Bức Tranh Thứ Mười BaCh.4 / 32
Chapter 4

Hai tấm ảnh bị giấu

Căn phòng áp mái nằm nép mình dưới vòm bóng râm rậm rạp của những tán me cổ thụ trên đường Trương Định. Nắng sớm Sài Gòn chưa đủ gắt để xua tan màn sương mù xám đục bốc lên từ mặt đường nhựa ẩm ướt sau trận mưa dầm đêm trước; nó chỉ có thể len qua những chấn song gỗ lim hẹp dài, rọi vào gian phòng thành từng dải bụi vàng óng ả lơ lửng giữa không trung. Không gian nơi đây không mang dáng dấp của một xưởng họa hoa mỹ với toan vẽ hay giá gỗ bề bộn, mà đậm đặc phong thái của một phòng thí nghiệm cổ vật kết hợp xưởng mộc phục chế tinh vi.

Khắp các góc phòng phảng phất một tổ hợp mùi hương vừa ngai ngái vừa sắc lạnh: mùi dầu thông nguyên chất cất từ nhựa thông ba lá dùng để pha loãng dung môi làm sạch, hơi cồn công nghiệp bốc nhẹ từ bàn lau kính hiển vi soi nổi, mùi keo da trâu nấu chảy thoảng qua từ chiếc bếp ủ nhiệt nhỏ ở góc tường, và đặc biệt là mùi khô ráo, thanh sạch của hàng trăm tập hồ sơ lưu trữ bằng giấy dó, giấy rơm được xếp ngăn nắp trong các tủ tài liệu chống ẩm.

Ở trung tâm căn xưởng, chiếc bàn thao tác cỡ đại đóng bằng gỗ lim nguyên khối—mặt bàn đã được bọc một lớp nỉ chống tĩnh điện màu xám tro dày dặn—đang là nơi tập trung của các thiết bị thẩm định quang học tối tân nhất. Một kính hiển vi soi nổi hai thị kính có gắn cổng quang học kỹ thuật số nối thẳng vào máy tính; hai chiếc đèn rọi ánh sáng xiên điều chỉnh bước sóng và góc nghiêng bằng các khớp xoay cơ khí; một máy đo độ ẩm gỗ cảm ứng không phá hủy vật liệu; và chiếc màn hình đồ họa chuyên dụng ba mươi hai inch có độ phân giải 4K, vừa được Nam hiệu chuẩn dải màu Adobe RGB bằng thiết bị cân màu quang phổ trước khi mặt trời lên tới ngọn cây me.

Bảo Châu ngồi ở góc bàn bên trái, chiếc ba lô vải bạt thô màu rêu đặt dưới chân. Cô mặc chiếc áo sơ mi bằng vải đũi dệt tay màu ngà voi, ống tay áo xắn cao quá khuỷu để lộ đôi cẳng tay săn chắc, rám nắng nhẹ—đôi tay điển hình của một người quen việc cầm bay miết hom, cầm dao gọt mép vóc và lặn ngụp hàng giờ trong chậu nước mài tranh. Chiếc máy tính xách tay vỏ hợp kim nhôm màu xám không gian được cô mở sẵn trên bàn, nhưng nắp máy chỉ hé ra một góc chừng sáu mươi độ.

Những ngón tay mảnh khảnh nhưng có lực của Châu lướt qua lại trên bàn phím nhôm, gõ những dòng mã kiểm tra tập tin ngắn ngủn, mắt cô dán chặt vào góc dưới bên phải màn hình hiển thị đồng hồ hệ thống. Tư thế ngồi của cô thẳng đơ, vai hơi co lại, cơ thể phát ra một tín hiệu cảnh giác bản năng rõ rệt. Mỗi lần Nam bước qua lại giữa các giá sách để lấy tài liệu tham chiếu, hay khi anh kéo chiếc ghế xoay lại gần, ánh mắt của Châu liền lướt theo từng cử động của anh rồi lập tức cụp xuống, khép kín và phòng thủ như một tấm vóc quét sơn then vừa qua nước mài đầu tiên—nhẵn thín, lì lợm và không để lọt bất kỳ tia sáng nào đi sâu vào bên trong.

Khi Nam cất tiếng hỏi về thời điểm chính xác của loạt ảnh chụp thử nghiệm góc treo xưởng cũ, hay nguồn gốc các tệp dữ liệu dạng thô trích xuất từ thiết bị cầm tay, Châu chỉ trả lời bằng những câu cụt lủn, giọng đều đều không chút âm sắc:

“Tất cả đều nằm trong thư mục lưu trữ chung.”

“Thời gian chụp hiển thị trong siêu dữ liệu của tệp tin.”

“Tôi chụp bằng thiết bị cá nhân, góc máy tự nhiên, không qua xử lý can thiệp.”

Sự đề phòng ấy quá đỗi lộ liễu đối với một người có đôi mắt được đào tạo để nhận diện từng vết nứt tế vi dưới lớp sơn bóng như Nam. Dư chấn từ sự cố tối qua tại phòng trưng bày của gia đình Trương Diệp—nơi một tin nhắn bí ẩn nặc danh xuất hiện, làm bùng lên nỗi nghi ngờ âm ỉ giữa các thành viên hội đồng thừa kế—rõ ràng vẫn đang thắt chặt từng sợi cơ trên gương mặt cô gái. Khóe môi cô mím chặt lại thành một vệt mỏng, và mỗi khi chiếc điện thoại thông minh đặt úp mặt trên mặt nỉ phát ra một nhịp rung nhẹ như tiếng ve gãy cánh, ngón trỏ của Châu lại giật khẽ một cái, phản xạ của một người đang chờ đợi một cú sụp đổ tiếp theo.

Nam không gặng hỏi. Trong mười năm làm nghề giám định độc lập, anh hiểu rằng những câu chất vấn dồn dập chỉ tạo ra thêm những bức tường ngụy biện và sự chối bỏ. Chân lý vật lý của một tác phẩm nghệ thuật không bao giờ lộ diện trước sự nóng vội; nó chỉ từ tốn bước ra ánh sáng khi các thông số quang học, mật độ hạt sắc tố và hình học của bóng đổ tự cất lên tiếng nói khách quan của chúng.

Nam bước đến góc phòng, nhấc chiếc ấm gốm Bát Tràng tráng men rạn, rót một dòng nước trà sen thơm ngát, khói bốc nghi ngút vào chiếc chén sứ nhỏ rồi đặt nhẹ xuống mép bàn nỉ ngay tầm tay của Bảo Châu. Sau đó, anh kéo chiếc ghế làm việc có đệm cao su của mình lại gần màn hình lớn, ngón tay đặt lên chuột quang học.

“Chúng ta sẽ không tranh luận về lời nói hay suy đoán chủ quan của bất kỳ ai trong gia đình cô sáng nay,” Nam nói, giọng trầm ấm và ổn định, duy trì một nhịp điệu bình thản như mặt nước hồ không gợn sóng. “Chúng ta sẽ bắt đầu lại từ những gì trung thực nhất: dữ liệu quang học nguyên gốc. Tệp ảnh đầu tiên cô gửi cho tôi qua thư mục bảo mật—bức ảnh chụp toàn cảnh bức tranh thứ mười ba khi nó vẫn còn nằm nguyên trong khung bảo quản bằng gỗ mun tại két âm tường xưởng vẽ, trước thời điểm luật sư Thu và Hội đồng thừa kế tiến hành cắt niêm phong chì để lập biên bản kiểm kê sơ bộ.”

Bảo Châu hơi nghiêng đầu, đôi mắt hạt dẻ liếc nhìn lên màn hình lớn nhưng bắp chân dưới gầm bàn vẫn gồng cứng:

“Đó là bức ảnh tư liệu chuẩn mực. Tôi dùng máy ảnh cơ kỹ thuật số gắn ống kính chụp cận cảnh tiêu cự chín mươi milimet chuyên dụng, khẩu độ cố định ở f/8 để trường ảnh đạt độ nét tối đa từ tâm ra rìa. Đèn flash tán xạ qua dù mềm hai lớp đặt lệch góc bốn mươi lăm độ phía trên bên trái. Mẹ tôi và cậu Khang đều đứng quan sát ngay cửa phòng khi tôi bấm máy.”

“Về mặt thông số kỹ thuật bề mặt, bức ảnh đó hoàn hảo không tì vết,” Nam khẽ gật đầu công nhận. Anh rê con trỏ chuột, nhấp đúp vào tệp tin có định dạng ảnh thô dung lượng hơn bốn mươi lăm megabyte. “Màu sắc chuẩn, độ phơi sáng vừa khít dải tương phản động, độ méo quang sai của thấu kính gần như bằng không. Nhưng hôm nay, Bảo Châu ạ, chúng ta không nhìn vào những gì bức tranh phô bày ra ở mặt tiền. Chúng ta phải nhìn vào những chi tiết mà chính người bấm máy cũng không chủ tâm ghi lại—những góc chết của thị giác, nơi bàn tay con người thường để lại dấu vết vô thức.”

Con trỏ chuột của Nam lướt nhanh. Trên màn hình 4K rực rỡ, bức tranh sơn mài nhỏ kích thước ba mươi nhân bốn mươi centimet bắt đầu nở rộng ra. Dòng chữ sơn then mờ xỉn lẩn khuất dưới lớp cánh gián—*‘Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền’*—lướt qua tâm điểm hiển thị rồi dạt dần sang bên trái khi Nam phóng đại khung hình lên bốn trăm phần trăm, rồi tiếp tục đẩy lên tám trăm phần trăm.

Không gian hiển thị của màn hình giờ đây dừng lại ở góc dưới bên phải phía sau nẹp giữ của khung tranh. Đó là nơi một chiếc chốt cài bằng đồng thau hình lưỡi gà mỏng được bắt vít trực tiếp vào thành gỗ mun đen nhánh để ép chặt mép vóc tranh vào gờ sập của khung bảo quản.

“Bảo Châu, cô hãy nhìn thật tập trung vào chiếc chốt đồng này,” Nam cầm một chiếc bút lông đầu nhọn dùng để chấm màu phục chế, hướng mũi lông mềm chỉ thẳng vào vị trí chiếc chốt trên màn hình. Các điểm ảnh phóng đại cực đại để lộ rõ từng hạt nhiễu quang học tự nhiên của cảm biến ảnh kỹ thuật số. “Chiếc chốt này có một rãnh xẻ cong hình bán nguyệt quanh trục vít để người đóng khung có thể xoay nới lỏng hoặc gạt chặt lá chốt vào mép vóc tranh. Khung tranh này được cụ Trương Diệp đặt gia công từ một xưởng mộc gia truyền ở Chợ Lớn vào khoảng cuối thập niên chín mươi. Qua hơn hai mươi năm nằm trong môi trường khí hậu nhiệt đới, phiến đồng thau nguyên chất bị oxy hóa chậm bởi độ ẩm và lưu huỳnh tự nhiên trong không khí, tạo thành một quầng ten đồng màu xanh xám rất mịn bám chặt xung quanh viền tiếp giáp của lá chốt lên mặt gỗ mun.”

Bảo Châu nín thở. Ánh mắt cô găm chặt vào vòng tròn viền xanh mờ ảo trên màn hình. Bàn tay đang đặt trên đùi cô khẽ co rút lại, các ngón tay bấu chặt vào lớp vải đũi thô.

“Đúng là có lớp oxy hóa,” Châu lên tiếng, cố giữ cho giọng mình không run rẩy. “Một hiện tượng tự nhiên của kim loại đồng tiếp xúc với không khí trong thời gian dài.”

“Nó hoàn toàn tự nhiên nếu chiếc chốt nằm yên ở vị trí ban đầu của nó suốt hai mươi năm,” Nam tiếp tục, giọng anh vẫn rành rẽ, khúc chiết, mang đầy sức nặng của phương pháp luận giải phẫu hình ảnh. “Thế nhưng, hãy quan sát thật kỹ bóng đổ của mép chiếc chốt đồng này dưới nguồn sáng từ dù tán xạ của cô. Nguồn sáng của cô phát ra từ góc chếch bốn mươi lăm độ phía trên bên trái. Với góc rọi đó, bóng của mép lá đồng phải đổ dài xuống bề mặt thanh nẹp gỗ một vệt hình nêm đều đặn, với chiều dài chân bóng bằng một phẩy tư lần độ dày của phiến đồng. Nhưng ở đây, bóng đổ lại bị gãy khúc một cách bất thường.”

Nam mở công cụ phân tích hình học của phần mềm, kéo một đường thẳng màu đỏ mảnh như sợi tơ bám sát mép bóng thực tế trên bức ảnh.

“Chân bóng bị hụt đi một khoảng không phẩy bảy milimet, và mép ngoài của chốt cài lại nhấc cao hơn mặt gỗ mun một góc xấp xỉ ba độ. Điều đó có nghĩa là lá chốt không hề nằm ép sát phẳng phiu lên mặt nẹp như thiết kế ban đầu. Nhưng quan trọng hơn cả: quầng ten đồng oxy hóa màu xanh xám trên mặt gỗ mun không hề trùng khớp với thân chốt kim loại hiện tại. Nó bị lệch về bên trái đúng hai milimet, làm lộ ra một vệt gỗ mun sáng màu hơn, hoàn toàn sạch bóng ten đồng.”

Nam xoay người lại, nhìn thẳng vào Bảo Châu. Đồng tử của cô gái hơi giãn nở ra vì căng thẳng tột độ.

“Dấu vết quang học này chỉ có một lời giải duy nhất,” Nam nói chậm rãi từng từ. “Chiếc đinh vít giữ chốt đã từng bị nới lỏng ra ít nhất một phần tư vòng ren. Lá chốt đồng đã bị gạt xoay sang một bên để giải phóng lực ép lên mép vóc tranh, rồi sau đó mới được ai đó gạt trở lại vị trí cũ và siết lỏng tay bằng một chiếc tuốc-nơ-vít hai cạnh có bản lưỡi mỏng hơn rãnh vít nguyên thủy—bằng chứng là mép rãnh ốc vít có một vết cấn kim loại mới tinh, làm tróc một vảy ten gỉ đồng siêu nhỏ.”

Căn phòng áp mái bỗng chìm vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến mức có thể nghe rõ tiếng những giọt nước mưa còn sót lại từ cành me cổ thụ rơi lộp độp xuống mái tôn phía trên trần nhà, và tiếng quả lắc của chiếc đồng hồ gỗ cổ bên góc tường gõ từng nhịp đanh gọn, dứt khoát: tích, tắc, tích, tắc.

Nam hạ chiếc bút lông xuống mặt bàn:

“Bức ảnh toàn cảnh này được chụp vào lúc chín giờ mười lăm phút sáng ngày kiểm kê chính thức, có sự chứng kiến của gia đình và luật sư. Nhưng bằng chứng quang học không biết nói dối: bức tranh thứ mười ba trong chiếc khung gỗ mun ấy không hề ở trạng thái nguyên vẹn niêm phong từ lúc cụ Diệp qua đời. Ai đó đã tháo chốt, lấy tấm vóc ra ngoài, rồi đặt nó trở lại và siết vội chiếc vít này trước thời điểm cô bấm máy.”

Anh dừng lại, nhìn sâu vào đôi mắt đang dao động dữ dội của cô gái đối diện:

“Bảo Châu, trong suốt tuần lễ tang gia bối rối trước ngày mở di chúc, người duy nhất giữ chùm chìa khóa phòng làm việc và két sắt của cụ Diệp, ngoài mẹ cô là bà Thanh Mai, chính là cô. Và trong toàn bộ những người có mặt trong căn nhà đó, chỉ có một kỹ sư phục chế sơn mài được đào tạo bài bản mới hiểu cách gạt một chiếc chốt đồng ép vóc mà không làm mẻ vỡ lớp sơn then viền mép vóc tranh. Tại sao chiếc chốt cài đó lại bị mở ra trước giờ kiểm kê chính thức?”

Bảo Châu ngồi chết lặng. Từng câu chữ của Nam như những mũi kim dùi thép cắm sâu vào lớp phòng thủ kiên cố mà cô đã dày công dựng lên từ tối hôm qua. Hai bàn tay cô siết chặt lại trên mặt bàn nỉ, các khớp ngón tay trắng bệch ra dưới ánh sáng trắng của chiếc đèn bàn thao tác. Lồng ngực cô phập phồng gấp gáp dưới lớp áo đũi ngà. Một thoáng hoảng loạn lóe lên trong mắt cô, rồi nhanh chóng bị thay thế bởi sự cay đắng và bất lực.

Nam nhìn thấy rõ sự chuyển biến trên nét mặt cô gái. Ánh mắt phòng thủ cứng cỏi ban nãy đã vỡ vụn, để lộ sự buông xuôi của một người làm nghề hiểu rằng mọi lời chống chế đều trở nên vô hiệu trước từng góc khúc xạ ánh sáng và vi hạt vật chất đã hiển hiện rành rành.

Châu thở hắt ra một hơi dài, bờ vai cô chùng xuống, toàn bộ sự căng cứng trên cơ thể dường như tan biến thành một sự mệt mỏi rã rời tích tụ qua nhiều đêm mất ngủ.

“Anh quả thực đáng sợ, Nam,” Châu khẽ nói, khóe môi cô nhếch lên một nụ cười tự giễu. “Không một chi tiết nào có thể lọt qua mắt anh. Anh nói đúng hoàn toàn về mặt vật lý. Chiếc chốt cài đó đã bị mở ra. Chiếc vít đã bị nới lỏng. Và người làm điều đó… chính là tôi.”

Nam không hề tỏ vẻ đắc thắng. Anh chỉ ngồi yên lặng, lắng nghe, ánh mắt đầy kiên nhẫn.

Châu xoay nhẹ chiếc máy tính xách tay của mình về phía Nam, những ngón tay cô lướt trên bàn phím cảm ứng, nhập một chuỗi mật khẩu phức tạp gồm mười sáu ký tự để giải mã một phân vùng dữ liệu ẩn sâu trong ổ cứng.

“Đêm trước ngày lễ tang chính thức của ông ngoại,” Châu bắt đầu kể, giọng cô trầm và khàn đặc, nhuốm màu sắc của một đêm trắng đầy ám ảnh, “cả ngôi nhà ngập ngụa trong khói hương, tiếng tụng kinh và sự ngột ngạt đến phát điên. Cậu Khang thì liên tục ra vào hành lang gọi điện thoại, giọng lúc nào cũng gắt gỏng về những khoản nợ tín dụng kinh doanh bất động sản đến hạn phải thanh toán. Mẹ tôi thì suy sụp hoàn toàn sau nhiều tháng chăm sóc ông, bà uống thuốc an thần rồi thiếp đi trong phòng ngủ. Lúc đó là gần một giờ sáng. Tôi ngồi một mình dưới phòng khách, tai tôi không ngừng văng vẳng những lời trăn trối của ông ngoại.”

Cô ngước nhìn Nam, đôi mắt ngân ngấn nước nhưng ánh nhìn lại sắc lẹm vẻ cương quyết của một người làm nghề bảo tồn di sản:

“Trong suốt hai tuần cuối đời, ông ngoại tôi sốt cao triền miên. Ông mê sảng. Nhưng ông không hề nói về tiền bạc, không hề nhắc đến các bộ sưu tập tranh đắt giá, cũng chẳng đoái hoài gì đến những chức danh danh dự mà hội mỹ thuật trao tặng. Đêm nào ông cũng nắm chặt lấy ga giường, mồ hôi ướt đẫm trán, và lặp đi lặp lại những câu nói đứt quãng, kỳ dị: *‘Vóc bị ẩm rồi… phải kiểm tra mép vải… sơn sẽ rộp lên… phải trả lại nền cho họ…’* Khi một bậc thầy sơn mài cả đời sống chết với vóc và sơn, đến lúc chuẩn bị nhắm mắt xuôi tay vẫn bị ám ảnh bởi độ ẩm của một tấm vóc, thì đó tuyệt đối không phải là sự lú lẫn của tuổi già!”

Châu hít một hơi sâu, bàn tay cô vô thức chạm vào chiếc chén trà sen ấm Nam vừa rót:

“Tôi là một người làm công tác phục chế, Nam ạ. Tôi hiểu rõ cấu trúc của vóc tranh sơn mài truyền thống mỏng manh và nhạy cảm đến mức nào trước môi trường. Một tấm vóc cổ nhiều thập niên tuổi bị khóa chặt trong một chiếc két sắt sắt tây dày cộp, đặt sát bức tường ẩm mốc của xưởng vẽ cũ giữa mùa mưa Sài Gòn—nơi độ ẩm không khí ban đêm thường xuyên chạm ngưỡng chín mươi phần trăm—là một thảm họa bảo tồn! Nếu hơi ẩm xâm nhập qua các khe hở của khung gỗ mun, thấm sâu vào mép vóc, lớp keo da trâu liên kết các lớp đất phù sa và mạt cưa sẽ bị trương nở. Toàn bộ mạng lưới cao phân tử urushiol trong màng sơn sẽ bị phá hủy từ bên trong, khiến bề mặt tranh rộp nứt không thể cứu vãn.”

“Nên cô đã quyết định tự mình hành động?” Nam hỏi khẽ.

“Phải. Tôi không thể ngồi yên nhìn bức tranh cuối cùng của ông có nguy cơ bị hủy hoại. Tôi lấy chìa khóa dự phòng treo trong chùm chìa của mẹ, lén đi lên xưởng vẽ áp mái của ông. Tôi mở két sắt, cẩn thận nhấc bức tranh thứ mười ba ra ngoài, đặt lên bàn làm việc dưới ánh đèn chụp nhỏ. Tôi dùng chiếc tuốc-nơ-vít hai cạnh mỏng trong bộ đồ nghề phục chế mang theo người để nới chốt đồng, nhấc tấm vóc ra khỏi rãnh khung mun, với ý định duy nhất là dùng máy đo độ ẩm cảm ứng kiểm tra xem bốn góc vóc có bị nấm mốc hay ngậm nước hay không.”

Giọng Châu chùng xuống, hơi thở cô trở nên dồn dập:

“Nhưng ngay khoảnh khắc tấm vóc sơn mài rời khỏi khung gỗ mun… tôi đã sững sờ. Mọi tính toán kỹ thuật ban đầu của tôi hoàn toàn tan vỡ. Mặt sau của tấm vóc đó không hề giống với bất kỳ tấm vóc tiêu chuẩn nào mà ông ngoại tôi từng đặt mua từ các cơ sở sản xuất vóc danh tiếng ở Thủ Dầu Một hay Nam Định trong suốt ba mươi năm qua. Nó không được phủ một lớp sơn thí bóng bẩy phẳng lỳ. Nó thô ráp, gồ ghề một cách kỳ lạ, toát lên hơi thở của một kỹ thuật thủ công cổ xưa bị lãng quên. Và ở cạnh đáy cùng góc dưới bên phải… tôi nhìn thấy những dấu vết không thể tin nổi.”

“Và cô đã chụp lại chúng?”

“Tôi rút chiếc điện thoại trong túi áo ra, bấm chụp vội hai bức ảnh cận cảnh,” Châu cắn môi. “Nhưng lúc đó, thần kinh tôi căng thẳng như dây đàn. Tôi nghe thấy tiếng bước chân của cậu Khang lục đục dưới cầu thang. Tôi sợ hãi tột cùng. Nếu bị cậu Khang bắt gặp đang tháo rời bức tranh trong đêm, tôi sẽ bị coi là kẻ lén lút trộm cắp hoặc đánh tráo di sản trước giờ mở di chúc. Tay tôi run lẩy bẩy. Đèn flash của điện thoại tự động kích hoạt làm lóa sáng bề mặt sơn, bức ảnh bị rung lắc và lệch góc tiêu cự thảm hại. Ngay sau đó, tôi vội vã lắp tấm vóc trở lại khung, siết chốt đồng lại—chính sự hoảng loạn ấy đã khiến tôi siết ẩu và làm tróc vảy ten đồng như anh vừa chỉ ra—rồi khóa két sắt chạy trốn về phòng.”

Châu ngước lên nhìn Nam, ánh mắt đầy vẻ ân hận lẫn kiên định:

“Sáng hôm sau, khi Hội đồng thừa kế làm việc, tôi dùng máy ảnh cơ chụp lại bức ảnh toàn cảnh chuẩn mực kia để nộp vào hồ sơ lưu trữ chính thức. Còn hai bức ảnh chụp trộm bằng điện thoại… tôi đã giấu kín trong phân vùng mã hóa này. Tôi không dám nộp chúng, vì tôi biết hành vi tự ý tháo dỡ niêm phong của mình là vi phạm nghiêm trọng quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp của một chuyên gia phục chế. Nhưng hôm nay, đứng trước anh… tôi biết mình không thể giấu thêm được nữa.”

Châu gõ một lệnh dứt khoát trên bàn phím.

“Đây là hai bức ảnh gốc chụp bằng điện thoại đêm hôm đó. Tôi trao lại toàn quyền xử lý cho anh.”

Hai tệp hình ảnh lập tức được truyền thẳng sang màn hình đồ họa lớn ba mươi hai inch.

Đúng như những gì Bảo Châu đã miêu tả, hai bức ảnh mang đậm dấu ấn của sự vội vã và hoảng loạn. Khung hình chụp nghiêng một góc lệch chuẩn, ánh đèn flash công suất nhỏ của điện thoại dội ngược từ bề mặt lớp sơn lót bóng mờ tạo thành một quầng lóa trắng xóa hình bầu dục chiếm trọn một phần ba khung ảnh, làm cháy sáng gần như toàn bộ các chi tiết ở trung tâm. Vùng rìa ảnh thì hơi tối và nhòe do tốc độ màn trập tự động bị đẩy xuống thấp trong điều kiện thiếu sáng.

Thế nhưng, đối với một chuyên gia phân tích quang học và phục chế cổ vật như Nam, những bức ảnh chụp lỗi này lại chính là những mỏ vàng thông tin chân thực nhất. Kẻ làm giả có thể ngụy tạo một bức ảnh chụp hoàn hảo, nhưng không một ai có thể ngụy tạo được sự ngẫu nhiên của những sai số vật lý.

Nam lập tức kéo dải thanh công cụ xử lý ảnh chuyên dụng. Anh dùng thuật toán cân bằng lại đường cong sắc thái, dìm bớt vùng sáng bị cháy của quầng flash, đồng thời nâng độ tương phản vi mô ở các vùng rìa chuyển tiếp để khôi phục cấu trúc không gian ba chiều của bề mặt vật liệu.

Bức ảnh thứ nhất lập tức hiện rõ lên từng thớ sợi dưới góc phóng đại quang học.

Góc chụp này bám sát mép vóc ở cạnh đáy bên trái của bức tranh thật. Dưới lớp ánh sáng xiên mờ ảo, hiện rõ một vết vá thủ công dài chừng mười lăm milimet, chạy chéo một góc chính xác bốn mươi lăm độ so với đường biên đáy của tấm vóc.

“Nhìn vào cấu trúc sợi này đi, Châu,” Nam khẽ thốt lên, giọng anh chùng xuống đầy thán phục. Ngón tay anh vô thức chạm nhẹ lên bề mặt màn hình tinh thể lỏng. “Đây tuyệt đối không phải là vải màn, vải xô công nghiệp hay sợi thủy tinh tổng hợp mà các xưởng làm vóc hiện đại vẫn thường dùng để bồi vóc hàng loạt. Đây là vải gai thô sợi lớn!”

Châu nghiêng người tới sát màn hình, gật đầu xác nhận:

“Loại vải dệt tay từ sợi gai dầu tự nhiên của đồng bào vùng trung du phía Bắc hoặc các làng nghề dệt thủ công ven sông Đáy. Các sợi dọc và sợi ngang đan vào nhau với mật độ không đồng đều, sợi to sợi nhỏ đan xen thô ráp. Hãy nhìn kỹ mép của miếng vá: mép vải không hề bị cắt bằng kéo kim loại bén ngót, mà được người thợ xé tay rồi tước sợi nhẹ để tạo ra những tua sợi tự nhiên hình chân rết.”

“Đúng vậy,” Nam tiếp lời, ánh mắt rực sáng lên niềm đam mê nghề nghiệp thuần khiết. “Miếng vải gai xé tay này được ngâm đẫm trong hỗn hợp sơn sống nguyên chất trộn với mùn cưa gỗ thông mịn và đất phù sa tinh lọc—loại hom cổ điển nhất của kỹ thuật sơn mài truyền thống Việt Nam. Và hãy nhìn vào lý do vì sao miếng vá này lại xuất hiện ở đây: bên dưới lớp vải gai, có một vết nứt chân chim rất nhỏ của thớ nan tre làm cốt vóc. Người thợ mộc khi pha nan tre đã gặp phải một dải nan bị ‘vặn tim’—một lỗi tự nhiên của thân tre già khi chịu lực uốn. Thay vì vứt bỏ thanh nan tre đó, người làm vóc đã điêu luyện đặt một miếng vải gai chéo góc bốn mươi lăm độ đè lên tim nan tre để triệt tiêu toàn bộ lực xoắn co ngót của cốt gỗ!”

“Một giải pháp gia cố vật liệu tuyệt đỉnh của những nghệ nhân bậc thầy,” Châu thì thầm, giọng cô run lên vì xúc động. “Biến một khuyết tật tự nhiên của thân tre thành một điểm gia cường vĩnh cửu cho toàn bộ tấm vóc. Miếng vá này nằm chìm hoàn toàn dưới ba lớp hom đất và hai lớp sơn lót, được mài phẳng bằng đá mài bùn mịn đến mức khi nhìn chính diện hay vuốt tay lên bề mặt, không một ai có thể cảm nhận được độ gồ ghề của nó. Nó chỉ lộ ra mép sợi gồ lên dưới góc rọi xiên mười lăm độ khi tấm vóc được tháo rời hoàn toàn khỏi gờ khung mun.”

Nam gật đầu dứt khoát:

“Tấm vóc giả mạo mà kẻ trộm đánh tráo vào chiếc hộp gỗ trắc tại xưởng của cụ Diệp hôm qua… tôi đã kiểm tra kỹ các cạnh sau của nó,” Nam nói. “Mặt sau của nó có vết vát mép góc bốn mươi lăm độ dứt khoát với chuỗi khía bán nguyệt lặp lại đều đặn—dấu vết đặc trưng để lại từ dao gọt vóc lưỡi cong rèn bằng thép nhíp xe lửa chỉ lưu hành ở một vài xưởng phục chế cá nhân tại Sài Gòn. Kẻ làm bản thế chỗ dù có tay nghề gọt vóc khéo léo, dù mô phỏng được lớp bạc lá hay chữ viết, cũng vĩnh viễn không thể ngờ được rằng bên dưới lớp hom ở cạnh đáy của tấm vóc thật lại ẩn giấu mẩu vải gai vá lỗi nan tre độc nhất vô nhị này!”

Anh nhấp chuột chuyển sang bức ảnh thứ hai.

Khung hình thứ hai chụp tập trung vào góc dưới bên phải ở mặt sau tấm vóc, ngay phía trên gờ vát cạnh mép ngoài. Quầng sáng lóa của đèn flash ở bức ảnh này nằm lệch sang một bên, để lộ ra một vùng sơn hom màu nâu cánh gián sẫm đã trải qua quá trình oxy hóa tự nhiên kéo dài hàng chục năm. Bề mặt lớp sơn lót ở đây khô kiệt, se lại và nứt thành những mạng lưới rạn chân chim li ti, tựa như lớp vỏ ngoài của quả dưa lưới chín già.

Và ngay chính giữa vùng rạn chân chim cổ kính ấy, một ký hiệu thủ công hiện lên sắc nét, khắc chìm sâu vào lớp keo đất phù sa trước khi lớp sơn then phủ bảo vệ cuối cùng được quét lên:

Đó là hình một chiếc lá cây sơn mài cách điệu, cuống lá uốn cong nhẹ sang bên trái một cách mềm mại. Các đường gân lá ở nửa phiến lá bên trái được khắc đều đặn, đối xứng và sắc nét bằng một mũi đột thép lòng máng. Thế nhưng, toàn bộ nửa phiến lá bên phải lại khuyết mất một đường gân chính ở vị trí trung tâm, để lại một khoảng trống hình tam giác lệch đầy ngụ ý.

Ký hiệu này có kích thước vô cùng khiêm tốn, chỉ nhỉnh hơn chiếc móng tay út một chút, nét khắc sâu chừng nửa milimet. Dưới ánh sáng quang học được tăng cường độ tương phản, ở đáy rãnh khắc của nét khuyết tam giác ấy, vẫn còn đọng lại những vi hạt sắc tố màu đỏ thắm rực rỡ—đó không phải là sơn đỏ công nghiệp, mà là bột chu sa tự nhiên nghiền mịn từ khoáng vật thần sa, thứ chất liệu chỉ xuất hiện trong những xưởng thủ công thượng thặng thời kỳ trước.

Khoảnh khắc nhìn thấy hình ảnh chiếc lá cây sơn mài khuyết gân ấy hiện lên sừng sững trên màn hình đồ họa độ phân giải cao, lồng ngực Nam đột ngột co thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt.

Hơi thở của anh ngưng bặt. Toàn bộ cơ bắp trên cơ thể anh cứng đờ ra, đôi mắt mở to dán chặt vào khoảng trống hình tam giác lệch trên phiến lá. Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ đốt sống cổ xuống tận sống lưng anh, làm dựng đứng từng sợi lông tơ trên cánh tay.

Ký ức kinh hoàng mà anh đã cố gắng chôn vùi suốt ba năm ròng rã trong những đêm dài thức trắng bên chai rượu rẻ tiền và những tập hồ sơ bị niêm phong… đột ngột đội mồ sống dậy, gầm thét trong tâm trí anh.

Bảo Châu lập tức nhận ra sự biến chuyển dữ dội ấy nơi người đàn ông vốn luôn giữ được vẻ điềm tĩnh đến lạnh lùng. Cô thấy đôi môi Nam tái nhợt đi, hai bàn tay buông thõng bên hông bất giác siết chặt lại thành nắm đấm, khớp xương kêu lên những tiếng rắc khẽ khàng.

“Nam? Anh sao thế?” Châu lo lắng bước lại gần nửa bước, giọng cô dồn dập sự hoài nghi lẫn kinh ngạc. “Anh nhận ra ký hiệu này? Lúc ở phòng trưng bày tối qua, khi tôi vừa nhắc đến bức tranh thứ mười ba, anh cũng đã có cái nhìn kỳ lạ này. Đây là cái gì? Có phải là một dạng mật mã ký hiệu riêng của ông ngoại tôi để đánh dấu quyền tác giả không? Hay là ấn tín của một hội kín mỹ thuật nào thời kháng chiến?”

Nam vẫn không đáp. Anh đứng chôn chân tại chỗ trong gần một phút đồng hồ, lồng ngực phập phồng những nhịp thở sâu và nặng nề. Anh với tay lấy chiếc chén sứ trên bàn, ngửa cổ uống cạn ngụm trà sen đã nguội ngắt từ lâu. Vị đắng chát gắt gao của búp chè ngấm sâu vào cuống họng giúp anh kéo giật tâm trí mình trở về với thực tại nghiệt ngã của căn phòng áp mái.

Anh nhìn Bảo Châu. Đôi mắt trong veo, thẳng thắn và ngập tràn nỗi hoang mang của cô gái đang đòi hỏi một câu trả lời sòng phẳng.

Nam hiểu rằng cô đã vượt qua nỗi e ngại và sức ép gia tộc để giao lại hai bằng chứng then chốt này. Trước những thế lực ngầm đang rắp tâm xâu xé di sản Trương Diệp, sự ngờ vực và giấu giếm giữa hai người sẽ chỉ đẩy cuộc điều tra vào ngõ cụt. Lòng tin không thể dựng lên từ những lời đãi bôi; nó cần sự sòng phẳng tuyệt đối trước sự thật.

“Nó không phải là mật mã cá nhân của cụ Trương Diệp,” Nam cất tiếng, giọng anh trầm đục, vang lên như vọng ra từ đáy một hang sâu u tối. “Và nó lại càng không phải là ấn tín của bất kỳ hội kín nào. Đây là một con dấu nghề nghiệp—một *dấu nghề* của thợ sơn mài.”

“Triện thợ?” Châu nhíu mày lặp lại, vẻ mặt đầy bỡ ngỡ.

“Phải. Dấu nghề đánh dấu nguồn gốc làm vóc của một xưởng thợ,” Nam bước chầm chậm về phía chiếc tủ sắt chống cháy sơn màu xanh quân đội đặt nép sát góc tường phía đông. Anh rút chùm chìa khóa đặc chủng trong túi quần, tra vào ổ khóa cơ khí bốn cạnh, xoay hai vòng dứt khoát. Cánh cửa sắt nặng nề mở ra với một tiếng ken két khô khốc.

Từ ngăn đáy của chiếc tủ—nơi chứa những tài liệu quan trọng nhất không bao giờ được phép số hóa lên mạng internet—Nam cẩn thận nhấc ra một tập hồ sơ bọc bìa da màu đen đã sờn rách ở bốn góc. Bề mặt tập hồ sơ được dán một dải băng dính niêm phong màu đỏ có dấu mộc tròn đỏ chót của một văn phòng giám định tư nhân đã giải thể, bên trên ghi dòng chữ in hoa nắn nót: *HỒ SƠ GIÁM ĐỊNH ĐẶC BIỆT NIÊM PHONG – MÃ HIỆU 19-SA-TH (NĂM 2021)*.

Nam mang tập hồ sơ đặt lên bàn nỉ, ngay trước mặt Bảo Châu. Anh dùng đầu ngón tay lật từng trang tài liệu bằng giấy in ảnh bóng đã ngả sang màu vàng ố vì thời gian.

“Ba năm trước,” Nam bắt đầu trải lòng, ánh mắt anh nhìn ra ngoài khung cửa sổ áp mái, nơi những tán me đang khẽ đung đưa trong gió sớm, “tôi là một chuyên gia giám định trẻ tuổi đầy ngạo mạn. Tôi được một nhà sưu tập danh tiếng tại Sài Gòn—ông Đỗ Hoàng Vũ—ủy thác độc quyền để thẩm định một kiệt tác sơn mài khổ lớn mang tên *Hoàng hôn trên sông*. Bức tranh đó có đầy đủ giấy tờ chứng nhận nguồn gốc gia tộc, có ảnh chụp lưu niệm cụ Trương Diệp đứng cạnh bức tranh vào năm 1991, có thư tay xác nhận của chính cụ Diệp, và được các sàn đấu giá quốc tế định giá sơ bộ không dưới tám trăm ngàn đô la Mỹ.”

Châu mở to hai mắt, bàn tay cô vô thức che ngang miệng:

“Vụ việc đó… trời ơi, tôi từng đọc các bản tin trên báo chí mỹ thuật quốc tế khi tôi đang làm nghiên cứu sinh phục chế tại Florence. Đó là vụ phá sản chấn động giới tài chính mỹ thuật Sài Gòn năm đó… Một nhà sưu tập đã dùng bức tranh đó làm tài sản bảo đảm để vay thế chấp hàng chục tỷ đồng từ ngân hàng, rồi bất ngờ bị tuyên bố vỡ nợ vì bức tranh bị dính nghi án giả mạo?”

“Không phải nghi án giả mạo thông thường,” Nam chua chát nói, từng lời nói như cứa vào vết sẹo chưa lành trong tim anh. “Tôi chính là người đã ký tên vào bản kết luận giám định định mệnh đó. Tôi phát hiện lớp sơn then và chất kết dính của bức tranh *Hoàng hôn trên sông* bị sai lệch hoàn toàn về niên đại—một tác phẩm được gán cho thời kỳ đỉnh cao năm 1991 nhưng các lớp vật liệu lại không hề tương thích với quy chuẩn kỹ thuật của cụ Diệp trong giai đoạn ấy. Tôi kiên quyết từ chối công nhận đó là một bức tranh sơn then nguyên bản hợp lệ của Trương Diệp.”

Anh lật một trang hồ sơ, chỉ vào biểu đồ quang phổ hồng ngoại và các bảng số liệu đo đạc niên đại lớp keo:

“Lúc đó, tôi còn quá say sưa với sự chính xác tuyệt đối của máy móc và các phương pháp quang phổ học,” Nam tiếp tục, giọng đanh lại. “Tôi non nớt trong việc xử lý chuỗi nguồn gốc và đánh giá các mối quan hệ xã hội phức tạp trong giới nghệ thuật. Tôi đã công bố bản kết luận giám định một cách công khai, cứng nhắc và không khoan nhượng. Hậu quả là giới truyền thông mỹ thuật bị thao túng bởi một chiến dịch truyền thông bẩn. Công ty đấu giá Lam Thành—dưới sự điều khiển gián tiếp của Phạm Đức Lâm—đã lập tức chớp lấy thời cơ. Chúng biến tôi thành một kẻ ngông cuồng, một gã giám định non tay cố tình bôi nhọ thanh danh của một cây đại thụ mỹ thuật nước nhà để tạo scandal đánh bóng tên tuổi.”

Nam cười buồn, một nụ cười cay đắng đến thắt lòng:

“Khách hàng của tôi—ông Đỗ Hoàng Vũ—bị các ngân hàng đồng loạt kích hoạt điều khoản thu hồi nợ trước hạn vì tài sản bảo đảm bị nghi ngờ tính nguyên bản. Ông ấy vỡ nợ dây chuyền, mất trắng toàn bộ cơ nghiệp, phải bán tháo cả ngôi biệt thự cổ để trả nợ rồi lưu vong ra nước ngoài. Còn tôi… tôi bị tẩy chay khỏi các hội đồng thẩm định nhà nước, văn phòng giám định của tôi bị đập phá, và tôi suýt chút nữa đã bị tước chứng chỉ hành nghề độc lập vĩnh viễn. Tôi đã phải thu mình lại trong căn phòng áp mái này suốt ba năm qua, làm một kẻ phục chế ẩn danh để kiếm sống qua ngày.”

Nam lật đến trang cuối cùng của tập hồ sơ năm 2021.

Đó là một bức ảnh chụp macro phóng đại gấp năm mươi lần một mảnh gỗ thử nghiệm siêu nhỏ, được trích xuất từ mép sau góc dưới của bức tranh *Hoàng hôn trên sông* ba năm về trước.

Bảo Châu cúi rạp người xuống mặt bàn, mắt cô nhìn trừng trừng vào bức ảnh trong tập hồ sơ cũ, rồi ngước nhìn lên hình ảnh chiếc lá khuyết gân trong bức ảnh chụp bằng điện thoại của mình đang hiển thị trên màn hình 4K.

Cô nghẹn ngào, hai bờ vai run rẩy dữ dội:

“Cùng một chiếc lá sơn mài… Cùng một nét khắc bán nguyệt dứt khoát bằng mũi đột thép… Cùng một góc khuyết tam giác ở phiến lá bên phải… và cũng có tàn dư của sắc tố chu sa tự nhiên!”

“Cùng một khuôn mẫu tạo hình,” Nam khẳng định, giọng anh đanh lại như thép nguội. “Cùng tỷ lệ rãnh khuyết tam giác và cách thức khắc chìm vào lớp hom. Ba năm trước, dấu vết này từng xuất hiện chìm dưới mép góc của bức tranh trong vụ giám định cũ, nhưng khi ấy nó chỉ là một chi tiết phụ chưa đủ dữ liệu để giải thích. Sau khi bản kết luận của tôi bị vùi dập, tôi không chấp nhận đầu hàng số phận. Tôi đã âm thầm lặn lội suốt nhiều tháng trời qua các xưởng làm vóc cổ ở Tương Bình Hiệp, Lái Thiêu, Tân Uyên, lần mò qua những cuốn sổ tay ghi chép thợ bạn từ những năm 1970 còn sót lại trong các kho lưu trữ tư nhân. Và trong một tập hồ sơ bị niêm phong, tôi phát hiện dấu lá khuyết này từng gắn liền mật thiết với một xưởng nghề do một nghệ nhân đặc biệt dẫn dắt.”

Nam dừng lại một nhịp dài, ánh mắt anh nhìn thẳng vào sâu trong tâm can Bảo Châu:

“Người đó là một nữ nghệ nhân làm vóc kiệt xuất của vùng đất Tương Bình Hiệp, người từng có hồ sơ cộng tác kỹ thuật sâu sắc với cụ Trương Diệp suốt từ cuối thập niên sáu mươi cho đến giữa thập niên tám mươi—giai đoạn hình thành phong cách sơn mài rực rỡ nhất của ông ngoại cô. Nhưng tên tuổi của bà ấy gần như bị lãng quên hoặc xóa sạch khỏi mọi vương quốc danh vọng, mọi vựng tập triển lãm và mọi tài liệu lịch sử mỹ thuật chính thống.”

Nam hít một hơi sâu, phát âm rõ ràng từng thanh âm:

“Bà ấy tên là Nguyễn An.”

Cái tên vừa thốt ra khỏi miệng Nam như một nhát búa tạ giáng thẳng vào không gian tĩnh lặng của căn phòng áp mái.

Bảo Châu lùi giật lại hai bước, lưng cô va mạnh vào mép chiếc tủ hồ sơ phía sau làm những tập giấy dó rung lên bần bật. Gương mặt cô trắng bệch không còn một giọt máu, đôi mắt mở to trừng trừng nhìn Nam trong nỗi bàng hoàng tột cùng. Đôi môi cô run rẩy bần bật, những âm thanh rời rạc nghẹn ứ nơi cổ họng:

“Nguyễn An… Bà An… Lạy trời… không thể nào… làm sao có thể trùng hợp đến mức tàn nhẫn như thế này…”

“Cô biết người phụ nữ này?” Nam lập tức bước tới một bước, giọng anh dồn dập sự khẩn thiết.

Châu đưa hai bàn tay lên ôm chặt lấy đầu, những ngón tay cô luồn sâu vào mái tóc ngắn bù xù. Ký ức về những ngày tăm tối trong căn phòng bệnh viện nồng nặc mùi thuốc sát trùng và cồn trắng của ông ngoại như một cơn lũ quét tràn về, xé toạc mọi nghi vấn mơ hồ bấy lâu nay trong tâm trí cô.

“Những ngày cuối đời trên giường bệnh viện Thống Nhất…” giọng Châu lạc hẳn đi, vỡ vụn thành từng tiếng nấc nghẹn ngào, “ông ngoại tôi sốt cao mê man, hơi thở yếu ớt đến mức phải thở oxy qua mặt nạ. Lúc đó, ông không hề gọi tên mẹ tôi, không hề gọi tên cậu Khang, cũng chẳng hề nhắc đến bất kỳ đứa cháu nào khác. Những ngón tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương của ông nắm chặt lấy cổ tay tôi, chặt đến mức bầm tím cả da thịt. Đôi mắt đục ngầu của ông nhìn trừng trừng lên góc trần nhà trắng toát, và ông lẩm bẩm trong cơn mê sảng… liên tục lặp đi lặp lại một cái tên…”

Châu ngẩng mặt lên, hai dòng nước mắt lăn dài trên gò má:

“Ông nói: *‘An ơi… vóc khô rồi… vóc của An làm thì ngàn đời không nứt… Tôi sai rồi… Tôi phải trả tên cho bà… Tôi phải trả lại cái nền cho xưởng thợ… An ơi…’* Lúc đó, mẹ tôi đứng bên cạnh giường bệnh, bà nghe thấy những lời đó liền bật khóc nức nở, vội vàng xua tay đẩy tôi ra ngoài hành lang, rồi đóng chặt cửa phòng bệnh lại… Mẹ tôi luôn miệng nói rằng ông bị lẫn, ông nói sảng về một người bạn thợ cùng thời thanh niên ở chiến khu đã hy sinh… Hóa ra… hóa ra mẹ tôi và cậu Khang đã biết hết! Họ biết rõ sự tồn tại của bà Nguyễn An từ trước khi ông ngoại tôi qua đời!”

“Và bức tranh thứ mười ba này chính là lời trăn trối bằng vật chất của cụ Diệp,” Nam nói, giọng anh trầm xuống khi liên kết từng mảnh dữ liệu vừa hé lộ. “Dòng chữ *‘Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền’* không phải là một triết lý trừu tượng về hội họa sơn mài! Nó là một lời thức tỉnh đạo đức muộn màng. Bức thứ mười ba này—và rất có thể là những bức then chốt trong bộ mười hai kiệt tác—đã không đơn thuần sinh ra từ một cá nhân đơn độc. Cụ Diệp muốn trả lại tên tuổi cho người giữ nền, cho nghệ nhân Nguyễn An và những người thợ làm vóc đã âm thầm cống hiến kỹ thuật thượng thừa cho các tác phẩm của cụ!”

Châu đứng sững người, lồng ngực cô thắt lại trong nỗi đau đớn khôn xiết của một người làm nghề.

Nam nhìn đôi bàn tay rám nắng của Châu, rồi nhìn những vết sẹo nhỏ vương trên khớp ngón tay cô. Anh hiểu cái giá khắc nghiệt của nghề làm vóc truyền thống mà những người thợ như bà An đã gánh chịu. Để làm ra một tấm vóc thượng thặng có thể trường tồn hàng thế kỷ mà không cong vênh hay rạn nứt trước thời gian, người thợ làm vóc phải vùi mình trong bóng tối xưởng mộc, tiếp xúc trực tiếp với nhựa sơn sống cay độc có thể khiến da thịt lở loét và hủy hoại đường hô hấp. Họ phải thức trắng hàng trăm đêm bên buồng ủ ẩm ngột ngạt, tỉ mỉ miết từng lớp hom đất, mài từng lớp vải gai dưới làn nước lạnh buốt.

Thế nhưng, khi tác phẩm hoàn thiện và bước ra ánh sáng rực rỡ của các phòng triển lãm sang trọng, người nghệ sĩ vẽ mặt tranh sẽ bước lên bục vinh quang, được người đời xưng tụng là danh họa và khắc tên mạ vàng trên khung gỗ quý. Còn người thợ làm vóc—người tạo nên thể xác và nền móng vững bền cho bức tranh tồn tại—thì gần như vĩnh viễn bị chìm khuất trong sự vô danh, không một dòng ghi danh trong vựng tập triển lãm.

“Cụ Trương Diệp đã sống cả đời trong vinh quang rực rỡ, nhưng nền móng kỹ thuật của một số tác phẩm lớn có dấu ấn không thể chối cãi của xưởng thợ và bà An,” Nam nói tiếp, giọng anh chùng xuống đầy xót xa. “Đến những ngày tháng cuối đời, cụ không thể nhắm mắt thanh thản nếu chưa trả lại sự ghi nhận xứng đáng cho những người thợ làm nền. Bức tranh thứ mười ba này chính là chiếc chìa khóa đạo đức: nó mang trên mình miếng vải gai vá lỗi, mang trên mình dấu nghề lá khuyết liên quan đến Nguyễn An và xưởng thợ. Nếu bức tranh này được công bố cùng bản kết luận giám định chính xác về mặt sau của nó, lịch sử mỹ thuật xoay quanh bộ sưu tập mười hai kiệt tác sẽ phải bổ sung một chương mới về lao động tập thể. Danh tiếng cá nhân độc tôn sẽ phải nhường chỗ cho sự thật, và mưu toan trục lợi thương mại của những kẻ như Trương Minh Khang hay Phạm Đức Lâm sẽ gặp trở ngại lớn!”

“Đó là lý do bức tranh thứ mười ba bị đánh cắp!” Châu thốt lên, đôi mắt cô rực lên ngọn lửa căm phẫn. “Cậu Khang và Phạm Đức Lâm không chỉ muốn chiếm đoạt bức tranh để bán lấy tiền giải quyết nợ nần! Chúng muốn vĩnh viễn tiêu hủy bằng chứng về sự tồn tại của bà Nguyễn An! Chúng muốn bảo vệ bức tượng đài danh vọng độc tôn của ông ngoại tôi để tiếp tục trục lợi từ cái tên Trương Diệp!”

Hai con người đứng đối diện nhau giữa căn phòng áp mái ngập tràn ánh nắng sớm. Sự thật tàn khốc vừa được phơi bày đã kéo họ xích lại gần nhau hơn bất kỳ bản hợp đồng hay thỏa thuận pháp lý nào. Sự nghi kỵ ban đầu giữa một kỹ sư phục chế mang gánh nặng gia tộc và một chuyên gia giám định mang vết thương quá khứ đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho một liên minh đạo đức kiên định.

Thế nhưng, sự tĩnh lặng vừa được thiết lập ấy bỗng chốc bị xé toạc một cách thô bạo.

*Rè… rè… rè…*

Chiếc điện thoại thông minh của Nam đặt trên mặt bàn nỉ bỗng rung lên bần bật, kèm theo một hồi chuông báo động dồn dập, chói gắt. Màn hình điện thoại nhấp nháy liên tục với biểu tượng một phong bì thư màu đỏ rực.

Nam khựng lại, ánh mắt anh đanh lại cảnh giác. Anh bước tới, nhấc chiếc điện thoại lên.

Người gửi là một đầu số dịch vụ mạng ảo quốc tế hoàn toàn ẩn danh, được mã hóa qua nhiều lớp máy chủ trung gian. Bên dưới dòng tiêu đề cảnh báo là một đoạn tin nhắn văn bản ngắn gọn, lạnh lùng và tàn nhẫn:

*“Quách Nhật Nam, ba năm trước một bản kết luận giám định ngông cuồng và hồ đồ của anh đã chôn vùi cả một gia tộc sưu tập danh giá xuống bùn đen. Anh nghĩ sau ngần ấy năm ẩn nấp, lần này anh có thể giở lại trò cũ với di sản vô giá của cố danh họa Trương Diệp hay sao? Hãy tự soi lại mảnh danh dự rách nát của mình trước khi quá muộn.”*

Ngay bên dưới đoạn tin nhắn đe dọa là một đường link siêu liên kết màu xanh dương dẫn thẳng tới một trang thông tin điện tử chuyên ngành đầu tư mỹ thuật và cổ vật có lượng truy cập lớn nhất giới thượng lưu Sài Gòn.

Bảo Châu bước vội lại sát bên cạnh Nam, mắt cô mở to nhìn vào màn hình điện thoại.

Nam không hề do dự. Ngón tay cái của anh bấm thẳng vào đường link siêu liên kết.

Trình duyệt web lập tức tải ra một bài viết vừa được xuất bản cách đó chưa đầy mười lăm phút. Bài viết được ghim nổi bật ở vị trí tiêu điểm trên trang chủ, với một tiêu đề in hoa đậm nét, được giật tít vô cùng hiểm độc:

**“BÓNG MA NGHỀ NGHIỆP TÁI XUẤT: CHUYÊN GIA GIÁM ĐỊNH QUÁCH NHẬT NAM VÀ VỤ ÁN DÀN DỰNG KẾT LUẬN SAI LỆCH NĂM 2021 – LIỆU CÓ PHẢI LÀ CHIÊU TRÒ TRỤC LỢI TỪ DI SẢN CỐ DANH HỌA TRƯƠNG DIỆP?”**

Bên dưới tiêu đề bài báo là một tấm ảnh chụp độ phân giải cao ghi lại khoảnh khắc Nam ba năm về trước: một chàng trai trẻ cúi gầm mặt, bước ra khỏi cánh cửa phòng điều trần kỷ luật của Hiệp hội Thẩm định Cổ vật trong tiếng la ó và ống kính chớp nháy của hàng chục phóng viên.

Từng đoạn văn bên dưới bài viết được soạn thảo bằng một giọng điệu pháp lý sắc bén nhưng đầy ác ý, vu khống trắng trợn rằng Nam đang âm thầm cấu kết với các thế lực đầu cơ ngầm nhằm tung tin thất thiệt về tính nguyên bản của bộ sưu tập Trương Diệp, nhằm mục đích dìm giá thị trường để thâu tóm các kiệt tác quốc gia với giá rẻ mạt.

Căn phòng áp mái bỗng chốc trở nên lạnh ngắt. Bóng đen của vụ án ba năm trước một lần nữa trỗi dậy, giăng bẫy bủa vây lấy Nam ngay tại ngưỡng cửa của sự thật.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories