Bản sao biết nói dối
Ngay sau khi nhận diện chữ ký viết tắt trên biên bản bảo dưỡng, Nam và Bảo Châu phóng xe qua những con hẻm lầy lội ven sông ở quận Bình Thạnh để tìm tới căn nhà xưởng kín cổng cao tường của Mai Quốc Huy.
Cơn mưa rào đầu mùa vừa dứt để lại bầu không khí oi nồng, đặc quánh hơi ẩm bốc lên từ dòng kênh uốn lượn sau những rặng dừa nước ngả nghiêng. Nước dưới lòng kênh đen thẫm, lững lờ trôi những mảng lục bình dập dềnh bám đầy rác rưởi hữu cơ và bọt váng nhớt. Khu Bình Lợi những năm gần đây tuy mọc lên nhiều dãy nhà phố nhiều tầng khang trang, nhưng sâu trong các ngõ cụt sát mép nước sình lầy vẫn còn sót lại những kho bãi cũ kỹ thời trước. Đó là những dãy nhà xưởng lợp tôn xi măng xám xịt, loang lổ vết ố nước mưa ngấm qua bao mùa ẩm ướt, được che chắn bởi những bức tường gạch bám đầy rêu phong, nứt nẻ và chằng chịt rễ phụ của những giàn dây leo dại.
Chiếc xe bán tải của Nam chầm chậm bò qua con đường đất đỏ nhão nhoét, bùn non bắn lên thành xe từng vệt dài quánh đặc, trước khi phanh khựng lại trước cánh cổng sắt dày bản sơn màu ghi xám đã rỉ ngoét từng mảng lớn ở chân mép. Chân cổng sắt ngập trong một vũng nước đọng màu rỉ sét, nổi váng mỡ loang lổ sắc cầu vồng. Phía trên gờ bờ tường trát vữa thô ráp, hàng trăm mảnh chai vỡ cắm ngược vào xi măng từ nhiều năm trước đã xỉn màu, chìa những cạnh sắc nhọn hoắt phản chiếu ánh nắng chiều vàng vọt xuyên qua tầng mây xám nặng trĩu. Toàn bộ mặt tiền không có bất kỳ biển hiệu, số nhà hay dấu vết hành nghề mỹ nghệ nào. Chi tiết hiện đại duy nhất là một chiếc camera giám sát mắt lồi gắn lệch trên thanh xà ngang hoen rỉ, mắt kính bám một lớp bụi mỏng và mạng nhện giăng kín nửa góc quan sát.
Bảo Châu bước xuống xe, mũi giày da chạm xuống mặt đất nhão phát ra một tiếng lạo xạo khẽ khàng. Hai bàn tay cô siết chặt quai chiếc túi xách da to bản đựng tập hồ sơ kỹ thuật, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì lực ép. Khuôn mặt cô căng thẳng tột độ, hai gò má ửng đỏ trong cái ngột ngạt của buổi xế chiều, đôi mắt nâu thường ngày vốn điềm tĩnh nay ánh lên vẻ phẫn nộ cố nén. Cô hít sâu một hơi luồng không khí hôi hám mùi bùn sình, bước dứt khoát tới mép cổng sắt rồi đưa ngón tay nhấn mạnh vào nút chuông cửa bằng nhựa màu trắng đục đã ố vàng, nứt vỡ một góc gắn bên trụ gạch.
Tiếng chuông điện loại cũ reo lên một hồi đục ngầu, rung bần bật phía sâu bên trong sân xưởng. Âm thanh ngắt quãng hai lần, run rẩy rồi im bặt giữa không gian tĩnh mịch chỉ còn tiếng ve râm ran đầu mùa trên những tán dừa nước sau lưng.
Không gian chìm vào im lặng kéo dài suốt gần ba phút. Châu toan đưa tay nhấn chuông lần thứ hai thì từ phía bên kia cánh cổng sắt bỗng vang lên chuỗi âm thanh lách cách của kim loại va chạm, tiếng xích sắt rê trên nền bê tông ẩm và tiếng then cài bằng thép rỉ rít lên một vệt dài khô khốc chói tai.
Cánh cổng sắt nặng nề hé mở một khoảng chừng hai gang tay, phả ra luồng hơi hầm hập nồng nặc hóa chất. Một gương mặt trẻ nhưng hốc hác, nhợt nhạt với mái tóc dài xơ xác rũ rượi thò ra ngoài khoảng hẹp. Mai Quốc Huy đứng đó, chớp mắt liên hồi để thích nghi với ánh sáng trời le lói. Anh ta mặc chiếc áo thun cộc tay màu xám mốc lấm lem những vệt đen của sơn then và những quầng nâu sẫm của sơn cánh gián đã khô cứng từ lâu. Phía trước ngực anh ta phủ kín một chiếc tạp dề bằng vải bạt dày thô kệch, mép vải tưa ra từng sợi chỉ trắng bám đầy bụi than mịn. Đôi bàn tay buông thõng của Huy loang lổ những mảng da thâm tím, vàng ệch và chai sần—dấu tích không thể nhầm lẫn của nhựa sơn ta ăn sâu vào biểu bì, hòa lẫn với mạt bột than xoan và bột đá mài chưa kịp rửa sạch.
Khi ánh mắt mệt mỏi của Huy chạm phải gương mặt Bảo Châu, đôi đồng tử của anh ta co rút lại trong tích tắc như bị một luồng điện giật ngang sống lưng. Cơ hàm anh ta giật giật, hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng. Trong một phản xạ bản năng mù quáng, Huy toan giật mạnh cánh cửa sắt khép sầm lại, nhưng Nam đã nhanh hơn nửa nhịp.
Không một động tác thừa, Nam bước lên nửa bước, mũi giày da đế cứng của anh chèn chuẩn xác vào khe hở dưới chân cổng, ngăn không cho mép sắt đóng sập vào khung. Đồng thời, bàn tay vạm vỡ của Nam đặt vững vàng lên thanh đố ngang của cánh cửa, chặn đứng toàn bộ lực kéo giật lùi của người thợ phục chế bên trong.
"Chào anh Huy," Nam cất giọng. Âm lượng của anh không lớn, trầm ấm và điềm đạm, nhưng từng từ nhả ra lại mang một sức nặng đanh thép, đủ khiến người đối diện phải lạnh gáy. "Chúng tôi không đến đây để bàn chuyện cũ của gia đình hay việc thù hằn cá nhân. Chúng tôi đến vì tấm vóc bạc trong két sắt phòng tranh cụ Trương Diệp."
Cái tên Trương Diệp rơi xuống không gian ẩm ướt như một tảng đá ném thẳng vào mặt nước phẳng lặng. Cơ mặt Huy giật nảy lên một cái, khóe môi khẽ run rẩy. Ánh mắt anh ta đảo nhanh như một con thú bị dồn vào ngõ cụt: từ vẻ mặt lạnh lùng không gợn sóng của Nam, sang ánh nhìn rực lửa căm phẫn của Bảo Châu, rồi lia ra con hẻm đất vắng lặng không một bóng người phía sau lưng hai người họ. Nhận thấy bản thân không còn bất kỳ đường lui nào, và có lẽ nỗi sợ hãi về việc một cuộc giằng co ồn ào sẽ thu hút sự tò mò của những hộ dân chài lưới lân cận, bờ vai Huy chùng xuống trong nỗi tuyệt vọng cay đắng. Anh ta thở hắt ra một hơi ngột ngạt, buông lỏng bàn tay đang nắm chặt then sắt.
"Vào đi. Đừng đứng ngoài đó mà làm rùm beng lên," Huy lẩm bẩm qua kẽ răng, quay lưng bước thụt lùi vào trong khoảng sân tối.
Nam nghiêng người lách qua khe cửa, giữ mép sắt cho Châu bước vào rồi đẩy cánh cổng khép lại. Khóa cài sập xuống sau lưng họ bằng một tiếng cạch kim loại nặng nề, dứt khoát như chặt đứt mọi liên hệ với thế giới bên ngoài.
Vừa bước qua khoảng sân hẹp lổn nhổn những thùng phuy sắt rỉ sét, những súc gỗ mít, gỗ dổi xẻ dở dang chất đống phủ bạt rách nát, mùi hương đặc trưng của một xưởng sơn mài chuyên nghiệp lập tức ùa tới, xộc thẳng vào cuống họng và khoang mũi của Nam. Đó là một hỗn hợp mùi nồng nặc, phức tạp và đầy xung đột: mùi ngai ngái, chua ngọt đầy sức sống man dại nhưng hiểm độc của nhựa sơn ta thô mới trích từ thân cây sơn vùng Tam Nông, Phú Thọ; mùi hăng gắt, cay xè mắt của các loại dung môi hữu cơ bay hơi nhanh được sử dụng bừa bãi—butyl acetate, cồn công nghiệp và dầu thông cất thô; hòa lẫn với mùi ẩm mốc ngột ngạt của mùn cưa mục rữa dưới sàn ẩm và mùi tanh nồng của đất phù sa ủ trong bể lọc hom lâu ngày không thoát khí.
Căn xưởng chính rộng chừng hơn sáu mươi mét vuông, tường xây bằng gạch thô không trát vữa, trần lợp tôn xi măng dán xốp cách nhiệt đã bong tróc nham nhở từng mảng lớn. Không khí bên trong quánh đặc và hầm hập như một cái lò sấy khổng lồ giữa trưa hè. Ánh sáng tự nhiên duy nhất lọt vào từ hai ô thông gió nhỏ trên cao, nơi những tia nắng yếu ớt rọi xiên qua làn bụi mạt cưa lơ lửng, tạo thành những dải sáng vàng đục mờ ảo.
Khắp không gian la liệt các bản phôi vóc gỗ đủ kích thước lớn nhỏ. Có những tấm vóc khổ đại cao hơn đầu người dựng sát chân tường, phủ bạt nhựa xanh đã rách tơi tả, để lộ những mép gỗ dán vải xô thô ráp. Trên những giá sắt nhiều tầng han rỉ dựng dọc lối đi, hàng chục tấm vóc thử nghiệm chất liệu sơn mài nằm xếp lớp theo thứ tự thời gian: có tấm đen tuyền màu sơn then vừa qua nước mài thô, mặt phẳng lì nhưng nhám ráp; có tấm đỏ rực sắc son tươi pha bột chu sa nguyên chất còn thơm mùi khoáng thạch; lại có những tấm loang lổ vệt bạc quỳ cháy xám ngoét do bị ủ nhiệt quá độ trong buồng ủ cưỡng bức.
Dưới sàn xi măng nham nhở, nước mài màu xám chì chảy ngoằn ngoèo từ các bệ mài nước thủ công về phía hố thu gom cặn ở góc xưởng. Những hòn đá mài than xoan đen nhánh, đá mài gan gà mịn như ngọc, những mảnh vỏ trai, vỏ ốc xà cừ bào dở dang và hàng chục cuộn giấy ráp silicon carbide đủ loại số hạt từ P400 đến P2000 nằm vương vãi khắp nơi giữa những vũng nước đục ngầu chưa kịp rút.
Ở trung tâm của căn xưởng là một chiếc bàn làm việc dài hơn ba mét, đóng bằng gỗ lim dày bản, bề mặt gỗ bị chém nham nhở bởi hàng trăm nhát dao thử nghiệm và loang lổ những vết sơn khô két tầng tầng lớp lớp. Trên chiếc bàn đó, sự hỗn loạn ngự trị một cách có trật tự: các loại dao gọt mép vóc bản hẹp, dao cạo lòng mo, nhíp gắp bạc bằng tre cật đã ngả màu cánh gián, cùng hàng chục hũ thủy tinh đựng hóa chất thử màu xếp thành hàng lộn xộn. Đặc biệt, ở góc phải bàn làm việc, một chiếc đèn bàn rọi ánh sáng vàng công suất lớn đang bật sáng, chĩa thẳng luồng nhiệt và ánh sáng gay gắt vào một tấm vóc nhỏ cỡ 30 x 40 cm đang làm dở, nơi một góc bạc thếp vừa được phết một lớp cánh gián mỏng dính, bóng loáng như một lớp men ngọc.
Bảo Châu nhìn quanh xưởng, khóe môi khẽ run rẩy. Từng góc của căn phòng này, từng dụng cụ vương vãi đều gợi nhắc đến không gian xưởng vẽ của ông ngoại cô ở căn biệt thự cổ, nhưng nơi đây thiếu đi sự trang nghiêm, thiếu đi lòng kính ngưỡng đối với nghệ thuật truyền thống. Nó toát lên mùi vị của một lò sản xuất hàng loạt, một nơi chôn giấu những thủ thuật gian lận tinh vi. Cô tiến lại gần bàn làm việc, đôi mắt dừng lại ở những vụn gỗ và dăm bào văng vãi dưới chân bàn, giọng nói cô buốt giá như băng:
"Cậu dọn về cái xó này từ khi nào?" Châu hỏi, mắt không rời khỏi những phiến gỗ trần trụi. "Nơi này chẳng giống một xưởng phục chế di sản văn hóa chút nào, Huy à. Toàn bộ trang thiết bị ở đây—từ đèn sấy bức xạ, buồng ủ nhiệt ẩm cưỡng bức bằng điện trở kia, cho đến các loại hóa chất tẩy rửa công nghiệp—chỉ phục vụ cho một mục đích duy nhất: ép khô tốc hành và tạo phản ứng lão hóa bề mặt giả tạo."
Huy không nhìn thẳng vào mắt Châu. Anh ta bước tới bên mép bàn, với tay lấy một chiếc khăn lau bằng vải sợi đã cáu bẩn, thô bạo chùi vội hai bàn tay đen nhẻm của mình, dù lớp sơn then bám vào kẽ móng tay chẳng thể nào sạch được bằng cách ấy.
"Mỗi người có một cách mưu sinh, Châu," Huy đáp, giọng nghèn nghẹn, pha lẫn sự tự ti và cay độc. "Không phải ai sinh ra cũng may mắn như cô. Không phải ai cũng có sẵn cái bóng danh tiếng của một gia tộc mỹ thuật lẫy lừng che chở, có một phòng tranh bề thế nằm ngay giữa trung tâm quận Một để thong thả ngồi bảo tồn từng centimet vuông di sản theo chuẩn mực của bảo tàng quốc tế. Tôi là thợ. Tôi cần tiền để sống, để trả tiền thuê cái xưởng này, và để tồn tại trên cái đất này."
"Mưu sinh?" Nam cất tiếng, anh bước từng bước thong thả quanh gian phòng, ánh mắt sắc lạnh như quét qua từng món đồ vật. "Mưu sinh bằng cách tạo ra một bản sao giả mạo tinh vi để kẻ khác mang đi đánh tráo kiệt tác di sản của cụ Trương Diệp sao?"
"Anh đừng có ăn nói hàm hồ và chụp mũ vô căn cứ!" Huy ngẩng phắt đầu lên, gắt gỏng. Những đường gân xanh nơi thái dương anh ta giật phập phồng dưới lớp da mỏng dính. "Tôi là thợ phục chế độc lập, có đăng ký kinh doanh đàng hoàng! Tôi nhận làm phôi vóc theo kích thước, gia cố nền tranh mục nát, phục chế bề mặt theo đơn đặt hàng kỹ thuật của các nhà sưu tập và các phòng tranh tư nhân khắp cả nước. Tôi kiếm tiền bằng mồ hôi, bằng đôi bàn tay bị sơn ta ăn lở loét này! Tôi không trộm cắp của ai, càng không dính líu đến bất kỳ vụ mất mát tài sản nào trong gia đình quyền quý của các người!"
"Vậy sao?" Nam dừng lại trước một chiếc khay gỗ đặt cạnh bàn pha chế, nơi xếp ngay ngắn những tệp giấy dó mỏng dùng để kẹp bạc quỳ. Anh nghiêng đầu, giọng điệu bình thản đến mức lạnh lùng. "Nếu chỉ là gia cố và phục chế thông thường, tại sao trong phòng kho lưu trữ của cụ Trương Diệp lại xuất hiện một biên bản bảo dưỡng tủ hút ẩm mang chữ ký tắt M.Q.H. của anh chỉ đúng một tuần trước ngày cụ đột quỵ? Anh vào đó với tư cách gì? Và tại sao..."
Nam đột ngột vươn tay, chỉ thẳng ngón trỏ vào một cuộn băng keo màu be nhạt treo trên móc sắt gỉ ở góc tường: "...mẩu băng dính Washi Nitto không chứa axit dùng để bọc bảo vệ bốn mép tấm vóc giả trong két sắt phòng tranh lại hoàn toàn đồng nhất về độ dày, độ bám dính và cấu trúc sợi giấy với cuộn băng keo chuyên dụng nhập khẩu từ Nhật Bản đang treo ngay trên giá đồ nghề của anh?"
Huy biến sắc. Cơ thể anh ta cứng đờ lại, ánh mắt chao đảo dữ dội nhìn theo hướng ngón tay Nam chỉ. Đôi môi thâm xì của Huy mím chặt lại thành một đường chỉ mỏng, hai bàn tay giấu dưới vạt tạp dề siết chặt lấy nhau đến mức run rẩy.
Không để cho Huy có lấy một giây trấn tĩnh hay kịp dựng lên một lời ngụy biện mới, Nam sải bước tới sát chiếc giá gỗ nhiều tầng, nơi đặt ba tấm vóc mẫu thử nghiệm vừa được tráng một lớp bạc mỏng. Bằng con mắt nhà nghề của một chuyên gia giám định vật liệu đã kinh qua hàng trăm hồ sơ tranh cổ, Nam cúi sát xuống, quan sát lớp ánh kim lung linh ẩn sâu dưới màng sơn cánh gián đang trong quá trình chuyển hóa men.
Bề mặt tấm thử nghiệm không mang sắc vàng óng ả tự nhiên của bạc già theo năm tháng, mà ánh lên một sắc xám chì lạnh ngắt, điểm xuyết những vệt ánh xanh lục rất mờ—một hiện tượng quang học nhân tạo đặc trưng sinh ra khi bề mặt bạc kim loại bị cưỡng bức phản ứng với hơi muối lưu huỳnh ở nhiệt độ cao nhằm mô phỏng độ xỉn màu của thời gian qua nhiều thập kỷ.
"Kỹ thuật lên men bạc này của anh quả thực rất đáng nể," Nam cất giọng đều đều, vờ như đang thưởng lãm một thành tựu thủ công xuất sắc. "Cách anh dùng khí lưu huỳnh nồng độ thấp để xông khói bề mặt bạc quỳ trước khi quét lớp sơn cánh gián mỏng lên trên... nó tạo ra được một độ sâu quang học và độ lắng đục cực kỳ giống với những bức tranh được cụ Trương Diệp sáng tác trong giai đoạn giữa thập niên 80. Rất tài tình. Nhưng tôi tự hỏi, làm thế nào anh khống chế được độ giòn của lá bạc khi đưa vào ủ trong buồng ẩm nhiệt độ cao? Bạc quỳ Kiêu Kỵ truyền thống đập bằng tay trên đe đá vốn có độ dày mỏng không bao giờ đồng đều giữa tâm và rìa lá bạc. Khi tiếp xúc với khí lưu huỳnh nóng, bạc đập tay rất dễ bị rỗ bề mặt vi mô, tạo ra các lỗ kim li ti hoặc bong tróc thành từng mảng nhỏ dưới tác động của màng sơn co ngót. Anh đã khắc phục nhược điểm chí mạng đó bằng cách nào?"
Câu hỏi của Nam đánh trúng vào tim đen, chạm đúng vào niềm tự hào nghề nghiệp mù quáng và bản năng tự vệ kiêu hãnh của một kẻ luôn tự coi mình là bậc thầy về kỹ thuật xử lý chất liệu sơn mài. Đối diện với một lời khen ngợi mang tính chuyên môn cao, bản ngã của Huy trỗi dậy lấn át cả nỗi sợ hãi. Anh ta nhếch mép, cười khẩy một tiếng đầy cay độc, buột miệng đáp trả như muốn chứng minh sự vượt trội của bản thân:
"Bạc Kiêu Kỵ làm sao mà kiểm soát được sai số vi mô! Đám thợ thủ công đập búa làm sao hiểu được dung sai bề mặt dưới kính phóng đại! Muốn bề mặt phẳng tuyệt đối để màng sơn cánh gián phủ đều, và muốn nó chịu được nhiệt sấy bức xạ trong buồng ủ cưỡng bức mà không bị rỗ kim thì bắt buộc phải dùng lá bạc công nghiệp cắt sẵn khổ 10,9 centimet của Đài Loan! Loại bạc lá 10,9 đó được cán màng chân không trên nền màng polymer, độ dày đồng nhất tuyệt đối đến từng micromet. Khi đưa vào buồng xông lưu huỳnh, nó ngả màu đều chằn chặn từ tâm ra tận mép, không bao giờ để lại vệt xước cơ học hay vết lồi lõm của đe đập tay!"
Âm thanh đắc thắng vừa dứt khỏi vòm họng, gian xưởng bỗng chìm sập vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Huy sững sờ. Đôi mắt trũng sâu của anh ta trợn trừng lên, đồng tử giãn to trong sự bàng hoàng tột cùng. Anh ta nhận ra bản thân vừa phạm phải một sai lầm chết người, một khoảnh khắc sơ hở ngớ ngẩn đã biến lời nói của mình thành chiếc thòng lọng siết chặt lấy cổ họng. Bàn tay đang cầm chiếc khăn lau của Huy run bắn lên bần bật, chiếc khăn tuột khỏi kẽ tay, rơi bộp xuống vũng nước mài xám xịt dưới sàn.
Nam mỉm cười lạnh lùng. Ánh mắt anh nhìn Huy sắc bén như một lưỡi dao mổ:
"Khổ 10,9 centimet. Cán màng công nghiệp. Bề mặt phẳng tuyệt đối. Hoàn toàn trùng khớp."
Bảo Châu tiến lên một bước dài, khoảng cách giữa cô và Huy chỉ còn lại một sải tay. Giọng cô run lên từng chặp vì phẫn nộ, từng lời thốt ra như găm vào da thịt đối phương:
"Sáng nay, chính Nam và tôi đã mang kính hiển vi kỹ thuật số cầm tay vào phòng tranh, soi đè lên từng đường giáp mí của các lá bạc trên tấm vóc thế chỗ nằm trong két sắt của ông tôi. Kích thước của từng lá bạc trên bức tranh giả đó chính xác tuyệt đối là 10,9 x 10,9 centimet. Trong khi đó, suốt cả cuộc đời sáng tác nghệ thuật hơn nửa thế kỷ của ông Trương Diệp, ông chỉ sử dụng duy nhất một loại bạc quỳ: bạc Kiêu Kỵ truyền thống khổ vuông 9,5 x 9,5 centimet do chính tay những nghệ nhân cố cựu làng nghề Gia Lâm đập tay gửi riêng vào cho ông! Cậu từng phụ việc cho ông trong xưởng vẽ suốt hai năm trời, cậu hiểu điều đó hơn ai hết! Cậu không thể chối cãi được nữa, Huy!"
Huy loạng choạng lùi lại phía sau. Lưng anh ta đập mạnh vào mép giá sắt khiến hàng loạt chai lọ đựng dầu hỏa, cồn và dung môi rung lên bần bật, va vào nhau lách cách rợn người. Mồ hôi vã ra như tắm trên vầng trán hốc hác của anh ta, chảy ròng ròng qua gò má nham nhở, hòa vào lớp bụi than xoan tạo thành những vệt bùn xám ngoét kéo dài xuống tận cằm.
"Tôi... tôi chỉ đang nói về lý thuyết kỹ thuật chung của giới làm nghề..." Huy lắp bắp, giọng lạc hẳn đi, vỡ vụn trong vòm họng khô khốc. "Cả cái thành phố này... hàng trăm xưởng thủ công mỹ nghệ ngoài kia, ai chẳng dùng bạc lá 10,9 centimet của Đài Loan! Nó rẻ, nó sẵn, nó dễ làm... Đâu phải chỉ có một mình tôi dùng loại đó..."
"Thị trường dùng bạc công nghiệp, nhưng thị trường không có con dao này," Nam lạnh lùng ngắt lời.
Anh dứt khoát bước vòng qua bàn làm việc, tiến thẳng về phía góc bên phải nơi đặt chiếc giá gỗ cắm các loại dụng cụ gọt đẽo chuyên sâu. Nam không dùng tay trần để chạm vào tang vật. Anh rút từ trong túi áo khoác ra một chiếc khăn vải sợi nhỏ mềm mại, cẩn thận lót tay rồi nâng một thanh kim loại lên ngang tầm mắt dưới ánh đèn rọi.
Đó là một con dao gọt mép vóc bản hẹp dài chừng hai mươi centimet. Chuôi dao tra bằng gỗ cẩm lai đen nhánh, đã lên nước bóng lộn do mồ hôi tay của người thợ bám vào qua năm tháng. Lưỡi dao được thợ rèn thủ công đập từ thép nhíp xe lửa, hơi cong nhẹ hình lưỡi liềm ở phần bụng, mép cắt được mài sắc đến mức mắt thường cũng có thể cảm nhận được độ lạnh buốt của kim khí. Dưới ánh sáng vàng rọi xiên góc bốn mươi lăm độ của chiếc đèn bàn, ở phần cạnh vát gần mũi dao hiện rõ một vết mẻ cực nhỏ hình răng cưa—hậu quả của việc người thợ rèn tôi thép quá già lửa khiến mép kim loại bị giòn cục bộ.
Nam cầm chiếc đèn pin kỹ thuật chuyên dụng từ túi áo, bật luồng sáng trắng cường độ cao chiếu dọc theo lưỡi dao, rồi hạ thấp góc chiếu rọi thẳng vào một thanh nẹp vóc phế phẩm nằm vương vãi dưới gầm bàn:
"Vết vát mép vóc góc 45 độ dứt khoát, đi kèm các khía bán nguyệt lặp lại đều đặn do bước dao đẩy tay. Đây là dấu vết độc nhất vô nhị chỉ có thể tạo ra từ một lưỡi dao tôi bằng thép nhíp xe lửa bị mẻ vi mô ở cạnh vát. Tối hôm qua, khi kiểm tra mặt sau của tấm vóc giả trong két sắt, tôi đã chụp lại toàn bộ cấu trúc vết cắt ở bốn cạnh khung vóc. Từng đường khía bán nguyệt đó trùng khớp từng milimet với vết cắt mà con dao này để lại trên phôi gỗ của anh."
Nam đặt con dao trở lại giá gỗ một cách cẩn trọng, không làm xê dịch góc đặt ban đầu. Anh ngẩng lên, nhìn thẳng vào đôi mắt đang đờ đẫn, thất thần vì kinh hoàng của người thợ phục chế trẻ:
"Anh đã nhận lệnh từ ai để chế tác bản thế chỗ này? Anh lẻn vào phòng tranh bằng cách nào trong khoảng trống 45 phút camera bị ngắt? Bức tranh thứ mười ba thật của cụ Trương Diệp hiện đang ở đâu?"
Từng câu hỏi của Nam vang lên đanh gọn, dội vào bốn bức tường tôn kín mít như những nhát búa nện xuống đe.
Sự sụp đổ diễn ra gần như ngay tức khắc. Mọi phòng tuyến tâm lý, mọi sự kiêu hãnh của một tay thợ phục chế lành nghề tan biến thành tro bụi trước chuỗi chứng cứ vật lý hoàn hảo và sắc bén đến tàn nhẫn. Hai đầu gối của Huy run rẩy không còn trụ vững, anh ta trượt dần xuống, ngồi phịch lên chiếc ghế đẩu bằng gỗ lim đặt cạnh bàn mài nước. Huy ôm chặt lấy đầu, mười đầu ngón tay lấm lem cào cấu vào mái tóc bù xù, bờ vai gầy guộc rung lên bần bật.
"Tôi không trộm tranh thật!" Huy gào lên, âm thanh vỡ vụn trong tiếng khóc nghẹn ngào, hoảng loạn tột cùng. "Tôi thề có hương hồn cụ Diệp chứng giám... tôi thề có trời đất chứng giám, tôi không hề cất giấu bức tranh thật! Tôi không điên! Tôi là thợ, tôi hiểu giá trị của nó, tôi không bao giờ điên rồ đến mức đi cướp đoạt một tác phẩm di sản đang bị cả gia tộc họ Trương và công an theo dõi sát sao như vậy!"
"Vậy bản sao này từ đâu mà ra?" Châu bước áp sát, quát lên, hai mắt cô đỏ hoe vì giận dữ và đau đớn tột cùng. "Chính cậu đã làm ra nó! Cậu đã dùng chính đôi bàn tay này để chà đạp lên danh dự của mình, bán rẻ sự tin tưởng mà ông tôi từng dành cho cậu khi cho phép cậu bước chân vào xưởng vẽ gia đình!"
"Tôi bị ép... không, tôi cần tiền! Tôi cùng đường rồi!" Huy ngẩng khuôn mặt nhầy nhụa nước mắt và bụi than lên nhìn Châu, giọng nói đứt quãng trong cay đắng. "Ba tháng trước, một người môi giới thuộc mạng lưới Lam Thành của Phạm Đức Lâm tìm đến cái xưởng này. Họ nắm hết thóp của tôi... Họ biết xưởng của tôi đang ngập trong nợ nần ngập đầu vì lô tranh cổ thời Nguyễn tôi nhận phục chế bị hỏng hồi năm ngoái. Chủ nợ đòi chặt tay tôi, họ dọa đốt xưởng... Đúng lúc đó thì người của Lam Thành xuất hiện. Họ đưa ra một khoản tiền cọc khổng lồ—năm trăm triệu đồng tiền mặt! Họ bảo tôi chỉ cần làm một bản vóc thử nghiệm mô phỏng phong cách sơn mài thời kỳ giữa của cụ Trương Diệp. Họ cung cấp cho tôi kích thước chính xác đến từng milimet: ba mươi nhân bốn mươi centimet. Họ yêu cầu cấu trúc nền phải có lớp vóc hom bằng đất phù sa, phủ then, thếp bạc công nghiệp và tạo các vệt mài than dở dang..."
"Phạm Đức Lâm trực tiếp đặt hàng anh?" Nam hỏi dồn, ánh mắt anh nheo lại đầy cảnh giác.
"Không... Lâm không bao giờ tự nhúng tay trực tiếp vào những việc bẩn thỉu này!" Huy lắc đầu quầy quậy, mồ hôi và nước mắt hòa vào nhau chảy ròng ròng xuống cổ áo. "Giao dịch được thực hiện qua một tay trung gian giấu mặt, dùng số điện thoại rác. Nhưng tôi làm trong giới nghệ thuật này bao năm, tôi không mù! Tôi biết rõ dòng tiền cọc đó chảy ra từ tài khoản của một công ty bình phong chuyên buôn bán đồ cổ thuộc hệ sinh thái Lam Thành! Họ nói với tôi rằng đó chỉ là một đơn hàng kỹ thuật, phục vụ cho việc làm mẫu đối sánh chất liệu trong một cuộc đấu giá kín sắp tới ở nước ngoài. Tôi thề... lúc đó tôi chỉ nghĩ họ muốn có một bản sao kỹ thuật theo phong cách cụ Diệp để làm tài liệu nghiên cứu phụ bản! Bản vóc thử nghiệm đó tôi làm dở dang trên bàn cả tháng trời mà không hề biết nó liên quan đến bức tranh khóa bí mật của cụ!"
"Vậy tại sao bản sao dở dang đó lại chui vào được chiếc hộp gỗ trắc trong két sắt của ông tôi?" Châu cắt ngang, từng từ rít qua kẽ răng run rẩy. "Ai là người đã điều động cậu làm chuyện tày đình đó?"
Huy bỗng khựng lại. Toàn bộ cơ thể anh ta co rút lại như một con nhím gặp nguy hiểm. Ánh mắt anh ta biến đổi hoàn toàn—không chỉ còn là nỗi sợ hãi của một kẻ phạm tội bị vạch trần, mà là một sự kinh hoàng sâu thẳm, rùng mình tận tủy sống, như thể anh ta vừa nhìn thấy một bóng ma vô hình có quyền năng tước đoạt mạng sống của mình trong chớp mắt. Lồng ngực Huy phập phồng dữ dội dưới lớp áo thun rách.
"Tôi... tôi không thể nói..." Huy thì thào, hai hàm răng va vào nhau lập cập. "Nếu tôi nói ra... tôi sẽ không bao giờ sống sót mà bước ra khỏi cái đất Sài Gòn này được nữa. Họ... họ biết hết mọi ngóc ngách của căn xưởng này. Họ biết mẹ tôi đang nằm điều trị chạy thận ở bệnh viện nào..."
"Cậu tưởng cậu ngậm miệng thì lũ người đó sẽ để yên cho cậu sao?" Châu rút phắt chiếc điện thoại thông minh từ túi xách ra, ngón tay run rẩy bật sáng màn hình, mở giao diện cuộc gọi khẩn cấp. "Tôi sẽ gọi cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra ngay tại giây phút này! Lệnh phong tỏa di sản của luật sư Thu đã có hiệu lực từ sáng nay. Cậu là mắt xích trực tiếp trong một đường dây làm giả và đánh tráo tài sản văn hóa đặc biệt nghiêm trọng trị giá hàng chục tỷ đồng! Khung hình phạt thấp nhất cho hành vi này là mười hai năm tù giam! Cậu muốn vào tù mục xương một mình để gánh tội thay cho Phạm Đức Lâm và đồng bọn của hắn sao?"
"Đừng! Xin cô Châu... xin cô đừng báo công an!"
Huy hoảng loạn tột độ, chồm người tới phía trước định chộp lấy tay Bảo Châu để van xin, nhưng Nam đã lập tức tiến lên một bước dài chắn ngang giữa hai người. Một cánh tay của Nam vươn ra, cứng như thép nguội chặn đứng bờ vai đang run bần bật của người thợ phục chế, đẩy anh ta lùi lại chiếc ghế đẩu.
"Bình tĩnh lại, Huy," Nam nói, giọng trầm xuống nhưng mang một uy lực áp chế tuyệt đối. "Nếu anh thực sự không phải là kẻ chủ mưu cướp đoạt tác phẩm để bán, con đường sống duy nhất của anh lúc này là khai báo thành thật. Cho chúng tôi biết chính xác chuỗi di chuyển của bức tranh. Ai đã điều động anh vào phòng tranh đêm hôm đó, và bức tranh thật hiện đang ở đâu?"
Huy thở dốc từng cơn, hai vai sụp xuống hoàn toàn. Anh ta gục đầu vào hai bàn tay, tiếng nấc nghẹn ngào bật ra trong không gian ngột ngạt:
"Tôi thề độc... bằng cả tính mạng của mẹ tôi... hiện tại tôi không hề cất giấu bức tranh thật!" Huy gào lên, âm thanh vỡ vụn trong tiếng khóc nghẹn ngào. "Tôi chỉ là kẻ làm theo lệnh vận chuyển! Cách đây hai tuần, có một người phụ nữ giấu mặt liên lạc với tôi qua điện thoại mã hóa... Bà ta biết rõ tôi vừa hoàn thành bản vóc thử nghiệm cho Lam Thành, biết xưởng tôi nợ nần ngập đầu, và đưa ra một đề nghị không thể chối từ. Bà ta nói gia đình họ Trương sắp sửa đem bức tranh thứ mười ba đi thế chấp hoặc xé lẻ bán tháo cho đám con buôn trục lợi, và bà ta cần tôi đưa bức tranh thật ra khỏi phòng tranh an toàn để bảo vệ di sản của người giữ nền!"
"Bà ta chỉ dẫn anh cách vào phòng tranh?" Nam nheo mắt hỏi dồn.
"Bà ta bảo rằng phía Lam Thành đã dàn xếp xong xuôi với ông Trương Minh Khang để mở cửa xưởng và ngắt camera vào lúc một giờ mười lăm sáng, dưới vỏ bọc một chuyên gia giám định độc lập đến xem hiện vật nhằm giải ngân khoản vay ba mươi tỷ. Nhiệm vụ của tôi chỉ là đóng giả chuyên gia đó, xách cặp nhôm vào phòng tranh, lấy bức tranh thật mang ra ngoài theo đúng lịch trình..."
"Và chính cậu đã tự ý tráo bản sao vào két sắt?" Bảo Châu trừng mắt, từng ngón tay siết chặt.
"Tôi quá sợ hãi, Châu à!" Huy gào lên, hai bàn tay run rẩy cào cấu lên lồng ngực. "Người phụ nữ đó chỉ thuê tôi mang bức tranh thật ra ngoài và giao đến điểm chuyển dịch, bà ta hoàn toàn KHÔNG HỀ BIẾT về sự tồn tại của bản sao! Nhưng tôi nghĩ... nếu két sắt bị trống rỗng ngay trong đêm, sáng hôm sau khi mở niêm phong kiểm kê, cả gia đình cô và công an sẽ phát giác vụ mất trộm ngay lập tức! Lúc đó tôi sẽ là kẻ đầu tiên bị tóm cổ! Vì muốn trì hoãn việc bị lộ tẩy thêm vài ngày để tìm đường tẩu thoát, tôi đã tự ý lấy bản vóc thử nghiệm bằng bạc lá công nghiệp làm dở cho Lam Thành, vội vã dùng dao gọt vát mép, dán băng keo Washi rồi nhét vào cặp nhôm. Khi ông Khang mở két sắt rồi quay lưng đi canh chừng ngoài hành lang, tôi đã lấy bức tranh thật cất vào đáy cặp nhôm có đệm mút, rồi đặt bản thế chỗ vào chiếc hộp gỗ trắc, đóng nắp lại y như cũ!"
"Cậu mang bức tranh thật ra ngoài rồi chuyển nó đi đâu?" Giọng Nam đanh lại, từng câu từng chữ như lưỡi dao cắm xuống mặt bàn. "Nói mau!"
"Tôi làm đúng theo chỉ dẫn vận chuyển của người phụ nữ giấu mặt!" Huy run bắn lên, giọng nghẹn ứ nước mắt. "Ngay sau khi rời khỏi biệt thự lúc gần hai giờ sáng, tôi mang chiếc cặp chứa bức tranh thật đến một điểm giao hàng trung gian ven sông theo tọa độ tin nhắn gửi tới. Ở đó có một người tiếp nhận bí mật đợi sẵn, họ kiểm tra niêm phong rồi lập tức bốc kiện hàng lên xe chuyển đi ngay trong đêm! Tôi thề... tôi thề là tôi không hề được giữ lại bức tranh thật dù chỉ một giờ! Sau khi nhận nốt tiền công chuyển hàng, tôi bị cắt đứt mọi liên lạc! Tôi không biết bây giờ bức tranh đang nằm ở kho nào hay đã bị đưa đi tỉnh nào rồi!"
"Người phụ nữ đó là ai?" Châu gặng hỏi, giọng run lên vì bàng hoàng. "Làm sao bà ta có thể biết tường tận về quy trình trong xưởng của ông tôi như vậy?"
"Tôi chưa từng được gặp mặt bà ta!" Huy lắc đầu quầy quậy trong tuyệt vọng. "Mọi cuộc gọi đều qua phần mềm giấu số, nhưng qua cách dùng từ, tôi biết đó là một phụ nữ trung niên, giọng rất trầm, điềm đạm và am hiểu đến mức đáng sợ về toàn bộ quy trình làm vóc của làng nghề Tương Bình Hiệp! Khi chỉ dẫn tôi cách bọc lót bảo quản bức tranh thật để không làm tổn hại đến bề mặt sơn then, bà ta mô tả chính xác từng chi tiết kỹ thuật: lớp hom phù sa, độ dày màng sơn cánh gián... Thậm chí, bà ta còn nhắc nhở tôi phải cẩn thận với lỗi vặn tim nan tre ở mép vóc bức tranh thật do cụ Diệp làm năm xưa, nghiêm giọng cảnh báo tôi tuyệt đối không được để va đập vào góc dưới bên trái khiến mép vóc bị nứt toác!"
Nam chấn động toàn thân. Lồng ngực anh thắt lại trong một thoáng nghẹt thở.
*Một người phụ nữ giấu mặt. Một giọng nói trầm và am hiểu tường tận quy trình làm vóc cổ truyền Tương Bình Hiệp. Người biết rõ lỗi vặn nan tre ở mép vóc—chi tiết kỹ thuật ẩn tàng mà ngay cả Bảo Châu và những người thừa kế dòng họ Trương cũng không hề hay biết cho đến khi cô chụp ảnh mở khung kỹ thuật số sáng nay!*
Một nhân vật thứ ba bí ẩn, nằm ngoài mọi toan tính phân chia tài sản của gia đình họ Trương lẫn mưu đồ thương mại của Phạm Đức Lâm, đang âm thầm can thiệp vào số phận của bức tranh. Người phụ nữ ấy am hiểu kỹ thuật sơn mài Tương Bình Hiệp đến từng chân tơ kẽ tóc, nắm giữ những bí mật nghề nghiệp chỉ có thể thuộc về vòng tròn thân cận quanh người thợ làm vóc quá cố Nguyễn An. Nhưng bà ta thực sự là ai? Động cơ thật sự đằng sau hành vi bí mật đưa bức tranh đi là gì? Một chuỗi câu hỏi dồn dập ùa tới, khiến Nam nhận ra cuộc chạy đua này không chỉ có hai phe tranh chấp trước mắt, mà còn một thế lực giấu mặt đang đi trước họ một bước trong bóng tối.
Trong khi Bảo Châu vẫn đang đứng chôn chân tại chỗ, choáng váng trước những tầng nấc âm mưu đen tối vừa bị phơi bày, thì Mai Quốc Huy bỗng chồm dậy như một kẻ mất trí. Nỗi sợ hãi tích tụ đã vượt quá ngưỡng chịu đựng, biến thành một cơn hoảng loạn cuồng loạn. Anh ta lao về phía chân bàn làm việc, lôi ra một chiếc hòm gỗ quân đội cũ kỹ sơn màu xanh ô-liu, nắp bật mở tanh bành trên nền xi măng.
"Tôi phải đi khỏi đây ngay lập tức! Họ sẽ giết tôi mất... Nếu Lam Thành biết tôi khai ra chuyện này, hoặc nếu người đàn bà đó phát hiện ra tôi đã làm hỏng kế hoạch của bà ta..."
Huy lẩm bẩm liên hồi như người mê sảng, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Đôi bàn tay đen nhẻm của anh ta cuống cuồng vơ vét các tệp sổ sách ghi chép công thức pha màu, những lọ hóa chất thử nghiệm đắt tiền và những cuộn băng dính chuyên dụng trên bàn, ném bừa bãi vào trong hòm gỗ.
"Đứng lại! Cậu chưa được phép rời khỏi đây!" Châu sực tỉnh, bước tới toan giằng lấy mép chiếc hòm gỗ, nhưng Nam đã nhanh chóng đưa cánh tay giữ chặt lấy vai cô.
"Để anh ta thu dọn," Nam nói khẽ bên tai Châu. Giọng anh trầm tĩnh một cách kỳ lạ.
Ánh mắt Nam lúc này hoàn toàn không còn đặt trên người Huy. Đôi mắt quan sát sắc bén của một chuyên gia thực địa đang quét một lượt cực kỳ cẩn trọng, tỉ mỉ khắp mọi ngóc ngách của căn xưởng rộng hơn sáu mươi mét vuông.
Nam nhận ra những dấu hiệu bất thường mà trong khoảnh khắc xông vào xưởng ban nãy anh chưa kịp xâu chuỗi. Trên nền sàn xi măng ẩm ướt dẫn thẳng ra cánh cửa ngách phía sau thông ra bờ kênh, có hai vệt bánh xe của loại xe đẩy hàng bọc cao su chịu lực in rất rõ trên lớp bụi sơn than mịn chưa kịp khô. Cạnh cánh cửa ngách khép hờ là ba chiếc thùng xốp cỡ lớn dùng để đóng gói hàng dễ vỡ, băng keo niêm phong màu vàng đã bị xé toạc nham nhở, bên trong còn vương vãi những hạt xốp chống sốc màu trắng và vài mẩu dây rút nhựa chịu lực vừa bị kìm cắt đứt đôi.
Đặc biệt, trên tầng thứ hai của chiếc giá sắt dựng sát cửa sau, có một khoảng trống hình chữ nhật hoàn toàn sạch bụi, kích thước chừng sáu mươi nhân tám mươi centimet. Lớp bụi mịn xung quanh khoảng trống đó còn hằn rõ mép góc vuông vức—chứng minh rằng một kiện hàng nặng hoặc một chiếc cặp kỹ thuật cỡ lớn vừa được nhấc ra khỏi vị trí đó cách đây không lâu, có lẽ chỉ vài tiếng đồng hồ trước khi Nam và Châu tìm tới nơi này.
Một cuộc chuyển giao bí mật, vội vã vừa diễn ra ngay tại căn xưởng ẩm thấp này.
Huy không chỉ đơn thuần làm một bản sao để Khang đánh tráo. Xưởng phục chế này chính là trạm trung chuyển kỹ thuật đầu tiên mà bức tranh thật—hoặc một tập tài liệu tối mật nào đó đi kèm với nó—đã ghé qua để được kiểm tra, đóng gói hoặc xử lý hóa học trước khi tiếp tục bị tẩu tán đến một địa điểm bí mật khác.
Nam thong thả tiến lại gần chiếc bàn làm việc gỗ lim. Huy lúc này đang điên cuồng dùng cả hai tay gạt phăng những cuốn sách chuyên khảo dày cộp về mỹ thuật Đông Dương và lịch sử mỹ thuật Pháp ngữ để tìm kiếm giấy tờ tùy thân và hộ chiếu nằm lẫn lộn bên dưới. Dưới lực gạt mạnh và hoảng loạn của Huy, một chồng sách bọc bìa da dày cộp bị xô lệch sang một bên, để lộ ra mặt bàn gỗ lim bên dưới.
Ở góc bàn nơi chồng sách vừa bị hất tung, mặt gỗ lim dày dặn đã bị ai đó dùng đục khoét rỗng một khoảng hình chữ nhật nhỏ, kích thước chỉ nhỉnh hơn một bao thuốc lá, sâu chừng hai đốt ngón tay.
Từ trong khe hẹp được đục giấu kín đó, một góc mép giấy màu vàng ngà, chất liệu dai mịn đang thò ra ngoài một đoạn ngắn.
Huy vừa quay đầu lại, nhìn thấy mép giấy lộ ra thì mặt cắt không còn giọt máu. Anh ta hét lên một tiếng nghẹn ứ, vội vã vươn bàn tay run rẩy định chộp lấy tập tài liệu dày cộp đè lấp lên khoảng rỗng.
Nhưng phản xạ của Nam đã nhanh hơn anh ta trọn vẹn một nhịp.
Bằng trực giác nghề nghiệp được tôi luyện qua hàng trăm cuộc giám định cổ vật thực địa, Nam bước chếch sang một góc bốn mươi lăm độ, chặn đứng tầm với của Huy. Ánh đèn vàng công suất lớn từ chiếc đèn rọi trên bàn chiếu thẳng xuống góc hẹp, phản chiếu rõ mồn một từng chi tiết của vật thể nằm kẹt dưới chồng sách.
Đó là một tấm nhãn gửi kho vận chuyên dụng bằng giấy kraft chống nước, loại nhãn đặc thù thường dùng trong các kho ngoại quan nghệ thuật quốc tế. Ở góc trên bên phải của tấm nhãn có in chìm mờ một biểu tượng hình bóng cửa sổ chia làm mười ba ô hình vòm mang phong cách kiến trúc thuộc địa cổ kính, và ngay bên dưới biểu tượng đó là một dòng mã số viết tay vội vã bằng mực tím: *D.S. - 13/VN - C3*.
Bàn tay của Huy khựng lại giữa không trung, run bắn lên như phải bỏng khi thấy ánh mắt Nam đăm đăm nhìn vào tấm nhãn. Anh ta vội vã chộp lấy tập tài liệu phủ kín khe hẹp, nhưng hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng đã hoàn toàn tố giác anh ta.
Ánh mắt của Nam dừng lại ở nhãn gửi kho có biểu tượng bóng cửa sổ và một dòng mã số viết tay vội vã trước khi Huy kịp thu dọn.