Bức Tranh Thứ Mười BaCh.3 / 32
Chapter 3

Căn phòng có mười hai vị trí

Để lại bản sao giả trong sự niêm phong nghiêm ngặt của luật sư Thu, Nam và Bảo Châu bước vào gian phòng trưng bày chính, nơi mười hai bức đại tác phẩm sơn mài của Trương Diệp đang tĩnh lặng ngự trên tường.

Căn phòng hình chữ nhật dài hun hút chìm trong thứ ánh sáng dịu được kiểm soát bằng hệ thống rèm cuốn hai lớp dệt từ sợi khoáng cản quang. Không gian kín bưng, tách biệt hẳn với tiếng còi xe nghẹn ứ ngoài đại lộ, giữ lại bên trong nó một áp suất tĩnh mịch kỳ lạ. Mùi sơn then ủ lâu năm hòa lẫn hương gỗ trắc, dầu trẩu và long não khô tạo nên một bầu không khí trầm mặc, đặc quánh như thể thời gian ở đây đã ngừng trôi kể từ khi nét cọ cuối cùng hạ xuống trên bề mặt vóc. Mười hai tấm vóc khổ lớn, mỗi tấm có kích thước chính xác một mét hai nhân hai mét tư, được treo dọc theo hai diện tường dài đối diện nhau theo một trật tự thẳng băng, lạnh lùng và tẻ nhạt, y hệt như cách chúng từng xuất hiện trong cuốn sách chuyên khảo mỹ thuật bìa cứng khổ lớn đang nằm trên chiếc bàn trà bằng kính cường lực giữa phòng.

Bảo Châu khoanh hai tay trước ngực, đôi vai gầy hơi chùng xuống dưới lớp áo khoác kỹ thuật xám tro. Đôi mắt cô hằn rõ những quầng thâm mờ sau nhiều đêm thức trắng, ánh nhìn lướt chầm chậm qua chuỗi tác phẩm đồ sộ phủ kín diện tường bên phải.

“Đây là toàn bộ tài sản được xem là danh giá nhất mà ông ngoại tôi để lại cho trần thế,” Bảo Châu khẽ nói, âm lượng chỉ vừa đủ chạm đến tai Nam trong khoảng không thênh thang. “Mười hai bức đại diện cho mười hai thời khắc sáng tạo, kéo dài qua gần hai thập kỷ lao động kiệt cùng, bắt đầu từ *Sương sớm sông Hoài* ở góc phòng phía đông cho tới *Chiều tà trên đồi thông* ở góc tây nam. Các nhà phê bình và giới buôn tranh luôn ca ngợi tính tuyến tính hoàn hảo của nó: hành trình một đời người, một dải đất nước đi từ sáng đến tối, từ sinh nở đến tàn lụi. Họ gọi đó là một trường thiên tiểu thuyết bằng sơn then và vàng quỳ.”

Nam không vội gật đầu phụ họa. Anh không đứng ở vị trí thưởng ngoạn tranh thông thường giữa lòng phòng, nơi người ta thường lùi xa ba bước để chiêm ngưỡng hiệu ứng thị giác tổng thể của các mảng vỏ trứng dát mỏng hay lớp then sâu thẳm. Anh bước chậm rãi, tiếng đế giày cao su mềm ma sát rất khẽ trên mặt sàn gỗ giáng hương bóng mờ. Mắt anh không nhìn thẳng vào trung tâm các lớp sơn mài lộng lẫy thếp vàng thếp bạc, mà dán chặt vào khoảng trống hẹp giữa các mép khung ngoài và bức tường trát vữa quét vôi màu ghi sáng.

Bàn tay anh lần vào túi áo khoác dã chiến, rút ra chiếc đèn pin rọi kiểm tra quang học chuyên dụng của giới phục chế. Anh gạt công tắc chuyển sang chế độ ánh sáng vàng ấm ba ngàn Kelvin – dải nhiệt độ màu chuẩn xác nhất giúp khử tối đa hiện tượng tán xạ lóa mắt trên các lớp cánh gián đã mài bóng ngậm dầu.

“Bảo Châu, cô có thấy mảng vôi ở sau bức số ba và số bốn không?” Nam cất tiếng, ngón tay trỏ hướng luồng sáng quét xiên một góc mười lăm độ lên trần thạch cao rồi là là lướt dọc theo mép trên của khung tranh gỗ sồi.

Bảo Châu bước tới cạnh anh. Hơi thở cô phả nhẹ, làn hương xà phòng thơm dịu xen lẫn mùi cồn tuyệt đối dùng lau kính hiển vi bảng lảng quanh bờ vai. “Có gì lạ sao? Tường ở đây được sơn lại cách đây năm năm, đúng vào dịp chuẩn bị cho kỳ triển lãm hồi cố quy mô lớn của ông do phòng tranh Lam Thành đứng ra tài trợ.”

“Chính là mảng tường sơn lại đó,” Nam nói, thanh âm trầm xuống, dứt khoát và khô khốc. “Nhìn kỹ quầng bóng sáng xung quanh các khung tranh. Khi một bức tranh khổ lớn mang vóc nặng treo cố định trên một diện tường suốt nhiều năm, bụi mịn trong không khí, ẩm độ và quá trình oxy hóa tự nhiên của lớp vôi quét sẽ tạo ra một quầng tối bao quanh mép khung, đồng thời để lại một khoảng tường sáng màu hơn ở ngay sau lưng nó do không bị ánh sáng tự nhiên tác động. Hiện tượng lưu ảnh vật lý này không thể nào tẩy xóa triệt để nếu không cạo hết vữa trát. Nhưng hãy nhìn xem: bóng sáng hình chữ nhật in mờ trên tường phía sau bức số hai và số ba không hề trùng khớp với vị trí của những chiếc đinh móc chịu lực hiện tại.”

Bảo Châu hơi nghiêng đầu, mắt nheo lại chăm chú. Dưới góc rọi xiên mười lăm độ sắc lẹm từ đèn của Nam, cấu trúc bề mặt bức tường lập tức lộ diện rõ ràng từng khiếm khuyết vi mô. Vệt bóng sáng hình chữ nhật phía sau mép trên của các bức tranh bị lệch xuống dưới khoảng mười hai xentimét và chếch nghiêng một góc gần ba độ so với phương ngang tuyệt đối của sàn nhà.

“Chưa hết,” Nam bước tiếp sang bức số năm và số sáu, rọi thẳng vào những lỗ trám thạch cao tròn xoe nằm rải rác. Những lỗ này đã được người ta bả bột matit rồi quét sơn đè lên rất khéo, nhưng sự khác biệt về hệ số co ngót giữa bột trét thạch cao và vữa vôi truyền thống vẫn để lại những đường nứt viền li ti như sợi chỉ. “Những lỗ đinh cũ này. Chúng không hề chạy theo một đường thủy bình nằm ngang như dây giọi thợ nề. Ở góc phòng phía đông, hàng đinh cũ nằm cao hơn mép khung hiện tại gần hai mươi phân. Xuống đến giữa phòng, chúng trũng xuống như một võng lượn, rồi lại vút cong dần lên khi vươn về phía bức tường hướng tây.”

Nam lùi lại ba bước, đứng ngay tâm điểm hình học của căn phòng, nơi ánh sáng từ giếng trời tròn trên mái chiếu xuống một luồng quang năng mờ ảo lơ lửng bụi tro. Anh giơ ngón tay trỏ, vạch trong không khí một đường cong vô hình nối các điểm trám vôi cũ lại với nhau.

“Mười hai bức tranh này chưa từng được sắp đặt theo một hàng ngang thẳng tắp như trong danh mục sách mỹ thuật mà Lam Thành hay gia đình công bố ra công chúng,” Nam nói, đôi mắt sáng lên tia nhìn phân tích sắc bén của một nhà giám định hiện trường lâu năm. “Đó là một sơ đồ vòng cung. Một hình elip tuần hoàn, tựa như quỹ đạo của mặt trời trên đường hoàng đạo hay chu kỳ của bốn mùa luân chuyển trong trời đất. Người ta đã hạ toàn bộ xuống, trám các lỗ đinh nguyên bản và đóng lại đinh mới theo một trục thẳng tắp để tiện cho việc chụp ảnh in sách catalog thương mại. Sự thẳng hàng giả tạo đó đã bẻ gãy hoàn toàn cấu trúc không gian mà cụ Trương Diệp đã dày công tính toán khi thiết kế căn phòng này.”

“Một vòng cung...” Bảo Châu khẽ thì thầm, bàn tay cô vô thức siết chặt vạt áo khoác kỹ thuật, các khớp ngón tay trắng bệch. “Hồi tôi còn nhỏ, ông ngoại từng ngồi trên chiếc sập gụ này, nhìn quanh bốn bức tường và nói với tôi rằng tranh của ông không phải là những mảnh ghép cắt rời để người ta đem bán đấu giá từng miếng một cho những kẻ giàu xổi. Ông gọi chúng là ‘vòng tuần hoàn của đất và nhựa’. Lúc đó tôi chỉ nghĩ ông đang nói một cách văn hoa theo kiểu hoài cổ của các họa sĩ lão thành gốc Hà Nội.”

“Một họa sĩ bậc thầy về sơn mài không bao giờ đặt tranh ngẫu nhiên,” Nam nói, hạ thấp góc chiếu của đèn pin xuống chân tường. “Đặc biệt là khi ông ấy đã để lại lời nhắn về một bức tranh thứ mười ba đóng vai trò làm chìa khóa mở ra sự thật. Nếu mười hai bức này tạo thành một vòng khép kín, một chu kỳ chuyển hóa năng lượng thị giác, thì chiếc chìa khóa chỉ có thể khớp vào ổ khi chúng ta tìm thấy khớp nối đầu tiên.”

Anh quay sang nhìn bức tranh số một – tác phẩm mang tên *Khởi sinh*, ngự trị ở đầu dãy tường phía đông. Trên nền sơn then đen sâu thẳm như lòng giếng cổ, hàng vạn mảnh vỏ trứng vịt thả đồng được đập vỡ vụn, cẩn tinh xảo đến từng nan milimet, chìm nổi dưới lớp cánh gián mỏng như cánh ve, tái hiện hình ảnh một dòng chảy mờ ảo lúc rạng đông.

“Chúng ta cần kiểm tra phần cốt gỗ và viền khung của bức này,” Nam đề nghị, giọng điềm tĩnh nhưng chứa đựng một sự quả quyết không thể chối từ. “Chúng ta phải tháo nó xuống giá kiểm tra.”

“Anh có chắc không?” Bảo Châu nhìn tấm vóc đồ sộ, vẻ đắn đo thoáng hiện trên gương mặt thanh tú. “Quy chuẩn bảo tồn của cô Võ Khánh Linh rất khắt khe. Mỗi lần di chuyển tác phẩm khổ lớn như thế này đều phải lập biên bản kiểm tra trạng thái bề mặt trước và sau thao tác. Chỉ một vết xước dăm trên lớp quang cũng đủ để họ vin vào đó mà đình chỉ tư cách giám định của anh.”

“Tôi chịu trách nhiệm trước luật sư Thu và biên bản kỹ thuật,” Nam đáp, giọng anh mang sức nặng của sự kiên định chuyên môn. “Chúng ta không bóc tách lớp mặt, không dùng bất kỳ dung môi hóa chất nào tác động lên bề mặt sơn. Chúng ta chỉ hạ xuống giá đỡ có đệm mút xốp eva mật độ cao để quan sát phần cạnh gỗ phụ bên ngoài. Đó là thao tác cơ học tối thiểu hoàn toàn được phép theo tiêu chuẩn bảo tồn không can thiệp của IIC. Nếu không hạ tranh, chúng ta sẽ mãi mãi bị giam hãm trong cái bẫy sắp đặt thẳng hàng mà kẻ khác đã cố tình dựng lên.”

Bảo Châu nhìn thẳng vào mắt Nam trong hai giây. Trong ánh mắt kiên định của người đàn ông từng nếm trải biến cố nghề nghiệp ấy, cô không thấy sự liều lĩnh mù quáng, mà chỉ thấy sự cẩn trọng tột cùng của một người coi trọng sự thật vật chất hơn danh vọng. Cô gật đầu dứt khoát.

“Được. Tôi sẽ phụ anh một tay.”

Cả hai cùng mang găng tay cotton trắng dày dặn chuyên dụng cho việc bốc dỡ hiện vật bảo tàng. Bảo Châu kéo hai chiếc giá đỡ chữ A bằng thép hộp sơn tĩnh điện, bên trên đã bọc sẵn các dải nỉ xốp dày, đặt sát vào chân tường dưới chân bức tranh số một. Nam đứng ở góc chịu lực bên phải, hai chân mở rộng bằng vai để tạo trọng tâm vững chắc, luồn các ngón tay vào gờ đỡ bằng gỗ lim nguyên khối của khung ngoài. Bảo Châu giữ vị trí đối xứng bên trái, giữ chặt mép dưới với một tư thế chuẩn xác của người làm công tác xưởng lâu năm.

“Chuẩn bị nhé,” Nam đếm khẽ, giữ nhịp thở đều đặn. “Một, hai, ba, nâng.”

Tấm vóc nặng gần ba mươi lăm kilôgam nhấc khỏi hai móc treo chịu lực bằng thép không gỉ trên tường một cách êm ái, phát ra một tiếng *khục* khô nhẹ của kim loại tách rời nhau. Cả hai di chuyển từng bước ngắn, nhịp nhàng phối hợp cơ thể để không tạo ra bất kỳ chấn động hay độ rung lắc nào có thể làm rạn nứt lớp sơn lót cổ gần bốn mươi năm tuổi bên trong. Tấm tranh đồ sộ được đặt nghiêng một góc bảy mươi độ lên giá đỡ chữ A, mặt lưng quay ra ngoài luồng sáng dịu của đèn bàn.

Nam lập tức quỳ một gối xuống sàn gỗ, mở hộp đồ nghề mang theo bên mình, lấy ra chiếc kính lúp kỹ thuật có độ phóng đại mười lần tích hợp đèn rọi LED tròn quang phổ chuẩn. Anh không nhìn vào lớp vải bồi thô ráp ở lưng vóc – nơi đã được quét phủ một lớp sơn chống ẩm đen tuyền pha mùn cưa mịn – mà tập trung rà soát dọc theo sống gỗ của cạnh khung bao quanh.

Đó là một dải gỗ sồi Nga dày ba phân, được xử lý mộng mang cá tinh vi để giữ chặt tấm vóc sơn mài bên trong mà không cần dùng đến một chiếc đinh sắt hay ốc vít kim loại nào. Ở mép trên bên phải của cạnh sau khung, nơi lớp bụi bám đóng một màng xám mỏng qua năm tháng, Nam khẽ dùng chiếc chổi lông thỏ mềm quét nhẹ một đường dứt khoát.

Lớp bụi bay đi, làm lộ ra thớ gỗ sồi màu vàng sẫm có vân hình dải lụa.

“Bảo Châu, lại đây.”

Bảo Châu ngồi thụp xuống bên cạnh anh, mái tóc đen cột gọn khẽ lay động khi cô cúi sát gương mặt vào luồng ánh sáng trắng lạnh từ thấu kính phóng đại.

Dưới lớp bụi vừa được làm sạch, trên thớ gỗ sồi mịn màng, những dấu vết nhân tạo hiện lên rõ mồn một, sắc nét đến mức kinh ngạc. Đó là ba chấm tròn màu sơn son đỏ thắm, kích thước chỉ bằng đầu que tăm, được chấm bằng đầu bút lông cực nhỏ với độ dày màng sơn có độ căng bóng tự nhiên của sơn ta truyền thống qua tinh chế. Ngay cạnh ba chấm son là một ký tự khắc chìm sắc gọn, dứt khoát: chữ “I” La Mã, và bên dưới nó là một mũi tên mảnh dài chưa đầy một xentimét chỉ thẳng về một hướng lệch góc ba mươi lăm độ so với cạnh dọc của khung gỗ.

“Chấm sơn son, số La Mã và một mũi tên...” Bảo Châu thì thầm, ngón tay cô lơ lửng cách bề mặt gỗ vài milimet, tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc không chạm da thịt trần vào hiện vật. “Chữ số một La Mã này chắc chắn chỉ bức số một, tác phẩm *Khởi sinh*. Nhưng mũi tên này... nó chỉ đi đâu? Nó không hề song song với phương thẳng đứng của bức tranh khi treo.”

“Không phải chỉ vào bức tranh tiếp theo trên tường đâu,” Nam nói, giọng anh trầm xuống đầy tập trung. Anh rút chiếc la bàn địa chất bỏ túi bằng đồng nguyên khối ra khỏi túi ngực, đặt nó cân bằng hoàn hảo trên mép ngang của khung gỗ. Chiếc kim nam châm ngâm dầu rung rinh một nhịp ngắn rồi dừng lại, trục bắc nam ổn định trong tĩnh lặng. “Mũi tên này không chỉ hướng đông hay hướng tây của căn phòng. Nó tạo với cực từ bắc một góc chính xác là sáu mươi độ đông bắc.”

“Sáu mươi độ đông bắc?” Bảo Châu nhíu mày, trong đầu cô lập tức dựng lại sơ đồ mặt bằng kiến trúc của toàn bộ ngôi biệt thự cổ. “Hướng đó là hướng vòm cửa sổ lớn nhìn ra khoảnh sân sau của xưởng vẽ, nơi có rặng trúc quân tử.”

“Chính xác hơn, đó là phương vị của ánh nắng mặt trời chiếu qua vòm cửa sổ hướng đông của căn phòng này vào đúng thời điểm tám giờ ba mươi phút sáng vào tiết Xuân phân,” Nam ngước mắt lên nhìn hệ thống cửa chớp gỗ phía trên cao, trí nhớ thị giác của anh lập tức ráp nối các dữ kiện không gian và quỹ đạo quang học. “Những chấm sơn son này không phải vết bẩn ngẫu nhiên do thợ vô tình quệt phải. Chúng là tọa độ phương vị la bàn. Cụ Trương Diệp đã mã hóa hướng đi của ánh sáng tự nhiên lên từng tác phẩm. Mười hai bức tranh, mười hai hướng sáng khác nhau, tạo thành một chiếc đồng hồ mặt trời hoàn chỉnh bằng sơn mài!”

Bảo Châu bàng hoàng nhìn Nam, đôi môi cô khẽ mấp máy. “Vậy có nghĩa là... nếu treo theo hàng thẳng tắp như hiện nay, ánh sáng tự nhiên từ giếng trời và cửa sổ chiếu vào mặt tranh sẽ hoàn toàn sai lệch góc phản xạ quang học? Khiến người xem đứng ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể nhìn thấy những lớp màu chìm ẩn sâu bên dưới lớp cánh gián?”

“Đúng vậy. Sơn mài là nghệ thuật của chiều sâu quang học đa tầng. Lớp bạc thếp, lớp then, lớp cánh gián chỉ phát lộ hết sắc độ lộng lẫy và những hình ảnh ẩn tàng khi ánh sáng tới chạm vào bề mặt ở một góc tới nhất định, tạo ra hiện tượng khúc xạ và tán xạ nội tại giữa các màng sơn. Treo sai vị trí, bức tranh sẽ bị ‘mù’, nó chỉ còn là một tấm gỗ bóng loáng vô hồn.” Nam đứng thẳng dậy, ánh mắt anh nhìn dọc theo bức tường dài với sự kinh ngạc tột cùng trước tầm vóc tư tưởng của bậc tiền bối. “Và quan trọng hơn cả, những ký hiệu này chứng minh một sự thật pháp lý lẫn nghệ thuật: bộ mười hai bức tranh này là một thực thể thống nhất không thể tách rời. Chúng là mười hai mảnh của một bản đồ quang học hoàn chỉnh. Xé lẻ chúng ra, toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ.”

“Một bản đồ không thể chia cắt...”

Một giọng nói đàn ông chua chát, gằn từng tiếng đầy giễu cợt vang lên từ phía cánh cửa gỗ lim của gian phòng trưng bày, cắt đứt mạch suy nghĩ của hai người như một nhát chém tàn nhẫn.

Trương Minh Khang đứng sừng sững ở ngưỡng cửa, hai tay đút sâu vào túi chiếc quần tây màu be ủi phẳng phiu. Áo sơ mi lụa của ông ta đã mở phanh hai cúc ngực, để lộ sợi dây chuyền vàng bản lớn. Mái tóc chải chuốt bóng lộn thường ngày giờ hơi rối bù, vài sợi rủ xuống trán, và trên gương mặt vuông vức lộ rõ nét mệt mỏi cùng sự cuống cuồng bị kìm nén của một kẻ đang bị các chủ nợ dồn vào chân tường. Sau lưng ông ta, không gian hành lang vắng ngắt như tờ, không thấy bóng dáng của bà Thanh Mai hay luật sư Thu.

Minh Khang bước vào phòng, tiếng gót giày da gõ cồm cộp trên sàn gỗ giáng hương như những nhát búa nện vào bầu không khí tĩnh mịch. Ông ta dừng lại cách giá đỡ tranh hai bước chân, nhìn bức tranh số một đang nằm nghiêng rồi liếc sang chiếc kính lúp và cây la bàn trên tay Nam với ánh mắt đầy hằn học.

“Hai người đang làm cái trò khốn nạn gì ở đây thế hả?” Khang cất giọng trầm đục, ngữ khí cố giữ vẻ bề trên của kẻ nắm quyền sinh sát nhưng đuôi mắt bên trái giật liên hồi từng chặp. “Tự ý tháo tranh của bố tôi xuống mà không có sự đồng ý của Hội đồng thừa kế? Nam, cậu nghĩ cậu là ai? Cậu chỉ là một chuyên gia giám định tự do được thuê đến để xác nhận tính nguyên bản của một bức tranh mất tích, chứ không phải một viên thanh tra cảnh sát có quyền lục lọi, di dời tài sản riêng của gia đình này!”

Bảo Châu lập tức bước lên phía trước nửa bước, thân hình mảnh dẻ của cô chắn ngang giữa người cậu ruột và bức tranh trên giá. “Cháu là người yêu cầu anh Nam kiểm tra. Chúng tôi đang thực hiện quy trình giám định bảo tồn theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật không xâm lấn. Cậu Khang, cậu không có quyền can thiệp vào nghiệp vụ chuyên môn khi chưa có sự cho phép của người quản lý di sản.”

“Chuyên môn? Nghiệp vụ?” Khang cười khẩy, tiếng cười the thé vang lên khô khốc trong gian phòng kín. Ông ta bước thêm một bước, ép sát vào Bảo Châu khiến cô phải lùi lại một chút theo phản xạ. “Chuyên môn của các người có cứu được khoản nợ sắp đến hạn vào đúng mười hai giờ trưa nay không? Chuyên môn của các người có trả được tiền lãi ngân hàng cho ba trăm mét vuông đất dự án đang bị phong tỏa ở Thủ Thiêm không hả?”

Ông ta quay ngoắt sang Nam, rút từ túi áo trong ra một tập tài liệu mỏng được bấm kim cẩn thận, dập mạnh lên chiếc bàn trà bằng kính cường lực kêu một tiếng *chát* chói tai.

“Cậu Nam, chúng ta là những người đàn ông trưởng thành, hãy nói chuyện thực tế đi,” Khang hạ giọng xuống, nhưng sự đe dọa trong từng từ ngữ lộ rõ như một lưỡi dao găm giấu dưới tấm vải lụa êm ái. “Cái thứ gọi là ‘bức tranh thứ mười ba’ kia rõ ràng là một trò bịp bợm rẻ tiền. Một tấm vóc giả mạo vừa mới làm xong bằng sơn công nghiệp, ai mà biết được có phải do chính những kẻ thù ghét gia đình tôi dựng lên để phá đám hay không? Hay là do chính nội bộ các người bày trò? Nhưng mười hai bức tranh này thì khác. Chúng là thật một trăm phần trăm. Chúng đã được thế giới công nhận suốt ba mươi năm nay, có mặt trong mọi tuyển tập mỹ thuật Đông Nam Á.”

Nam tháo chiếc găng tay cotton bên tay phải, đặt chiếc la bàn địa chất lên mặt kính bàn trà, ngay bên cạnh tập hồ sơ còn thơm mùi mực in laser. “Anh muốn tôi làm gì, anh Khang?”

“Ký vào đây,” Khang chỉ ngón tay có đeo chiếc nhẫn vàng cẩn đá ruby đỏ thẫm vào dòng trống ở trang cuối cùng của tập tài liệu. “Đây là biên bản đánh giá tính độc lập của tác phẩm mỹ thuật. Cậu chỉ cần xác nhận một điều đơn giản trên tư cách giám định viên độc lập có chứng chỉ hành nghề: mười hai bức tranh này là các tác phẩm mỹ thuật hoàn chỉnh, có giá trị nghệ thuật và thương mại riêng biệt, hoàn toàn có thể phân chia, chuyển nhượng, thế chấp hoặc bán lẻ từng bức mà không làm suy giảm giá trị cốt lõi của toàn bộ sưu tập.”

Nam đưa mắt nhìn xuống tập giấy. Từng dòng chữ in nghiêng hiện lên rõ ràng: đó là mẫu chứng thư định giá và phân loại tài sản mỹ thuật được soạn thảo rất tinh vi theo biểu mẫu chuẩn của mạng lưới Lam Thành. Phía dưới góc phải đã có sẵn chữ ký nháy của một giám định viên thuộc hiệp hội cổ vật tư nhân và con dấu đỏ chờ sẵn của một tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

“Anh muốn xé lẻ bộ tranh này?” Bảo Châu giận dữ thốt lên, gương mặt cô đỏ bừng vì sự phẫn nộ tột cùng. “Đây là tâm huyết cả đời của ông ngoại! Ông đã dành gần hai mươi năm ròng rã, hy sinh cả sức khỏe, hít từng làn khói độc của sơn sống để hoàn thành mười hai bức tranh này! Chúng thuộc về nhau như một cơ thể sống! Cậu định bán từng bức cho những tay buôn tranh chợ đen, cho những kẻ đầu cơ chỉ biết treo tranh trong phòng ngủ để khoe của, chỉ để lấy tiền trả nợ cờ bạc đất đai của cậu sao?”

“Mày im cái miệng lại, con ranh ranh mãnh!” Khang quát tháo, sự lịch thiệp giả tạo cùng lớp vỏ bọc quý phái hoàn toàn sụp đổ, để lộ bản chất hung hãn của một con bạc đang bên bờ vực phá sản cùng quẫn. “Mày biết cái quái gì về tiền bạc? Mày chỉ biết ôm mấy cái lọ hóa chất, mấy cái cọ lông thỏ với mớ giẻ lau rách của mày trong xưởng! Mày có biết nếu trưa nay tao không nộp được chứng thư xác nhận giá trị tài sản ròng để ngân hàng giải ngân khoản vay đảo nợ ba mươi tỷ, thì toàn bộ cái nhà này, cả cái xưởng vẽ lẫn mười hai bức tranh này sẽ bị tòa án niêm phong phát mại với giá sắt vụn không hả? Lúc đó thì cái ‘thể thống nhất’ của ông ngoại mày sẽ nằm ở bãi rác hay nằm trong kho thanh lý của ngân hàng?”

Khang trừng mắt nhìn Nam, lồng ngực ông ta phập phồng dữ dội dưới lớp áo sơ mi mỏng. “Cậu Nam, cậu là người thông minh, cậu từng lăn lộn ở nước ngoài. Ba năm trước cậu từng làm vỡ nợ một nhà sưu tập lừng lẫy ở Hà Nội chỉ vì một kết luận giám định quá cứng nhắc, cậu chưa học được bài học xương máu đó sao? Cậu ký vào tờ giấy này, cậu sẽ nhận được hai phần trăm phí thẩm định trên tổng giá trị giao dịch của ba bức tranh đầu tiên – không dưới sáu trăm triệu đồng tiền mặt chuyển khoản ngay trong vòng mười lăm phút. Chưa hết, Lam Thành sẽ bảo lãnh cho cậu một vị trí cố vấn độc quyền trong quỹ đầu tư nghệ thuật mới của họ. Một tương lai rực rỡ đang mở ra trước mắt cậu. Còn nếu cậu từ chối...”

Khang nghiến chặt hai hàm răng, giọng rít qua kẽ môi nghe như tiếng gió lùa qua khe cửa mục: “Tôi sẽ họp báo tuyên bố cậu thông đồng với kẻ trộm đánh tráo bức tranh thứ mười ba nhằm hạ uy tín gia tộc Trương Diệp để dìm giá bộ sưu tập cho một nhóm thâu tóm ngầm. Cậu nghĩ giới mỹ thuật và truyền thông Sài Gòn sẽ tin lời một chuyên gia tự do từng có vết nhơ nghề nghiệp như cậu, hay tin vào lời của con trai trưởng danh họa Trương Diệp?”

Không gian trong phòng trưng bày rơi vào sự im lặng nghẹt thở. Tiếng kim giây đồng hồ treo tường ở góc xa gõ từng nhịp *tắc, tắc* khô khốc như đếm lùi thời gian phán quyết.

Bảo Châu nhìn sang Nam. Ánh mắt cô tràn ngập sự âu lo và bất an. Cô hiểu rõ vết thương ba năm trước là điểm yếu chí mạng trong sự nghiệp của anh – một vụ bê bối mà những kẻ buôn tranh gian manh đã biến sự trung thực khoa học của anh thành cái cớ để hủy hoại uy tín nghề nghiệp của một chuyên gia trẻ. Chỉ cần Khang tung tin đồn ra ngoài, sự nghiệp phục hồi của Nam sẽ tan thành mây khói.

Nam đứng thẳng người, hai chân vững chãi trên sàn gỗ. Gương mặt anh không hề có lấy một tia dao động trước lời đe dọa sặc mùi kim tiền và tống tiền danh dự đê hèn. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ những tia máu của Trương Minh Khang, ánh mắt lạnh lùng, điềm tĩnh và sâu thẳm như một mặt hồ đóng băng giữa mùa đông.

“Anh Khang,” Nam cất tiếng, từng âm tiết nhả ra chậm rãi, rành rọt và chuẩn xác đến gai người. “Ba năm trước, tôi kết luận bức tranh sơn then đó sai niên đại vì chất kết dính của nó là nhựa alkyd tổng hợp của thế kỷ hai mươi mốt chứ không phải sơn ta ủ chín thời kỳ Đông Dương. Người mua tranh phá sản vì lòng tham và sự mù quáng của chính ông ta trước những con số ảo, chứ không phải vì kết luận khoa học của tôi. Tôi bước chân vào nghề giám định bằng con mắt nhìn vào sự thật vật liệu, vào cấu trúc phân tử của màng sơn, chứ không nhìn vào sổ nợ ngân hàng hay số dư tài khoản của khách hàng.”

Nam đưa bàn tay đeo găng chạm nhẹ vào sống gỗ của bức tranh số một, nơi những chấm sơn son vẫn đang âm thầm phát sáng dưới ánh đèn. “Ngay trên mép khung này, cha của anh đã để lại những chấm sơn son và góc phương vị la bàn cực kỳ chuẩn xác. Mười hai bức tranh này được thiết kế để tương tác quang học với nhau theo một quỹ đạo ánh sáng vòng cung khép kín. Tách rời một bức ra khỏi bộ sưu tập đồng nghĩa với việc phá hủy vĩnh viễn cấu trúc mật mã không gian mà cụ Trương Diệp đã dồn toàn bộ tâm lực cuối đời để tạo dựng. Đó không chỉ là hành vi bức tử một di sản nghệ thuật vô giá, mà về mặt kỹ thuật thương mại, việc bán lẻ sẽ làm giá trị thực tế của từng bức tranh sụt giảm ít nhất sáu mươi phần trăm ngay khi các nhà sưu tập tầm cỡ quốc tế phát hiện ra chúng đã mất đi tính toàn vẹn của chuỗi xuất xứ.”

Nam lùi lại một bước, khoanh hai tay trước ngực, ánh nhìn quét qua bản hợp đồng trên bàn như nhìn một đống rác rưởi. “Chứng thư khuyên bán lẻ này, tôi sẽ không bao giờ ký. Dù anh có trả sáu trăm triệu hay sáu tỷ đồng.”

“Mày... cái thằng ranh con này!” Mặt Khang tím tái lại vì cơn thịnh nộ bùng phát tột cùng. Ông ta giơ bàn tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Nam, bước xộc tới như muốn lao vào đoạt lấy chiếc kính lúp hay xô ngã giá đỡ tranh để trút giận. “Mày muốn chết chung đường với con ranh này đúng không? Tao sẽ cho luật sư tước quyền giám định của mày ngay lập tức, tao sẽ tống cổ mày ra khỏi cái đất Sài Gòn này...”

“Anh Khang định tước quyền của ai ở căn phòng này?”

Một giọng nói phụ nữ đanh thép, lạnh lùng và đầy uy quyền vang lên từ ngưỡng cửa lớn, dội vào các bức tường tạo nên một âm vang sắc nhọn.

Mọi ánh mắt trong phòng lập tức đổ dồn về phía lối vào.

Luật sư Nguyễn Hoài Thu bước vào phòng với phong thái uy nghiêm tuyệt đối. Chiếc áo măng tô màu ghi xám phẳng phiu không một nếp gấp, mái tóc đen điểm bạc búi cao nghiêm nghị sau gáy và gọng kính mắt bằng titan sáng loáng khiến bà toát lên vẻ lạnh lùng của một người nắm giữ cán cân công lý không thể lay chuyển. Trên tay bà không còn là chiếc cặp da công tác thông thường, mà là một tập hồ sơ dày cộp có gắn dải ruy băng niêm phong màu xanh của Văn phòng Thừa phát lại và Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Đi cùng sau lưng bà là hai chuyên viên pháp lý trẻ tuổi, mặc âu phục chỉnh tề, tay mang theo máy quay ghi nhận hiện trường có gắn tem kiểm chuẩn kỹ thuật số và các hộp dụng cụ niêm phong chuyên dụng.

“Luật sư Thu?” Khang giật mình lùi lại nửa bước, vẻ hung hãn trên gương mặt ông ta sượng sùng đông cứng lại, để lộ sự hoảng loạn tột cùng trong đáy mắt. “Chuyện... chuyện nội bộ gia đình tôi đang trao đổi chuyên môn với chuyên gia Nam, bà đến đây làm cái gì?”

“Tôi đến đây với tư cách là người quản lý di chúc duy nhất được cố họa sĩ Trương Diệp ủy thác hợp pháp bằng văn bản công chứng số không tám lập tại Phòng Công chứng Nhà nước số Một,” Luật sư Thu bước tới giữa phòng, bước chân dứt khoát không một chút do dự. Bà không thèm liếc nhìn tập tài liệu của Lam Thành đang nằm trơ trọi trên bàn trà. Bà rút ra một văn bản chính thức có đóng dấu giáp lai đỏ chót, giơ lên ngang tầm mắt của Trương Minh Khang.

“Căn cứ vào Biên bản kiểm tra kỹ thuật không xâm lấn số 01/BB-GĐ lập sáng nay giữa Giám định viên Quách Nhật Nam và Kỹ sư phục chế Trương Bảo Châu, xác nhận tác phẩm trong hộp gỗ trắc là bản giả mạo thế chỗ và có dấu hiệu xâm phạm hiện trường di sản nghiêm trọng;” giọng luật sư Thu vang lên đều đặn, đanh thép như từng nhát búa gõ xuống bàn nghị án. “Căn cứ vào Điều 648 Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ và quyền hạn của người quản lý di sản; Tôi chính thức tống đạt văn bản Quyết định đình chỉ khẩn cấp, hoàn tất việc thi hành lệnh phong tỏa toàn diện mà tôi đã tuyên bố trước đó đối với mọi giao dịch thương mại, chuyển nhượng, ủy thác định giá, thế chấp ngân hàng hoặc thay đổi hiện trạng vật lý đối với toàn bộ bộ sưu tập mười hai bức tranh sơn mài của cố danh họa Trương Diệp.”

Khang há hốc mồm, hai mắt trợn trừng như không tin vào tai mình. “Bà... bà dám phong tỏa tài sản của gia đình tôi sao? Tôi là con trai trưởng! Tôi có quyền định đoạt phần thừa kế của mình!”

“Trước pháp luật, anh chỉ là một trong những đồng thừa kế theo di chúc chưa được phân định quyền sở hữu cụ thể đối với từng hiện vật cụ thể,” Luật sư Thu cắt ngang, ánh mắt bà sau tròng kính titan sắc lẹm như một lưỡi dao mổ. “Và văn bản này đã được gửi thông báo khẩn cấp bằng đường công văn hỏa tốc tới Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an Thành phố, Trung tâm Giám định Di sản Mỹ thuật Quốc gia, cũng như toàn bộ các tổ chức tín dụng có liên quan trên địa bàn. Bất kỳ ai – tôi xin nhấn mạnh là bất kỳ ai – cố tình ký kết văn bản chuyển dịch tài sản hoặc mang bất kỳ tác phẩm nào ra khỏi căn phòng này kể từ thời điểm này trở đi, sẽ bị lập biên bản xử lý hình sự về hành vi tẩu tán tài sản đang có tranh chấp và cố ý vi phạm quy chế bảo tồn di sản văn hóa.”

Bà quay sang hai chuyên viên pháp lý đi cùng, ra lệnh bằng giọng dứt khoát: “Tiến hành lập biên bản niêm phong toàn diện không gian phòng trưng bày. Lắp đặt hệ thống camera giám sát độc lập của văn phòng luật sư tại bốn góc phòng và kích hoạt hệ thống cảm biến nhiệt chuyển động.”

“Rõ, thưa luật sư,” hai người trẻ tuổi lập tức mở cặp chuyên dụng, bắt đầu triển khai các thiết bị niêm phong, dán tem giáp lai lên các khóa cửa sổ và bật máy ghi hình chuỗi hành trình.

Trương Minh Khang đứng chết trân tại chỗ như một pho tượng vôi nứt nẻ. Bàn tay đeo nhẫn ruby của ông ta run rẩy buông thõng bên hông, tập hồ sơ bảo lãnh ba mươi tỷ trên bàn giờ đây không khác gì một đống giấy vụn vô giá trị không ai thèm ngó ngàng. Ông ta nhìn luật sư Thu, rồi nhìn sang Nam và Bảo Châu với ánh mắt ngập tràn sự căm thù, uất hận và tuyệt vọng tột cùng của một kẻ đã mất tất cả trong canh bạc cuối cùng.

“Được... các người giỏi lắm,” Khang nghiến hai hàm răng ken két, giọng run lên bần bật vì cay đắng. “Để xem các người giữ cái đống gỗ mục này được bao lâu! Lam Thành và các chủ nợ sẽ không để yên chuyện này đâu! Các người sẽ phải trả giá cho sự ngu xuẩn này!”

Dứt lời, ông ta quay ngoắt người, sải những bước chân hỗn loạn và vội vã lao ra khỏi phòng trưng bày. Tiếng đế giày gõ dồn dập trên hành lang xa dần, rồi một tiếng sập cửa sắt ngoài cổng lớn vang lên chấn động cả căn biệt thự cổ.

Bầu không khí căng thẳng đặc quánh trong phòng dần chùng xuống, chỉ còn lại tiếng vo ve khe khẽ của chiếc máy quay kiểm định đang tự động quét góc phòng và tiếng thở phào rất nhẹ của Bảo Châu.

Luật sư Thu thở dài một hơi, gương mặt sắt đá thường ngày thoáng hiện nét mệt mỏi sâu sắc của một người đàn bà đã gánh vác những bí mật nặng nề của gia tộc này suốt nhiều năm. Bà bước tới bên giá đỡ, nhìn bức tranh số một đang nằm an toàn trên các đệm mút xốp eva.

“Hai người đã làm rất tốt,” bà Thu nói, giọng dịu đi đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên tính chuẩn mực của một luật gia. “Hành động hạ tranh kiểm tra của anh Nam hoàn toàn chuẩn xác về mặt nghiệp vụ và đạo đức bảo tồn. Việc hoàn tất thủ tục tống đạt văn bản niêm phong này đã chặn đứng kẽ hở pháp lý cuối cùng mà Trương Minh Khang định lợi dụng để gây sức ép giải ngân trước giờ ngân hàng đóng sổ trưa nay.”

“Cảm ơn luật sư,” Nam khẽ cúi đầu chào. “Nhưng những phát hiện này cho thấy nguy cơ còn lớn hơn chúng ta tưởng: mười hai bức tranh này chứa đựng một hệ thống mật mã phương vị la bàn chặt chẽ. Chúng ta không thể chỉ bảo vệ chúng bằng các văn bản phong tỏa hành chính trên giấy tờ. Chúng ta bắt buộc phải tìm ra bức tranh thứ mười ba thật sự, bởi vì bức tranh đó chính là chiếc chìa khóa giải mã duy nhất cho toàn bộ di sản mà cụ Trương Diệp để lại.”

“Tôi hiểu điều đó,” luật sư Thu gật đầu đồng tình. Bà với tay mở chiếc cặp tài liệu cá nhân bằng da thuộc sẫm màu, rút ra một tập hồ sơ mỏng được kẹp cẩn thận trong bìa da đen có khóa bấm bằng đồng. “Để phục vụ cho báo cáo chuỗi chứng cứ hoàn chỉnh mà anh Nam sẽ phải trình bày trước Hội đồng Thừa kế và cơ quan chức năng chuyên ngành trong phiên họp bất thường sắp tới, tôi quyết định giao cho hai người quyền tiếp cận toàn bộ tư liệu lưu trữ gốc của cụ Trương Diệp liên quan đến quá trình sáng tác bộ tranh này. Trong này có những bức ảnh chụp hiện trường xưởng vẽ qua các thời kỳ lịch sử chưa từng được công bố ra bên ngoài, do chính tay cụ Diệp chụp và lưu giữ trong két sắt cá nhân.”

Bà trân trọng đặt tập hồ sơ vào hai bàn tay đang đeo găng của Bảo Châu. “Bảo Châu, cô là kỹ sư phục chế, cô mang trong mình dòng máu của Trương Diệp và cô hiểu rõ hơn ai hết giá trị của những bức ảnh tư liệu này. Hãy dùng chuyên môn của mình để đối chiếu chúng với những gì anh Nam vừa tìm thấy trên cốt gỗ.”

“Vâng, thưa cô Thu. Cháu cảm ơn cô,” Bảo Châu đón lấy tập hồ sơ, ngón tay cô khẽ run lên vì xúc động.

Luật sư Thu quay sang dặn dò hai chuyên viên pháp lý ở lại hoàn tất thủ tục niêm phong lối cửa phụ và hệ thống cửa chớp, rồi bà nhanh chóng bước ra hành lang để tiếp tục xử lý các thủ tục hành chính khẩn cấp với đại diện chính quyền địa phương và văn phòng công chứng.

Gian phòng trưng bày rộng lớn trở lại với vẻ tĩnh lặng nguyên sơ của nó. Ánh sáng vàng ấm từ chiếc đèn rọi quang học của Nam vẫn chiếu nghiêng một góc ba mươi lăm độ trên mép gỗ của bức tranh số một, soi rõ ba chấm sơn son đỏ thắm và chữ số “I” La Mã nhỏ bé nằm cạnh mũi tên phương vị.

Bảo Châu ngồi xuống chiếc ghế nỉ êm ái cạnh bàn trà, cẩn thận mở chiếc khóa bấm bằng đồng của tập hồ sơ da đen. Bên trong là hàng chục bản in ảnh đen trắng và ảnh màu khổ lớn, được tráng rọi tỉ mỉ từ những cuộn phim âm bản sáu nhân bảy của máy ảnh cơ Mamiya cổ điển. Từng bức ảnh ghi lại từng giai đoạn cụ Trương Diệp thực hiện bộ đại tác phẩm trong suốt những năm tháng gian khổ của thập niên tám mươi và chín mươi. Từng góc xưởng vẽ lộn xộn nhưng đầy trật tự nghệ thuật, từng giá vẽ bằng gỗ thô, từng thùng ủ sơn then bằng đất nung bọc vải ẩm, và những tấm vóc thô mộc chưa qua mài bóng hiện lên sống động như một cuốn phim tài liệu lịch sử quay chậm.

Nam bước đến đứng bên cạnh chiếc ghế, cúi người nhìn qua bờ vai cô. Ánh mắt quan sát tỉ mỉ của anh lập tức dừng lại ở một bức ảnh chụp góc xưởng vẽ tại Sài Gòn vào mùa thu năm 1989.

Trong bức ảnh ngả màu thời gian, cụ Trương Diệp lúc đó tóc đã điểm hoa râm, mặc chiếc áo bà ba màu nâu sẫm vấy đầy vệt sơn khô, đang đứng lùi lại khoanh tay quan sát ba bức tranh khổ lớn đầu tiên của bộ tác phẩm. Ba bức tranh lúc đó mới chỉ hoàn thiện phần cẩn vỏ trứng và thếp bạc lót, đang được treo thử nghiệm trên bức tường gạch mộc chưa trát vữa của xưởng vẽ cũ.

“Nhìn này Nam,” Bảo Châu chỉ ngón tay trỏ đeo găng vào góc dưới bên trái của bức ảnh. “Đúng như những gì anh vừa phán đoán từ các vết trám thạch cao trên tường. Ba bức tranh này lúc đó không hề được treo ngang bằng phẳng. Chúng được treo theo một đường cong chếch dần lên trên, đón trọn luồng ánh nắng ban mai rọi xiên qua ô cửa sổ mắt cáo bằng gỗ.”

“Ừ, đó chính là cấu trúc cung tròn nguyên bản,” Nam gật đầu, ngón tay anh lướt nhẹ trên mặt kính lúp để điều chỉnh tiêu cự nhìn vào bức ảnh. “Nhìn cách ánh sáng mặt trời chiếu vào mép bức tranh số một kìa. Bóng đổ của khung gỗ tạo thành một góc nghiêng hoàn toàn trùng khớp với góc sáu mươi độ đông bắc trên chiếc la bàn của chúng ta.”

Bảo Châu hít một hơi sâu, lật tiếp sang bức ảnh tư liệu tiếp theo trong xấp hồ sơ. Đó là một bức ảnh chụp cận cảnh độ phân giải cực cao, ghi lại mặt sau của bức tranh số một vào ngày nó vừa được người thợ mộc đóng xong hệ khung sườn bằng gỗ sồi Nga để chuẩn bị cho công đoạn mài nước đầu tiên. Từng thớ gỗ sồi mịn màng, từng đường ghép mộng mang cá khít khao và mép dải vải bồi thô ráp dán bằng nhựa sơn sống hiện lên rõ mồn một dưới lớp ánh sáng phòng tối.

Cảm nhận được một mối liên kết vật chất mãnh liệt, Bảo Châu cầm bức ảnh tư liệu trên tay, đứng dậy kéo chiếc ghế nỉ lại sát cạnh chiếc giá đỡ chữ A nơi bức tranh số một đang ngự trị. Cô cúi thấp người xuống, đưa gương mặt sát vào mép khung gỗ thực tế, tay trái cầm bức ảnh giấy giơ lên đặt song song cách mặt gỗ vài phân để đối chiếu từng milimet của vết khắc chữ số một La Mã và ba chấm sơn son đỏ thắm.

Mọi chi tiết trên gỗ thực tế đều trùng khớp một cách hoàn hảo với tư liệu lịch sử: độ xiên của nét khắc chữ “I”, độ dày của màng sơn son có vết lồi tròn nhỏ ở tâm do đầu bút lông nhấc lên, và cả vết xước dăm tự nhiên của thớ gỗ sồi ở ngay dưới chân mũi tên.

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại thông minh của Bảo Châu để trong túi áo khoác kỹ thuật bất ngờ rung lên một nhịp ngắn kèm theo tiếng bíp trầm đục của thông báo tin nhắn dữ liệu hình ảnh.

Nam đang đứng cách đó nửa bước, tay cầm thước kẹp cơ khí định kiểm tra khoảng cách giữa hai móc treo phía trên đỉnh khung. Nghe tiếng báo, anh theo phản xạ liếc mắt nhìn sang. Bảo Châu khẽ giật mình, rồi đưa bàn tay đeo găng vào túi áo rút chiếc điện thoại ra trong khi người vẫn cúi thấp sát mép vóc bức số một.

Màn hình OLED sáng bừng lên trong vùng tranh tối tranh sáng của góc phòng, hắt một luồng quang năng trắng xanh lạnh lẽo lên gương mặt cô. Từ vị trí đứng chếch phía sau của Nam, góc phản chiếu và bàn tay cô đã che khuất gần như toàn bộ mặt kính; anh chỉ kịp nhận ra quầng sáng của một tệp ảnh kỹ thuật số vừa hiển thị trên giao diện một ứng dụng nhắn tin bảo mật, hoàn toàn không thể thấy rõ chi tiết bên trong.

Thế nhưng, điều khiến Nam lập tức chú ý không phải là chiếc điện thoại, mà chính là sự biến đổi đột ngột trên nét mặt của Bảo Châu.

Sắc mặt cô tái nhợt đi chỉ trong chớp mắt. Đôi mắt dán chặt vào màn hình mở lớn vì chấn động dữ dội, hàng mi cứng đờ và lồng ngực cô như nghẽn lại sau một tiếng hít sâu bất thường. Nam cảm nhận rõ một làn sóng hoang mang cực độ vừa ập đến, biến vẻ điềm tĩnh thường ngày của cô kỹ sư phục chế thành sự hoảng loạn bị kìm nén gay gắt.

Ngay bên dưới, bàn tay trái của cô – bàn tay đang cầm bức ảnh in tư liệu đen trắng để đối chiếu từng nét khắc chữ số La Mã và ba chấm sơn son – bất giác run lên bần bật. Cơn run rẩy lan dọc từ khớp ngón tay lên cổ tay, khiến mép giấy ảnh cọ vào thớ gỗ sồi tạo nên tiếng sột soạt nhỏ vụn, làm méo mó một góc bức ảnh lưu trữ quý giá.

“Bảo Châu?” Nam cất tiếng hỏi, bước chân vô thức tiến lại gần một bước. “Có chuyện gì vậy?”

Tiếng gọi của anh dường như xé toạc cơn bàng hoàng đang đóng băng cô gái. Không ngẩng lên nhìn Nam, cũng không thốt ra một lời giải thích nào, ngón tay cái của cô ấn dứt khoát vào phím nguồn bên sườn máy. Màn hình tối sầm lại ngay tức khắc, cắt đứt hoàn toàn luồng sáng xanh.

Trước khi Nam kịp nhìn nghiêng qua bả vai cô, Bảo Châu đã vội vã nhét tuột chiếc điện thoại trượt sâu vào đáy túi áo khoác dã chiến dày cộm. Cô đè chặt mu bàn tay lên miệng túi, ngón tay siết lấy lớp vải bạt như muốn niêm phong tuyệt đối thứ vừa xuất hiện. Khi Châu cúi xuống đối chiếu bức ảnh lưu trữ với mép khung bức số một, bàn tay cô khẽ run lên và vội vã giấu chiếc điện thoại vào túi áo.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories