Bức Tranh Thứ Mười BaCh.10 / 32
Chapter 10

Sổ hàng và vỏ trứng

Cánh cửa gỗ ván ghép nặng nề của gian kho ven sông Hoài khép lại sau lưng họ, ngăn bớt luồng gió bấc mang theo hơi muối mằn mặn và mùi bùn thối rỉn ra từ những chân cọc cừ mục dưới lạch nước Cẩm Phô. Phía ngoài, thị trấn cổ đã chìm hẳn vào giấc ngủ muộn, những dãy phố mái ngói âm dương rêu phong u uất dưới màn sương ẩm, thỉnh thoảng chỉ còn vọng lại tiếng mái chèo khua nước bì bõm của một chiếc thuyền nan chở chuyến rau muộn sang cồn.

Bên trong gian kho, bóng tối đặc quánh chỉ bị xé toạc bởi chiếc đèn măng-sông treo lơ lửng trên xà gồ lim. Ngọn bấc bọc lưới vonfram rực lên thứ ánh sáng trắng đục gắt gao, rít lên từng hồi sè sè đều đặn như hơi thở của một sinh vật già nua đang kiệt sức. Dưới quầng sáng ấy, những hạt bụi li ti và mạt cưa vừa bị xáo trộn lơ lửng xoay tròn, vẽ nên những vệt sáng chéo qua không gian sặc sụa mùi ẩm mốc của giấy dó lưu cữu bốn mươi năm và mùi dầu hỏa nồng nặc.

Mùi gỗ dổi mục rỗng và dăm bào mới xộc thẳng vào cánh mũi Nam ngay khi anh bước tới góc kho phía đông. Vết cạy phá trên thành tủ hồ sơ bằng gỗ dổi ba gian vẫn còn mới nguyên. Lưỡi xà beng hoặc dao nạy kim loại đã cắn phập vào thớ gỗ già, bẩy toạc mộng chốt mỏng manh, để lộ phần thịt gỗ bên trong màu vàng tươi chưa kịp ngả xỉn theo hơi nước mặn mòi bốc lên từ lòng sông. Ngăn kéo mang tấm biển nhôm gỉ sét dập số “2-1-3” bị giật lệch hẳn ra ngoài, nằm chỏng chơ trên thanh trượt rỉ sét, để hở một khoảng trống đen ngòm bám đầy mạng nhện xơ xác và phân chuột khô khốc.

Kẻ đột nhập lúc chập tối đã hành động trong cơn hoảng loạn tột độ hoặc bị thúc bách bởi thời gian. Hắn thọc tay vào xới tung những tập bìa các-tông cứng bên ngoài, quẳng vương vãi xuống nền đất nện ẩm ướt hàng chục tờ phiếu nhập kho lâm sản vụn vặt, hóa đơn xuất dầu tràm và biên lai thu mua song mây của Chi cục Mậu dịch những năm đầu thập niên 90. Một vài góc giấy mủn nát dính chặt vào bùn đất dưới đế giày thô ráp của kẻ lạ mặt.

Ông Huỳnh Bảy đứng tựa lưng vào chiếc bàn gỗ lim chân quỳ đã lên nước bóng lộn, hai bàn tay thô nhám nổi đầy gân guốc run rẩy cầm tờ quyết định kiểm kê khẩn cấp. Con dấu đỏ chót của Văn phòng Luật sư Nguyễn Hoài Thu cùng chữ ký tươi dứt khoát của bà luật sư đại diện hội đồng thừa kế dường như là điểm tựa pháp lý duy nhất giữ cho người thủ kho già không ngã quỵ sau biến cố lúc sẩm tối.

— Tôi già rồi, mắt mũi kèm nhem, tai biến nhẹ hồi năm ngoái nên chân đi không vững... — Ông Bảy thở dài một tiếng sườn sượt, giọng khản đặc vẻ hối lỗi khôn cùng, ngón tay run rẩy gõ nhẹ lên mặt bàn lim — Lúc chập choạng tối, trời vừa đổ mưa lây rây, cái ông đi chiếc xe U-oát biển số Đà Nẵng trờ tới trước cổng. Ông ta mặc áo khoác bạt cán bộ, chìa ra cái thẻ công tác bọc nhựa đỏ chói, miệng nói sang sảng bảo là người của Ban Quản lý Di tích tỉnh về thanh tra hiện vật dự trữ thời bao cấp. Tôi cứ ngỡ người của Nhà nước thật, ai ngờ vừa quay lưng vào buồng lấy chìa khóa tủ thì nghe tiếng rầm sau kho. Lúc tôi lật đật chạy ra, thằng nọ đã cạy bung ngăn này, vơ lấy xấp phiếu kho của xí nghiệp đóng tàu thuyền Cẩm Kim rồi phóng vụt ra xe chuồn mất...

Ông Bảy đưa ống tay áo chàm sờn rách quệt mồ hôi trán, ánh mắt đục ngầu nhìn chăm chú vào Nam và Châu:

— May mà mấy cuốn sổ kiểm vật liệu gốc của thời kỳ mậu dịch quốc doanh, hồi đó ba tôi còn làm chủ kho này dặn kỹ lắm. Cụ bảo giấy dó xưởng làm vóc dù ngâm cậy nhưng mục nước sông Hoài là dễ nát, chữ mực tàu để lẫn với mấy thứ hóa đơn mậu dịch hàng xén thể nào cũng có ngày bị mọt ăn hay người ta dọn kho đem cân ký chai bao. Thằng cạy tủ vội quá, chỉ biết cạy mặt tiền hộc tủ giật đồ bên ngoài, đâu có ngờ cuốn sổ tay ghi vật liệu vóc lại nằm lọt thỏm trong hộc kẹp đôi phía sau đáy ngăn kéo.

Nói đoạn, ông Bảy chậm rãi bước tới mép tủ dổi. Ông hít một hơi sâu, luồn cánh tay khẳng khiu, đen sạm vì nhựa dầu kho vận vào sâu tận cùng khoảng kẽ nứt giữa thành sau của hộc 2-1-3 và tấm vách ngăn bằng gỗ kiền kiền cứng như đá. Tiếng khớp xương kêu lách cách hòa cùng tiếng cọ xát của mạt gỗ khô. Các ngón tay của người thủ kho già lần mò dọc theo đường gờ giấu kín, bấm vào một lẫy gỗ bí mật ở đáy hộc. Một tiếng *tách* khô khốc vang lên bên trong vách ngăn.

Từ kẽ nứt hẹp, ông Bảy cẩn trọng rút ra một bọc đồ dày chừng hai đốt ngón tay. Bọc tài liệu được gói ghém cực kỳ cẩn mật trong một tấm vải điều đã ngả sang màu bã trầu sậm, các mép vải tưa chỉ được gấp mép vuông vức, bên ngoài quấn chặt bằng bốn vòng dây đay bện đôi thắt nút chữ thập theo lối đóng gói văn thư bảo mật của thập niên 80.

Ông Bảy chậm rãi tiến lại chiếc bàn lim, kính cẩn đặt bọc vải xuống mặt bàn gỗ phẳng phiu như đặt một thánh vật gia truyền, rồi ngước nhìn Nam, gật đầu thật chậm:

— Chú Nam, cô Châu... Sổ này ba tôi giữ từ mùa đông năm 84 tới giờ. Cụ nhắm mắt năm 97, trăng trối lại bảo chừng nào người nhà cụ Diệp hay người của xưởng vóc năm xưa cầm đúng giấy tờ có dấu mộc tới thì mới được trao. Mấy chục năm nay, đây là lần đầu tiên nó thấy lại ánh đèn.

Nam khẽ gật đầu cảm tạ. Anh hít một hơi dài để trấn tĩnh nhịp tim đang đập dồn dập trong lồng ngực. Rút từ túi đồ nghề chuyên dụng đôi găng tay nitrile màu trắng, Nam đeo vào cẩn thận, miết nhẹ các đầu ngón tay cao su để đảm bảo độ bám tối đa và tránh tuyệt đối việc mồ hôi tay xâm thực vào thớ sợi cổ vật.

Dưới ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn măng-sông, Nam dùng đầu nhíp cùn nhẹ nhàng nới lỏng từng mối thắt của sợi dây đay. Sợi xơ gai qua bốn mươi năm ngậm hơi ẩm đã khô giòn, chỉ cần một lực giằng quá tay là có thể gãy vụn thành bụi. Từng nút thắt chữ thập bung ra, để lộ tấm vải điều bám một lớp bụi mịn màu nâu sẫm. Nam lật từng nếp vải đã bạc màu.

Tập sổ xuất nhập vật tư cổ hiện diện nguyên vẹn trên mặt bàn lim.

Cuốn sổ có kích thước chừng hai mươi nhân ba mươi xăng-ti-mét, dày khoảng một trăm trang. Bìa sổ làm bằng loại giấy bồi quét cậy dày dặn, sắc nâu cánh gián của chất nhựa cậy rừng ngả sang màu đất nung sẫm bóng loáng, có tác dụng chống ẩm và xua đuổi gián mọt tuyệt vời mà các xưởng in thủ công thời xưa thường dùng. Bốn góc mép bìa đã sờn rách, để lộ từng lớp thớ vỏ cây dâu tằm nghiền mịn được ép chặt nhiều lớp.

Nam dùng hai đầu ngón tay khẽ khàng lật giở tờ bìa. Mùi mực tàu ngâm keo da trâu hòa lẫn mùi giấy dó lâu năm bốc lên—thứ mùi nồng nồng, ngai ngái, hơi chua nhẹ nhưng lại khô ráo lạ kỳ, một mùi hương mang trọn vẹn ký ức của những năm tháng gian lao thiếu thốn. Giấy dó dù nằm ven dòng sông Hoài bốn mươi mùa lũ vẫn giữ được độ dai dẻo đặc thù của sợi vỏ cây dó lụa; từng trang giấy màu ngà xốp nhẹ, các sợi xơ đan cài chằng chịt, bền bỉ nâng đỡ những dòng chữ chép tay thẳng tắp bằng mực nho đen nhánh.

Đó là một kho tàng dữ liệu thuần túy về mặt vật chất. Từng trang sổ được kẻ cột thủ công bằng thước gỗ và bút sắt chấm mực tím học trò, chia thành các phân mục rành mạch: *Ngày nhập kho*, *Địa hạt thu gom*, *Số hộc/cân*, *Chủng loại vỏ trứng & sơn*, *Quy cách thử độ dẻo*, và *Ghi chú của thợ cả*. Những trang đầu của cuốn sổ ghi lại các đợt tiếp nhận nguyên liệu làm vóc cho các xưởng thủ công mỹ nghệ từ năm 1981, chữ viết ngay ngắn nhưng nét bút thuần túy mang tính chất hành chính vụn vặt.

Thế nhưng, khi Nam lật đến những trang chép tay dày đặc vào khoảng tháng Hai và tháng Ba năm 1984, nhịp thở của anh bỗng chững lại.

Phong cách ghi chép ở giai đoạn này hoàn toàn thay đổi. Không còn là thứ ngôn ngữ hành chính quan liêu vô hồn của cán bộ thu mua mậu dịch, mà là những ghi chép kỹ thuật cực kỳ chi tiết, sắc sảo đến mức kinh ngạc, chỉ có thể xuất phát từ bàn tay và khối óc của những bậc thầy am tường vật liệu sơn ta đến chân tơ kẽ tóc. Người ghi chép thời bấy giờ đã phân loại rạch ròi hai nguồn vỏ trứng vịt thả đồng được gom nhặt từ các lò ấp trải dọc hạ lưu con sông Thu Bồn, từ bến đò Giao Thủy, qua các cồn bãi Duy Xuyên xuống tận Cửa Đại.

— Châu, em nhìn vào đây, — Nam nói nhỏ, giọng trầm xuống vì tập trung cao độ. Anh rút chiếc kính lúp phóng đại quang học mười lần có gắn đèn LED rọi xiên cá nhân, ghé sát mắt vào mép một trang giấy dó ghi ngày 12 tháng 3 năm 1984.

Dưới chùm sáng trắng hội tụ, từng hạt mực đen bám chặt vào thớ sợi dó hiện lên rõ mồn một. Nam chỉ vào hai cột ghi chú song song:

— Nhìn kỹ cách họ phân định hai nhóm vỏ trứng vịt thả đồng. Loại thứ nhất được ghi rõ: *“Vỏ trứng vịt chạy đồng vụ lúa chiêm tháng Ba, bãi bồi hạ lưu Cẩm Hà — Cẩm Phô.”* Người ghi chú đã cẩn thận ghi lại các tham số vật lý: vịt chạy đồng vùng này ăn ốc bươu, ngao nước lợ và rong rêu bám chân cọc đáy sông Thu Bồn, nguồn thức ăn dồi dào canxi hữu cơ khiến cho hàm lượng vôi hóa đạt đỉnh. Độ dày của vỏ dao động chuẩn xác từ không phẩy ba mươi lăm đến không phẩy năm mươi milimét. Cấu trúc tinh thể canxi đặc sít, thớ vỏ cong sâu, chịu được lực ép thẳng đứng của vồ gỗ khi chẹn vào lớp sơn lót mà không bị nát vụn thành bột cám, và đặc biệt là không hề bị mủn rã khi mài nước bằng than xoan nhiều lượt.

Châu bước sát lại gần Nam, tì hai tay lên mép bàn gỗ lim. Mái tóc dài của cô buông lơi qua vai, đôi mắt phản chiếu ánh sáng lấp lánh từ thấu kính quang học. Là một kỹ sư phục chế chuyên sâu về tranh sơn mài cổ, từng dòng chữ ghi chép mộc mạc kia đối với cô chẳng khác nào bản đồ mã hóa của một nền văn minh đã khuất:

— Ông ngoại từng kể với em... hồi những năm sau ngày thống nhất, các xưởng làm vóc ở miền Trung và miền Nam rơi vào khủng hoảng vật liệu trầm trọng. Sơn công nghiệp chưa có, còn vỏ trứng thì tuyệt đối không ai dùng vỏ trứng gà hay vỏ trứng vịt nuôi nhốt công nghiệp bằng cám tổng hợp. Vịt công nghiệp ăn cám tăng trọng, vỏ trứng xốp xơ, hàm lượng lưu huỳnh cao, khi mài nước sẽ bị mòn vẹt và biến màu xám xịt sau vài mùa ẩm. Vịt thả đồng sông Thu Bồn chạy theo con nước ròng nước lớn, thức ăn thay đổi theo từng mùa bồi lấp phù sa của thượng nguồn đổ về.

Châu đưa ngón tay đeo găng khẽ lướt nhẹ song song với dòng chữ của trang sổ, giọng cô nghẹn ngào vẻ xúc động:

— Người thợ muốn cẩn được những mảng vỏ trứng trắng trong trẻo hay ánh ngà trên mặt tranh, phải mua từng hộc vỏ trứng từ các lò ấp thủ công, sau đó mang về ngâm trong nước tro bếp củi ròng rã suốt ba tháng. Nước tro bếp có độ kiềm tự nhiên vừa đủ để làm rữa lớp màng protein hữu cơ bám bên trong lòng vỏ mà không làm tổn hại đến lớp men vôi bên ngoài. Phải ngồi bóc từng mảnh màng mỏng bằng tay dưới vòi nước chảy, tuyệt đối không được dùng hóa chất tẩy. Ông ngoại dặn, nếu lười biếng mà để sót lại dù chỉ một chút màng trứng hữu cơ, khi hom lớp sơn then vào, lớp keo tự nhiên của mủ cây sơn ta sẽ khiến màng trứng thối rữa ngấm ngầm từ bên trong. Chỉ sau năm bảy năm, toàn bộ mảng cẩn sẽ tự động đội lên, nứt toác và bong tróc từng mảng.

— Em nói hoàn toàn khớp với dòng mực son ở chân trang này, — Nam gật đầu, lia kính lúp xuống góc dưới:

Chân trang giấy dó có một dòng phê chú bằng mực son đỏ tươi, nét chữ thanh thoát nhưng vô cùng sắc sảo: *“Độ vôi cao, thớ giòn, đập rạn hạt ngô, chẹn phẳng ăn sâu vào nền hom đất phù sa. Dùng cho các mảng sáng nền trời bức số 1 và số 3.”*

Nam ngẩng đầu lên, ánh mắt anh rực sáng:

— Đây chính là tiêu chuẩn vật liệu nguyên bản của ba bức tranh đầu tiên trong bộ mười hai bức! Độ dày vỏ từ không phẩy ba mươi lăm đến không phẩy năm mươi milimét, hàm lượng vôi hóa đặc sít và phương pháp đập rạn hạt ngô này khớp từng micromet với các chỉ số trắc quang mà chúng ta vừa đo đạc trên ba bức *Khởi sinh*, *Phố rêu* và *Thương cảng* tại căn gác đường Bạch Đằng lúc chiều. Không sai lệch dù chỉ một phần mười milimét!

Một cảm giác phấn chấn pha lẫn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Nam. Mọi cuộc tranh luận học thuật bấy lâu nay trong giới nghiên cứu, mọi nghi vấn mơ hồ về việc làm thế nào để xác lập chuỗi xuất xứ tuyệt đối cho bộ tranh sơn mài Trương Diệp đang dần tìm thấy chiếc chìa khóa nền tảng nhất: hồ sơ lưu chuyển vật liệu gốc. Kẻ nào nắm giữ được cuốn sổ này, kẻ đó nắm giữ quyền lực phán quyết tính xác thực của bất kỳ tác phẩm sơn mài nào được cho là sáng tác trong thời kỳ Hội An của cố danh họa.

Không chần chừ thêm một giây, Nam mở chiếc ba lô kỹ thuật chống sốc đặt dưới chân bàn. Anh rút ra chiếc máy tính bảng màn hình độ phân giải cao cùng tập hồ sơ lưu trữ điện tử mà luật sư Nguyễn Hoài Thu đã mã hóa và chuyển giao trực tiếp cho anh trước chuyến tàu ra miền Trung.

Đó là tập tài liệu giám định hình ảnh về một tác phẩm sơn mài khổ trung (60 x 80 cm) mang tên *Bến sông chiều*. Suốt hai tuần qua, bức tranh này đã làm chao đảo các sàn giao dịch nghệ thuật ngầm tại Hồng Kông, Singapore và Đài Bắc. Phạm Đức Lâm—tay trùm buôn tranh đứng đầu mạng lưới Lam Thành—đang ráo riết rêu rao rằng đây là "kiệt tác sơn mài thời kỳ đầu vừa tái xuất sau gần bốn mươi năm lưu lạc của danh họa Trương Diệp, sáng tác tại Hội An vào khoảng mùa xuân năm 1984". Bức tranh đang được chào bán nội bộ với mức giá khởi điểm lên tới một phẩy hai triệu đô la Mỹ, đi kèm một bộ chứng từ giám định xuất xứ do các "chuyên gia" ngoại quốc ẩn danh ký tên xác nhận.

Nam đặt chiếc máy tính bảng nằm song song với trang sổ giấy dó năm 1984 trên mặt bàn gỗ lim. Anh mở bức ảnh chụp cận cảnh macro siêu phân giải một góc mảng trời và vệt bóng nước cẩn vỏ trứng trên bức *Bến sông chiều*. Đầu ngón tay Nam lướt trên màn hình, phóng to bức ảnh lên mức 200%, rồi kích hoạt bộ lọc phân tích quang phổ bề mặt để bóc tách địa hình vi mô của lớp sơn mài.

— Châu, lại đây nhìn thật kỹ, — giọng Nam đanh lại, sự lạnh lùng và chuẩn xác của một chuyên gia giám định độc lập hoàn toàn chiếm lĩnh ánh mắt anh — Hãy so sánh cấu trúc các mảnh vỏ trứng trên bức tranh triệu đô của Lam Thành với các chỉ số thu gom thực tế của kho Cẩm Phô mùa xuân năm 1984.

Châu nheo mắt, cúi sát mặt vào màn hình hiển thị Retina. Dưới độ phóng đại cực lớn và lớp phủ màu quang phổ giả lập, bề mặt cẩn vỏ trứng của bức *Bến sông chiều* hiện lên trần trụi từng chi tiết vi mô. Cô lập tức nhận ra những điểm dị thường đập vào mắt:

— Kỹ thuật cẩn này... lạ quá. Nhìn những mảnh vỡ vỏ trứng xem, chúng phẳng lì một cách bất tự nhiên! Độ dày của tất cả các mảnh vỡ trên toàn bộ diện tích hai mươi xăng-ti-mét vuông này gần như đồng nhất tuyệt đối, phẳng tắp như một tấm kính, hoàn toàn không có độ lượn cong tự nhiên theo mặt khum của quả trứng vịt bầu.

— Em nhìn rất tinh, — Nam tiếp lời, ngón tay anh khoanh một vòng đỏ trên màn hình cảm ứng quanh một vệt nứt rạn — Nhưng mấu chốt kỹ thuật không chỉ dừng lại ở độ cong. Hãy nhìn vào viền cạnh của từng mảnh vỡ li ti. Vỏ trứng vịt thả đồng thu gom thủ công năm 1984, sau khi ngâm nước tro bếp ba tháng và được người thợ dùng vồ gỗ chẹn nhẹ lên lớp sơn hom ướt, sẽ vỡ vụn theo các đường vân nứt ngẫu nhiên. Mép vỡ của chúng luôn để lại một góc vát tự nhiên hơi xiên chéo, bởi vì cấu trúc tinh thể canxi calcite của trứng vịt tự nhiên được sắp xếp theo hình nan hoa đồng tâm từ trong ra ngoài. Khi bị lực nén tác động, các tinh thể này trượt lên nhau tạo thành mép gãy bậc thang vi mô.

Nam gõ nhẹ đầu bút cảm ứng lên màn hình:

— Nhưng ở bức *Bến sông chiều* này, các mép vỡ của mảnh vỏ trứng thẳng tuột, sắc lẹm một cách cơ khí, vuông góc chín mươi độ như thể bị cắt đứt bằng áp lực thủy lực hoặc máy dập cán màng. Và nghiêm trọng hơn cả, hãy nhìn vào độ xốp và phản ứng quang học của chất vôi.

Nam vuốt màn hình sang chế độ hiển thị ảnh chụp dưới chùm tia huỳnh quang cực tím giả lập (UV fluorescence):

— Hãy nhìn dải màu phát quang này. Toàn bộ bề mặt vỏ trứng trên bức tranh mà Lâm đang chào bán phát ra ánh huỳnh quang màu lam nhạt đồng nhất và có độ chói cao bất thường. Trong vật lý bảo tồn, hiện tượng này chỉ xảy ra khi lớp men vôi canxi cacbonat đã bị ngâm tẩy cưỡng bức trong dung dịch axit clohydric nồng độ thấp hoặc chất tẩy hữu cơ công nghiệp. Kẻ ngụy tạo đã dùng axit để làm sạch lớp màng protein trong vài phút thay vì ngâm tro bếp ba tháng! Axit đã ăn mòn toàn bộ lớp biểu bì hữu cơ tự nhiên ngoài cùng của vỏ, bào mỏng các hạt canxi xuống mức phẳng tuyệt đối đúng không phẩy mười tám milimét. Loại vỏ trứng công nghiệp được tẩy axit siêu tốc và ép phẳng hàng loạt bằng máy cán rung nhiệt này chỉ mới xuất hiện tại các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Bình Dương và Đồng Nai từ sau năm 2000!

Châu thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực cô thắt lại, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm:

— Nghĩa là... bức *Bến sông chiều* hoàn toàn là đồ giả? Một bức tranh ngụy tạo một trăm phần trăm?

— Chính xác hơn, đó là một tác phẩm ngụy tạo cực kỳ tinh vi nhưng được chế tác bằng công nghệ và vật liệu của hai thập kỷ sau, — Nam khẳng định, ánh mắt anh lóe lên tia nhìn đanh thép — Phạm Đức Lâm và mạng lưới Lam Thành biết rất rõ rằng giai đoạn 1983 - 1984 tại Hội An là khoảng thời gian sáng tác rực rỡ nhất nhưng lại thiếu vắng hồ sơ lưu trữ triển lãm chính thức của cụ Trương Diệp. Bằng cách ngụy tạo một bức tranh thời kỳ trẻ với kỹ thuật vỏ trứng bị làm sai lệch niên đại, hắn muốn gieo tác phẩm này vào chuỗi xuất xứ lịch sử, biến nó thành một "mẫu chuẩn giả" (false benchmark). Nếu giới sưu tập và các nhà giám định quốc tế công nhận bức tranh này là thật, Lâm sẽ dùng chính các tham số sai lệch của nó để tuyên bố mười hai bức tranh gốc thực sự là... tranh có vấn đề! Đồng thời, hắn sẽ danh chính ngôn thuận mở đường cho hàng loạt bản sao chép do Mai Quốc Huy thực hiện tại xưởng bí mật tràn ra thị trường quốc tế!

Châu run rẩy vì phẫn nộ, giọng cô lạc đi:

— Thảo nào tên đi xe biển Đà Nẵng lại liều mạng mò tới đây lúc chập tối... Hắn không chỉ muốn trộm tài liệu, hắn muốn phi tang toàn bộ chứng cứ vật liệu thực tế của kho Cẩm Phô! Nếu cuốn sổ này bị tiêu hủy trong ngọn lửa hoặc biến mất vĩnh viễn trong két sắt của Lam Thành, sẽ vĩnh viễn không còn một ai trên đời này có thể chứng minh được loại vỏ trứng thực sự mà ông ngoại em đã dùng vào mùa xuân năm 1984 là loại vỏ gì!

Sự thật kỹ thuật vừa được phơi bày rành rọt như một nhát búa thép giáng thẳng xuống âm mưu trục lợi đen tối. Gian kho dột nát bỗng chốc trở thành chiến trường thầm lặng, nơi các thông số vật lý và thớ sợi giấy dó đứng ra làm nhân chứng công lý. Nam cảm thấy lồng ngực mình nhẹ nhõm đi đôi chút khi bức màn lừa dối của Lam Thành bị bóc trần, nhưng sự căng thẳng trong tâm trí anh không hề suy giảm.

Vạch trần bức tranh giả của Lâm mới chỉ là một nửa nhiệm vụ bảo vệ di sản của cố danh họa. Mục đích tối thượng, nguyên do sâu xa nhất đưa anh và Châu vượt hàng trăm cây số trong đêm mưa bão về bến đò Cẩm Phô này vẫn đang ẩn khuất đâu đó giữa những trang sổ úa vàng: sự thật về người cộng sự bí ẩn đã bị lịch sử hội họa cố tình xóa tên.

Nam cúi xuống, bắt đầu lắp chiếc máy ảnh kỹ thuật số định dạng lớn lên giá ba chân chuyên dụng, căn chỉnh tiêu cự để chụp lại từng trang sổ ghi chép các chỉ số vỏ trứng năm 1984, chuẩn bị lập hồ sơ đối sánh kỹ thuật số.

Trong lúc Nam tập trung đo sáng và căn chỉnh thước tỷ lệ mi-li-mét chuẩn bảo tồn bên lề tài liệu, Bảo Châu lẳng lặng lật giở những trang tiếp theo của cuốn sổ xuất nhập vật tư.

Không gian trong gian nhà kho ven sông trở nên tĩnh lặng như tờ. Chỉ còn tiếng gió mùa đông bắc rít qua từng khe nứt của ván gỗ trên vách kho, tiếng ngọn đèn măng-sông sè sè xé gió và tiếng nước sông Hoài vỗ ì oạp vào chân mố cầu tàu cũ kỹ bên ngoài. Ông Huỳnh Bảy đã chậm rãi pha một ấm trà cung đình nóng từ góc bếp kho. Mùi cam thảo, hoa cúc và trần bì khô thơm ngát bốc lên từ chiếc ấm đất nung, phảng phất xua đi cái giá lạnh ẩm ướt đang len lỏi qua từng lớp áo khoác.

Đột nhiên, tiếng sột soạt lật giấy dó của Châu dừng bặt.

Nam đang xoay vòng chỉnh nét trên ống kính macro thì nghe thấy một tiếng thở hắt ngắt quãng vang lên ngay bên cạnh. Tiếng thở dốc đầy nghẹn ngào, run rẩy như thể người thở vừa bị tước đoạt toàn bộ dưỡng khí trong lồng ngực.

Nam giật mình buông tay khỏi thân máy ảnh, quay đầu lại.

Bảo Châu đang đứng chôn chân bên cạnh mép bàn gỗ lim. Toàn thân cô run lên bần bật. Bàn tay đeo găng cao su của cô dừng lại giữa không trung, bất động ngay phía trên trang sổ ghi chép các chuyến xuất kho nguyên liệu của hạ tuần tháng Mười Một năm 1984. Dưới ánh sáng trắng đục của ngọn đèn măng-sông, gương mặt Châu trắng bệch không còn một giọt máu. Đôi mắt cô mở to hết cỡ, ngập tràn vẻ bàng hoàng tột độ xen lẫn nỗi chấn động khôn cùng, nhìn trừng trừng vào góc dưới cùng của trang giấy.

— Nam... — giọng Châu lạc hẳn đi, vỡ vụn thành từng âm thanh méo mó trong cuống họng — Anh... anh qua đây... mau lên...

Nhận thấy sự biến chuyển tâm lý dữ dội của người bạn đồng hành, Nam lập tức bước nhanh vòng qua chân máy ảnh, áp sát mép bàn bên cạnh cô.

— Em thấy gì rồi? Châu?

Châu không nói thành lời. Những ngón tay thon thả của cô run rẩy dữ dội, chầm chậm hạ xuống, trỏ thẳng vào dòng ghi chép cuối cùng nằm ở góc phải phía dưới của trang sổ—nơi ghi nhận một đợt xuất kho nguyên liệu đặc biệt vào một buổi chiều mưa rét cuối đông năm 1984.

Dưới hàng chữ in sẵn mục "Đối tượng tiếp nhận", người ghi sổ không hề viết tên của Hợp tác xã Mỹ nghệ Quảng Nam, cũng không phải Chi cục Mậu dịch Cẩm Phô hay bất kỳ đơn vị hành chính quốc doanh nào thời bấy giờ.

Thay vào đó là một dòng chữ viết tay mộc mạc, nét bút bằng mực tàu pha keo da trâu đẫm mực, từng nét móc dứt khoát, thanh mảnh nhưng lại mang trọn vẹn phong thái tao nhã của một người từng khổ luyện thư pháp cổ điển:

*“Xuất 20 hộc vỏ trứng mỏng và 5 hũ then cho cơ sở A.-D.”*

Nam nín thở. Trái tim anh dường như hẫng đi một nhịp, rồi đập thình thịch dồn dập vào lồng ngực.

Hai mươi hộc vỏ trứng mỏng! Đó chính là loại vỏ trứng vịt đẻ non của vụ nước lũ tháng Mười—loại vỏ mỏng tang chỉ dày không phẩy hai mươi lăm milimét, có độ xốp cao và chứa nhiều khoáng chất vi lượng tạo nên sắc trắng ngà hơi phớt lam huyền ảo. Đây chính là thứ vật liệu độc nhất vô nhị đã làm nên linh hồn cho những mảng rêu phong bám trên mái ngói âm dương của bức tranh số 2 (*Phố rêu*). Và năm hũ sơn then thượng hạng—loại sơn then đen tuyền, bóng sâu thẳm như đáy giếng cổ, được ủ ròng rã nhiều năm từ mủ cây sơn ta Phú Thọ đựng trong chum sành chôn dưới lòng đất ẩm.

Nhưng điều khiến cho toàn bộ thần kinh của Nam hoàn toàn đông cứng lại không chỉ là dòng chữ viết tay ấy.

Ngay bên cạnh chữ *“cơ sở A.-D.”*, in hằn sâu vào thớ sợi của trang giấy dó xơ xác, là một con dấu triện hình bầu dục nhỏ xíu, chiều dài chỉ chừng hai đốt ngón tay. Con dấu được dập bằng thứ mực chu sa khoáng tự nhiên đỏ thắm như máu tươi. Trải qua gần nửa thế kỷ nằm im trong hộc kẹp tối tăm của ngăn tủ mục, chất chu sa đã ngấm sâu vào từng sợi dó dâu tằm, không hề phai nhạt, không hề lem luốc, rực lên một sắc đỏ nhức nhối dưới ánh đèn măng-sông.

Đó là con dấu triện hình chiếc lá sơn mài.

Gân chính của chiếc lá chạy dọc thẳng tắp, nhưng toàn bộ phần gân phụ bên phải đã bị khuyết mất—đúng như một vết cắt dở dang đầy ngụ ý của số phận.

Dấu triện chiếc lá sơn khuyết một gân!

Con dấu nghề độc nhất vô nhị mà Nam từng tận mắt nhìn thấy trên tấm vóc lót của bức tranh thứ mười ba giấu trong két sắt bí mật tại biệt thự Trương Diệp; con dấu từng xuất hiện mờ ảo trong hồ sơ giám định oan nghiệt năm 2021 của bức *Hoàng hôn trên sông*; và cũng chính là biểu tượng gắn liền với thân phận nửa kín nửa hở của người đàn bà làm vóc tài hoa tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp.

— Chiếc lá khuyết... — Nam thì thào, cổ họng anh khô khốc như thể bị nghẹn lại bởi bụi thời gian — Nó thực sự nằm ở đây. Không phải là lời đồn, không phải là ảo ảnh trong ký ức của những người già... Nó là một văn bản lưu kho hành chính của Nhà nước năm 1984!

Bảo Châu không thể kìm nén được nữa. Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má cô, rơi khẽ xuống mặt găng tay cao su phát ra một tiếng tách gần như vô thanh. Cô đưa hai bàn tay lên che miệng, bờ vai gầy rung lên bần bật trong cơn xúc động nghẹn ngào vỡ òa sau bao tháng ngày dồn nén.

— Nam... Anh có hiểu hai chữ viết tắt này nghĩa là gì không? — Châu ngước nhìn Nam, đôi mắt ngấn lệ của cô lấp lánh ánh sáng của sự thật vừa được giải phóng — “A.-D.”... Chữ A viết hoa, gạch nối, rồi đến chữ D viết hoa...

Cô run rẩy chỉ vào hai ký tự mộc mạc ấy:

— Không phải là "Xưởng thủ công Hội An", không phải là "Tổ hợp tác Cẩm Phô"! Chữ A chính là An — bà Nguyễn An! Và chữ D chính là Diệp — danh họa Trương Diệp, ông ngoại em! Tên của bà An... tên của người thợ làm vóc bị lãng quên ấy, được đặt trang trọng ở phía trước! Đặt trước cả tên của một danh họa lẫy lừng!

Tiếng khóc của Châu bật ra thành tiếng, cô gục đầu xuống cánh tay Nam, nước mắt thấm đẫm lớp vải áo khoác của anh:

— Suốt ba mươi năm qua... cả gia đình em, mẹ em, cậu Khang, rồi tất cả những nhà phê bình mỹ thuật danh giá ngoài kia... ai cũng dựng nên một tượng đài về ông ngoại em như một thiên tài cô độc. Họ vẽ nên câu chuyện lãng mạn hóa về một người nghệ sĩ lớn một mình rời thủ đô về Hội An, một mình trăn trở bên dòng sông Hoài, một mình làm nên kỳ tích sơn mài để đời cho nền hội họa dân tộc... Họ cố tình xóa sạch tên tuổi của bà Nguyễn An ra khỏi mọi vựng tập triển lãm, gạt phăng sự tồn tại của bà ra khỏi lịch sử! Cậu Khang luôn bảo với em rằng bà ấy chỉ là một người thợ phụ việc tầm thường, một kẻ làm công ăn lương được thuê về làm nền vóc thô rồi trả tiền sòng phẳng là xong việc!

Châu ngẩng đầu lên, những ngón tay cô bấu chặt vào mép bàn gỗ lim, ánh mắt ngập tràn nỗi xót xa lẫn niềm kiêu hãnh tột cùng:

— Nhưng trang sổ này... dòng chữ viết tay bốn mươi năm trước này không hề nói dối! Hai con người ấy đã cùng nhau đến mảnh đất này. Họ cùng nhau lặn lội gom từng hộc vỏ trứng vịt thả đồng, cùng nhau nếm từng giọt sơn then, và họ đã cùng nhau đứng tên vận hành một cơ sở sáng tác mang tên của cả hai người: Cơ sở A.-D.! Bà Nguyễn An không phải là cái bóng đứng sau bức màn nhung! Bà ấy là đồng tác giả, là người giữ nền móng vật chất, là linh hồn kỹ thuật của toàn bộ mười hai bức tranh này ngay từ những ngày đầu tiên gian khổ nhất!

Nam đứng lặng người, bàn tay anh nhẹ nhàng đặt lên vai Châu. Anh cảm nhận được trọn vẹn nỗi đau đớn và sự giải tỏa mãnh liệt đang cuộn trào trong tâm hồn người con gái đối diện.

Trong thế giới nghệ thuật đầy rẫy những hào quang giả tạo, những toan tính thương mại kim tiền và sự ngạo mạn của những kẻ tự xưng là "thiên tài độc tôn", sự đóng góp thầm lặng của những người thợ thủ công giữ nền—những người cả đời giấu mặt sau làn khói độc của mủ sơn ta, đôi bàn tay lở loét vì nhựa sơn ăn để tạo nên tấm vóc vĩnh cửu—thường bị gạt bỏ không thương tiếc. Những lời mê sảng day dứt của Trương Diệp trên giường bệnh trước lúc lâm chung, nỗi ân hận giày vò đòi "phải trả lại tên cho người giữ nền", và sự hiện diện đầy ám ảnh của bức tranh thứ mười ba mang hình bóng người phụ nữ... tất cả những mảnh ghép rời rạc bấy lâu nay bỗng chốc được kết nối lại bằng một sợi chỉ đỏ duy nhất: sự thật lịch sử không thể chối cãi.

Cuốn sổ xuất nhập vật tư mậu dịch này chính là bằng chứng đương thời có giá trị pháp lý tuyệt đối. Nó đập tan hoàn toàn những toan tính của Trương Minh Khang nhằm độc chiếm bản quyền và bôi xóa vai trò của Nguyễn An để phục vụ cho các thương vụ đấu giá nghìn tỷ. Nó cũng tước đi thứ vũ khí ngụy tạo mà Phạm Đức Lâm đang rắp tâm tung ra thị trường.

Nam siết nhẹ vai Châu, giọng anh trầm ấm, rành rọt từng tiếng:

— Em đã làm được điều vĩ đại nhất cho cả ông ngoại em và cho bà Nguyễn An, Châu ạ. Bằng chứng này là bất khả xâm phạm. Khi chúng ta đưa trang sổ này cùng dữ liệu quang phổ ra trước Hội đồng thừa kế và luật sư Thu, lịch sử của toàn bộ mười hai kiệt tác sơn mài sẽ buộc phải được viết lại. Tên của bà Nguyễn An sẽ được đặt về đúng vị trí tôn nghiêm nhất của nó trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Không ai có thể tước đoạt danh phận của bà ấy thêm một lần nào nữa.

Châu khẽ gật đầu, cô rút chiếc khăn tay bằng vải lanh trong túi áo, chậm rãi lau khô những giọt nước mắt trên gò má. Hít một hơi thật sâu, cô lấy lại vẻ điềm tĩnh, chuyên nghiệp của một chuyên gia phục chế, nhưng nơi khóe mắt vẫn còn đọng lại ánh nhìn kiên định lạ thường.

Nam cầm chiếc đèn pin quang học ánh sáng lạnh, cúi rạp người soi kỹ hơn vào mép lề phải của trang giấy dó mang dòng chữ lịch sử. Dưới góc chiếu xiên mười lăm độ nhằm tạo độ tương phản bóng đổ tối đa cho các vết hằn ngòi bút, anh phát hiện ra một chi tiết mới.

Ở phần lề giấy bên phải, ngay phía dưới con dấu triện chiếc lá sơn khuyết một gân, có một dòng bút tích viết bằng mực tím học trò đã ngả sang màu tím hoa cà vì thời gian. Nét chữ thanh mảnh, hơi nghiêng về bên phải, được viết vội vã như một lời nhắn chuyển giao hiện trường:

*“Hàng đã giao đủ tại bến Cẩm Phô. Phần vóc lót còn lại, gửi tiếp ra xứ Truồi.”*

— Gửi tiếp ra xứ Truồi... — Nam lẩm bẩm đọc to từng chữ, ánh mắt anh lóe lên tia sáng cảnh giác cao độ.

— Xứ Truồi? — Châu ngạc nhiên lặp lại, đôi mày thanh tú hơi nhíu lại — Đó là vùng đất nằm ở phía nam Thừa Thiên Huế, ven đầm Cầu Hai và phá Tam Giang. Em nhớ nơi đó nổi tiếng với nguồn nước ngầm đầu nguồn sông Truồi trong vắt, không nhiễm phèn, đất đai trù phú với những khu vườn cổ ven sông.

— Đúng vậy, — Nam gật đầu dứt khoát, trí óc anh lập tức kích hoạt mạng lưới dữ liệu địa lý và kỹ thuật làm sơn — Đất Hội An nguồn nước lợ nhiều mặn, chỉ thích hợp cho việc sơ chế và ủ vỏ trứng vịt bãi bồi hạ lưu cùng lớp hom đất phù sa mịn. Nhưng để xử lý các lớp vóc lót cao cấp cho những bức tranh khổ lớn tiếp theo—đặc biệt là công đoạn mài nước liên tục bằng than xoan mà không làm xỉn mặt then—người thợ làm vóc bắt buộc phải tìm đến những nguồn nước ngọt tinh khiết tuyệt đối, không có tạp chất kim loại nặng. Nước sông Truồi chính là môi trường lý tưởng nhất xứ Đàng Trong thời bấy giờ để mài vóc sơn ta!

Nam chỉ tay vào dòng mực tím:

— Dòng ghi chú này chứng minh rằng sau khi hoàn thành phần vóc cho ba bức tranh đầu tiên tại Hội An vào mùa xuân năm 1984, Trương Diệp và Nguyễn An không hề dừng lại. Họ đã chuyển địa bàn thực địa ra Huế để tiếp tục xử lý các tấm vóc cho những bức tranh tiếp theo trong bộ mười hai bức. Dấu vết của xưởng A.-D. đang dẫn chúng ta về phía bắc... về phía Nhà lưu trữ mỹ thuật cổ bên dòng sông Hương!

Sự thật mở ra một lộ trình hoàn toàn mới mẻ, dứt khoát và đầy thách thức. Cuộc hành trình tìm kiếm bức tranh thứ mười ba và khôi phục danh dự cho người thợ giữ nền không dừng lại bên dòng sông Hoài này, mà đang mở rộng theo đúng lộ trình sáng tác lịch sử của chính danh họa bốn mươi năm về trước.

— Chúng ta phải chụp lại trang sổ này với độ phân giải quang học cao nhất, kèm thước đo tỷ lệ chuẩn bảo tồn quốc tế, — Nam nói, quay trở lại vị trí chân máy ảnh, bắt đầu thao tác vặn ốc định vị — Sau đó, chúng ta sẽ lập biên bản ghi nhận hiện vật tại chỗ, nhờ ông Bảy ký tên với tư cách nhân chứng độc lập trước khi niêm phong và bàn giao cuốn sổ này cho cơ quan lưu trữ pháp lý của hội đồng thừa kế.

Châu gật đầu đồng tình. Cô lùi lại một bước để Nam có khoảng không gian thao tác góc rộng với chân máy ảnh và bộ đèn rọi chuyên dụng.

Nhưng khi vừa bước lùi lại phía sau chiếc bàn lim chân quỳ, mũi giày da của Châu vô tình va phải một vật cứng nằm khuất dưới gầm bàn.

*Cộc!*

Một tiếng va chạm khô khốc vang lên trên nền gạch tàu vỡ.

Châu dừng bước, tò mò cúi người nhìn xuống. Gầm bàn gỗ lim là một khoảng không gian tối tăm, nơi lớp bụi bặm lưu cữu hàng chục năm vừa bị xới tung lên bởi cú nạy cạy phá dữ dội của kẻ đột nhập lúc chập tối. Lẫn giữa những mảnh dăm gỗ dổi mới toanh và mạt cưa vương vãi, có một vật thể nhỏ màu đỏ thẫm nằm lọt thỏm trong kẽ nứt của viên gạch tàu lát nền.

— Cái gì thế này? — Châu lẩm bẩm.

Cô ngồi xổm xuống, với tay lấy chiếc nhíp gắp mẫu bằng thép không gỉ từ túi đồ nghề đeo bên hông. Bằng thao tác chuẩn xác của một kỹ sư bảo tồn, cô cẩn thận kẹp chặt lấy rìa của vật thể lạ rồi nhấc bổng nó lên khỏi lớp bụi đất.

Đó là một mảnh sáp niêm phong cổ màu huyết dụ, dày chừng nửa centimet, dài khoảng ba đốt ngón tay. Mảnh sáp đã bị bẻ gãy làm đôi theo một đường nứt sắc cạnh, nhưng toàn bộ bề mặt dập nổi của nó vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Mùi nhựa thông và sáp ong cháy khét nhẹ đặc trưng của chất sáp niêm phong tài liệu mật thời xưa vẫn còn thoang thoảng bốc lên.

Rõ ràng kẻ đột nhập lúc cạy tung ngăn kéo 2-1-3 đã giật phăng mảnh sáp này ra khỏi một bọc tài liệu hoặc một chiếc hộp gỗ niêm kín giấu bên trong, rồi trong lúc hoảng loạn tẩu thoát đã vô tình đánh rơi nó xuống gầm bàn mà không hề hay biết.

Châu đứng thẳng dậy, giơ mảnh sáp lên sát luồng sáng trắng gắt gao của chiếc đèn măng-sông.

Nam vừa siết chặt ốc khóa trục xoay của chân máy ảnh, nghe thấy tiếng động liền quay sang nhìn. Ánh mắt anh vừa chạm vào mặt trên của mảnh sáp niêm phong màu huyết dụ thì toàn thân anh lập tức cứng đờ như bị điện giật.

Dưới góc chiếu nghiêng của ánh đèn bấc vonfram, bề mặt của mảnh sáp cổ hiện lên một hoa văn dập nổi vô cùng sắc nét và tinh xảo: một khung vòm hình bán nguyệt kinh điển theo phong cách kiến trúc thuộc địa, bên trong được chia đều thành các ô thoáng nhỏ đan xen nhịp nhàng, tạo thành hình ảnh tượng trưng của mười ba ô cửa sổ vòm hướng về một khoảng không vô tận.

Hoa văn mười ba ô cửa!

Nam cảm thấy máu trong huyết quản mình như đông cứng lại.

Biểu tượng này... nó trùng khớp hoàn toàn, không sai lệch dù chỉ một nét khắc vi mô so với biểu tượng in trên tấm nhãn gửi kho ngoại quan chống nước mà Nam từng thu giữ được dưới hộc bàn làm việc bí mật của Mai Quốc Huy tại Sài Gòn! Và đó cũng chính là bản dập mờ ảo mà anh từng nhìn thấy lướt qua trong tập nhật ký tư liệu cũ của cố danh họa Trương Diệp.

Nam và Châu đứng sững sững nhìn nhau giữa gian kho lạnh buốt. Không một ai thốt nên lời.

Không khí trong căn nhà kho cổ ven sông bỗng chốc đặc quánh lại, căng thẳng và ngột ngạt đến tột cùng. Kẻ đột nhập cạy phá ngăn tủ 2-1-3 lúc chập tối không chỉ tìm kiếm những trang sổ hóa đơn vô giá trị, mà hắn đã cướp đi một thứ gì đó vô cùng quan trọng—một thứ từng được niêm phong cẩn mật bằng chính dấu sáp mười ba ô cửa này. Sợi dây liên kết vô hình giữa vụ trộm bức tranh thứ mười ba ở Sài Gòn, xưởng vóc bí mật A.-D. tại Hội An và hành trình hướng về cố đô Huế vừa chính thức khóa chặt vào nhau trong một vòng xoáy đầy nguy hiểm.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories