Bản kê phục chế bên sông Hương
Dưới ánh đèn bàn chuyên dụng của phòng đọc lưu trữ, tập bìa da cũ mở ra mùi giấy mốc nồng đượm, phơi bày những trang biên bản viết tay bằng bút mực sắt đã chuyển màu nâu sẫm qua hơn ba thập kỷ.
Căn phòng lưu trữ nằm nép mình bên hông tòa nhà rường cổ kính tại số 14 đường Lê Lợi, ẩn sau hàng long não cổ thụ cành lá rủ thấp ướt đẫm hơi sương. Bên ngoài, những dải mưa bụi xứ Huế giăng mắc mịt mùng trên mặt sông Hương, quét từng đợt gió bấc se sắt qua hàng rào sắt hoa văn kiểu thuộc địa đã hoen gỉ, làm nhòa đi bóng dáng trầm mặc của nhịp cầu Trường Tiền phía xa xăm. Nước mưa từ mép mái ngói liệt nhỏ từng giọt đều đặn, buốt lạnh xuống thềm đá thanh phủ rêu phong ẩm ướt, điểm nhịp như chiếc đồng hồ nước vô hình của thời gian. Âm thanh ấy, kết hợp với tiếng xào xạc của tàu lá chuối cảnh va vào chấn song gỗ lim, càng khiến bầu không khí bên trong gian phòng trở nên cô tịch, biệt lập hẳn với nhịp sống thị thành buổi chập tối.
Chiếc đèn bàn chụp kim loại tráng men xanh lục rọi một quầng sáng ấm áp, tập trung tuyệt đối xuống mặt bàn gỗ trắc trải nỉ xanh rêu đã sờn mép. Chung quanh khoảng sáng ấy, Quách Nhật Nam, Trương Bảo Châu và Đỗ Ngọc Hà đứng vây quanh tập tài liệu vừa được cẩn trọng nhấc ra từ đáy chiếc tủ sắt hai cánh mang số hiệu 07 — chiếc tủ tài liệu nghiệp vụ vốn dành riêng cho các hồ sơ giải thể cơ sở tiểu thủ công nghiệp thời kỳ hậu chiến.
Hà nhẹ nhàng mở ngăn kéo gỗ bên dưới mặt bàn, rút hai đôi găng tay dệt sợi bông trắng tinh, loại chuyên dùng cho giới lưu trữ văn bản cổ không vướng bụi xơ, rồi lần lượt đưa cho Nam và Châu. Là người gắn bó gần hai mươi năm với công tác thư tịch và hồ sơ bảo tồn của đất cố đô, Hà hiểu rõ đến mức ám ảnh rằng từng giọt mồ hôi li ti, từng vệt dầu tự nhiên tiết ra từ đầu ngón tay người sống đều chứa các axit béo có khả năng kích hoạt quá trình tự hủy hoại trên mặt giấy dó mỏng manh, biến những di sản trăm năm thành tro bụi chỉ sau vài thập kỷ tiếp xúc thiếu cẩn trọng.
— Tập tài liệu này chưa từng được đưa vào danh mục số hóa quốc gia, — Hà khẽ nói, thanh âm trầm ấm, tròn vành rõ chữ đặc trưng của người con gái Thành Nội hạ thấp xuống mức tối thiểu, dường như sợ rằng một luồng hơi thở quá mạnh cũng đủ làm kinh động đến sự yên nghỉ của những con chữ đang say ngủ. — Vào cuối thập niên tám mươi, khi Ty Văn hóa tiến hành chia tách và thanh lý các cơ sở sản xuất mỹ nghệ tập trung, có ai đó trong ban tiếp quản đã chủ ý giấu tập biên bản thử nghiệm này vào sâu trong hồ sơ phục chế tượng pháp chùa chiền ngoại ô. Nếu không có mẩu giấy ghi lại mã lưu trữ xứ Truồi mà mẹ của Châu gìn giữ suốt bốn mươi năm trong hộp tư trang, tôi e rằng nó sẽ vĩnh viễn nằm lại dưới lớp bụi ẩm mốc của thế kỷ trước, chẳng ai buồn lật giở.
Nam đón lấy đôi găng tay, xỏ từng ngón vào lớp vải dệt mềm mại, vuốt phẳng lại phần cổ tay. Đôi bàn tay anh vốn dĩ đã quen thuộc với những chứng cứ vật chất lạnh lẽo, những tiêu bản quang phổ hay mẫu lát mỏng trong phòng thí nghiệm hình sự và bảo tồn di sản, nhưng mỗi lần đứng trước một tập hồ sơ nguyên bản chưa từng bị can thiệp bởi bàn tay thương mại hiện đại, lồng ngực anh vẫn dấy lên một cảm giác hồi hộp khôn tả. Đó là sự run rẩy thiêng liêng của một kẻ sắp sửa bước qua lằn ranh thời gian để đối thoại với tiền nhân.
Anh khẽ nghiêng đầu nhìn sang Châu. Cô kỹ sư phục chế trẻ tuổi đứng bất động như hóa đá, ánh mắt mở to dán chặt vào dòng chữ viết tay bằng mực Tàu đen nhánh trên nhãn giấy dó dán lệch ngoài bìa da: *“Kỹ thuật xử lý vóc & Nhật ký ngâm vóc nước ngọt sông Truồi — Xưởng A.-D. (1984–1985)”*.
Lớp bìa da thuộc màu nâu cháy đã khô cứng qua năm tháng, bốn góc bọc đồng bị oxy hóa bám đầy ten xanh rỉ sét. Một vài đường chỉ gai khâu gáy sách đã đứt đoạn, để lộ ra những thớ giấy bồi ép bằng bột vỏ cây giang thô ráp. Châu hít một hơi sâu, luồng không khí lạnh mang theo mùi giấy mục, mùi long não chống mối và mùi dầu trẩu cổ xưa xốc thẳng vào lồng ngực. Ngón tay đeo găng của cô run rẩy khẽ chạm vào mép bìa da, như thể đang chạm vào da thịt của chính những người thợ sơn năm nào.
— Chúng ta bắt đầu từ văn bản đầu tiên, — Nam nói khẽ. Giọng anh trầm ổn, điềm tĩnh nhưng chứa đựng sức nặng của một nhà khoa học thực nghiệm, kéo tâm trí Châu trở về với kỷ luật thép của công việc giám định.
Anh rút chiếc que gạt bằng ngà voi nhân tạo từ trong túi áo blouse, nhẹ nhàng luồn qua mép bìa da đã cong vênh, cẩn trọng tách lớp keo da trâu khô giòn bám dính giữa bìa và trang lót đầu tiên. Từng tờ giấy dó dày bản màu ngà, xơ sợi vỏ cây còn lộ rõ trên bề mặt xốp mịn, chậm rãi mở ra trước mắt họ. Lần lượt lướt qua những trang nhật ký ghi chép chi tiết về các chuyến đi mua nguyên liệu thô tận Cẩm Phô, Quảng Nam, danh sách các thuyền chở cây sơn mài từ miền trung du, cùng những trang thống kê lưu lượng dòng chảy và độ phèn của nước ngọt sông Truồi qua từng mùa lũ, họ dừng lại trước một văn bản độc lập được ghim lỏng bằng sợi chỉ gai se đôi kẹp ngay giữa xấp tài liệu.
Tiêu đề văn bản được kẻ khung hình chữ nhật kép vô cùng chỉn chu bằng mực Tàu đen tuyền: *“Bản kê phân công công việc kỹ thuật — Xưởng thử nghiệm chất liệu sơn then & vóc nền mỹ thuật (Năm 1979)”*.
Dưới quầng sáng vàng dịu của đèn bàn, Nam và Châu cẩn trọng lật bản kê công việc năm 1979 của xưởng thử nghiệm chất liệu; tài liệu ghi rõ nghệ nhân Nguyễn An trực tiếp đảm nhận các công đoạn làm vóc, hom bó vải gai, quét lớp sơn lót và kiểm soát độ ẩm cho bốn bức tranh khổ lớn.
Từng con chữ viết bằng ngòi bút sắt sắc sảo, nét thanh nét đậm chuẩn xác theo lối chữ hành chính thời kỳ bao cấp hiện lên rành rọt. Ở cột phân nhiệm kỹ thuật cốt lõi của xưởng, danh xưng “Nguyễn An” xuất hiện ở vị trí trung tâm của toàn bộ chuỗi quy trình tạo nền — mắt xích quan trọng nhất quyết định sự sống còn của một tác phẩm sơn mài truyền thống.
Văn bản liệt kê chi tiết từng khâu kỹ thuật mà nghệ nhân Nguyễn An chịu trách nhiệm độc lập: đầu tiên là việc tuyển chọn những súc gỗ thao lao già, tuyệt đối không dính giác gỗ non, ngâm bùn ao đủ mười hai tháng để triệt tiêu chất nhựa rồi mới đem hong gió trong bóng râm suốt hai mùa khô nhằm chống cong vênh. Tiếp đến là công thức pha chế lớp sơn hom bí truyền: sơn sống vùng Kiệu Kỵ được đánh kỹ với đất phù sa lòng sông Truồi — thứ phù sa hạt mịn như bột phấn đã được đãi lọc ba lần qua rây lụa — hòa cùng mùn cưa mịn của gỗ thông để trám trét toàn bộ các mắt gỗ và khe nứt vi mô.
Đặc biệt, ở phần mô tả công đoạn “bó vải gai”, văn bản ghi chép rõ ràng: đích thân bà Nguyễn An trực tiếp dùng vải sợi gai thô dệt tay bản rộng, nhúng đẫm sơn sống rồi ép miết chặt vào cốt mộc bằng bay sừng trâu. Thao tác miết vải này đòi hỏi một lực ép cơ học đồng đều tuyệt đối để loại bỏ hoàn toàn các bọt khí li ti, tạo ra một lớp giáp co giãn tự nhiên, giúp triệt tiêu hoàn toàn ứng suất co ngót cơ học do khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt gây ra.
Không chỉ dừng lại ở phần cốt mộc thô sơ, bản kê phân công năm 1979 còn xác nhận bà Nguyễn An là cá nhân duy nhất nắm giữ quy trình “quét lớp then lót” và “kiểm soát độ ẩm buồng ủ” cho bốn bức đại tác phẩm đầu tiên của toàn bộ chu kỳ sáng tác — chính là bốn bức tranh nền tảng định hình nên phong cách nghệ thuật của bộ mười hai bức sơn mài lừng danh sau này. Bút tích của thư ký ghi nhận rõ ràng bên dưới: *“Nhiệt độ ủ then: 26 đến 28 độ bách phân; độ ẩm tương đối tuyệt đối duy trì ở mức 82% đến 85%. Mỗi lớp then lót phải do chính tay Nguyễn An kiểm tra độ ráo mặt bằng xúc giác mu bàn tay trước khi chuyển sang công đoạn mài nước.”*
Bảo Châu nín thở, lồng ngực cô thắt lại. Ngón tay đeo găng trắng khẽ chỉ vào cột ghi chú bên cạnh tên của người họa sĩ lớn:
— Anh nhìn vào dòng này xem, Nam. Ở tất cả các công đoạn hệ trọng nhất — từ làm cốt vóc mộc, quét lót, hom đất sét cho đến bó vải gai gia cố — tên của ông ngoại em chỉ đứng khiêm tốn ở cột ‘tiếp nhận thể nghiệm tạo hình’. Nghĩa là trong suốt giai đoạn định hình cấu trúc vật lý của tấm vóc, ông hoàn toàn không can thiệp vào tầng nền. Toàn bộ thể xác, độ bền cơ học, khả năng chịu lực và linh hồn địa tầng của tấm vóc sơn mài đều do một tay bà Nguyễn An gầy dựng nên.
Nam gật đầu, ánh mắt anh không hề rời khỏi những con số đo đạc chi li được ghi chú bằng nét bút sắt mảnh như sợi tơ ở sát lề phải của bản kê. Đó là những ghi chép kỹ thuật cực kỳ hiếm thấy trong giới mỹ thuật truyền thống Việt Nam — nơi vốn dĩ các bí quyết nghề nghiệp thường chỉ được truyền khẩu hoặc ước lượng bằng cảm tính mơ hồ. Bên cạnh tên nghệ nhân Nguyễn An là một bảng thông số kỹ thuật dày đặc các con số thập phân biểu thị độ dày của từng tầng chất liệu: lớp hom thô thứ nhất dày 0,15 milimét; lớp cốt vải gai gia cố chiếm 0,30 milimét; lớp hom phủ mặt làm phẳng dày 0,20 milimét; và ba lượt sơn lót then mài nước đạt tổng độ dày chuẩn xác là 0,12 milimét.
Nam kéo chiếc ba lô kỹ thuật màu xám tro lại gần chân bàn. Anh mở khóa kéo, cẩn thận lấy ra chiếc máy tính bảng chuyên dụng dành cho giám định viên cùng dây cáp kết nối quang học. Màn hình máy tính bảng lập tức sáng lên, hiển thị toàn bộ kho dữ liệu giám định vật lý không xâm lấn mà anh đã cặm cụi thực hiện suốt nhiều tuần lễ tại phòng tranh tư gia của họ Trương ở Sài Gòn, dưới sự giám hộ nghiêm ngặt của luật sư Thu. Anh mở tệp ảnh chụp đa phổ (Multispectral Imaging) có độ phân giải siêu cao và biểu đồ cắt lớp quang học không xâm lấn (Optical Coherence Stratigraphy) của bốn bức đại tác phẩm sơn mài khổ lớn thuộc giai đoạn 1979–1980.
Đối chiếu các thông số milimét ghi chú về độ dày từng lớp sơn hom cạnh tên Nguyễn An, Nam phát hiện chúng trùng khớp hoàn toàn với dữ liệu đo độ dày quang học từ ảnh chụp đa phổ mà anh từng thực hiện tại phòng tranh ở Sài Gòn.
Màn hình máy tính bảng hiện lên biểu đồ sóng phản xạ quang học với những đỉnh sóng sắc nét hình răng cưa. Nam đặt chiếc máy tính bảng nằm song song với trang bản kê công việc năm 1979, kích hoạt thước đo vi điểm điện tử và bắt đầu đối soát từng lớp địa tầng sơn mài. Không gian phòng đọc chìm vào sự im lặng tuyệt đối, chỉ còn nghe tiếng vo ve rất khẽ của quạt tản nhiệt máy tính và tiếng mưa ngoài bến sông Hương.
— Hãy nhìn lớp hom thô đầu tiên, — Nam nói, giọng anh run lên một nhịp rất nhẹ vì sự xúc động của một nhà nghiên cứu khi tìm thấy mắt xích vàng. — Bản kê viết tay năm 1979 ghi tổng độ dày lớp hom và cốt vải gai là 0,65 milimét. Dữ liệu quang phổ đa phổ của bức số một mang tên *Khởi sinh* cho thấy tầng phản xạ nền cách cốt gỗ đúng 0,648 milimét. Sai số giữa thực tế đo đạc quang học và bản ghi chép tay chỉ vỏn vẹn hai phần nghìn milimét!
Anh trượt ngón tay trên màn hình, phóng to lớp giao diện giữa tầng sơn then và các mảng màu bề mặt:
— Còn lớp sơn lót then này nữa: bản kê ghi rõ ba lượt quét mài đạt độ dày 0,12 milimét. Biểu đồ quang phổ hồng ngoại bước sóng ngắn ghi nhận lớp chất kết dính hữu cơ tự nhiên nằm ngay sát bên dưới các mảnh vỏ trứng cẩn đầu tiên có độ dày chính xác là 0,121 milimét.
Nam ngẩng đầu lên, ánh mắt anh chạm thẳng vào mắt Châu. Ánh sáng từ chiếc đèn bàn kim loại hắt lên gương mặt anh những đường nét góc cạnh, cương nghị:
— Đây tuyệt đối không thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, Châu à. Đây chính là dấu vân tay kỹ thuật! Mỗi một người nghệ nhân sơn mài khi vào hom, khi dùng bay gạt đất hay khi miết vải gai đều có một quán tính cơ học, một lực tì đè của cổ tay và một nhịp thở hoàn toàn độc nhất vô nhị. Lực tay ấy tạo nên mật độ nén ép của sợi vải và độ dày màng sơn không thể sao chép. Cụ Trương Diệp chưa từng tự tay tạo ra địa tầng ấy. Toàn bộ bốn bức tranh lớn mở đầu cho thời kỳ rực rỡ nhất trong sự nghiệp của cụ đều được sinh ra từ chính cấu trúc vật lý mà bà Nguyễn An đã tính toán và thực thi trên bản kê này. Bà ấy không đơn thuần là một người phụ việc chuẩn bị bảng vẽ, bà ấy chính là kiến trúc sư trưởng của toàn bộ nền tảng tác phẩm!
Bảo Châu cắn chặt bờ môi dưới, hai mắt cô ầng ậc nước. Những dữ liệu khoa học khô khốc, những con số milimét hiển thị trên thiết bị điện tử tối tân của thế kỷ hai mươi mốt đang cất lên tiếng nói đanh thép, không thể chối cãi để minh oan cho một linh hồn đã khuất.
Suốt gần nửa thế kỷ qua, thị trường mỹ thuật quốc tế, các phòng trưng bày danh tiếng ở Paris, Tokyo hay Singapore, cùng hàng trăm cuốn sách nghiên cứu nghệ thuật dày cộp đều đồng thanh ca tụng Trương Diệp như một bậc thầy độc tôn, một thiên tài kỳ vĩ tự mình sáng tạo nên chiều sâu thăm thẳm của lớp sơn then huyền bí. Người ta tán tụng sắc đen sâu thẳm như lòng đại dương, thứ ánh sáng lộng lẫy ẩn tàng dưới lớp mài nhẵn thín của tranh ông. Nhưng tuyệt nhiên không một ai biết, hoặc giả có người biết nhưng đã cố tình lãng quên, rằng chiều sâu quang học mê hoặc lòng người ấy được tạo dựng từ công thức pha chế đất phù sa sông Truồi, từ tỷ lệ dầu trẩu hòa quyện sơn sống Kiệu Kỵ, và từ sự kiên nhẫn kiểm soát độ ẩm buồng ủ khắt khe đến từng phần trăm của một người phụ nữ xứ Huế lặng lẽ lội bùn bên bến nước.
Tuy nhiên, khi Nam cúi sát xuống trang giấy để kiểm tra dòng tóm lược danh phận nhân sự và con dấu xác nhận ở cuối văn bản, đôi chân mày rậm của anh đột ngột nhíu chặt lại.
Anh đưa tay với lấy chiếc kính lúp phóng đại quang học mười lần có gắn vòng đèn LED rọi góc xiên chuyên dụng từ hộp đồ nghề, đặt sát mắt kính vào bề mặt tờ giấy dó.
— Khoan đã... có điều bất thường ở vị trí này, — Nam trầm giọng, âm điệu trở nên sắc lạnh.
Châu và Hà lập tức nín thở, cả hai cùng nghiêng người về phía trước, ánh nhìn dồn vào khoảng giấy nằm ngay dưới dòng họ tên nghệ nhân Nguyễn An.
Dưới ánh sáng trắng lạnh rọi nghiêng một góc mười lăm độ, cấu trúc mạng lưới sợi cellulose của tờ giấy dó hiện lên gồ ghề, lồi lõm như một bãi cát phù sa sau cơn lũ. Ngay cạnh danh xưng “Nguyễn An”, nơi đáng lẽ ghi chú vị trí chuyên môn thực tế, xuất hiện cụm từ: *“Thợ phụ trách phục chế”*.
Sử dụng kính phóng đại soi góc nghiêng bề mặt giấy, Nam phát hiện từ 'phục chế' nằm cạnh tên Nguyễn An được viết bằng loại mực xanh đen gốc aniline có niên đại muộn hơn nhiều so với mực sắt nguyên bản của văn bản, chứng tỏ có kẻ đã cố tình chèn thêm chữ nhằm hạ vai trò đồng sáng tạo kỹ thuật của bà xuống thành thợ sửa chữa thông thường.
Ngón tay trỏ bọc găng của Nam chỉ thẳng vào mép ngoài của hai chữ “phục chế”.
— Hãy nhìn kỹ độ ngấm của mực và cấu trúc phân tử hạt màu trên bề mặt thớ giấy, — Nam bắt đầu phân tích với giọng điệu sắc bén của một giám định viên pháp y tài liệu cổ. — Toàn bộ văn bản năm 1979 này, từ tiêu đề, nội dung bảng biểu cho đến chữ ký của thư ký xưởng, đều được viết bằng loại mực bút sắt cổ điển — loại mực điều chế từ dung dịch muối sắt sunfat và axit tannic chiết xuất từ ngũ bội tử. Loại mực này có đặc tính ăn mòn nhẹ và ngấm sâu vào hệ mao dẫn của sợi giấy dó theo thời gian. Trải qua hơn ba thập kỷ oxy hóa tự nhiên trong không khí, các ion sắt đã chuyển hoàn toàn từ sắc đen tím sang màu nâu sẫm hơi ánh vàng gỉ sét, viền nét chữ có quầng loang tự nhiên do phản ứng hóa học với chất keo phèn có sẵn trong giấy.
Anh xoay nhẹ vòng chỉnh tiêu cự của kính lúp, chuyển nguồn sáng sang dải quang phổ hẹp:
— Nhưng hai chữ “phục chế” này thì hoàn toàn dị biệt. Nó không hề chứa ion sắt. Đây là loại mực bút máy màu xanh đen sử dụng phẩm nhuộm tổng hợp gốc aniline — thứ mực công nghiệp giá rẻ bắt đầu tràn ngập thị trường Việt Nam từ cuối thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990. Mực aniline không làm biến tính sợi giấy mà chỉ tạo thành một vệt màng hữu cơ mỏng dính nằm đè lên trên bề mặt các thớ cellulose khô cứng.
Nam chỉ que gạt ngà voi vào khoảng cách giữa các con chữ:
— Tệ hơn nữa, hãy quan sát khoảng cách cơ học giữa chữ “Nguyễn An” và chữ “phân xưởng”: nét chữ “phục chế” bị bóp hẹp bề ngang một cách rất khiên cưỡng, đuôi chữ ‘ê’ viết đè thô bạo lên một nét gạch chân bằng mực sắt vốn đã tồn tại từ trước. Dưới góc chiếu xiên mười lăm độ, các sợi giấy dó ở khu vực này bị xơ tước và mỏng hơn hẳn các vùng lân cận. Có kẻ đã dùng lưỡi dao lam cạo nhẹ lớp bề mặt giấy để xóa đi một cụm từ nguyên bản trước khi viết đè chữ ‘phục chế’ lên trên.
Đỗ Ngọc Hà khẽ thốt lên một tiếng nghẹn ngào trong cổ họng. Cô ghé sát mắt vào kính lúp, gương mặt thoáng chốc tái đi:
— Trời đất ơi... đúng là vết cạo cơ học! Nét mực sắt nguyên bản bên dưới từng có một khoảng trống dài hơn, theo đúng cấu trúc văn bản hành chính thời đó thì chỗ này vốn dĩ phải ghi là *“Nguyễn An — Đồng chủ nhiệm kỹ thuật”* hoặc *“Đảm trách chất liệu nền”*. Nhưng ai đó đã nhẫn tâm cạo sạch lớp chữ ấy, rồi dùng thứ mực xanh đen rẻ tiền viết đè hai chữ ‘phục chế’ vào!
— Động cơ của kẻ sửa chữa bản kê này là quá rõ ràng, — Nam siết chặt cán kính lúp, giọng anh đanh lại như thép nguội. — Nếu bà Nguyễn An được lưu giữ trong hồ sơ chính thức với tư cách là ‘người thử nghiệm chất liệu’ hay ‘đồng sáng tạo kỹ thuật’, bà ấy nghiễm nhiên có quyền tác giả liên đới về mặt công nghệ đối với bốn bức tranh khổ lớn mang tính bước ngoặt kia. Về mặt pháp lý và lịch sử nghệ thuật, bà ấy là đồng tác giả của tác phẩm. Nhưng chỉ cần chèn thêm hai chữ ‘phục chế’, toàn bộ địa vị lịch sử của bà đã bị lật ngược hoàn toàn. Từ một người đồng kiến tạo nền móng tác phẩm, bà bị hạ xuống thành một người thợ sửa chữa hư hỏng đi sau, một kẻ làm công nhật chỉ được gọi đến khi tấm vóc xảy ra sự cố nứt toác!
Một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt bao trùm khắp gian phòng đọc lưu trữ. Bên ngoài, tiếng mưa sông Hương dường như càng lúc càng nặng hạt, quất xối xả vào những rặng chuối cảnh bên hành lang gạch vồ, phát ra những âm thanh rách nát, cô quạnh.
Bảo Châu lảo đảo lùi lại nửa bước, bàn tay run rẩy phải vịn chặt vào mép bàn gỗ trắc để giữ cho cơ thể không sụp xuống. Toàn thân cô run lên bần bật theo từng nhịp thở ngắt quãng. Là một kỹ sư phục chế trẻ tuổi, cô đã dành trọn những năm tháng thanh xuân miệt mài trong các xưởng bảo tồn và kho lưu trữ của viện bảo tàng, cặm cụi với từng milimét vuông sơn bong tróc, từng vết rạn chân chim trên mặt vóc cổ để nhặt nhạnh lại dung nhan nguyên bản cho di sản. Cô yêu nghề tha thiết, tôn thờ nghề như một tôn giáo không lời, nhưng cũng chính vì thế mà giờ đây cô cảm nhận sâu sắc hơn ai hết nỗi cay đắng, xót xa của thân phận những người thợ làm kỹ thuật thủ công.
Châu xúc động nhận ra sự bất công mà các nghệ nhân thủ công từng phải gánh chịu trong quá khứ khi mọi hào quang danh tiếng đều dồn hết cho tên tuổi của một người đứng tên tác giả duy nhất.
Nước mắt Châu trào ra, lăn dài trên gò má rồi rơi xuống, thấm thành một vệt sẫm tròn trịa trên ve áo blouse trắng. Cô không khóc vì tức giận bột phát, mà khóc cho một nỗi oan khuất câm lặng đã bị vùi dập suốt mấy mươi năm dưới lớp tro tàn của danh vọng và quyền lực thị trường.
— Tại sao họ lại có thể tàn nhẫn đến mức độ ấy chứ? — Giọng Châu nghẹn lại, từng từ thốt ra run rẩy giữa bốn bức tường vôi ẩm mốc. — Suốt bao nhiêu năm ròng rã, trong tất cả các cuốn chuyên khảo lịch sử mỹ thuật, người ta chỉ biết tụng ca nét cọ phóng khoáng, bố cục không gian bậc thầy và tâm hồn siêu việt của ông ngoại em. Người ta viết hàng trăm trang luận văn tốt nghiệp, tổ chức bao nhiêu hội thảo quốc tế để phân tích ‘chiều sâu triết học’ trong tranh Trương Diệp. Nhưng đã có ai từng một lần tự hỏi, nếu không có đôi bàn tay nứt nẻ của bà An dầm mình dưới làn nước lạnh căm căm của sông Truồi để đãi từng bát đất phù sa, nếu không có những đêm dài thức trắng bên buồng ủ then nồng nặc mùi sơn sống cay xè để canh từng độ ẩm cho lớp vóc không bị cong nứt, thì liệu những nét vẽ tài hoa kia có thể đứng vững được qua nửa thế kỷ mưa nắng khắc nghiệt của xứ nhiệt đới này hay không?
Cô ngước nhìn Nam, đôi mắt đỏ hoe ngập tràn nỗi đau đớn giằng xé:
— Những người nghệ nhân thủ công... muôn đời họ chỉ là những cái bóng vô danh lẩn khuất sau tấm toan! Họ chuẩn bị vóc mộc, họ luyện sơn, họ giã đất, họ cẩn từng mảnh vỏ trứng li ti, dán từng lá vàng lá bạc với sự chuẩn xác phi thường của một nhà khoa học và lòng tận tụy mù quáng của một tín đồ ngoan đạo. Nhưng đến khi tác phẩm hoàn thành, khi tấm vóc được đưa ra phòng triển lãm rực rỡ ánh đèn hoa lệ, người ta chỉ ký một cái tên duy nhất ở góc dưới bên phải! Toàn bộ hào quang danh tiếng, sự ngưỡng mộ của công chúng và những khoản tiền giao dịch khổng lồ đều đổ dồn vào cái tên đó. Còn người thợ làm nền... họ bị gạt phắt ra bên lề lịch sử, bị bôi xóa tên tuổi, và tệ bạc hơn cả là bị hạ nhục bằng hai chữ ‘phục chế’ chèn vội bằng thứ mực rẻ tiền!
Hà bước tới, đặt bàn tay ấm áp, dịu dàng lên bờ vai đang run rẩy của Châu. Cô khẽ thở dài, thanh âm xứ Huế man mác buồn:
— Em đừng tự dằn vặt mình nữa, Châu à. Lịch sử mỹ thuật nước mình trong giai đoạn chuyển giao ấy chịu sự tác động ghê gớm của quan niệm thẩm mỹ phương Tây du nhập: người ta tôn sùng tuyệt đối chủ nghĩa cá nhân của ‘thiên tài độc bản’. Mô hình phường thợ truyền thống — nơi người khởi xướng ý tưởng và người thợ thủ công nắm giữ kỹ thuật chất liệu vốn là một thể cộng sinh keo sơn, sống chết có nhau — đã bị cơ chế thị trường xé nát. Giới buôn tranh chỉ muốn bán một cá nhân kiệt xuất, một huyền thoại cô độc để đẩy giá trị tác phẩm lên mức cao nhất có thể trên sàn đấu giá quốc tế. Họ khiếp sợ sự phức tạp của tính tập thể. Họ không muốn và không bao giờ muốn chia sẻ lợi nhuận hay ánh hào quang cho những người thợ vô danh ở chốn hậu trường.
Nam đứng lặng yên bên mép bàn, nhìn đôi bờ vai gầy của Châu khẽ rung lên theo từng tiếng nấc nghẹn. Anh thấu hiểu nỗi đau đớn đang giày xòe tâm can cô gái. Một bên là người ông kính yêu — tượng đài nghệ thuật vĩ đại của gia tộc mà cô hằng ngưỡng vọng từ thuở ấu thơ; một bên là sự thật trần trụi, tàn nhẫn về một sự bất công lịch sử — một sự im lặng đồng lõa kéo dài hàng chục năm đã tước đoạt toàn bộ danh dự và vị thế của người phụ nữ tài hoa từng kề vai sát cánh bên ông. Dù sự im lặng của Trương Diệp khi sinh thời xuất phát từ sự bất lực trước vòng xoáy danh tiếng hay sự chi phối của gia tộc, thì đó vẫn là một vết sẹo nhức nhối hằn sâu vào đạo đức nghề nghiệp của người nghệ sĩ.
— Châu này, — Nam bước lại gần, giọng anh trầm xuống, ấm áp nhưng đanh chắc như một lời cam kết. — Chúng ta không thể nào quay ngược thời gian để viết lại những gì đã diễn ra vào năm 1979 hay những toan tính đen tối của thập niên chín mươi. Nhưng việc ba chúng ta có mặt trong căn phòng lưu trữ này đêm nay chính là để hoàn thành sứ mệnh mà bức tranh thứ mười ba đã gửi gắm: *‘Trả tên cho người giữ nền’*. Dấu vết mực giả mạo này, nhìn ở một góc độ khác, lại chính là chứng cứ vật lý đanh thép nhất mà lịch sử để lại. Kẻ nào đã nhúng tay cạo giấy chèn chữ ‘phục chế’ vào đây chứng tỏ chúng vô cùng khiếp sợ sự thật. Chúng biết rõ tầm vóc kỹ thuật của bà An quá lớn, đủ sức làm lung lay vị thế độc tôn của Trương Diệp, nên mới phải tìm mọi thủ đoạn đê hèn để hạ thấp vai trò của bà xuống.
Nghe những lời phân tích rành mạch của Nam, Châu quẹt ngang dòng nước mắt trên má, hít một hơi dài để lấy lại sự tự chủ. Bản lĩnh của một chuyên gia phục chế từng đối diện với hàng ngàn tổn thương của hiện vật dần lấy lại vị trí trong tâm trí cô. Ánh mắt cô ánh lên nét cương nghị:
— Anh Nam nói đúng. Khóc lóc không thể nào đòi lại được sự thật cho bà An. Chúng ta phải tìm bằng được toàn bộ chứng cứ còn sót lại trong tập hồ sơ này.
Nam khẽ gật đầu tán đồng. Anh quay trở lại với trang bản kê công việc năm 1979. Với kinh nghiệm của một chuyên gia giám định tài liệu cổ, anh không vội vàng lật sang trang kế tiếp mà tiếp tục dùng kính lúp quang học rà soát tỉ mỉ từng xăng-ti-mét vuông còn lại trên mặt giấy dó. Anh biết rằng trong các văn bản mang tính chất bản lề lịch sử, những bí mật sinh tử thường không nằm ở phần nội dung hành chính phơi bày trên bề mặt — nơi người ta dễ dàng kiểm duyệt, cắt xén hay ngụy tạo — mà thường ẩn nấp ở những góc khuất tăm tối nhất, những khoảng trống dôi dư bên lề trang giấy, nơi sự sơ hở của kẻ giả mạo mở ra khe hở cho chân lý.
Vòng sáng trắng của kính lúp chậm rãi trượt dần xuống mép dưới cùng của trang văn bản, lướt qua chữ ký ngoằn ngoèo của đại diện xưởng thử nghiệm và dấu triện cơ quan chủ quản mờ nhạt.
Ở lề dưới của trang bản kê, Nam phát hiện dấu triện hình ba nhánh cây sơn bao quanh ký hiệu lá khuyết, kèm dòng ghi chú bút chì đã mờ chỉ dẫn về một bức thư riêng gửi đến tư gia họ Trương.
Nam khựng tay lại. Con ngươi trong mắt anh co rút mạnh mẽ:
— Châu, Hà, hai người mau nhìn vào góc dưới cùng bên trái lề giấy này!
Dưới thấu kính phóng đại mười lần, hiện ra lờ mờ một dấu triện tròn có đường kính chỉ khoảng mười lăm milimét, nằm lọt thỏm sát mép xơ của tờ giấy dó. Con dấu được đóng bằng mực chu sa tự nhiên màu đỏ tươi hơi ngả ánh cam rực rỡ — loại mực chu sa truyền thống được nghiền mịn từ khoáng vật thần sa tự nhiên hòa với dầu thầu dầu tinh luyện, một loại mực khoáng vĩnh cửu không bao giờ bị phai màu hay oxy hóa theo thời gian như các loại mực hóa học hiện đại.
Đồ án bên trong con dấu vô cùng tinh xảo và độc đáo: ba nhánh cây sơn mài với những chùm lá thuôn dài uốn lượn mềm mại tạo thành một vòng tròn khép kín, bao bọc lấy một biểu tượng cốt lõi ở ngay chính giữa — một chiếc lá sơn mài bị khuyết mất toàn bộ đường gân chính bên phải.
— Dấu ba nhánh cây sơn bao quanh lá khuyết... — Châu thốt lên, hơi thở cô dồn dập, lồng ngực phập phồng nghẹn ngào. — Đây chính là con dấu nghề cổ của các phường thợ sơn mài Tương Bình Hiệp! Em nhớ rồi, trong một lần đàm đạo về các dòng họ sơn mài truyền thống ở miền Nam, bác Bùi Tấn Phúc từng nhắc đến biểu tượng lá khuyết này! Đó là dấu hiệu nhận diện của nhánh nghệ nhân phục chế cung đình trôi dạt vào phương Nam sau biến cố lịch sử!
— Không chỉ có con dấu triện son này đâu, — Nam hạ thấp kính lúp, ngón tay anh chỉ vào khoảng trống ngay bên dưới vết mực chu sa. — Nhìn kỹ vào đây: có một dòng chữ viết bằng bút chì than đã bị ai đó cố tình dùng gôm cao su chà xát để xóa bỏ. Nhưng than chì có tính trơ hóa học tuyệt đối, các hạt tinh thể carbon mịn của ngòi chì 2B khi bị ấn mạnh đã găm sâu vào các khe rãnh vi mô của thớ sợi giấy dó, không loại gôm tẩy nào có thể xóa sạch hoàn toàn được.
Nam với tay tắt bớt một bóng đèn trần phía trên, sau đó hạ góc nghiêng của chiếc đèn bàn kỹ thuật xuống mức cực thấp — chỉ còn cách mặt bàn nỉ chừng năm độ. Kỹ thuật chiếu sáng góc xiên cực hạn (Raking Light) lập tức phát huy tác dụng: hiện tượng bóng đổ vi mô làm nổi bật từng rãnh hằn cơ học lồi lõm của nét bút chì đã bị thời gian và bàn tay con người làm phai mờ.
Châu ghé sát mặt xuống mặt kính, nương theo bóng đổ của từng nét chì hằn sâu, chậm rãi đọc từng từ đứt quãng đang dần hiện hình:
— *“Bản... bản lưu xưởng Truồi... Thư riêng... gửi kèm mẫu thử vóc then... chuyển phát tư gia họ Trương... Sài Gòn... ngày 18 tháng 11 năm 1984...”*
— Tư gia họ Trương! — Đỗ Ngọc Hà kinh ngạc thốt lên, hai bàn tay cô vô thức nắm chặt lấy nhau. — Đó chính là ngôi biệt thự kiêm xưởng vẽ trên đường Điện Biên Phủ ở Sài Gòn, nơi cụ Trương Diệp từng sống và làm việc suốt những năm tháng cuối đời!
Nam đứng thẳng dậy, các đốt ngón tay khẽ kêu răng rắc khi anh siết chặt nắm đấm. Toàn bộ các mảnh ghép dữ liệu rời rạc, tưởng chừng như vô can suốt mấy tuần qua, bỗng chốc khớp lại với nhau một cách hoàn hảo đến rợn ngời trong tâm trí anh.
Mùa đông năm 1984, sau khi kết thúc chu kỳ ngâm rửa vóc nước ngọt và xử lý lớp nền then tại xưởng thử nghiệm ven sông Truồi, một bức thư tay riêng tư kèm theo các mẫu thử nghiệm địa tầng vóc đã được gửi thẳng từ Huế vào Sài Gòn cho Trương Diệp. Chi tiết này lập tức giải mã cho câu hỏi lớn nhất bấy lâu nay: vì sao bà Trương Thanh Mai — mẹ của Châu — lại có thể giữ kín mẩu giấy ghi nhớ về ngăn tài liệu số 4 tại Trung tâm Lưu trữ Huế suốt bốn thập kỷ ròng. Bà Mai không hề tình cờ nghe lỏm hay nhặt được thông tin ấy; chính bà đã tận mắt chứng kiến sự xuất hiện của gói tài liệu và bức thư định mệnh ấy tại căn biệt thự của cha mình vào những năm tháng thanh xuân của đời người.
— Chúng ta phải kiểm tra trang cuối cùng của tập hồ sơ này ngay lập tức, — Nam nói, thanh âm trầm tĩnh nhưng dứt khoát.
Bàn tay anh lật nhanh nhưng chuẩn xác, lướt qua những trang biên bản kiểm nghiệm độ mài mòn của đá mài gan gà, nhật ký ghi chép nhiệt độ buồng ủ mùa đông năm 1984, cùng các bản thống kê lượng dầu trẩu nhập kho. Đến trang bìa lót cuối cùng được bồi bằng lớp giấy kraft màu nâu sẫm thô ráp, họ nhìn thấy một chiếc phong bì mỏng bằng giấy can mờ đã ngả sang màu vàng vôi, mép phong bì được dán chặt vào trang lót bằng một giọt sáp niêm phong màu mận chín đã khô nứt thành nhiều mảnh li ti.
Bên trong lớp giấy can mờ mờ nhân ảnh, lộ ra một mảnh giấy viết thư có dòng kẻ màu xanh nhạt đã ố vàng loang lổ vì ẩm khí xứ Huế.
Nam dùng chiếc nhíp gắp chuyên dụng bằng thép không gỉ, nhẹ nhàng tách lớp sáp khô nứt, luồn đầu nhíp gắp mảnh giấy gấp tư ra ngoài, đặt phẳng phiu lên tấm kính giám định.
Đó không phải là một văn bản hành chính công vụ lạnh lùng với những con dấu đỏ chót, mà là một mẩu thư tay ngắn ngủi, được viết vội vã bằng bút lông chấm mực Tàu đen đậm. Từng nét chữ bay bướm, phóng khoáng nhưng run rẩy, nghiêng lệch như chất chứa một nỗi giằng xé nội tâm ghê gớm của chính danh họa Trương Diệp:
Một dòng thư tay kẹp ở trang cuối bản kê nhắc đến một lá thư tạ lỗi mà Trương Diệp từng gửi về Sài Gòn nhưng chưa bao giờ được công bố.
Từng nét mực Tàu như thấm đẫm tâm can của người nghệ sĩ lớn trong một đêm trắng cô tịch bên bờ sông Hương mùa mưa lạnh năm ấy:
*“An ơi, tôi nợ bà một danh phận trước cuộc đời, nợ xưởng thợ một lời tạ tội trước lịch sử mỹ thuật. Bức thư này tôi gửi về lại Sài Gòn, giao cho người giữ nhà cất kín trong ngăn đáy bàn vẽ, như một chứng từ sám hối muộn màng... Mong có một ngày hậu thế trả lại tên cho người giữ nền.”*
Nam từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt anh vượt qua quầng sáng ấm áp của chiếc đèn bàn kim loại, chạm thẳng vào ánh mắt chan chứa nước nhưng ngời sáng kiên định của Trương Bảo Châu.
Bên ngoài khung cửa sổ gỗ rường, những giọt mưa đêm xứ Huế vẫn đều đặn rơi xuống thềm đá rêu phong, hòa vào dòng nước miên man của sông Hương chảy về biển lớn. Giữa màn đêm lạnh giá của đất cố đô, bức màn nhung lộng lẫy bao phủ lên huyền thoại giả tạo của gia tộc họ Trương suốt gần nửa thế kỷ qua cuối cùng đã phát ra tiếng răng rắc của vết nứt đầu tiên.