng hạng. Khi My nhấc chiếc vá tre lên cao, dòng bột dẻo chảy xuống thành từng dải mỏng tang, gấp nếp mềm mại trên mặt nồi rồi từ từ hòa tan vào khối bột chung.

“Được rồi! Nhấc nồi xuống ngay lập tức!” Thiện dứt khoát bảo.

My nhanh chóng bê nồi bột đặt lên chiếc rơm bện dưới sàn đất nện, tay vẫn tiếp tục đảo nhẹ thêm một lúc cho hơi nóng thoát bớt ra ngoài mà không làm khô màng mặt bột. Chiếc vá tre nhấc lên bóng loáng, mịn màng không tì vết; đáy nồi nhôm sạch trơn, không hề có một vệt sém vàng nhỏ nhoi nào. Cô thở phào một hơi dài nhẹ nhõm. Cô đã quấy thành công mẻ bột chín tái đầu tiên trong cuộc đời mình.

“Bột đạt độ chuẩn rồi đó,” Thiện mỉm cười, trong mắt anh lấp lánh ánh than hồng ấm áp. “Bây giờ mới đến phần tinh tế nhất của người phụ nữ Huế: gói bánh.”

Thiện kéo chiếc đèn dầu hỏa lại gần mặt bàn ép bằng gỗ kiền kiền. Anh không làm thay, chỉ cầm một chiếc lá chuối sứ đã chần mềm mướt, trải phẳng phiu lên phiến gỗ:

“Lá chuối mặt xanh đậm úp xuống dưới mặt bàn để khi hấp chín, chiếc bánh có một lớp áo xanh ngọc bích bóng bẩy; mặt xanh nhạt ngửa lên trên để tiếp xúc trực tiếp với bột. Chấm một chút xíu dầu phụng thoa đều một vệt mỏng lên giữa sống lá để chống dính.”

My làm theo răm rắp từng chỉ dẫn. Cô dùng một chiếc lông gà sạch chấm vào bát dầu phụng phi hành, quét một lớp dầu mỏng tang, thơm ngậy lên sống lá chuối.

“Múc một muỗng bột nhỏ thôi. Nhớ là lưng muỗng gỗ phải miết thật dứt khoát, dẹt và đều tay. Bánh nậm Huế cốt ở cái mỏng manh thanh tao. Bánh dày cộp là bánh vụng, bánh của người phàm phu.”

My hít một hơi sâu để lấy lại sự tĩnh tâm, múc nửa muỗng bột đặt vào chính giữa phiến lá xanh. Dùng lưng chiếc muỗng gỗ chuốt mỏng, cô miết một đường nhẹ nhàng nhưng dứt khoát từ trên vuốt xuống dưới. Lớp bột trắng trong lập tức trải dài ra thành một dải hình chữ nhật mỏng dính, phẳng lì như một dải lụa mờ, độ dày chỉ chừng hai milimet, trong veo đến mức có thể nhìn xuyên thấu qua những đường gân xanh mướt của phiến lá chuối bên dưới.

Tiếp đó, My dùng chiếc thìa tre nhỏ, xúc một vệt nhân tôm thịt xào khô ráo, rải đều tăm tắp dọc theo sống giữa của dải bột trắng. Màu đỏ gạch rực rỡ của tôm đầm phá nổi bật trên nền bột trắng ngần và viền lá xanh biếc, tựa như một bức tranh thủy mặc thu nhỏ của thiên nhiên xứ Huế.

“Gập mép lá lại,” Thiện nhắc khẽ bên tai.

My cẩn thận gấp hai mép lá dọc vào giữa sao cho chúng khép kín, phủ mép lên nhau vừa khít một phân, rồi dùng bốn đầu ngón tay vuốt thật nhẹ dọc theo thân bánh để ép hết toàn bộ bọt khí bên trong thoát ra ngoài. Sau đó, cô bẻ gập hai đầu mép lá thừa nhét ngược xuống phía dưới lưng bánh. Chiếc bánh nậm hoàn thành nằm gọn ghẽ trên lòng bàn tay cô—phẳng phiu, vuông vức, mỏng tang và nhẹ bẫng như một phong thư tình chưa mở.

“Rất đẹp,” Thiện khẽ gật đầu mỉm cười công nhận. “Đúng hình dáng chiếc bánh nậm của bà Lành ngày xưa rồi đó.”

Nhưng làm được một chiếc hoàn hảo chưa phải là đã thành công. Cả một âu bột lớn vẫn đang bốc khói nghi ngút chờ đợi đôi tay cô.

Đồng hồ điểm một giờ, rồi hai giờ sáng.

Gian bếp chìm trong sự tĩnh lặng tuyệt đối của đêm đông xứ Huế, chỉ còn tiếng than hồng nổ lách tách khe khẽ và tiếng vuốt lá chuối xào xạc đều đặn của My. Đôi bàn tay cô thoạt đầu còn ngượng nghịu, run rẩy vì sợ mép lá bung ra, nhưng qua chiếc thứ mười, thứ hai mươi, đôi tay ấy dần tìm được nhịp điệu của riêng mình.

Miết bột, rải tôm, gập mép, bẻ đầu. Từng cử động trở nên dứt khoát, chuẩn xác và uyển chuyển như một phản xạ tự nhiên ăn sâu vào từng thớ cơ bắp.

Lưng My mỏi nhừ như muốn gãy đôi, đôi bả vai đau ê ẩm, mắt cay xè vì khói than đượm nồng, nhưng trong tâm khảm cô lại dâng lên một cảm giác an tĩnh, thanh thản lạ thường. Cô không còn nghĩ đến những bản kế hoạch tiếp thị nghìn trang, không còn bận tâm đến những cú nhấp chuột, những báo cáo tương tác hay những chỉ số tăng trưởng khô khốc nơi văn phòng máy lạnh ngột ngạt ở phương Nam xa xôi. Lúc này đây, cả thế giới của My thu nhỏ lại vừa bằng chiều dài của một phiến lá chuối sứ, nơi ngón tay cô đang miết nhẹ để chở che, nâng niu cho lớp bột gạo và tôm thịt mỏng manh. Cô đang sống trọn vẹn trong từng giây phút của lao động thuần khiết.

Gần bốn giờ sáng, chiếc bánh thứ sáu mươi được My nhẹ nhàng xếp ngay ngắn vào vỉ tre. Từng chiếc bánh phẳng phiu, đều chằn chặn như được dập ra từ một khuôn mẫu của sự kiên nhẫn và lòng thành kính.

Thiện nhóm lại bếp than, đặt chõ hấp lên chiếc nồi nước đang sôi ùng ục, hơi nước bốc lên cuồn cuộn qua những lỗ tròn của đáy xửng nhôm.

“Nhớ lấy chiếc đồng hồ ra canh cho chuẩn xác,” Thiện cẩn thận dặn dò trước khi bước ra bể cạn múc nước rửa tay. “Bánh nậm mỏng mảnh vô cùng, chỉ cần đúng mười lăm phút hơi nước bốc đều là bột chín trong thấu suốt từ trong ra ngoài. Tuyệt đối đừng mở nắp thăm chừng làm mất nhiệt lượng, cũng đừng để quá lửa mà lá chuối ngả màu vàng úa, bánh sẽ mất đi vị thanh khiết vốn có.”

My ngồi bệt xuống thềm bếp đất nện, hai mắt không rời ngọn lửa than đỏ rực dưới đáy nồi. Chiếc chõ hấp bắt đầu rung lên bần bật nhè nhẹ theo nhịp sôi của nước, những luồng hơi nước mang theo mùi thơm ngạt ngào của lá chuối sứ chín tới và tôm đất đầm phá xào mỡ hành xông thẳng vào khoang mũi cô. Đó là một mùi hương thuần khiết, mộc mạc mà có sức lay động ghê gớm—mùi hương của lao động chân chính, của sự bền bỉ không toan tính vụ lợi.

Mười lăm phút trôi qua chuẩn xác từng giây trên mặt đồng hồ đeo tay.

My run run dùng hai chiếc giẻ nhấc nắp vung nhôm ra. Hơi nước mù mịt túa ra như sương sớm bao phủ khắp gian bếp.

Dưới ánh đèn dầu hỏa lay lắt, những chiếc bánh nậm nằm xếp lớp ngay ngắn trên vỉ tre, vỏ lá chuối đã chuyển từ màu xanh tươi ban đầu sang một màu xanh úa đượm dầu bóng bẩy, phẳng lì không một vết nhăn nhúm. Không một chiếc nào bị bung mép. Không một vệt bột nào bị xì ra ngoài làm bẩn tấm áo lá.

My cẩn thận dùng chiếc đũa bếp gắp một chiếc bánh đặt ra chiếc đĩa sứ hoa lam, kiên nhẫn để nguội chừng một phút cho bột se mặt lại rồi bóc nhẹ lớp lá chuối bên trên.

Lá chuối tách ra mượt mà, róc rách không hề dính lại một hạt bột nhỏ nào. Tấm bánh nậm hiện ra hoàn mỹ đến nghẹn ngào: lớp bột gạo chín trong veo, mỏng tang như một làn sương sớm mùa đông, mềm mướt rung rinh theo nhịp thở nhưng vẫn giữ nguyên hình khối chữ nhật vuông vức; lớp nhân tôm đất thịt thăn đỏ ửng óng ả trải dài tăm tắp ở giữa, điểm xuyết vài hạt tiêu đen li ti như những nốt nhạc trầm mặc.

My dùng chiếc thìa tre nhỏ xắn một miếng bánh đưa vào miệng.

Miếng bánh nậm vừa chạm vào đầu lưỡi đã tan biến như tuyết đầu mùa. Vị ngọt bùi, thanh khiết của bột gạo Khang Dân hòa quyện hoàn hảo với vị ngọt đậm đà, săn chắc của tôm đất đầm phá và vị béo ngậy kín đáo của mỡ lợn phi hành tăm. Hậu vị đọng lại nơi cuống họng là mùi thơm nồng nàn của lá chuối sứ đã ngấm sâu vào từng thớ bột qua mười lăm phút hơi nước sôi sùng sục. Không một chút vị khét, không một chút lợn cợn vón cục. Mọi thứ cân bằng, tinh tế và thanh thoát đến lạ kỳ.

My nhắm nghiền đôi mắt lại, một giọt nước mắt hạnh phúc lặng lẽ lăn dài trên gò má lấm lem tro bếp và mồ hôi đêm.

Cô đã làm được. Chiếc bánh nậm của bà Lành đã thực sự sống lại trọn vẹn trong gian bếp cổ này sau bao năm tháng ngủ quên dưới lớp bụi thời gian.

***

Trời rạng sáng. Gió lạnh mùa đông mang theo những hạt mưa phùn li ti quét qua những mái ngói âm dương thâm u của kiệt An Cựu. Xóm nghèo bắt đầu cựa mình thức giấc với tiếng bước chân vội vã của những người gánh hàng đi chợ sớm, tiếng dép nhựa lẹt xẹt trên mặt đường ướt sũng và tiếng chuông xe đạp lanh canh từ xa vọng lại.

My không kịp chớp mắt lấy một phút. Cô múc một gáo nước lạnh buốt từ chiếc lu sành rửa mặt cho tỉnh táo, thay chiếc áo khoác sạch sẽ rồi cẩn thận xếp từng chiếc bánh nậm còn nóng hổi vào chiếc khay tre có lót tấm khăn vải sạch tinh tươm mà ông Phúc thợ may từng tặng cô hôm trước. Chiếc khay bánh được đậy kín cẩn thận bằng một tấm lá chuối tươi xanh ngắt để giữ trọn hơi ấm nồng nàn và hương thơm tinh khiết bên trong.

Băng qua cây cầu An Cựu trong màn sương sớm bảng lảng giăng mắc trên mặt sông đục ngầu phù sa, My quay trở lại xưởng bánh nhỏ của Thảo Vy.

Cánh cửa liếp nứa của gian chái bếp vẫn mở toang hoác đón gió lạnh. Lò trấu bên trong đã đỏ rực lửa tự bao giờ, tỏa ra làn khói xám mờ mịt. Vy đang đứng một mình bên chiếc bàn ép gỗ mòn vẹt, đôi mắt thâm quầng sâu hoắm vì thiếu ngủ triền miên, trên tay cô vẫn cầm chiếc que tre chuốt mỏng dùng để gạt bột. Nhìn thấy bóng My bước vào với chiếc khay tre bốc khói nghi ngút trên tay, Vy sững sờ chết lặng, chiếc que tre trên tay cô khẽ rung lên một nhịp ngỡ ngàng.

Không một lời hoa mỹ, không một lời giải thích thừa thãi nào được thốt ra, My bước những bước chân vững chãi qua bậu cửa đất nện trơn nhẫy. Hương thơm nồng nàn của lá chuối chín tới và tôm đất từ khay bánh tỏa ra ngạt ngào, xua tan đi mùi ẩm mốc, lấp đầy gian chái bếp chật hẹp, lạnh lẽo bằng hơi ấm thuần hậu của một mẻ bánh vừa mới ra lò.

My bưng khay bánh nậm nóng hổi bước đến trước bàn thờ mẹ của Vy, nơi có di ảnh người phụ nữ với nụ cười đôn hậu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories