Bức Tranh Thứ Mười BaCh.18 / 32
Chapter 18

Biệt thự Mười Ba Ô Cửa

Chiếc xe khách liên tỉnh cũ kỹ chầm chậm trườn qua những khúc cua tay áo gắt gao của đèo Ngoạn Mục, động cơ diesel rền rĩ từng hồi khô khốc giữa những vách đá xám dựng đứng và vực sâu hun hút ngập trong mây mù. Lên đến địa phận cao nguyên Lâm Viên, không gian đột ngột chìm vào một lớp sương mù đặc quánh như sữa loãng, thứ sương giăng mắc qua những cánh rừng thông ba lá bạt ngàn, phủ lên kính xe một lớp hơi ẩm mờ đục. Xe dừng lại bên vệ đường đất đỏ, trước cánh cổng sắt uốn hoa văn kiểu thuộc địa đã rỉ sét gần như mục ruỗng, nằm cô độc giữa một triền đồi dốc thoai thoải ở ngoại vi Đà Lạt.

Gió từ thung lũng sâu thốc ngược lên, rít qua những tán thông già cỗi, phát ra những thanh âm u trầm, rền rĩ như tiếng thở dài bị giam hãm suốt mấy mươi năm dưới tầng tầng lớp lớp mù sương. Con đường mòn dẫn từ cổng sắt vào tiền sảnh đã bị cỏ dại, tầm xuân gai và dương xỉ bản địa xâm lấn gần hết, chỉ còn trơ lại những vệt đá chẻ xám mốc trơn tuột sau cơn mưa phùn dai dẳng kéo dài từ nửa đêm hôm trước. Mùi đất đỏ bazan ngậm no nước quyện cùng mùi nhựa thông tươi nồng hắc, tạo nên một bầu không khí vừa ẩm lạnh, vừa hoang phế đến rợn ngợp.

Lê Tường Vân siết chặt vạt chiếc áo măng-tô dạ sẫm màu, đưa bàn tay gầy guộc đeo găng len đen giữ lấy vành mũ, bước xuống bậc xe sau Nam và Châu. Khuôn mặt bà tái nhợt vì chặng đường đèo dằn xóc và cái lạnh buốt thấu xương đặc trưng của vùng cao nguyên lúc tảng sáng, nhưng đôi mắt sâu thẳm ẩn sau cặp kính đồi mồi vẫn quạnh quẽ ánh lên vẻ sắc lạnh, bồn chồn khôn nguôi. Bà dừng chân trên lối đi rợp bóng thông, ngước nhìn lên khối kiến trúc hai tầng đồ sộ xây hoàn toàn bằng đá núi màu vàng xỉn, nơi rêu phong và địa y bám dày đặc trên những bờ tường giật cấp mang phong cách Art Deco giao thoa với nét thô mộc của đá bản địa.

— Biệt thự Mười Ba Ô Cửa, — Tường Vân nói khẽ, giọng bà khàn đặc đi giữa tiếng gió rít qua rặng cây. — Bốn mươi hai năm trước, vào đúng mùa thu năm 1982, mẹ tôi và ông Trương Diệp đã ở đây suốt ba tháng ròng rã. Không điện thoại, không thư từ gửi về xuôi. Mọi ghi chép, nhật ký kỹ thuật và phác thảo về trại sáng tác sơn mài thử nghiệm năm ấy đều bị gia đình họ Trương thu hồi sạch sẽ ngay sau biến cố, chỉ trừ duy nhất bản sơ đồ dập than mà mẹ tôi đã lén giấu lại trong một ống tre khô rồi mang về xưởng Truồi.

Bảo Châu kéo cao cổ áo len, ngước nhìn lên tầng hai của tòa biệt thự, nơi những khung cửa gỗ thông sơn màu xanh ô-liu đã bong tróc từng mảng lớn để lộ thớ gỗ xám xịt vì sương gió:

— Ông ngoại từng nhắc đến chuyến đi năm tám mươi hai trong cuốn sổ tay ghi chép sắc độ màu mà mẹ cháu cất trong hòm gỗ long não. Ông chỉ viết vỏn vẹn một câu ngắn ngủi: "Đà Lạt giữ lại ánh sáng mà mắt thường không thể bắt kịp nếu chỉ nhìn thẳng." Lúc còn học ở trường mỹ thuật, cháu cứ ngỡ ông nói về đặc tính khúc xạ của khí hậu nhiều sương mù trên đỉnh Lang Biang, không ngờ câu nói ấy là để chỉ chính căn biệt thự này.

Nam không vội vã phụ họa. Anh xốc lại chiếc ba lô chuyên dụng nặng trịch chứa máy đo quang phổ đa kênh, máy đo góc quang học và hộp đồ nghề bảo tồn vật lý, đưa mắt quét chậm rãi một vòng quanh toàn bộ mặt tiền công trình. Dù lớp vữa vôi quét ngoài đã nứt nẻ chằng chịt như mạng nhện và những dây leo dại bám chặt vào các khe nứt, cấu trúc chịu lực bằng đá chẻ dày dặn của ngôi nhà vẫn toát lên dáng dấp kiên định của một không gian được tính toán kỹ lưỡng, được thiết kế chuyên biệt cho việc xử lý chất liệu tạo hình. Bậc thềm tam cấp dẫn lên tiền sảnh được đẽo từ những tảng đá hoa cương thô nhám, độ dốc thoai thoải và mặt bậc rất rộng—một thiết kế đặc thù nhằm bảo đảm an toàn, chống trơn trượt tối đa khi những người thợ phải gánh những thùng nước mài tranh nặng trĩu ra vào liên tục mỗi ngày.

Nam bước lên trước, đặt bàn tay mang găng da thuộc lên tay nắm cửa bằng đồng đúc đã phủ một lớp teng xanh dày cộm. Anh và Châu cùng dùng sức đẩy cánh cửa gỗ thông hai cánh nặng nề. Bản lề sắt han rỉ rên lên một tiếng ken két khô khốc xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, đánh động luồng không khí tù hãm, ẩm mốc của một gian phòng đã bị niêm phong bằng sự lãng quên suốt gần nửa thế kỷ.

Hiện ra trước mắt họ là một đại sảnh hình bán nguyệt rộng lớn kinh ngạc. Trần nhà cao vút, để lộ thiên toàn bộ hệ thống xà gồ và vì kèo bằng gỗ thông ba lá chịu lực, được xông khói đen nhánh nhằm chống mối mọt. Không gian u tối, tịch mịch dần hé lộ khi luồng ánh sáng tờ mờ ngoài trời lọt qua những khung cửa lớn bao quanh vòng cung tường phía ngoài. Đúng như tên gọi dân gian mà cư dân quanh vùng từng truyền tai nhau, bao quanh bức tường cong hình cánh cung hoàn hảo của đại sảnh là mười hai ô cửa chớp ghép kính màu kiểu Pháp và một ô cửa vòm trống hoàn toàn không lắp kính ở chính giữa trục tim, hướng thẳng ra khoảng không hun hút, thăm thẳm của thung lũng thông phía sau ngôi nhà.

— Mười hai ô cửa sổ kính màu và một ô vòm trống đón gió, — Nam bước chậm rãi vào tâm điểm của mặt sàn bán nguyệt, đế giày dã chiến của anh gõ cồm cộp lên những thanh sàn gỗ kiền kiền bản lớn đã ngả màu nâu đen vì thời gian và ẩm ướt. — Mùa thu năm 1982, nơi này tuyệt đối không đơn thuần là một xưởng vẽ tranh phong cảnh thông thường. Đây là một xưởng nghiệm chứng quang học cực kỳ tinh vi.

Mười hai ô cửa chớp được bài trí đăng đối tuyệt đối dọc theo đường cong cung tròn của vách tường ngoài. Mỗi ô cửa đều có phần vòm cuốn phía trên được ghép công phu bằng các mảnh kính màu thủ công dày dặn: sắc xanh ngọc bích thăm thẳm, sắc vàng son rực rỡ như mật ong rừng quyện hổ phách, và sắc lam xám của khói lam chiều cao nguyên. Những ô kính phủ một lớp bụi thời gian mờ đục và mạng nhện giăng mắc, nhưng dưới ánh sáng mờ nhạt của buổi sớm mù sương, chúng vẫn âm ỉ ánh lên những quầng màu trầm đục kỳ dị. Duy chỉ có ô cửa thứ mười ba—nằm ngay tại điểm cực đỉnh của đường cong bán nguyệt, hướng thẳng theo phương nam địa lý—lại là một ô vòm đá để trống hoàn toàn. Không có cánh gỗ, không có then gài, không có bất kỳ mảnh kính màu nào chắn lại. Gió lạnh từ thung lũng thông tự do ùa vào hun hút qua ô vòm ấy, mang theo hơi ẩm buốt giá, mùi rêu mục và tiếng thì thầm xào xạc của đại ngàn.

Tường Vân tiến lại gần bức tường phía tây của đại sảnh, nơi còn sót lại những mấu đinh sắt han rỉ ghim sâu vào mạch vữa và những vệt sáng tối in hằn hình chữ nhật mờ ảo trên nền tường vôi cũ:

— Sau khi trốn khỏi trại sáng tác năm đó để bắt chuyến xe đò quay về làng Chuồn, mẹ tôi chỉ nói với tôi đúng một câu: toàn bộ bí mật của mười hai bức đại tác phẩm được chốt lại tại căn phòng này. Trương Diệp đã dùng mười ba ô cửa để phong ấn một điều gì đó mà ông ấy không bao giờ muốn người đời sau chạm tới. Suốt mười lăm năm qua, tôi đã lùng sục khắp các văn khố, luôn tin rằng sau ô cửa thứ mười ba kia có chôn giấu một bản khế ước chuyển nhượng quyền tác giả, hoặc một ngăn két ngầm chứa phần tài sản bảo chứng mà ông ấy buộc phải đền bù cho danh dự bị đánh cắp của mẹ tôi.

Nam không lập tức phản bác hay đồng tình với nỗi ám ảnh của người phụ nữ lớn tuổi. Anh đặt chiếc ba lô xuống sàn, quỳ một chân xuống mặt gỗ kiền kiền lạnh ngắt, mở khóa kéo chiếc cặp da đựng tài liệu bảo tồn. Cẩn trọng như một phẫu thuật viên, anh rút ra bản vẽ dập nét bằng than củi trên nền giấy dó cổ mà Tường Vân đã trao cho anh trong cuộc gặp gỡ tại quán trà bên bờ sông Hương. Tấm giấy dó đã ngả màu vàng ố, mép giấy sờn rách vì hàng trăm lần gấp mở, nhưng những đường kẻ chỉ bằng mực tàu định vị mặt bằng kiến trúc và những mũi tên chú thích góc chiếu của ánh mặt trời lặn vẫn còn sắc nét, run rẩy những vệt chì định vị từ năm 1982.

— Cô Vân, Châu, hai người hãy lại đây xem, — Nam vẫy tay, giọng anh điềm tĩnh nhưng đanh chắc.

Anh trải phẳng bản vẽ dập than xuống mặt sàn gỗ ngay tại tâm điểm hình học của vòng cung bán nguyệt, dùng bốn viên đá chặn giấy bằng đồng thau nặng trịch mang theo trong hộp đồ nghề cố định chặt bốn góc mép giấy. Sau đó, Nam rút chiếc la bàn địa chất chuyên dụng vỏ kim loại mạ crom sáng loáng từ túi ngực, hạ thước bọt thủy và đặt chuẩn xác vào tâm vòng tròn tọa độ in trên bản vẽ. Kim la bàn chao đảo dữ dội trong vài giây rồi từ từ đứng yên bất động, vạch kim huỳnh quang chỉ thẳng tắp theo trục phương vị bắc - nam.

Bảo Châu quỳ xuống cạnh Nam, đôi mắt thanh tú của cô chăm chú đối chiếu từng đường nét kẻ than trên bản vẽ với hệ thống cột gỗ thông chịu lực và các ngạch cửa thực tế trong đại sảnh. Đôi mày cô khẽ nhíu lại, ngón tay trỏ miết nhẹ trên mặt giấy dó:

— Có điều gì đó không hề ăn khớp ở đây, anh Nam. Nhìn vào hai ô cửa số mười và số mười một ở góc hướng tây nam này mà xem.

Nam gật đầu, ánh mắt anh lóe lên tia nhìn sắc bén của một chuyên gia giám định đã quen đọc các sai số vật lý:

— Chính xác. Hãy nhìn vào ghi chú bằng mực tàu của cô Vân trên bản vẽ dập nét này: hai ô cửa hướng tây nam được đánh dấu góc bóng đổ nghiêng đúng 22 độ so với phương thẳng đứng, với vệt bóng cắt chạy dài chạm chính xác vào chân bức vách ngăn bằng gỗ thông phía sau lưng chúng ta. Nhưng cô hãy nhìn thực tế góc xây của ngạch cửa bằng đá chẻ ngoài kia. Khối tường đá ngoài hành lang nhô ra đã triệt tiêu toàn bộ một phần ba góc chiếu thấp từ chân trời. Một góc nghiêng 22 độ trong thực tế không bao giờ có thể phóng ra một đường bóng cắt dài và chạm tới chân vách ngăn như hình vẽ này được. Nó hoàn toàn bất khả thi về mặt hình học quang sai.

Tường Vân sững sờ, bà quỳ sụp xuống bên cạnh hai người trẻ tuổi, cặp kính đồi mồi trượt xuống sống mũi, giọng bà nghẹn lại:

— Làm sao có thể sai lệch được chứ? Chính tay tôi... chính mắt tôi đã mang thước dây kim loại và quả dọi bằng đồng đến căn phòng này vào mùa hè năm 2012! Tôi đã đo đạc đối chiếu lại từng số đo trên bản vẽ dập than của mẹ tôi để lại! Tôi đã tự tay đo từng khoảng cách giữa các ngạch cửa, từng gờ chỉ chân tường, từng mấu đinh treo tranh! Mọi thứ đều khớp đến từng milimét!

— Cô Vân đã đến đây đo đạc vào thời điểm nào trong ngày? — Nam ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của Tường Vân, giọng anh trầm xuống nhưng chứa đựng sức nặng của sự truy vấn khoa học.

Vân ngập ngừng, đôi bàn tay gầy gò bấu chặt vào gấu áo khoác dạ:

— Tôi... tôi bắt chuyến xe sớm nhất từ bến xe liên tỉnh Nha Trang vượt đèo lên đây. Xe đến bến Đà Lạt lúc hơn mười giờ, tôi thuê xe ôm chạy thẳng vào đồi thông này. Vào được gian sảnh này thì đã hơn mười một giờ trưa. Tôi nhớ rất rõ, lúc tôi trèo qua ô cửa sổ bị cạy then để bước vào đây đặt thước dây và thả quả dọi, mặt trời đã lên rất cao trên đỉnh ngọn thông. Lúc tôi hoàn thành việc đo đạc và ghi chép, đồng hồ điểm đúng mười hai giờ trưa. Tôi cố ý chọn thời điểm đó vì tôi muốn có luồng ánh sáng mạnh nhất, rõ ràng nhất để chụp ảnh tư liệu và nhìn thấy từng ngóc ngách mục nát của căn phòng này!

— Đó chính là sai lầm mang tính bản lề đã giam cầm cô suốt hơn mười năm qua, — Nam thở dài nhẹ, nhưng trong khóe mắt anh ánh lên sự thấu suốt mạch lạc. — Mười hai giờ trưa là lúc mặt trời nằm ở điểm thiên đỉnh. Góc tới của quang tuyến gần như vuông góc với mặt sàn. Khi ánh nắng đứng bóng, toàn bộ các bóng cắt quang học bị triệt tiêu hoàn toàn. Không có sự tán sắc, không có sự chuyển dịch của các dải bước sóng, và quan trọng nhất: không có góc bóng đổ xiên để tạo nên địa tầng thị giác của chất liệu sơn mài.

Bảo Châu tiếp lời ngay, giọng cô run lên vì nhận ra một nguyên lý cốt tử mà cô đã được rèn luyện từ những ngày thơ ấu trong xưởng phục chế của gia tộc:

— Ông ngoại Trương Diệp và bà Nguyễn An là những bậc thầy thượng thặng về sơn mài truyền thống! Sơn mài không bao giờ—và tuyệt đối không bao giờ—được thẩm định hay thao tác dưới ánh sáng đứng bóng giữa trưa! Khi mài tranh bằng nước hay khi kiểm tra độ chìm sâu của các tầng lá bạc quỳ, người thợ luôn luôn phải nhìn dưới thứ ánh sáng xiên—ánh sáng của ban mai hoặc hoàng hôn, khi góc tia nắng chỉ chếch từ mười lăm đến ba mươi độ so với bề mặt phẳng của tấm vóc! Bản vẽ dập than năm 1982 của bà An ghi lại góc bóng đổ của nắng sớm mùa thu, khi sương mù vừa tan và mặt trời chếch góc thấp. Còn cô Vân lại dùng góc nắng đứng bóng gay gắt của một buổi trưa mùa hè để giải mã! Đó chính là lý do vì sao mọi tính toán phương vị của cô luôn bị lệch đúng 7,5 độ khi cô cố định vị hốc tường hay vị trí chiếc két sắt tưởng tượng!

Tường Vân loạng choạng đứng dậy, lùi lại hai bước như bị một lực vô hình xô đẩy, lưng bà đập mạnh vào thân cột gỗ thông xù xì sau lưng. Khuôn mặt người phụ nữ từng tự nhận mình là "Người Giữ Bóng" của dòng tranh sơn mài Truồi co thắt lại, đôi môi mỏng run rẩy tái tê:

— Nghĩa là... suốt ngần ấy năm trời, tôi đã tự giam mình trong một mốc quy chiếu hoàn toàn sai lệch? Tôi đã nghiến răng nguyền rủa Trương Diệp, tôi tưởng rằng ông ta đã cố ý gài bẫy, cố ý làm sai lệch phương vị trong các bản vẽ để đánh lừa mẹ con tôi, để chúng tôi vĩnh viễn không tìm ra dấu vết... Nhưng thực chất... thực chất là do tôi đã tự mình chọn sai thời điểm để nhìn vào sự thật?

— Trương Diệp không đánh lừa ai cả, và mẹ cô cũng không hề để lại một bản vẽ sai, — Nam đứng dậy, phủi lớp bụi bặm bám trên đầu gối quần dã chiến. — Bản vẽ dập than của nghệ nhân Nguyễn An là một kiệt tác ghi chép về mặt quang học ứng dụng. Chỉ có điều, mật mã của căn phòng này không bao giờ thức giấc vào giữa trưa chói gắt. Nó chỉ mở ra vào khoảnh khắc bình minh, khi những tia nắng đầu tiên xuyên qua lớp sương mù dày đặc của cao nguyên và cắt xiên qua các ô kính màu theo một trật tự đã được tính toán đến từng phân độ.

Nam xoay người, bước chậm rãi về phía góc xưởng cũ kỹ nằm khuất sau những hàng cột gỗ ở phía sau đại sảnh. Nơi đó vẫn còn ngổn ngang những phế tích của một thời lao động nghệ thuật miệt mài: những chiếc giá gỗ mục gãy nằm chỏng trơ, những thùng sắt tây rỉ sét thủng đáy từng dùng để chứa nước mài, những chiếc chổi quét sơn bằng tóc rối đã hóa thạch và một chiếc bàn thao tác lớn bằng gỗ thông ghép, mặt bàn phủ một lớp bụi và mùn cưa dày đặc.

Nam cúi thấp người, soi đèn pin kỹ thuật vào khoảng không gian tối om bên dưới gầm bàn thao tác. Dưới lớp mạng nhện chằng chịt và đất cát khô khốc tích tụ hơn bốn mươi năm, ánh mắt sắc sảo của anh va phải một vật thể dẹt, hình chữ nhật nằm kẹt cứng giữa thanh giằng chân bàn và gờ nẹp sàn gỗ.

— Châu, đưa cho anh chiếc kẹp gắp mẫu vật và chổi lông thỏ mềm, — Nam nói khẽ nhưng không giấu được sự tập trung cao độ.

Anh rút chiếc kẹp gắp bằng thép không gỉ từ túi đồ nghề, thận trọng luồn mũi kẹp vào khe hẹp chỉ rộng chưa đầy một đốt ngón tay. Với những thao tác chuẩn xác, nhẹ nhàng của một chuyên gia phục chế hiện vật, Nam gẩy nhẹ lớp vụn gỗ mục bao quanh, rồi từ từ kéo vật thể đó ra ngoài khoảng sáng lờ mờ của gian sảnh.

Đó là một miếng gỗ vóc thử nghiệm nhỏ cỡ lòng bàn tay, dài khoảng mười lăm xentimét, rộng mười xentimét và dày đúng tám milimét. Bề mặt tấm vóc được phủ một lớp sơn có màu cánh gián sẫm, hơi ngả sang ánh hổ phách sâu thẳm. Điều khiến cả Nam và Bảo Châu cùng nín thở là lớp màng sơn mài trên bề mặt miếng gỗ thử nghiệm này: nó phẳng lỳ, bóng mờ tự nhiên và hoàn toàn không xuất hiện bất kỳ vết rạn nứt chân chim (craquelure) hay hiện tượng giòn vỡ, bong tróc lớp lót nào, dù đã bị vứt bỏ trong một môi trường ẩm lạnh, chênh lệch nhiệt độ khắc nghiệt suốt hơn bốn thập kỷ.

Bảo Châu đeo găng tay cao su nitrile trắng muốt, cẩn thận đón lấy mẫu vóc từ tay Nam. Cô đưa ngón tay cái nhẹ nhàng miết lên bề mặt lớp màng sơn, cảm nhận độ trơn mịn và độ đàn hồi kỳ lạ ẩn sâu dưới tầng then, sau đó khẽ áp tấm vóc lên gần mũi, hít một hơi thật sâu:

— Độ dẻo dai của màng sơn này vượt xa mọi tiêu chuẩn sơn ta thông thường! Sơn then vùng Phú Thọ thuần túy nếu bị bỏ mặc trong môi trường độ ẩm cao và sương muối của Đà Lạt suốt bốn mươi năm mà không được ủ trong buồng ẩm tiêu chuẩn, chắc chắn sẽ bị đục mờ do nấm mốc hoặc giòn gãy toàn bộ lớp vóc vải lót bên dưới. Nhưng mẫu thử này... lớp chất kết dính có độ đàn hồi cơ học rất cao, bề mặt vẫn thở được, và thoang thoảng có mùi nhựa thông chưng cất quyện với mùi dầu trẩu già và một vị ngọt khé rất đặc trưng...

Tường Vân bước vội lại gần, bà run rẩy cúi xuống nhìn chăm chú vào một góc mép của tấm vóc nhỏ, nơi có một vệt mực đỏ khắc chìm hai chữ cái "T.A." viết tắt:

— Đúng là nó rồi... Đó là công thức thử nghiệm chất kết dính nền của mẹ tôi vào tháng mười năm 1982! Mẹ tôi đã dùng nhựa thông ba lá khai thác từ chính những cánh rừng quanh căn biệt thự này, mang đi chưng cất chậm bằng nồi cách thủy để loại bỏ bớt tạp chất dầu bốc hơi, sau đó phối trộn trực tiếp với sơn sống khai thác từ vùng Tương Bình Hiệp và mật mía già xứ Truồi theo một tỷ lệ bí truyền: bảy phần nhựa thông đã khử dầu, ba phần sơn sống và một lượng nhỏ mật mía làm chậm quá trình đông kết. Trương Diệp ngày đó đã kịch liệt phản đối, ông ấy chê công thức này làm chậm tiến độ khô của tranh, kéo dài thời gian mài vóc đến hàng tuần lễ. Nhưng mẹ tôi đã kiên quyết cãi lại. Mẹ tôi quả quyết rằng khí hậu Đà Lạt quá lạnh và khô hanh vào mùa đông, nếu không có lớp chất kết dính đàn hồi này lót ở tầng sâu nhất, thì mười hai bức đại tác phẩm khổ lớn khi đưa ra trưng bày ở các nước hàn đới như Pháp hay Nhật Bản sẽ bị co ngót đột ngột, toàn bộ lớp bạc quỳ dát chìm bên trong sẽ bị xé rách và bong tróc thành từng mảng!

— Và thực tế lịch sử đã chứng minh nghệ nhân Nguyễn An hoàn toàn đúng, — Nam khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt cương nghị của anh, ánh mắt chan chứa niềm cảm phục sâu xa đối với người nghệ nhân chân đất đã khuất. — Miếng vóc thử nghiệm này chính là một hiện vật vật chứng vô giá. Nó chứng minh kỹ thuật xử lý địa tầng vóc của bà An đã đi trước thời đại hàng chục năm. Bà ấy không chỉ là một người thợ mài tranh thuần túy, bà ấy là một nhà hóa học dân gian lỗi lạc về chất liệu sơn ta. Nhưng quan trọng hơn hết, mẫu thử này khẳng định chắc chắn một điều: xưởng thử nghiệm này hoạt động dựa trên sự tương tác tuyệt đối giữa chất liệu, độ ẩm khí hậu và chu kỳ ánh sáng tự nhiên. Giờ đây, chúng ta không thể vội vã dùng đèn pin hay ánh sáng nhân tạo để cưỡng cầu giải mã. Chúng ta phải kiên nhẫn đợi ánh sáng thực sự của mảnh đất này thức giấc.

Đêm hôm đó, ba người họ không quay về thị trấn. Họ quyết định ở lại giữa lòng căn biệt thự hoang phế, chấp nhận cái lạnh buốt thấu của màn đêm cao nguyên. Nam thu dọn một góc sàn gỗ khô ráo gần chiếc lò sưởi bằng đá chẻ đồ sộ nằm ở vách tường phía trong đại sảnh. Anh cùng Bảo Châu ra mé rừng thông ven nhà, nhặt những cành thông khô gãy đổ và những quả thông già rụng đầy đất mang vào.

Một ngọn lửa nhỏ được nhóm lên trong lòng lò sưởi đá. Ánh lửa bập bùng xua bớt bóng tối âm u và hơi lạnh buốt giá đang len lỏi qua từng thớ gỗ. Gió núi đêm mỗi lúc một gầm rít dữ dội hơn, luồn qua ô cửa vòm thứ mười ba trống trơn tạo thành những chuỗi âm thanh hú dài, rền rĩ như tiếng đàn đáy cổ xưa ai oán giữa thinh không.

Nam ngồi tựa lưng vào một gốc cột thông lớn, cẩn thận tháo rời từng bộ phận của chiếc máy đo quang phổ đa kênh cầm tay để lau chùi thấu kính bằng giấy quang học chuyên dụng. Anh kiểm tra lại dung lượng pin lithium dự phòng, hiệu chuẩn lại góc đo của chiếc máy đo độ phản xạ bề mặt.

Bảo Châu ngồi bó gối đối diện với anh bên đống lửa, ánh than hồng hắt lên gương mặt thanh tú những vệt sáng ấm áp, đôi mắt cô sâu thẳm dõi nhìn những tàn lửa bay lơ lửng:

— Anh Nam, anh có nghĩ rằng Mai Quốc Huy đang lần theo dấu vết của chúng ta để lên đây không? Tin nhắn thoại mã hóa gửi từ Sài Gòn sáng hôm qua cho biết Huy đã mang theo bức tranh sơn mài gốc bị tráo đổi và đang trốn chạy sự truy lùng ráo riết của người từ sàn đấu giá Lam Thành. Liệu Huy có biết đến sự tồn tại của căn biệt thự Mười Ba Ô Cửa này không?

Nam đặt thấu kính quang phổ xuống tấm vải nỉ mềm, ánh mắt anh trầm ngâm nhìn sâu vào ngọn lửa đang tí tách reo:

— Huy có thể nắm giữ mã số lưu trữ 'D.S. - 13/VN - C3' mà Phạm Đức Lâm đã để lại trong hồ sơ mật của Lam Thành. Cậu ta là một kỹ thuật viên phục chế có bàn tay cực kỳ khéo léo, một tài năng trẻ nhưng bị sự tự ái nghề nghiệp và những ảo vọng danh vọng của thị trường làm cho lạc lối. Huy sao chép được từng nét bút, từng vết nứt bề mặt của Trương Diệp, nhưng cậu ta không bao giờ hiểu được linh hồn của địa tầng vóc. Cậu ta không có trong tay bản vẽ dập than năm 1982 của bà An. Dù Huy có tìm được đường lên Đà Lạt đêm nay, cậu ta cũng chỉ như một kẻ mù lần mò trong bóng tối của những con số hành chính. Cậu ta sẽ nhìn vào những ô cửa này như những bức tường vô tri. Trước khi chúng ta phải đối mặt với Huy và những hệ lụy của sàn Lam Thành, chúng ta có một nhiệm vụ quan trọng hơn: phải trả lại sự thật lịch sử cho căn phòng này trước khi mặt trời lên tới đỉnh đầu vào ngày mai.

Tường Vân ngồi co ro trong chiếc áo măng-tô dạ ở góc lò sưởi, hai bàn tay run rẩy hơ trên ngọn lửa, giọng bà đượm vẻ cay đắng pha lẫn một nỗi hoang mang muộn màng:

— Mẹ tôi... cả một đời bà chỉ biết cặm cụi trong bóng tối của xưởng mài dưới bến sông Truồi. Bàn tay bà quanh năm đen đúa vì nhựa sơn then ngấm vào biểu bì da, những ngón tay nứt nẻ rớm máu vì ngâm trong nước lạnh buốt mùa đông xứ Huế. Khi Trương Diệp được các tờ báo lớn ở Paris, Tokyo và sau này là Hà Nội ca tụng như một thiên tài độc nhất vô nhị đưa sơn mài Việt Nam bước vào kỷ nguyên hiện đại, mẹ tôi vẫn chỉ là một người đàn bà vô danh ngồi giặt những tấm vải gai thô bên bờ sông. Tôi đã lớn lên cùng sự phẫn uất đó. Tôi từng thề sẽ lột trần bộ mặt của Trương Diệp, tôi từng tin chắc rằng ông ta là một kẻ cắp không hơn không kém, một kẻ đã hút cạn sinh lực và tài hoa của mẹ tôi để xây dựng lâu đài danh vọng cho riêng mình... Nhưng nếu... nếu như căn phòng này thực sự là một sự sắp đặt công phu của ông ấy... thì tại sao? Tại sao ông ấy không một lần lên tiếng thừa nhận mẹ tôi một cách đàng hoàng trước công chúng khi hai người còn sống?

Nam ngước nhìn lên những ô kính màu trên cao, lúc này chỉ còn là những mảng đen kịt in hình trên nền trời đêm đầy sao của cao nguyên:

— Có những thời kỳ lịch sử, cô Vân ạ, những định kiến xã hội khắc nghiệt, cơ chế quản lý ngặt nghèo thời bao cấp và sau đó là sự tàn nhẫn của đồng tiền thị trường đã tạo ra những áp lực ghê gớm. Nó khiến người ta trở nên hèn nhát trong đời sống thế tục. Trương Diệp có thể đã không đủ dũng khí để vượt qua dư luận, không đủ can đảm để chia sẻ hào quang danh vọng của một 'bậc thầy quốc gia' cho một người phụ nữ làm nghề thủ công bình dị. Nhưng trước chất liệu và trước lịch sử nghệ thuật chân chính, một nghệ sĩ lớn thực sự sẽ không bao giờ dám lừa dối bản thân. Trương Diệp biết rất rõ ai là người đã tạo nên linh hồn cho các tác phẩm của mình. Ông ấy không dám công khai bằng văn bản hành chính vì sợ sự phán xét của gia tộc và xã hội đương thời, nhưng ông ấy đã dùng chính ngôn ngữ tối thượng của hội họa—ngôn ngữ của ánh sáng và chất liệu—để khắc ghi tên tuổi của bà An vào không gian này. Một sự thật được giấu kín ở nơi mà chỉ những ai thấu hiểu sâu sắc nỗi nhọc nhằn của người thợ mài mới có thể mở ra được.

Đêm trôi đi trong sự tĩnh lặng nặng nề, chỉ có tiếng gió rít và tiếng củi thông nổ lách tách từng hồi.

Năm giờ ba mươi phút sáng.

Màn đêm đen đặc quánh trên đỉnh đồi thông bắt đầu loãng dần, nhường chỗ cho một sắc xám bạc bảng lảng, lơ lửng giữa không trung. Sương mù cao nguyên như một tấm lụa ẩm ướt khổng lồ, chầm chậm tràn qua khung cửa vòm trống thứ mười ba, mang theo những hạt nước li ti đọng thành một lớp màng sương mỏng tang, lấp lánh như bụi kim cương trên mặt sàn gỗ kiền kiền.

Gió núi bỗng nhiên ngừng bặt. Toàn bộ khu đồi thông chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, ngưng đọng như một bức tranh thủy mặc vừa hoàn thành nét cọ cuối cùng và đang chờ lớp mực khô đi.

Nam đứng bật dậy, đôi mắt anh hoàn toàn tỉnh táo sau một đêm thức trắng. Anh bật công tắc chiếc đèn pin kỹ thuật gắn trên trán, khẽ ra hiệu cho Bảo Châu. Hai người nhanh chóng bước vào góc phòng kho cũ, khiêng ra bốn chiếc giá vẽ bằng gỗ thông hình chữ A đã cũ mòn nhưng kết cấu vẫn còn rất vững chãi. Dưới sự chỉ dẫn của Nam, Châu đặt bốn chiếc giá vẽ thành một đường cong hoàn hảo, đối ứng song song ở khoảng cách ba mét phía trước bốn ô cửa kính màu trải dài từ hướng đông sang đông nam.

Trên bốn chiếc giá gỗ ấy, Bảo Châu cẩn thận mở các hộp xốp chống sốc, lấy ra bốn bức tranh sơn mài phong cảnh cỡ vừa—đây là những tấm vóc thử nghiệm phục chế mang các tầng chất liệu khác nhau mà cô đã dày công chuẩn bị và mang theo từ phòng lưu trữ tư liệu gia đình để làm vật mẫu đối chứng quang phổ.

— Sương đang bắt đầu tan dần từ phía chân trời, — Nam thì thầm, hơi thở của anh hóa thành làn khói trắng mỏng trong không khí giá buốt. Anh hướng mắt nhìn chăm chú qua tán thông già phía đông, nơi đường chân trời đằng xa đang từ từ ửng lên một vệt hồng nhạt tinh khôi của rạng đông. — Châu, cầm lấy đầu dò quang phổ đa kênh. Đặt góc cảm biến nghiêng chính xác 45 độ so với bề mặt của bức tranh số một trên giá vẽ đầu tiên. Hãy khóa chặt tiêu cự và ghi lại toàn bộ biểu đồ bước sóng ngay khoảnh khắc tia nắng đầu tiên xuyên qua mặt kính màu.

Bảo Châu đeo găng tay nitrile mới, hai tay giữ chặt chiếc máy đo quang phổ với phong thái chuyên nghiệp, ngón tay cái đặt sẵn trên phím ghi dữ liệu. Tường Vân đứng nép sát bên cạnh Nam, hai hàm răng bà va vào nhau cầm cập không chỉ vì cái lạnh thấu xương của sương sớm, mà vì sự căng thẳng tột cùng đang đè nặng lên từng nhịp thở trong lồng ngực.

Sáu giờ mười lăm phút.

Mặt trời từ từ nhô lên khỏi rặng núi xa xôi của cao nguyên Lâm Viên. Một luồng ánh sáng ban mai vàng ruộm, tinh khiết và rực rỡ đột ngột xuyên thủng qua màn sương mù mỏng manh, rọi thẳng vào dãy cửa chớp hình bán nguyệt của tòa biệt thự cổ.

Một hiện tượng quang học kỳ ảo, chuẩn xác đến kinh ngạc bắt đầu vận hành trước mắt họ.

Khi chùm tia nắng sớm với góc tà cực thấp vừa chạm tới ô cửa kính màu đầu tiên ở hướng đông—ô kính mang sắc lục thẫm của ngọc bích tự nhiên—ánh sáng trắng bị tán sắc và khúc xạ hoàn toàn qua lớp thủy tinh thủ công dày dặn. Nó biến thành một dải sáng màu xanh lục mát lạnh, trong vắt như nước hồ mùa thu, phóng thẳng qua không gian đại sảnh và quét ngang qua bề mặt bức tranh phong cảnh đầu tiên đặt trên giá gỗ.

— Đã ghi nhận bước sóng 520 nanomet! — Bảo Châu đọc to thông số vừa nhảy múa trên màn hình tinh thể lỏng của máy đo, giọng cô vang lên thanh thoát, giòn giã giữa sự tĩnh mịch của căn phòng. — Chùm sáng lục đang quét qua toàn bộ bề mặt vóc!

Nam áp sát mắt vào chiếc kính lúp đo góc quang học, ngón tay anh điều chỉnh vòng xoay tiêu cự:

— Hãy nhìn kỹ góc phản xạ bề mặt! Dải sáng lục 520 nanomet không hề dừng lại ở lớp sơn bóng bảo vệ ngoài cùng! Nhờ góc chiếu xiên mười bốn độ của nắng sớm, luồng quang tuyến lục đã xuyên thấu qua lớp quang dầu, đâm sâu xuống tận đáy và làm bừng sáng cấu trúc sợi đan chéo của lớp vóc vải gai thô bên dưới! Toàn bộ mạng lưới sợi gai dệt tay, những đường hom phù sa mịn màng trám vào kẽ vải hiện lên rõ mồn một như một tấm phim chụp giải phẫu học! Không một kỹ thuật chụp X-quang hiện đại nào có thể làm lộ rõ thớ vải gai tự nhiên sống động đến mức này!

Hiện tượng biến chuyển không dừng lại ở đó. Khi vầng thái dương tiếp tục nhích dần lên từng milimét trên nền trời đông, góc chiếu của ánh sáng thay đổi tuần tự theo thời gian thực. Chùm tia nắng dịch chuyển, quét qua ô cửa sổ thứ hai, thứ ba và thứ tư—nơi những mảnh kính màu vàng son và hổ phách đón lấy luồng quang tuyến đang mạnh dần lên.

Một dải sáng màu vàng óng ả, rực rỡ và ấm áp như mật ong rừng tuôn chảy qua gian phòng, cắt ngang qua bức tranh thử nghiệm thứ hai và thứ ba.

Dưới tác động của chùm sáng vàng son ở góc nghiêng 28 độ, toàn bộ bề mặt bức tranh như có một phép màu đánh thức: lớp lá bạc quỳ Kiêu Kỵ dát chìm sâu bên dưới năm tầng sơn then đen thẳm đột ngột bừng sáng, phát quang lấp lánh như một dải ngân hà thu nhỏ. Từng mép gấp vi mô của những lá bạc vuông vức khổ chuẩn 9,5 x 9,5 xentimét hiện lên với độ tương phản quang học tuyệt đối. Chúng tạo thành một mạng lưới hình học hoàn hảo, phản chiếu ánh hoàng kim ngược trở lên các vì kèo gỗ trên trần nhà.

— Bước sóng 585 nanomet! — Châu thốt lên nghẹn ngào, những ngón tay cô thoăn thoắt bấm phím lưu trữ dữ liệu trên bàn phím máy đo. — Lớp bạc quỳ đang bộc lộ toàn bộ độ dày tầng lớp quang học! Đây không phải là loại bạc lá công nghiệp cán phẳng đơn điệu! Đây là ba lớp bạc lá quỳ đập tay thủ công được xếp so le góc ba mươi độ—đúng chuẩn xác theo bí pháp 'dát bạc kép' độc môn của xưởng Truồi năm 1979! Ánh sáng vàng son này được sinh ra chỉ để đánh thức lớp bạc quỳ của làng Truồi!

Tiếp tục hành trình quang học kỳ vĩ, khi vầng dương dâng cao hơn và ánh nắng chuyển dịch qua các ô cửa sổ hướng đông nam và nam, quang tuyến lần lượt đi qua những mảnh kính màu lam xám, chàm và tím than. Dải sáng mang sắc độ trầm đục, sâu lắng này quét qua bức tranh thứ ba và thứ tư trên giá vẽ.

Lập tức, ánh lấp lánh chói lòa của bạc quỳ bị dập tắt hoàn toàn, nhường chỗ cho sự trỗi dậy của địa tầng tiếp theo: lớp son then sâu thẳm, huyền bí được mài phẳng bằng than củi xoan ngâm nước. Dưới dải quang phổ lam xám lạnh lùng, hàng vạn vết xước than xoan li ti chạy theo những đường xoắn ốc đồng tâm—dấu ấn bất tử của đôi bàn tay người thợ mài thủ công miệt mài hàng trăm giờ dưới nước lạnh—hiện hình rõ nét tựa như những vòng vân gỗ ẩn sâu dưới đáy một hồ nước đóng băng.

Tường Vân đứng chết lặng giữa gian sảnh, hai bàn tay buông thõng bên hông. Cặp mắt sau tròng kính đồi mồi của bà mở to hết cỡ, không chớp, phản chiếu những vệt sáng màu lục ngọc, vàng son hổ phách và lam chàm đang đan dệt, giao thoa và quét ngang qua mặt sàn gỗ, tạo nên một bản đồ quang học sống động, tuần tự và tráng lệ như một bản giao hưởng bất tận của vũ trụ và bàn tay con người.

— Những dải sáng này không phải là sự ngẫu hứng kiến trúc... — Nam cất tiếng, giọng anh trầm hùng, vang vọng và rung lên những cảm xúc mãnh liệt được bảo chứng bằng sự thật khoa học. — Mười hai ô cửa kính màu này không phải để trang trí cho một dinh thự nghỉ dưỡng xa hoa! Đây là một biểu đồ quang học tuần tự tái hiện toàn bộ chu trình sinh thành của một kiệt tác sơn mài!

Anh bước nhanh giữa những giá vẽ, ngón tay chỉ dứt khoát vào từng vệt sáng đang dịch chuyển chậm rãi theo từng bước đi của mặt trời:

— Hãy nhìn vào chuỗi trật tự không thể đảo ngược này! Hai ô cửa đầu tiên mang sắc lục: chúng tương ứng với công đoạn sơ khởi nhất—bó vải gai thô, hom đất phù sa lòng sông, tạo nên phần cốt vóc vững chãi trường tồn. Ba ô cửa tiếp theo mang sắc vàng son và hổ phách: chúng tương ứng với công đoạn dát lá bạc quỳ, phủ hoàng kim, tạo nên nguồn sáng nội tại sâu thẳm phát tiết từ lòng tranh. Bốn ô cửa tiếp theo mang sắc lam xám, cánh gián và chàm: chúng tương ứng với công đoạn vào từng lớp son then, quét lớp sơn phủ quang dầu để bảo bọc và phong kín sắc độ. Và những ô cửa cuối cùng: mang dải quang phổ lạnh để kiểm tra công đoạn mài nước bằng than củi xoan và đá gan gà, bóc tách từng tầng địa tầng màu sắc ra ánh sáng ban ngày!

Bảo Châu buông lỏng hai tay, chiếc máy đo quang phổ hạ xuống bên hông, đôi mắt ngấn lệ nhìn vào những vệt sáng lung linh:

— Mười hai ô cửa kính màu... chính là mười hai công đoạn nhọc nhằn, thiêng liêng của quy trình làm sơn mài truyền thống Việt Nam! Từ lúc chỉ là một khúc gỗ mộc bọc vải gai cho đến khi biến thành một bức tranh lộng lẫy trên tường bảo tàng! Ông ngoại Trương Diệp không hề lập ra căn biệt thự này để cất giấu một kho báu vàng bạc hay một bản di chúc phân chia tài sản thế tục... Toàn bộ không gian này chính là một ngôi đền thiêng liêng được dựng lên để phụng sự và tôn vinh chu trình kỹ thuật của người thợ!

— Chính xác là như vậy, — Nam nói, ánh mắt anh rực sáng niềm xác tín tuyệt đối. — Mười hai bức đại tác phẩm được treo trên các bức tường triển lãm suốt mấy mươi năm qua chỉ là phần ngọn, là lớp da ngoài cùng rực rỡ mà công chúng và những nhà sưu tập lắm tiền nhìn thấy. Nhưng để mười hai bức tranh ấy có thể tồn tại vĩnh cửu trước thời gian, nó đòi hỏi toàn bộ chuỗi địa tầng kỹ thuật đã được mã hóa chuẩn xác qua mười hai ô cửa kính màu này. Những kẻ như giới buôn tranh Lam Thành, hay những ai chỉ đăm đăm đi tìm một chiếc két sắt chứa tiền vàng, sẽ vĩnh viễn nhìn mười hai ô cửa này như những mật mã cơ học tầm thường. Họ sẽ mang thước đến đo vào giữa trưa nắng gắt, họ sẽ dùng máy khoan để phá tường tìm hộc ngầm, và họ sẽ mãi mãi lạc lối trong sự mù quáng của lòng tham!

Tường Vân run rẩy toàn thân. Một giọt nước mắt lăn dài qua gò má gầy guộc đã hằn sâu những nếp nhăn cay đắng. Bà chầm chậm quay đầu nhìn về phía chính giữa của bức tường cong bán nguyệt—nơi ô cửa thứ mười ba đang sừng sững mở ra giữa hai dãy cửa kính màu rực rỡ.

Khác biệt hoàn toàn và đối lập tuyệt đối với mười hai ô cửa sổ chớp ghép kính màu tinh xảo bao quanh, ô cửa thứ mười ba là một ô vòm đá hoàn toàn trống trơn. Không có sắc lục ngọc, không có ánh vàng son, không có màu lam xám, và cũng không có bất kỳ tấm kính ngăn cách nào.

Và điều kỳ lạ nhất, dọc theo bức tường bán nguyệt cong cong của đại sảnh, bên dưới chân ô cửa thứ mười ba hoàn toàn không có bất kỳ một mấu đinh sắt, một gờ gỗ đỡ tranh hay một vệt sáng tối nào chứng minh nơi đó từng treo một bức tranh hoàn thiện trong quá khứ.

Đó là một khoảng tường bằng đá núi phẳng lặng, trần trụi và hoàn toàn trống rỗng.

Đúng lúc ấy, vầng thái dương đã hoàn toàn vượt lên trên ngọn cây thông ba lá cao nhất án ngữ ngoài bờ vực thung lũng.

Một luồng ánh sáng trắng tinh khôi, nguyên sơ, mãnh liệt và rực rỡ nhất của buổi sớm mai vùng cao nguyên—luồng ánh sáng chân thật tuyệt đối, không hề bị lọc qua, không hề bị biến dạng hay khúc xạ bởi bất kỳ mảnh kính màu nhân tạo nào—từ ô vòm trống thứ mười ba phóng thẳng vào lòng đại sảnh.

Luồng ánh sáng trắng tinh khiết ấy không rọi vào bất kỳ một bức tranh nào trên tường.

Nó vượt qua khoảng không gian rộng lớn của căn phòng bán nguyệt, rọi thẳng một vệt dài chói lòa, rực rỡ xuống mặt sàn gỗ kiền kiền nâu sẫm, bao trùm chính xác và trọn vẹn lên một chiếc bục gỗ thông hình chữ nhật thấp hơn mặt sàn nửa tấc, nằm ngay tại tâm điểm hình học tối cao của toàn bộ công trình.

Trên bề mặt chiếc bục gỗ mộc mạc đã mòn vẹt ấy, hai vệt trũng sâu mang hình hài đôi bàn chân trần của một người thợ đứng thao tác qua hàng chục năm trời vẫn còn in hằn rõ nét trên từng thớ gỗ thông già. Chung quanh mép chiếc bục gỗ là những rãnh thoát nước mài nhỏ xíu được đục đẽo công phu bằng tay, dẫn thẳng ra một đường ống ngầm ăn sâu xuống lòng móng đá của ngôi nhà. Và ngay bên cạnh chiếc bục ấy, vẫn còn đó một giá đỡ bằng gỗ chịu lực đặt một chiếc chậu sành nung cổ màu da lươn dùng để chứa nước mài, cùng những mẩu than củi xoan vụn đã mục nát, hóa thạch cùng lớp bùn khoáng thời gian.

Đó là một vị trí tuyệt đối không dành cho những người đứng ngắm tranh thưởng lãm.

Đó là vị trí linh thiêng chỉ dành cho một người duy nhất trong toàn bộ chu trình sáng tạo: người thợ đứng cúi mình, hai bàn chân bám chặt vào thớ gỗ ẩm ướt, đôi bàn tay trần ngâm trong nước lạnh buốt, cầm từng thanh than củi xoan miệt mài mài đi mài lại trên mặt vóc, kiên nhẫn bóc đi từng lớp son then tăm tối để trả lại ánh sáng và sự sống bất diệt cho bức tranh.

Bảo Châu buông rơi cuốn sổ tay ghi chép xuống sàn gỗ, phát ra một tiếng "bộp" khe khẽ giữa sự tĩnh lặng đến nghẹt thở. Cô đứng chôn chân tại chỗ, hai bàn tay ôm lấy ngực, đôi mắt mở to ngập tràn những giọt nước mắt xúc động nhìn vào luồng ánh sáng trắng tinh khôi đang bao bọc lấy chiếc bục mài cô quạnh giữa đại sảnh, miệng thốt lên nghẹn ngào:

— Trời ơi... Ô cửa thứ mười ba không phải là một bức tranh! Ô cửa thứ mười ba trống rỗng chính là vị trí của người đứng mài tranh, hướng thẳng về phía nam!

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories