Người giữ sổ công
Con đường rợp bóng tre dẫn vào Nhà xưởng Cây Sơn thơm nức mùi mùn cưa và nhựa sơn ta ngai ngái; dưới mái hiên ngói âm dương rêu phong, những tấm vóc đen bóng đang được phơi trong buồng ủ ẩm.
Màn sương sớm của vùng đất ven rạch Bà Lụa vẫn còn đọng từng giọt li ti trên những phiến lá gáo, lá lục bình trôi dạt cặp mé bờ đất sét và những tàu chuối nước trĩu nặng hơi đầm. Không khí ban mai nơi đây không mang cái vị khét lẹt của xăng dầu hay bụi mịn phố thị, mà đặc quánh một thứ mùi hương rất riêng biệt của thủ công xứ nhiệt đới: mùi hăng nồng, ngai ngái tựa hồ trái cây ủ men của nhựa sơn sống mới cạo từ rừng Phú Thọ chuyển vào, hòa quyện với mùi tinh dầu tràm thoang thoảng dùng để lau chùi dao bay, mùi mạt cưa gỗ mít tươi mới xẻ rắc đầy lối đi và mùi ẩm mục hiền lành của bùn khoáng non đáy sông ngâm lâu ngày trong bể đá. Ánh mặt trời đầu ngày vừa nhô lên khỏi rặng tre đằng đông, chỉ rọi xuống sân xưởng những vệt sáng vàng nhạt, xé rách từng mảng của lớp mù sương ẩm ướt bảng lảng. Ở Tương Bình Hiệp, buổi sớm bao giờ cũng bắt đầu bằng thứ âm thanh nhịp nhàng, kiên định và chậm rãi của lao động chân tay: tiếng cưa tay xoèn xoẹt cắn ngọt vào thớ thân gỗ mít già, tiếng chày gỗ nghiến đều đặn giã đất mùn phù sa quyện mật mía trong cối đá xanh, và tiếng đá mài bùn chà rạo rạo trên mặt nước sủi bọt bóng của những bể ngâm vóc nằm dọc theo con mương dẫn nước róc rách suốt bốn mùa.
Nam xách chiếc cặp da bảo ôn chuyên dụng bằng tay phải, các khớp ngón tay đã hơi tê cứng vì hơi sương buốt lạnh của dải đường trường. Anh bước chậm lại nửa nhịp bên cạnh Bảo Châu để giữ khoảng cách vừa đủ che chắn gió bấc cho cô. Cả hai người đều đã thấm mệt sau một đêm dài căng thẳng đối chất tại Sài Gòn, nơi những màn đấu trí ngầm và nguy cơ bức tranh bị đem ra xé lẻ dưới bàn tay con buôn đã vắt kiệt từng chút sức lực thần kinh; tiếp đó là chuyến phóng xe ròng rã hàng chục cây số xuyên qua màn sương đêm lạnh buốt của lộ trình Bình Dương. Đôi mắt Bảo Châu thâm quầng nhẹ, gấu quần dã ngoại còn bết những vệt bùn khô bắn lên từ chuyến khảo sát địa tầng ở ven sông Thu Bồn và sông Hương của những ngày trước đó. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc bước chân qua ranh giới hàng rào dâm bụt dẫn vào khuôn viên xưởng, bầu không khí nồng đượm, sực nức mùi sơn ta và mùn gỗ cổ truyền bỗng chốc tác động như một liều thuốc kích thích tự nhiên, thấu suốt qua khứu giác, đánh thức từng tế bào đang mỏi mệt của những kẻ trót đem cả đời mình gắn chặt vào việc gìn giữ chất liệu.
Bước qua cánh cổng gỗ lim khép hờ có gắn tấm biển thiếc đã rỉ sét ghi dòng chữ mờ nhạt: *Tổ hợp tác sản xuất Mỹ nghệ Sơn mài Cây Sơn – 1978*, trước mắt họ mở ra một khoảng sân gạch tàu rộng thênh thang, mặt gạch đã phủ một lớp rêu chân vịt màu xanh thẫm nhưng được quét tước sạch bóng mạt rác. Hai bên khoảng sân kê ngay ngắn hàng chục giá phơi vóc mộc làm bằng những thân tre đực già thẳng tắp, gác ngang dọc như những bàn cờ khổng lồ. Dưới mái hiên dài lợp ngói âm dương vảy cá phủ đầy rêu phong và những vệt ố đen của nước mưa ngấm qua hàng chục mùa dầm, một dãy buồng ủ khép kín nối tiếp nhau. Cửa buồng không đóng bằng gỗ ván kín mít mà che bằng những tấm liếp nứa đan mắt cáo dày, bên ngoài phủ kín bao tải gai dấp nước ướt sũng để duy trì độ ẩm tuyệt đối ở mức tám mươi lăm phần trăm. Không gian tĩnh lặng, trầm lắng đến mức người ta có thể nghe thấy rõ mồn một tiếng từng giọt nước rỉ rả từ mái ngói rớt xuống lòng máng xối bằng thân cau già bổ đôi, gõ vào lớp sỏi dưới rãnh thoát nước thành những nhịp điệu rải rác, cô quạnh.
Ở góc chái nhà phía tây, bên cạnh chiếc cối đá xanh nguyên khối lớn dùng để tán mịn bột phù sa và đất sét non, một bóng người già nua đang ngồi cặm cụi trên chiếc đòn kê bằng gốc mù u thấp lè tè sát mặt đất.
Đó là một cụ già trạc ngoài tám mươi tuổi. Dáng người cụ gầy guộc, lưng hơi còng xuống theo thói quen gập người miết vóc suốt mấy mươi năm, nhưng bờ vai và đôi cánh tay lại gân guốc, rắn rỏi như một gốc cây săng lẻ phong trần bám rễ trên vách đá miền duyên hải. Cụ mặc chiếc áo cánh bà ba bằng vải thô nhuộm củ nâu màu chàm đã bạc phếch ở hai bờ vai, những đường chỉ may tay đã sờn rách để lộ từng mảng da thịt khô đanh như vỏ cây rừng. Ống quần vải đen xắn cao quá gối để lộ đôi bắp chân nổi rõ những đường gân xanh ngoằn ngoèo, chằng chịt những vết sẹo mờ của dằm gỗ mít, mảnh nứa cứa và những vết loét do nhựa sơn ăn da đã đóng vảy sừng dày cộm qua năm tháng. Đôi bàn tay của người thợ già đặt trên mặt gối là một minh chứng sống động cho sự khắc nghiệt của nghề: da bàn tay thô ráp, các khớp xương bè ra bè ngang, móng tay bị mài mòn vẹt một bên, và toàn bộ phần biểu bì ngả sang một màu nâu đen sẫm bóng – thứ màu sắc ăn sâu vào từng thớ thịt mà người trong nghề gọi là "nước sơn ăn", dấu chỉ không thể tẩy rửa của những ai đã ngâm tay cả một kiếp người trong nhựa sơn sống, dầu trẩu và bùn khoáng lội rạch.
Khi tiếng bước chân của Nam và Bảo Châu giẫm nhẹ lên lớp mạt cưa rải ngoài sân tạo nên những tiếng xào xạc rất khẽ, cụ già lập tức dừng tay miết. Cụ đang cầm một thanh gạt bằng sừng trâu đen bóng, bản rộng chừng ba ngón tay, dùng để vét từng lớp mùn sơn thừa trên mặt gỗ. Cụ từ từ ngẩng đầu lên.
Đôi mắt cụ sâu hoắm nằm dưới đôi mày rậm đã bạc trắng như cước, sắc lạnh và đanh lại như ánh thép nguội vừa vớt ra khỏi bể nước tôi. Ánh nhìn ấy không hề có nét lơ đễnh hay đục mờ của tuổi tác; nó quét qua một lượt rất nhanh, soi mói từ chiếc cặp chuyên dụng bằng hợp kim nhôm pha da thuộc chống ẩm của Nam, lướt qua bộ đồ gió dã ngoại còn vương bụi đường trường của Bảo Châu, rồi đọng lại ở gương mặt của hai người bằng một vẻ cảnh giác tột độ, xen lẫn nét mệt mỏi đầy cay nghiệt.
— Các người tìm ai?
Giọng cụ già cất lên, khàn đặc, trầm đục và dội lại như tiếng đá cuội va vào nhau dưới đáy giếng sâu khô cạn. Cụ không hề buông thanh gạt sừng trâu xuống, những ngón tay gầy guộc như rễ cây siết chặt lại quanh sống sừng trâu đến mức mu bàn tay nổi hằn những vệt gân tím ngắt.
Bảo Châu hít một hơi thở nhẹ để trấn tĩnh nhịp tim đang đập dồn dập sau lồng ngực. Cô bước lên phía trước nửa bước, dừng lại ở khoảng cách ước chừng năm bước chân – khoảng cách lễ phép của kẻ hậu bối diện kiến bậc tiền nhân, rồi cúi đầu thật thấp, hai tay buông xuôi cung kính:
— Dạ thưa cụ, chúng con từ Sài Gòn vừa về tới sáng nay. Con là Trương Bảo Châu, còn đây là anh Quách Nhật Nam, chuyên gia thẩm định và bảo tồn mỹ thuật. Chúng con lặn lội tìm về rạch Bà Lụa này là muốn được diện kiến cụ Bùi Tấn Phúc, nghệ nhân cả của xưởng vóc Hợp tác xã Cây Sơn năm xưa ạ.
Cụ già không đáp lời ngay. Cụ trừng mắt nhìn hai người một thoáng, rồi chậm rãi nghiêng đầu nhổ một bãi nước trầu đỏ thắm xuống rãnh thoát nước cạnh gốc khế cổ thụ, nghe một tiếng *toẹt* dứt khoát. Cụ đưa mu bàn tay thô ráp quệt ngang khóe miệng một cách lạnh lùng. Khi ánh mắt cụ dời trở lại gương mặt Bảo Châu, vẻ dò xét ban nãy đã hoàn toàn biến thành một sự khinh bạc rõ rệt, chua chát và lạnh tanh như nước bể ngâm mùa đông:
— Cụ Phúc chết từ cái ngày hợp tác xã này rã đám rồi, — cụ già gằn từng tiếng một, âm sắc đanh lại như sắt nguội. — Ở cái xó này bây giờ không có nghệ nhân nghệ nhiếc nào hết. Chỉ có lão Phúc gác xưởng tàn tật, rảnh việc thì ngồi vót mấy cái thớt mít mục cho thợ mộc ngoài chợ Thủ đóng tủ thờ, bàn ghế hạng hai. Mấy cô cậu quần áo sang trọng, đi xe bóng bẩy ở Sài Gòn xuống đây tìm lầm chỗ rồi. Muốn mua đồ lưu niệm sơn mài cẩn trứng giả cổ thì quay xe ra mé quốc lộ mười ba, ngoài đó hàng đống lò con buôn đang mở cửa đón khách. Về đi. Đừng làm bẩn sân xưởng của tôi.
Nam không hề tỏ vẻ nao núng trước thái độ xua đuổi gay gắt ấy. Với con mắt nhà nghề của một chuyên gia giám định đã tiếp xúc với hàng trăm hiện vật và các xưởng chế tác cổ truyền từ Bắc chí Nam, anh khẽ đưa mắt quan sát lướt qua gian nhà xưởng căm xe phía sau lưng cụ. Trên vách gỗ căm xe nâu sẫm, những chiếc cưa lọng cổ điển lưỡi mỏng tang, dao gọt vóc lưỡi cong rèn bằng thép nhíp xe lửa chở hàng thời chiến, bàn xoa gỗ ổi và các loại đá mài mủn mịn đủ kích cỡ vẫn được treo gác ngay ngắn trên những thanh nẹp tre. Lưỡi dao nào cũng được cạo sạch cặn sơn khô, tra một lớp dầu tràm chống rỉ sáng loáng, phẳng phiu và không hề bám lấy một hạt bụi mùn cưa. Ở góc nhà, những hũ sành da lươn đựng sơn sống, sơn chín cánh gián và nhựa thông được đậy bằng vải bố tẩm dầu trẩu rất kín kẽ, bên trên buộc lạt giang cẩn thận. Một người thợ đã thực sự buông xuôi, đã xem thường nghề nghiệp hay chỉ còn làm thớt gỗ vụn kiếm cơm qua ngày tuyệt đối không bao giờ gìn giữ khí cụ lao động với một sự cung kính, tôn nghiêm đến mức gần như một nghi thức tôn giáo như thế này.
— Thưa cụ Bùi, — Nam cất tiếng, giọng anh trầm ổn, đĩnh đạc và giữ một nhịp điệu từ tốn, đầy sự trân trọng. — Chúng con đi suốt đêm từ thành phố về đây, dĩ nhiên không phải để mua gỗ mít vụn hay đặt làm những món đồ mỹ nghệ thương mại lưu niệm ngoài chợ. Chúng con tìm về Tương Bình Hiệp là vì di sản của cố họa sĩ Trương Diệp. Và quan trọng hơn hết, là vì bức tranh *Người Giữ Nền* cùng những dòng ký sự chưa từng công bố trong cuốn sổ công của xưởng Cây Sơn vào tháng Hai năm 1984.
Hai chữ "Trương Diệp" vừa thốt ra khỏi môi Nam, bầu không khí dưới mái hiên ngói âm dương lập tức ngưng đọng lại như bị một luồng khí lạnh đột ngột bóp nghẹt. Nó giống hệt như một tàn lửa rớt thẳng vào đống mạt cưa gỗ mít khô nỏ đang tích tụ khí nóng ngấm ngầm.
Cụ Bùi Tấn Phúc bật phắt người đứng dậy. Sự chuyển động của cụ nhanh, mạnh và dứt khoát đến mức không ai có thể ngờ một thân hình gầy guộc ngoài tám mươi tuổi lại có thể bộc phát một phản xạ cơ bắp dữ dội dường ấy. Chiếc đòn kê bằng gốc mù u bị cụ đá văng sang một bên va vào cối đá cộp một tiếng chói tai. Khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây rừng của cụ co giật từng chập, hai hốc mắt giần giật và đôi gò má hóp sạm đen vì vết sơn ăn rung lên bần bật trong cơn thịnh nộ bùng phát. Cụ giơ thẳng thanh gạt sừng trâu sắc lẹm vào mặt Nam và Bảo Châu, ngón tay run rẩy vì uất nghẹn:
— Cút! Cút ngay lập tức ra khỏi cái xưởng này! Mấy hôm nay chim kền kền bay rợp trời rợp đất đất Sài Gòn chưa đủ hay sao mà các người còn đánh hơi mò về tận cái xó bùn lầy rạch Bà Lụa này? Mấy thằng môi giới nhà giàu râu ria chải chuốt, mấy tay lái buôn trọc phú ngửi thấy mùi tử khí từ cái chết của ông Diệp, rồi giờ đến lượt mấy đứa trẻ ranh các người vác máy móc tinh vi về đây toan tính trò ma mãnh gì nữa? Ông Trương Diệp vừa nhắm mắt xuôi tay chưa đầy tuần lễ, mồ mả ngoài nghĩa trang đất thịt chưa kịp xanh cỏ rễ non mà các người đã kéo đàn kéo lũ đến đào bới, xâu xé danh dự của người đã khuất để đổi lấy mấy cọc tiền đấu giá bạc tỉ! Lão già tàn phế này dù có chết rục xương bên cái cối giã bùn này, dù có phải đem xương thịt chôn chung với mấy tấm vóc mục cũng không bao giờ hé răng nửa lời với phường buôn tranh thất đức các người! Cút đi trước khi tôi quăng cả xô nước vôi ngâm vóc vào mặt!
Cơn lôi đình của người thợ già như làm rung chuyển cả khoảng không gian trầm mặc dưới mái ngói vảy cá. Tiếng quát khàn đục, uất nghẹn ấy dội vào vách gỗ căm xe, vang vọng khắp gian xưởng khiến cho hai người thợ trẻ đang bào gỗ ở xưởng phụ phía sau giật mình, ngừng hẳn nhịp đẩy bào, len lén ghé mắt qua khe vách nứa nhìn ra ngoài sân gạch với vẻ e dè, lo sợ.
Bảo Châu không hề lùi bước dù chỉ nửa bước chân. Dưới bóng râm của mái hiên, trước mũi nhọn của thanh sừng trâu đang chỉ thẳng vào mình, cô đứng thẳng người, đối diện trực tiếp với đôi mắt long lên sòng sọc vì uất hận của cụ Phúc. Đôi mắt ấy không chứa sự thù địch cá nhân đối với cô hay Nam; nó là kết tinh của một nỗi đau sâu hoắm, một vết thương lịch sử đã mưng mủ suốt nửa đời người mà không một phương thuốc nào chữa lành được. Bảo Châu không rút chiếc thẻ kỹ sư phục chế của các viện bảo tàng quốc tế, không đưa ra bản di chúc thừa kế tài sản có dấu mộc đỏ của văn phòng công chứng, và càng không viện dẫn lá đơn ủy quyền hay trát can thiệp của luật sư Nguyễn Hoài Thu mà cô đang giữ trong đáy túi. Suốt dọc chặng hành trình từ căn gác Hội An, qua những ngôi nhà rường cổ ở Kim Long xứ Huế, lên tới xưởng thực nghiệm lạnh lẽo ở thung lũng Đà Lạt rồi quay ngược về mảnh đất phù sa đỏ quạch Bình Dương này, Châu đã thấu hiểu một điều thiêng liêng: giấy tờ hành chính, quyền sở hữu tài sản hay quan hệ huyết thống theo gia phả chỉ là thứ vỏ bọc vô nghĩa lý và sáo rỗng trước những vết nứt của lịch sử nghề nghiệp.
Cô hít một hơi sâu, để cho thứ mùi ngai ngái, nồng đậm đến xé mũi của sơn sống và đất bùn tràn ngập buồng phổi mình, rồi cất giọng. Tiếng cô không lớn, nhưng từng âm tiết phát ra lại trầm tĩnh, dứt khoát và mang một sức nặng kỳ lạ:
— Cụ Phúc, chúng con không về đây để bán tranh. Và chúng con càng không lặn lội đến chốn này để tụng ca một thiên tài đơn độc nào cả. Nếu mục đích của con là tiền bạc, con đã không ngăn cản cậu Khang và để mặc cho sàn đấu giá Lam Thành mang ba bức tranh khổ lớn đầu tiên đi mở phiên đấu giá kín ở khách sạn Riverside Grand đêm qua với cái giá khởi điểm sáu triệu đô la. Con là Trương Bảo Châu, cháu ngoại ruột của ông Trương Diệp. Nhưng con đứng ở đây, trước mặt cụ hôm nay, không phải bằng danh xưng của một kẻ thừa kế dòng họ Trương, mà với tư cách của một người thợ phục chế trẻ tuổi đang đi tìm lại phần hồn của sự thật đã bị tước đoạt!
Cụ Phúc sững người lại một thoáng khi nghe hai chữ "cháu ngoại". Bàn tay đang vung thanh gạt sừng trâu khẽ hạ xuống chừng nửa gang tay, nhưng ánh mắt cụ vẫn đanh lại, lạnh lùng như một phiến đá ngâm nước buồng ủ:
— Cháu ngoại thì đã làm sao? Cháu ngoại thì máu mủ vẫn là người nhà họ Trương. Mấy chục năm ròng rã trôi qua, người nhà họ Trương các người hưởng trọn mọi vinh hoa phú quý, đứng ngẩng cao đầu dưới ánh đèn chùm rực rỡ ở các bảo tàng Paris, Tokyo, Hà Nội, cúi đầu nhận những tràng pháo tay tán thưởng không ngớt của các ngài đại sứ, các nhà phê bình cho những kiệt tác sơn mài lộng lẫy ngập tràn vàng quỳ bạc lá. Nhưng có ai trong số các người từng bước chân về cái xóm thợ ven rạch Bà Lụa này, cúi gập lưng nhìn vào những đôi bàn tay lở loét vì nước sơn ăn của thợ Tương Bình Hiệp không? Có ai nhớ đến người thợ nào đã trầm mình dưới dòng nước buốt lạnh của sông Truồi suốt sáu tháng ròng để vớt từng khúc gỗ mít, từng tấm vóc mù u lên dầm bùn, hay người nào đã thức trắng hàng trăm đêm bên buồng ủ dấp nước để canh độ ẩm từng giọt mồ hôi cho sơn chín? Không hề có! Lịch sử mỹ thuật của các người chỉ chừa lại chỗ trống để khắc duy nhất một cái tên Trương Diệp. Những kẻ làm nền như chúng tôi, như cô Nguyễn An... rốt cuộc chỉ là những cái bóng vô hình, những thây ma không tên bị chôn vùi vĩnh viễn dưới đáy bức tranh!
Từng lời của cụ Phúc như những nhát búa nện thẳng vào bầu không khí tĩnh mịch. Đó không phải là cơn giận dỗi tầm thường của một ông già gàn dở bị lãng quên, mà là tiếng uất nghẹn dồn nén suốt nửa thế kỷ của cả một thế hệ thợ thủ công tài hoa, những người đã đem mồ hôi, máu và sinh mệnh của mình hòa vào lớp nhựa then nhưng vĩnh viễn bị gạt ra bên lề của nền nghệ thuật bác học đỉnh cao.
Bảo Châu bước thêm một bước nữa, khoảng cách giữa cô và cụ Phúc giờ chỉ còn lại vài tấc. Giọng cô hơi run lên vì xúc động, nhưng ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt già nua ấy với một sự kiên định không gì lay chuyển nổi:
— Cụ nói đúng. Gia đình con, dòng họ con và cả giới nghiên cứu mỹ thuật đã nợ mảnh đất Tương Bình Hiệp này một món nợ truyền kiếp. Mẹ con suốt bốn mươi năm trời vì sợ hãi những lời đàm tiếu về danh tiếng gia tộc mà giấu nhẹm lá thư tạ lỗi của ông ngoại con vào đáy tủ. Cậu ruột con vì những món nợ đỏ đen bên ngoài mà sẵn sàng bắt tay với phường gian thương để xé lẻ bộ tranh mười hai tấm đem bán cho những kẻ đầu cơ. Nhưng cụ Phúc ơi, trước khi nhắm mắt xuôi tay trên giường bệnh, ông ngoại con đã không để lại một lời trăn trối nào về tiền tài. Bức tranh thứ mười ba mà ông bí mật hoàn thành trong những ngày cuối đời chỉ mang một dòng lạc khoản duy nhất: *Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền*. Người giữ nền ở đây chưa bao giờ là một cá nhân đơn lẻ. Đó không phải chỉ riêng bà Nguyễn An, mà là toàn bộ những người thợ làm vóc, thợ mài hom của xưởng Cây Sơn này!
Châu đưa tay chỉ về phía dãy buồng ủ ẩm ướt sau lưng người thợ già:
— Con học nghề phục chế ở nước ngoài, người ta dạy cho con về cấu trúc mạng phân tử của chất kết dính polymer tổng hợp, dạy về lực căng bề mặt, về độ bền kéo của sợi thủy tinh và các loại dung môi vô cơ hiện đại. Nhưng chỉ khi đứng trước những bức tranh mài dở của ông ngoại để lại, con mới cay đắng nhận ra rằng: chẳng có thứ máy móc hay hóa chất công nghiệp nào trên đời này có thể tạo nên được cái chiều sâu thăm thẳm, hun hút như lòng giếng cạn của lớp son then nếu không có lớp hom phù sa non của sông Truồi được ủ kỹ với mật mía già ba năm; không thể nào giữ cho tấm vóc phẳng tuyệt đối qua nửa thế kỷ giông bão nếu không có kỹ thuật bó hai lớp vải gai dệt tay khử dầu tơ tằm của các bậc tiền bối làng này. Chúng con lặn lội từ Huế, từ Đà Lạt về đây không phải để quỳ lụy xin cụ một chữ ký xác thực đem bán đấu giá lấy tiền chia chác. Chúng con về đây để đưa cuốn sổ công và tên tuổi của cụ, của bà Nguyễn An và từng người thợ làm vóc vô danh được khắc trang trọng lên tấm bia đồng của Quỹ Diệp Sơn, đặt ngang hàng, bình đẳng với tên tuổi của chính ông Trương Diệp!
Không gian xưởng tranh bỗng chốc chìm ngỉm vào một sự im lặng tuyệt đối. Tiếng lá tre xào xạc ngoài ngõ như dạt ra xa. Tiếng nước chảy róc rách từ bể ngâm vóc dường như cũng ngừng lại trong khoảnh khắc.
Cụ Bùi Tấn Phúc đứng chôn chân tại chỗ. Thanh gạt sừng trâu trong tay cụ từ từ hạ hẳn xuống mép đùi. Những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày trên vầng trán và gò má cụ khẽ giần giật. Đôi mắt già nua sắc nhọn quét sâu vào đôi mắt của Bảo Châu, như muốn xuyên thấu qua lồng ngực cô gái trẻ để bóc trần bất kỳ một sự giả dối, một mưu toan vụ lợi hay một nét diễn xuất khéo léo nào. Nhưng những gì cụ nhìn thấy chỉ là một ngọn lửa thuần khiết, một sự đau đáu đến tột cùng của một người thợ thủ công thực thụ đang đứng trước một di sản thiêng liêng bị vùi dập.
Thế nhưng, một con người đã đi qua gần trọn một thế kỷ đầy rẫy những biến động thăng trầm, từng chứng kiến bao nhiêu phường trí thức ăn trắng mặc trơn buông lời hoa mỹ nơi đầu môi chót lưỡi rồi quay lưng bội ước, không thể nào dễ dàng hạ bỏ bức tường thành phòng thủ kiên cố đã xây dựng bằng nỗi đau của cả một đời thợ.
Khóe môi cụ Phúc khẽ nhếch lên, tạo thành một nụ cười nửa miệng đầy vẻ châm chọc, cay nghiệt nhưng ẩn chứa một sự thách thức lạnh lùng:
— Nói thì bao giờ cũng hay. Lời lẽ của đám có học bao giờ cũng trơn tru, ngọt xớt như mật mía sông Truồi rót vào tai. Cô bảo cô là thợ phục chế? Cô bảo cô hiểu được kỹ thuật làm vóc gia truyền của đất Tương Bình Hiệp này hơn đám con buôn ngoài phố? Được lắm. Đã là người làm nghề thì đừng nói bằng cái mồm, hãy nói bằng con mắt và bàn tay!
Cụ Phúc xoay phắt người lại, bước những bước đi khập khiễng vì di chứng của căn bệnh khớp ăn vào xương nhưng vô cùng dứt khoát về phía góc tối tăm nhất của chái nhà. Nơi đó, dựa nghiêng vào vách ván căm xe phủ đầy mạng nhện và bụi mạt cưa tích tụ qua hàng chục năm, có một tấm vóc đen cũ kỹ, trơ trọi như một tấm ván bỏ đi. Cụ vươn đôi bàn tay gân guốc nhấc bổng tấm vóc lên. Cụ không hề dùng khăn lau, cũng không có vẻ gì nâng niu, mà sải bước quay lại, đặt mạnh nó xuống mặt chiếc bàn thao tác lớn bằng gỗ gõ đỏ kê giữa xưởng.
Một tiếng *cộp* khô khốc, nặng trịch vang lên giữa không gian tĩnh mịch. Một đám bụi mạt cưa mỏng bay mù mịt trong luồng nắng sớm vừa xiên qua khe mái hiên.
Đó là một tấm vóc chữ nhật có kích thước chuẩn xác ba mươi nhân bốn mươi centimet. Bốn góc cạnh của nó đã bị sứt sẹo, mẻ vỡ nham nhở để lộ phần cốt gỗ và các lớp hom bên trong. Bề mặt vóc được phủ một lớp sơn then đen mờ, xỉn màu và bám một lớp màng xám xịt do thời gian và khói bếp ủ lại. Thế nhưng, đập ngay vào mắt người nhìn là một khuyết tật chí mạng: ở góc dưới bên trái của tấm vóc, một vết nứt chân chim kéo dài khoảng năm centimet chạy ngoằn ngoèo từ mép ngoài đâm xiên vào giữa lòng vóc. Vết nứt ấy không nằm chìm mà làm cho lớp sơn then bề mặt hơi đội cộm lên thành một gờ mảnh, sắc cạnh, xé rách tính liên tục hoàn hảo của mặt phẳng sơn mài.
Cụ Phúc khoanh hai cánh tay thô ráp trước ngực, đứng sừng sững bên cạnh bàn thao tác, ánh mắt như hai lưỡi dao đục găm thẳng vào Bảo Châu:
— Tấm vóc này nằm ở cái xó vách căm xe kia tròn bốn mươi năm rồi. Nó bị nứt toác từ bên trong ruột lớp hom, ngay từ khi còn nằm trong buồng ủ đợt cuối. Nếu cô thực sự là người của nghề, hiểu được cái nền, hiểu được từng giọt mồ hôi và máu của thợ làm vóc chứ không phải phường thợ vẽ salon hay lũ mọt sách lý thuyết suông, hãy chỉ ra cho lão già này biết: lỗi kỹ thuật bên trong lớp hom của nó rốt cuộc là lỗi gì? Nguyên nhân phát sinh từ tầng chất liệu nào, do đâu mà sinh ra vết nứt này?
Cụ dừng lại một nhịp thở, giọng cụ hạ thấp xuống nhưng từng từ từng chữ lại rành rọt, đanh thép như một bản án chung thẩm:
— Nhưng cô phải nghe cho thật kỹ điều kiện này: tuyệt đối không được dùng mũi dao nạo, không được lấy dùi đục, không được bóc tách hay làm trầy xước dù chỉ nửa milimét lớp sơn bề mặt của nó! Nếu cô làm sứt một vảy sơn, hoặc nếu cô đoán sai bản chất của vết nứt, thì lập tức cuốn gói cút ngay khỏi đất Tương Bình Hiệp này cùng với cái cặp máy móc của các người. Và từ nay cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, đừng bao giờ vác cái bộ mặt giả nhân giả nghĩa ấy về đây mở miệng nhắc đến bốn chữ 'người giữ nền' trước mặt thợ xưởng Cây Sơn nữa!
Không khí trong xưởng căng thẳng đến mức nghẹt thở. Nam đứng cạnh Bảo Châu, mày khẽ chau lại, bàn tay anh vô thức siết chặt lấy quai xách chiếc cặp hợp kim. Lời thách thức này quá khắc nghiệt, gần như là một yêu cầu vô lý và bất khả thi đối với bất kỳ một quy trình giám định khoa học thông thường nào. Một tấm vóc đã tồn tại suốt bốn mươi năm, nơi các tầng đất bùn, mùn cưa mịn, nhựa sơn sống và cốt gỗ đã trải qua quá trình oxy hóa tự nhiên, trùng hợp hóa và hóa thạch thành một khối kết cấu đặc khít không tách rời. Làm thế nào để "nhìn" thấu vào tầng sâu bên trong lớp hom dày gần một phân mà không được trích mẫu cơ học, không được dùng kính hiển vi soi vết cắt ngang hay dung môi bóc tách? Ngay cả những phòng thí nghiệm bảo tồn tối tân nhất ở nước ngoài với hệ thống máy chụp cắt lớp công nghiệp (Industrial CT Scan) hay máy quét vi sai hồng ngoại cũng phải mất hàng giờ thiết lập thông số trong buồng khử từ mới hy vọng dựng lại được bản đồ khuyết tật bên trong kết cấu dị chất này.
Nam khẽ nghiêng người, toan bước lên phía trước để lên tiếng phản đối sự đánh đố bất công ấy. Nhưng bàn tay của Bảo Châu đã nhẹ nhàng giơ lên, ngăn anh lại.
Khuôn mặt Bảo Châu không hề có lấy một nét hoang mang hay nao núng. Ngược lại, khi đứng trước tấm vóc đen cũ kỹ và vết nứt bí ẩn kia, toàn bộ vẻ mỏi mệt sau một đêm thức trắng bỗng chốc tan biến sạch sẽ. Một luồng sinh khí tập trung cao độ, sắc bén và lạnh lùng như một bác sĩ phẫu thuật đứng trước ca mổ sinh tử bừng sáng lên trong đáy mắt cô.
— Con nhận lời thử thách của cụ, — Châu đáp lời, giọng cô bình thản đến lạ lùng.
Cô đặt chiếc ba lô dã ngoại xuống chiếc ghế dài bằng gỗ mít, cởi bỏ chiếc áo khoác gió dầy cộm bên ngoài chỉ để lại chiếc áo thun đen cộc tay bó sát thân người. Cô tháo chiếc đồng hồ dây da trên cổ tay đặt sang một bên, xắn cao hai ống tay áo quá khuỷu tay để lộ đôi cẳng tay thanh mảnh, dẻo dai. Cô bước lại gần chiếc bàn gỗ gõ đỏ, không hề vội vã đưa tay chạm vào hiện vật. Cô cúi thấp người xuống, đưa chóp mũi cách bề mặt tấm vóc chừng một tấc, nhắm nghiền hai mắt lại và hít vào một hơi thật sâu qua đường mũi.
Khứu giác của một người thợ phục chế được tôi luyện qua hàng ngàn mẫu vật cổ lập tức phân tách từng tầng phân tử bay hơi trong không khí: không có mùi hôi tanh nồng của vi khuẩn kỵ khí sinh ra do vóc bị úng nước ngầm; không có mùi hăng chua gắt của keo da trâu hay chất kết dính gốc nhựa đường công nghiệp bị phân hủy nhiệt; cũng không có mùi giòn rụm của gỗ mít bị mọt khô đục rỗng tâm. Thứ mùi duy nhất bốc lên từ vết nứt li ti ấy là một mùi hương khô ráo, thanh khiết và sâu lắng của nhựa sơn ta lâu năm – thứ hương thơm tựa như nhựa thông già phơi nắng trên đỉnh đồi sau một trận mưa ngâu.
Châu mở mắt ra. Cô đứng bất động trong suốt hai phút đồng hồ, chỉ dùng đôi mắt trần quan sát hình thái học của đường nứt mép. Đường nứt dài năm centimet ấy không hề chạy thẳng băng theo thớ gỗ tự nhiên như những vết nứt do va đập ngoại lực cơ học từ bên ngoài gây ra. Nó cũng không hề phân nhánh theo hình mạng nhện đồng tâm như vết co ngót nhiệt cục bộ do việc sấy cưỡng bức mà Phạm Đức Lâm đã phạm phải trên tấm vóc ván ép dỏm đêm qua. Đường nứt này uốn lượn theo một đường sóng hình sin rất nhẹ, thân vết nứt hơi vặn nghiêng sang bên phải một góc khoảng mười độ. Đáng chú ý nhất là mép nứt phía dưới bị đội cao hơn mép nứt phía trên chừng nửa milimét, tạo thành một gờ trồi có mép sắc nhưng lớp sơn then phủ bên trên lại không hề bị bong tróc từng mảng như hiện tượng rộp sơn thông thường.
— Anh Nam, cho em mượn chiếc đèn rọi thấu quang công suất cao có thấu kính hội tụ dải hẹp, — Châu nói khẽ, mắt cô vẫn dán chặt vào từng milimét của đường nứt. — Và chiếc que gõ âm học đầu cao su.
Nam lập tức mở khóa chiếc cặp da bảo ôn. Anh lấy ra một que kim loại mạ crom có đầu bọc cao su lưu hóa siêu mềm chuyên dụng để thử nghiệm độ rỗng kết cấu gỗ cổ vật của các bảo tàng, cùng chiếc đèn pin LED Cree công suất lớn.
Thế nhưng khi Nam vừa đưa que gõ ra, Bảo Châu liền lắc đầu:
— Que cao su này dùng cho gỗ khô Tây phương. Lớp vóc cổ của Tương Bình Hiệp hom bằng đất bùn non quyện sơn sống, độ đàn hồi và tần số cộng hưởng của nó rất khác. Kim loại và cao su lưu hóa sẽ hấp thụ mất dải tần số âm thanh bậc cao của lớp then. Em sẽ dùng tay.
Châu bước sát lại mép bàn gỗ gõ. Cô khẽ nghiêng đầu sang một bên, áp sát vành tai phải của mình vào mặt tấm vóc đen bóng, khoảng cách giữa tai và bề mặt lớp sơn then chưa đầy hai centimet. Hơi thở nhịp nhàng của cô phả nhẹ lên mặt sơn làm mờ đi một vệt tròn nhỏ bằng đồng xu rồi tan biến ngay tức khắc trong không khí ẩm. Bàn tay trái của Châu xòe rộng, áp nhẹ bốn đầu ngón tay lên mép ngoài đối diện của tấm vóc để triệt tiêu toàn bộ dao động cộng hưởng ngoại lai từ mặt bàn gỗ gõ đỏ truyền lên. Cùng lúc đó, bàn tay phải của cô khép lại, gập đốt thứ hai của ngón trỏ và ngón giữa thành một điểm tì cứng cáp.
*Cốc.*
Đốt ngón tay trỏ của Châu gõ nhẹ xuống góc trên bên phải của tấm vóc – nơi bề mặt sơn còn hoàn toàn nguyên vẹn.
Âm thanh phát ra trầm đục, chắc nịch, đanh gọn và dứt khoát như tiếng gõ vào một khối đá hoa cương nguyên khối không tì vết. Đó là biểu hiện của một vùng hom đạt chuẩn mực tuyệt đối: đất phù sa mịn quyện chặt với nhựa sơn sống và sợi vải gai, ôm khít lấy cốt mộc bên trong, không hề tồn tại một bọt khí hay một khe hở vi mô nào giữa các lớp chất liệu.
Châu di chuyển đốt ngón tay xuống trung tâm của tấm vóc.
*Cốc. Cốc.*
Âm vang dội lại vẫn đanh và dứt khoát. Độ phản hồi cơ học truyền qua đầu ngón tay cô một lực nảy rất nhẹ, đồng nhất và êm ái.
Cụ Bùi Tấn Phúc vẫn đứng tựa lưng vào cột nhà bằng gỗ căm xe, hai tay khoanh trước ngực nhưng ánh mắt cụ đã biến đổi hoàn toàn. Đôi mày bạc trắng nhíu chặt lại, chăm chú theo dõi từng cử động nhỏ nhất của cô gái trẻ. Thái độ khinh bạc, xua đuổi ban đầu đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một sự kinh ngạc sâu sắc và bàng hoàng kín đáo đang dâng lên trong đáy mắt cụ. Cụ nhận ra tư thế áp tai nghe vóc ấy. Đó tuyệt đối không phải là thứ động tác cơ học có thể học được từ trường lớp mỹ thuật hiện đại hay qua những trang sách giáo trình phương Tây bóng bẩy. Đó chính là thế "bấm nghe vóc" gia truyền của những phường thợ mài cổ xưa ở rạch Bà Lụa – cái thế bấm của những người thợ mài mù lừng danh thời thuộc Pháp, những người tuy đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời nhưng chỉ cần áp tai nghe tiếng than củi chà trên mặt vóc dưới làn nước bể là biết chính xác chỗ nào hom dày một sợi tóc, chỗ nào hom mỏng nửa lá lúa, chỗ nào sơn non còn ngậm nước và chỗ nào sơn già đã ăn sâu vào cốt gỗ.
Châu bắt đầu dịch chuyển đốt ngón tay về phía góc dưới bên trái, tiếp cận dần vào khu vực của vết nứt mép.
Khoảng cách gõ thu hẹp lại từng centimet, rồi từng milimét một.
*Cốc... Cốc... Cộc...*
Âm thanh đột ngột biến đổi tính chất. Độ đanh gọn, chắc nịch ban nãy biến mất. Thay vào đó là một âm sắc rỗng tuếch, đục ngầu và hơi bẹt ra, giống hệt như tiếng gõ vào thành của một chiếc lu sành bị rạn ngầm dưới đáy bùn.
Châu ngừng tay, nín thở. Lồng ngực cô phẳng lặng như mặt nước hồ không gợn sóng. Cô nhích đầu ngón tay sang ngang đúng hai milimét, rơi trúng vào gờ đội của vết nứt, rồi búng nhẹ một nhịp bằng phần móng tay.
*Bộp.*
Một tiếng vang rất khẽ, kèm theo một rung động cơ học tần số thấp truyền thẳng vào màng nhĩ đang áp sát bề mặt của Châu. Đó chính là âm sắc đặc trưng của hiện tượng tách lớp cục bộ (delamination) – nơi một tầng chất liệu bên dưới đã bị xé toạc ra khỏi lớp cốt gia cường, tạo thành một khoang rỗng dạng dẹt siêu mỏng bị giam cầm suốt bốn mươi năm dưới lớp then kín khí.
— Khoang rỗng không hề xuất phát từ lớp sơn bề mặt, — Bảo Châu lẩm bẩm một mình, hai mắt cô vẫn nhắm nghiền để dồn toàn bộ năng lực cảm nhận vào thính giác và xúc giác đầu ngón tay. — Lớp sơn then phủ ngoài và hai lớp sơn lót vẫn bám dính tuyệt đối vào lớp hom mặt. Vết tách lớp này nằm sâu hun hút bên dưới, ở ranh giới tiếp giáp giữa lớp hom đệm và lớp cốt nền gia cường.
Cô mở bừng mắt ra, đón lấy chiếc đèn thấu quang từ tay Nam.
— Anh Nam, giúp em hạ tấm liếp nứa buồng ủ xuống, tắt luôn bóng đèn dây tóc ngoài chái nhà. Em cần bóng tối quang học hoàn toàn để rọi chùm sáng xiên mười lăm độ.
Nam không chậm trễ một giây. Anh lập tức bước nhanh ra hiên, kéo sập tấm liếp nứa dấp nước xuống, ngăn toàn bộ ánh nắng ban mai rực rỡ ngoài sân rọi vào. Cùng lúc đó, anh tắt công tắc bóng đèn điện vàng vọt trên xà nhà. Gian xưởng rộng lớn chìm ngay vào một vùng bán minh bán ám tịch mịch, chỉ còn lại những vệt sáng lờ mờ lọt qua khe nứa đan mắt cáo. Nam quay lại đứng nép sang một bên bàn, dùng toàn bộ thân hình cao lớn của mình để chắn gió, ngăn không cho bất kỳ một luồng gió quẩn nào làm xao động lớp bụi mạt cưa trong trường quan sát của Bảo Châu.
Châu bật công tắc đèn LED kiểm tra bảo tồn. Cô lập tức gạt nút điều chỉnh nhiệt độ màu về dải 3000 Kelvin – ánh sáng vàng ấm mô phỏng quang phổ mặt trời lúc hoàng hôn. Đây là dải bước sóng dài có khả năng xuyên thấu qua các lớp nhựa tự nhiên và màng oxit hữu cơ tốt hơn nhiều so với ánh sáng trắng lạnh 6000 Kelvin vốn chỉ phản xạ và gây lóa trên bề mặt chất liệu bóng.
Châu không hề rọi thẳng góc chín mươi độ từ trên xuống, bởi một góc rọi trực diện sẽ bị độ bóng gương của lớp sơn then phản xạ ngược trở lại gây mù quang học tạm thời cho mắt người giám định. Ngược lại, cô hạ thấp toàn bộ thân đèn xuống sát mặt bàn gỗ gõ đỏ, đặt đầu thấu kính sát mép vát cạnh ngoài của tấm vóc, tạo một góc chiếu cực hẹp chỉ khoảng mười đến mười lăm độ so với mặt phẳng nằm ngang.
Chùm sáng vàng ấm rực rỡ rọi xiên qua khe nứt mép vóc, biến lớp vóc đen kịt, câm lặng suốt bốn mươi năm thành một khối chất liệu có độ thấu quang kỳ ảo.
Dưới góc rọi xiên cực hẹp này, hiện tượng khúc xạ và tán xạ ánh sáng bên trong các tầng chất liệu hữu cơ bắt đầu phát huy tác dụng. Cấu trúc địa tầng vi mô của vết nứt hiện lên rõ mồn một trước mắt Bảo Châu như một bức ảnh chụp X-quang cắt lớp hoàn hảo. Lớp sơn then bề mặt mỏng manh như một dải lụa đen tuyền ôm khít lấy tầng trên cùng. Bên dưới nó là ba lớp hom mịn màu xám tro của đất phù sa non sông Truồi nhuyễn đặc. Và sâu hơn nữa, nơi luồng ánh sáng vàng len lỏi vào khoang rỗng rạn nứt, những sợi vải gai dệt tay màu nâu vàng hiện lên chằng chịt, đan bện vào nhau như một mạng lưới mao mạch sinh học.
Châu nheo mắt lại, điều chỉnh tiêu cự thấu kính đèn pin để thu hẹp chùm sáng thành một vệt mảnh như sợi chỉ, quét chầm chậm từng phần mười milimét dọc theo chiều dài của đường nứt.
Cô nhìn thấy lớp vải gai thứ nhất chạy dọc theo thớ gỗ mít bên dưới rất thẳng hàng, các sợi gai thô đan vuông góc chéo chữ thập hoàn hảo, ngậm no nhựa sơn sống đã chuyển màu hổ phách. Thế nhưng, khi vệt sáng vàng xuyên sâu thêm một tầng nữa, vượt qua lớp hom lót thứ hai để chạm tới tầng cốt gia cường dưới đáy, một hiện tượng bất thường mang tính cốt lõi lập tức phơi bày.
Bên dưới lớp vải gai không phải là mặt phẳng gỗ mít nguyên khối!
Đó là một lớp nan tre mỏng đan nong mốt – một kỹ thuật làm cốt vóc đàn hồi đặc biệt mang tính thể nghiệm mà các nghệ nhân lão thành của xưởng Cây Sơn từng mày mò thử nghiệm vào đầu thập niên 1980 nhằm giúp những tấm vóc khổ lớn có thể co giãn theo mùa mà không bị nứt toác thớ gỗ mít.
Tại lớp nan tre thứ hai nằm sát mép đáy bên trái, một thanh nan cật tre rộng khoảng bốn milimét không hề nằm phẳng theo phương ngang của mặt vóc. Sợi xơ dọc của thanh nan này đã bị vặn xoắn một góc khoảng mười độ so với trục nằm ngang. Lực vặn xoắn ấy khiến cho gân cứng của cật tre bị đội nghiêng lên, và chính cái mép sắc như cật nứa của thanh nan bị vặn này đã cắm chếch ngược lên, chọc thẳng vào lớp vải gai bọc ngoài!
Bảo Châu thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực cô nhẹ bẫng đi như vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân. Một nụ cười thanh thản, tự tin và ngập tràn niềm kiêu hãnh của một người thợ đã giải mã thành công bí mật của tiền nhân bừng nở trên khóe môi cô.
Cô tắt chiếc đèn thấu quang. Tiếng lách cách của công tắc cơ khí vang lên giòn giã giữa gian xưởng tĩnh lặng. Bảo Châu đứng thẳng người dậy, hai tay buông tự nhiên bên hông, quay sang đối diện trực tiếp với cụ Bùi Tấn Phúc:
— Thưa cụ Phúc, con đã có câu trả lời chính xác cho cụ.
Cụ già vẫn đứng bất động bên cột căm xe. Hai bàn tay thô ráp của cụ siết chặt lấy vạt áo bà ba củ nâu đến mức run rẩy, ánh mắt cụ căng ra như dây đàn, chứa đựng một sự hồi hộp đến nghẹt thở. Cụ không thốt ra một lời nào, chỉ khẽ gật đầu một nhịp rất nhẹ, ra hiệu cho cô gái trẻ tiếp tục.
Châu đưa ngón tay trỏ thanh mảnh chỉ thẳng vào vị trí gờ trồi của vết nứt, dõng dạc trình bày từng chi tiết kỹ thuật bằng thứ ngôn ngữ chuẩn xác, rành mạch và cổ điển nhất của nghề làm vóc truyền thống:
— Tấm vóc này tuyệt đối không bị nứt do va đập ngoại lực cơ học từ bên ngoài, và cũng không phải do gỗ mít cốt bên trong bị co ngót hay mục ải. Gỗ mít ngâm bùn sáu tháng của xưởng Cây Sơn được xử lý vô cùng hoàn hảo, thớ gỗ bên dưới phẳng lỳ và ổn định tuyệt đối. Lỗi kỹ thuật bên trong lớp hom này hoàn toàn phát sinh từ cấu trúc cốt đan nan tre ở tầng gia cường thứ hai.
Cô dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào từng chuyển động trên gương mặt đang dần biến sắc của cụ Phúc:
— Bốn mươi năm trước, khi đan lớp nan tre thứ hai để bó cốt vóc, người thợ cả đã sơ suất hoặc tiếc của mà dùng phải một thanh nan tre bánh tẻ bị uốn lệch gân cật – thuật ngữ của phường thợ gọi là hiện tượng *nan vặn tim*. Đoạn nan tre này nằm quá sát mắt tre, nên cấu trúc xơ sợi của nó không đồng nhất, độ co rút cellulose giữa phần cật và phần ruột chênh lệch nhau rất lớn. Khi mới hom bùn và quét những lớp sơn lót đầu tiên, độ ẩm của nhựa sơn sống còn tươi đã tạm thời làm mềm và ép chặt thanh nan tre ấy nằm phẳng xuống mặt gỗ mít. Nhưng qua năm tháng, khi tấm vóc hoàn thiện được đưa vào buồng ủ ẩm rồi trải qua chu kỳ biến thiên độ ẩm khắc nghiệt giữa mùa mưa dầm ẩm ướt và mùa khô hanh nồng cháy da của miền Nam, lực xoắn nội tại của gân nan tre bắt đầu bung ra. Thanh nan bị vặn mép, đội ngược lên như một chiếc đòn bẩy vi mô, xé toạc liên kết giữa lớp vải gai dệt tay và lớp hom đệm từ bên trong lòng vóc! Chính lực xoắn từ tim nan tre lệch này đã đội lớp then lên thành gờ và làm nứt mép vóc, chứ tuyệt đối không phải do tay nghề hom trét hay chất lượng mài sơn bên ngoài của người thợ!
Gian xưởng rơi vào một sự tĩnh lặng đến mức người ta có thể nghe thấy cả tiếng một con muỗi vo ve bay qua mặt nước buồng ủ ẩm.
Nam đứng bên cạnh, lồng ngực phập phồng nhẹ nhõm, ánh mắt anh nhìn Bảo Châu ngập tràn sự thán phục. Lời giải đoán của cô không chỉ chính xác về mặt cơ học chất liệu mà còn chạm đến đỉnh cao của tri thức nghề nghiệp cổ truyền: một sự kết hợp nhuần nhuyễn đến mức hoàn hảo giữa thính giác nghề nghiệp bản năng và phương pháp phân tích quang học hiện đại, tuyệt đối không hề xâm lấn hay làm tổn hại dù chỉ một hạt bụi sơn của hiện vật.
Cụ Bùi Tấn Phúc từ từ buông hai bàn tay đang nắm chặt vạt áo ra.
Đôi vai gầy gò, gân guốc của người nghệ nhân già bỗng chốc sụp xuống, run rẩy bần bật. Đôi mắt sắc lạnh, cay nghiệt và đầy vẻ hận thù ban nãy bỗng chốc mờ đi, nhòe đi sau một lớp màng nước mắt đùng đục của tuổi già. Cụ bước từng bước chậm chạp, run rẩy lại gần chiếc bàn thao tác bằng gỗ gõ đỏ. Đôi bàn tay thô ráp, sần sùi với những ngón tay đen bóng vì nhựa sơn khẽ vươn ra, run run chạm nhẹ lên vết nứt của tấm vóc đen cũ kỹ.
Cụ không còn nhìn tấm vóc bằng con mắt của một giám khảo đang chấm thi hay một kẻ gác đền cay nghiệt nữa. Cụ nhìn nó với tất cả sự nâng niu, xót xa và ân hận tột cùng, như một người cha già vừa tìm lại được đứa con tật nguyền bị thất lạc suốt nửa đời người lưu lạc.
— Đúng rồi... — Cụ Phúc nghẹn ngào thốt lên, giọng cụ vỡ vụn ra thành từng mảnh âm thanh run rẩy, đứt quãng. — Đúng là nó rồi... Nan vặn tim ở lớp đan thứ hai... Trời đất ơi, bốn mươi năm ròng rã trôi qua, chưa từng có một ai, kể cả mấy ông giáo sư mỹ thuật đầu ngành ở Hà Nội hay Sài Gòn mỗi lần về đây khảo sát, có thể nhìn ra được cái lỗi nan vặn tim này nếu không dùng dao nạo nát bét lớp hom ra...
Những giọt nước mắt già nua ứa ra từ khóe mắt chằng chịt vết chân chim, lăn dài trên gò má hóp sạm đen vì nhựa sơn sống, rồi rơi lộp độp xuống mặt bàn gỗ gõ đỏ.
Cụ Phúc từ từ ngẩng đầu lên. Cụ nhìn Bảo Châu bằng một ánh mắt hoàn toàn khác biệt – ánh mắt của một bậc tiền nhân vừa nhìn thấy ngọn lửa nghề thiêng liêng, tưởng chừng đã tàn lụi theo sự tan rã của thế hệ mình, nay lại bùng cháy rực rỡ và thuần khiết trong tâm hồn của một người trẻ tuổi.
— Cô gái nhỏ... cô thực sự là người của nghề sơn ta, — cụ già nghẹn ngào nói, hai bàn tay run rẩy vươn ra nắm chặt lấy bàn tay thanh mảnh còn vương chút bụi mùn cưa của Châu. — Cô không phải phường con buôn tranh lọc lừa. Cô là người biết cúi mình lắng nghe tiếng thở sâu kín nhất của tấm vóc. Lão già này... mắt mờ tai điếc, cả đời ôm mối hận thù mù quáng mà trút giận oan uổng lên đầu các người. Cho lão già này xin lỗi...
Bảo Châu xúc động đến nghẹn ngào. Cô vội vàng dùng cả hai tay siết chặt lấy bàn tay thô ráp, đầy sẹo sẹo của người nghệ nhân già:
— Cụ đừng nói thế ạ! Con xin cụ đừng nói thế. Nếu con ở vào hoàn cảnh của cụ, chứng kiến biết bao nhiêu công sức, mồ hôi và cả sinh mệnh của làng nghề bị người đời lãng quên và trục lợi suốt mấy chục năm qua, con cũng sẽ căm phẫn và nghi ngờ như cụ thôi ạ.
Nam bước lại gần thêm một bước, giọng anh trầm ấm và chân thành:
— Thưa cụ Bùi, tấm vóc bị nứt mép này... có phải chính là tấm vóc được làm cùng một đợt, cùng một kích thước với tấm vóc của bức tranh thứ mười ba không ạ?
Cụ Phúc đưa mu bàn tay áo quệt vội giọt nước mắt trên khóe mi, khẽ gật đầu lia lịa:
— Đúng vậy. Chuyện xảy ra vào đúng tháng Hai năm 1984. Ngày đó, ông Trương Diệp và cô Nguyễn An bí mật cùng nhau về xưởng Cây Sơn này giữa lúc hợp tác xã đang gặp muôn vàn khó khăn về nguyên liệu. Ông Diệp đã đích thân đặt tôi làm riêng hai tấm vóc đặc biệt khổ ba mươi nhân bốn mươi centimet. Ông Diệp dặn đi dặn lại: phải làm thật kỹ, dùng kỹ thuật cốt nan tre đan hai lớp bọc gỗ mít ngâm bùn để bức tranh có thể chịu đựng được mọi sự biến đổi khí hậu khắc nghiệt nhất mà vĩnh viễn không bao giờ bị cong vênh hay nứt nẻ. Khi tôi đan xong cốt nan cho tấm thứ nhất, tôi đã phát hiện ra có một thanh nan cật tre bị vặn tim. Nhưng ngặt một nỗi, lúc bấy giờ thời gian quá gấp rút, mẻ nhựa sơn sống vụ đông hảo hạng cuối cùng lại sắp sửa hết hạn sử dụng mà không thể mua thêm, tôi tiếc công tiếc của nên vẫn cố tình hom thử tấm thứ nhất này. Kết quả là khi vừa đưa vào buồng ủ đợt cuối, nó bị nứt toác mép như các người thấy đây. Tấm vóc này bị loại bỏ ngay lập tức. Tôi không nỡ vứt đi, bèn dựng lăn lóc ở xó vách căm xe kia suốt bốn mươi năm ròng, ngày nào đi qua cũng nhìn vào nó để tự răn đe bản thân mình về cái tội cẩu thả, gian dối của người thợ làm nền!
Cụ Phúc hít một hơi sâu, lồng ngực cụ ưỡn cao lên, ánh mắt rực sáng một niềm tự hào nghề nghiệp kiêu hãnh đến tột cùng:
— Còn tấm vóc thứ hai... chính là tấm vóc được dùng để vẽ nên bức *Người Giữ Nền*! Khi bắt tay vào đan tấm thứ hai, trớ trêu thay tôi lại gặp phải một nan tre khác cũng bị vặn gân nhẹ ở đúng vị trí mép đáy góc trái. Nhưng lần này, tôi không dám phạm sai lầm cũ. Tôi không vứt bỏ tấm nan, mà đã nghĩ ra một biện pháp gia cố đặc biệt: tôi dùng một dải vải gai dệt tay bằng sợi thô, bản rộng đúng một phân rưỡi, tẩm đẫm nhựa sơn sống nguyên chất rồi vá đè chéo một góc đúng bốn mươi lăm độ qua tim nan tre để ghì chặt gân tre lại, sau đó mới tiến hành hom bảy lượt đất phù sa sông Truồi quyện mật mía lên trên!
Nam và Bảo Châu nhìn nhau, tim cả hai người như ngừng đập một nhịp trong lồng ngực. Từng mảnh ghép rời rạc của câu đố thế kỷ đang khớp nối lại với nhau một cách hoàn hảo, không sai lệch dù chỉ một phần mười milimét!
— Vết vá mép vóc bằng vải gai thô rộng một phân rưỡi, chạy chéo một góc bốn mươi lăm độ ở góc đáy bên trái... — Nam khẽ thốt lên, giọng anh rung lên vì xúc động tột cùng. — Đó chính là vệt bóng mờ bất thường mà Bảo Châu đã chụp được dưới ánh sáng xiên cực thấp trong két sắt gia đình đêm trước tang lễ! Và đó cũng chính là chi tiết duy nhất mà bản sao của Phạm Đức Lâm hoàn toàn không thể nào làm giả được, bởi vì Lâm chỉ nhìn thấy bề mặt phẳng phiu của lớp sơn then chứ không thể nào biết được bí mật nằm dưới bảy lớp hom bùn!
— Đó tuyệt đối không phải là một lỗi hư hỏng hay khuyết tật! — Cụ Phúc mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ và thuần khiết làm bừng sáng cả khuôn mặt già nua khắc khổ. — Đó là vết sẹo của tay nghề, là dấu ấn sinh mệnh của Bùi Tấn Phúc này khắc vào lòng bức tranh! Khi bức vóc thứ hai hoàn thành, ông Trương Diệp đã đích thân dùng ngón tay miết lên vị trí vết vá ấy, rồi nắm chặt lấy đôi bàn tay lở loét vì nước sơn ăn của tôi mà nói rằng: *'Anh Phúc ơi, vết vá vải gai này của anh còn đẹp và thiêng liêng hơn cả những nét cọ tài hoa của tôi. Nó là xương thịt, là linh hồn của người làm vóc. Không có cái nền kiên cường này của các anh, thì nét vẽ của tôi rốt cuộc cũng chỉ là một lớp màu vô hồn nằm trên một khúc gỗ mục!'* Bức tranh ấy mang tên *Người Giữ Nền* chính là vì lẽ đó!
Cụ Phúc xoay người lại, nhìn thẳng vào Nam và Bảo Châu bằng ánh mắt ngập tràn sự tin cẩn tuyệt đối, không còn một chút mảy may nghi ngại:
— Kiện hàng bưu chính bảo đảm đặc biệt mà cô Vân ủy thác bí mật chuyển từ kho lưu trữ Gia Định về bưu cục Thủ Dầu Một vào chiều tối hôm qua... sáng sớm tinh mơ hôm nay người ta đã bí mật chuyển giao an toàn tuyệt đối về xưởng Cây Sơn này rồi. Bức tranh thật mười phần trọn vẹn hiện đang nằm yên trong buồng ủ số một, dưới sự canh giữ nghiêm ngặt của những người thợ trung kiên nhất của đất Tương Bình Hiệp. Nhưng để mở được cánh cửa buồng ủ ấy, và quan trọng hơn cả, để mở được trọn vẹn bản di chúc lịch sử mà ông Trương Diệp và cô Nguyễn An để lại cho làng nghề này, các người cần phải có một thứ văn vật nữa.
Nói đoạn, cụ Phúc bước chậm rãi dẫn hai người vào gian nhà trong tối mịt. Cụ vịn tay vào một chiếc thang tre cũ kỹ, vươn người rút từ trên xà nhà bằng gỗ căm xe xuống một bọc vải dù màu xanh bộ đội. Cụ cẩn thận mở từng lớp dây buộc, để lộ ra một cuốn sổ công đã ố vàng theo năm tháng, gáy sổ được khâu tỉ mỉ bằng những sợi chỉ dù quân sự chắc nịch.