Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaCh.2 / 30
Chapter 2

Khởi nghiệp không khởi nợ

Ngay đầu giờ Thìn, khi hồi chuông đồng từ góc lầu vọng cảnh phía tây nam kinh thành còn ngân nga từng đợt chậm rãi qua những tán tường phong rậm rạp, An Trà đã ôm tập hồ sơ cùng bản khế ước còn thơm mùi mực cũ bước ra hiên Kho Bếp Đông. Buổi sớm đầu hạ mang theo ngọn gió mỏng, cuốn theo hơi lạnh ẩm ướt chưa kịp tan của những vạt sương đêm đọng trên các phiến đá xanh xám lót dọc hành lang. Nắng sớm mới chỉ rải một lớp vàng nhợt nhạt, run rẩy trên bờ mái ngói âm dương rêu phong, phản chiếu xuống từng hàng vại sành muối dưa loại lớn kê sát chân tường gạch vồ.

Bàn đá đặt ở góc hiên vốn là nơi các nữ quan kiểm dịch ngồi ghi chép sổ tiêu hao thực phẩm mỗi sáng, mặt đá nhẵn thín vì đã qua bao năm tháng cọ rửa bằng nước tro và bùi nhùi xơ mướp. An Trà cúi đầu, dùng vạt tay áo rộng khẽ gạt mấy mảnh lá khô vừa rụng xuống, đoạn cẩn thận trải phẳng tờ giấy bản ố vàng lên mặt đá. Bên cạnh tờ khế ước, nàng đặt ngay ngắn một thanh than củi được gọt nhọn một đầu, một nghiên mực son nhỏ cùng một chén nước chè xanh mới hãm nghi ngút khói, hương chè chát nhẹ lan tỏa trong làn không khí mát lành đầu ngày.

Cách đó chừng ba bước chân, Tống Diệp khoanh hai tay trước ngực, tựa lưng vào cây cột gỗ lim đã sứt sẹo lớp sơn đỏ. Đôi mày thanh mảnh của nàng nhíu chặt lại, ánh mắt cảnh giác không rời bóng người đàn ông lực lưỡng vừa sải những bước chân nện gót nặng trịch qua cổng vòm thông sang lối ngõ thợ.

Đó là Trịnh Mộc. Lão thợ cả của lò gốm Nam Thành hôm nay vẫn khoác chiếc áo vải thô nhuộm màu nâu đất củ nâu, hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi cẳng tay vạm vỡ, nổi gân guốc chằng chịt như rễ cây cổ thụ. Dưới nách lão cắp một chiếc túi da bò đã mòn vẹt bốn mép, lớp da bong tróc từng mảng để lộ những đường chỉ khâu bằng gân trâu to bản. Gương mặt vuông chữ điền của người thợ gốm sạm đen vì nhiều năm đối diện với lửa lò hừng hực, đôi gò má gồ cao và khóe miệng trễ xuống tạo nên vẻ mặt lúc nào cũng hầm hầm như đe rèn sắt nguội. Thế nhưng, khi vừa bước tới chân bậc tam cấp và trông thấy tờ khế ước được trải phẳng phiu trên bàn đá cùng chén chè nóng bốc khói lượn lờ, bước chân hăm hở của Trịnh Mộc bất giác chững lại nửa nhịp.

"An Trà cô nương," Trịnh Mộc bước tới, chẳng buồn chào hỏi theo đúng khuôn phép nội đình, thô bạo kéo mạnh chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp khiến chân ghế cọ trên nền đá phát ra một tiếng rít chói tai. Lão ngồi thụp xuống đối diện nàng, chiếc túi da quăng mạnh lên góc bàn, giọng khàn đặc vì sương gió pha lẫn vẻ bực dọc kìm nén suốt mấy ngày qua: "Sáng sớm tinh mơ ta đã phải lội bộ từ ngoại thành sang đây, không rảnh rỗi để cùng cô ngắm hoa thưởng trà. Ba mươi sáu quan tiền mua chịu đồ gốm cho Kho Bếp Đông, tính đến ngày hôm nay đã trễ hạn trọn vẹn một tháng ròng rã. Hôm trước cô bảo chờ cô rà soát đối chiếu sổ sách, ta nể tình đồng hương cùng huyện với Tống nữ quan đây nên mới châm chước lùi lại cho cô nửa ngày. Bây giờ giấy trắng mực đen đã bày ra trước mắt, cô nói xem tính toán thế nào? Nếu sáng nay cô không nôn ra được mười quan tiền mặt để ta mang về dằn túi thợ, thì đừng có trách lão Trịnh này mặt sắt đen sì, đem thẳng đơn kiện lên Ty Khảo Sổ và công đường Vân Kinh!"

Luồng gió sáng sớm thổi thốc qua góc hiên, làm mép tờ khế ước khẽ lay động. Đứng bên cột, bàn tay Tống Diệp bất giác siết chặt mép áo, trong khi An Trà vẫn ngồi thẳng lưng, ánh mắt tĩnh lặng như mặt hồ không một gợn sóng. Nàng không hề biến sắc trước đòn phủ đầu dồn dập và tiếng quát tháo sặc mùi thuốc súng ấy. Khẽ nâng chén chè xanh bằng cả hai tay, An Trà đẩy nhẹ về phía người thợ gốm, thanh âm cất lên vừa đủ nghe, rõ ràng, gãy gọn từng tiếng một:

"Trịnh đại thúc, đường xa gió bụi, ngụm chè đắng này mời thúc uống cho nhuận họng đã. Nợ nần của xưởng gốm Nam Thành, trên khế ước có chữ ký của người nhận hàng, có hoa điểm chỉ bảo lãnh của tôi, tôi tuyệt đối không chối bỏ nửa xu. Nhưng muốn trả thế nào, tính bao nhiêu cho đúng đạo lý và phép công bằng của kinh thành thì sáng nay đôi bên phải ngồi lại rà soát từng chữ, không thể nói bừa bằng miệng được."

Nói đoạn, An Trà cầm thanh than củi tự chế đặt bên cạnh lên. Đó là một mẩu cành liễu nhỏ được nàng đốt ủ ém khói cẩn thận trong tro trấu cho cháy thành than non rồi dùng dao bài vót nhọn đầu, vẽ lên mặt giấy bản không hề lem luốc mà sắc nét chẳng kém gì bút lông mực nho. Đầu que than rê một đường thẳng tắp, đen nhánh và dứt khoát dưới hàng chữ thứ ba của tờ văn bản đã sờn mép.

"Thúc nhìn kỹ dòng này xem," An Trà chỉ đầu than vào mặt giấy. "Bản khế này do chính tay thúc lập vào ngày mười lăm tháng Hai năm nay, ghi rất rõ ràng: 'Bên mua nhận đủ bốn mươi hũ sành muối dưa loại lớn và sáu mươi bộ bát đĩa men xám, tổng trị giá ba mươi sáu quan tiền đồng. Kỳ hạn thanh toán là hai tháng kể từ ngày giao nhận hàng. Nếu quá hạn thanh toán, mỗi tháng bên mua phải chịu thêm phần tiền lãi là ba phân trên tổng số nợ gốc chưa trả.' Ba phân mỗi tháng, chiếu theo lệ buôn bán của các phường hội Vân Kinh và luật định của triều đình, đây hoàn toàn là phép tính lãi đơn thuần túy."

An Trà dừng lại một nhịp, ngước đôi mắt trong veo nhưng sắc bén nhìn thẳng vào đôi đồng tử đang co rút lại của Trịnh Mộc:

"Thế nhưng ba hôm trước, khi thúc hùng hổ đến trước cửa Nhà Công Nữ Quan, thúc lại lớn tiếng đòi hỏi ba mươi chín quan sáu trăm đồng. Thúc bảo rằng quá hạn một tháng thì phải nhập tiền lãi ba phân đó vào tiền vốn ba mươi sáu quan để đẻ tiếp lãi cho tháng sau, lại còn tự tiện kê thêm một khoản tiền phạt vi phạm thời hạn giao kết mà trong toàn bộ văn bản này không có lấy nửa chữ đề cập. Thúc đang tự ý dùng phép 'lãi mẹ đẻ lãi con', dùng lệ cho vay nặng lãi của phường chợ đen ngoài bến sông để áp đặt lên giao dịch mua bán có chứng từ. Tôi nói thẳng để thúc tường: Lãi suất ghi trong khế ước là lãi đơn theo tháng; mọi khoản tiền phạt, tiền lãi gộp phát sinh ngoài hợp đồng đều là vô căn cứ và không có giá trị pháp lý."

Nàng gõ nhẹ đầu que than xuống mặt bàn đá, tạo nên một tiếng "cốc" đanh gọn:

"Hôm nay thúc cứ việc đem tờ giấy này lên công đường Vân Kinh kiện tụng. Quan thẩm khế Hoàng Minh Khuê nổi tiếng chấp pháp nghiêm minh, ngài chỉ cần liếc mắt qua một lượt là gạt phắt ngay toàn bộ phần tiền phạt khống ba quan sáu trăm đồng mà thúc tự ý cộng thêm. Khi ấy, người mất công mất buổi lặn lội chốn nha môn, người bị quan quở trách vì tội yêu sách sách nhiễu trái khoán ước, lại chính là Trịnh đại thúc đây."

Sắc mặt Trịnh Mộc biến đổi liên tục, từ đỏ bừng vì giận dữ chuyển sang xám ngoét vì bị bắt trúng tim đen. Bàn tay thô ráp đầy những vết nứt nẻ cáu ghét của lão bấu chặt lấy mép bàn đá, những khớp ngón tay trắng bệch ra:

"Cô... cô đừng có đem quan thẩm khế hay chốn nha môn ra dọa một lão già này! Ta là phường dân cày thợ gốm lương thiện, cả đời chỉ biết nhào đất đắp lò, làm sao rành rẽ từng chữ như đám nữ quan các cô! Nhưng ta nói cho cô hay, lò gốm Nam Thành còn năm miệng ăn trông chờ vào số tiền này để đong gạo sống qua ngày. Suốt ba tháng qua, ta phải vay mượn tiền mua củi phi lao, trả tiền công phu xe kéo hàng từ lò gốm vào nội thành, rồi tiền trả công thợ phụ nhào đất... Tiền túi của ta đã dốc sạch sành sanh đến đồng xu cuối cùng! Khoan hãy nói chuyện lãi đơn lãi kép hay mấy trăm đồng tiền phạt, thế ba mươi sáu quan tiền nợ gốc của ta đâu? Đỗ quản kho của các người thì đùn đẩy, bảo rằng chứng từ nhập kho bị ẩm mốc hư hỏng, chưa khớp với sổ đối chiếu nên Ty Khảo Sổ đóng băng lệnh hoàn ứng. Bếp ăn các cô làm vỡ bình sành rồi bảo do lửa nung kém chất lượng, cô đứng tên nhận nợ bảo lãnh trên giấy tờ, giờ các cô phủi tay thì cuối tháng này ta lấy gì phát công cho thợ? Lò gốm của ta tắt lửa thì cả nhà ta đi ăn mày chắc?"

Giọng nói của người thợ già càng về sau càng nghẹn lại, không còn là sự hung hăng giận dữ của kẻ đòi nợ ráo riết mà lộ rõ nỗi bất lực, cùng quẫn của một người lao động lam lũ bị dồn vào chân tường.

Nhìn những vết nứt nẻ sâu hoắm như rãnh cày ăn sâu vào khóe móng tay của Trịnh Mộc, nhìn vệt tro lò vẫn còn bám đen nơi cổ áo sờn rách của lão, ánh mắt sắc sảo của An Trà dần lắng xuống, thay vào đó là sự thấu hiểu sâu sắc. Nàng hiểu rất rõ cảm giác này. Kẻ đang ngồi trước mặt nàng không phải loại gian thương giảo hoạt hay phường sai nha cho vay nặng lãi mượn cớ siết nợ, mà chỉ là một người chủ lò thủ công nhỏ bé đang oằn mình gánh chịu áp lực nghẹt thở của dòng tiền đứt gãy. Khi đồng vốn không quay vòng được, sự hoảng loạn sẽ biến người lương thiện nhất trở thành kẻ hung hăng, sẵn sàng cắn xé bất cứ ai để sinh tồn.

"Trịnh đại thúc, những khó khăn của thúc, tôi hoàn toàn hiểu và cảm thông," An Trà hạ thấp tông giọng, nói một cách chậm rãi, rành mạch và chân thành. "Thợ gốm thức khuya dậy sớm, canh từng ngọn lửa, đổ từng giọt mồ hôi bên hố đất sét. Đến kỳ phát lương mà xưởng không có tiền thì lò phải dập lửa, thợ thầy tan đàn xẻ nghé, cơ nghiệp cả đời sụp đổ. Tôi là người đứng tên ký bảo lãnh khoản hàng này, tôi chưa từng có ý định thoái thác trách nhiệm hay quỵt nợ của thúc dù chỉ một đồng. Nhưng thúc ép tôi phải nôn ra ngay mười quan tiền mặt trong buổi sáng hôm nay thì hoàn toàn là chuyện bất khả thi. Tiền bổng lộc hàng tháng của một nữ quan kho bếp như tôi chỉ có một quan hai trăm đồng. Toàn bộ tiền dành dụm, ky cóp của tôi từ trước đến nay gom góp lại cả vốn lẫn lãi cũng chưa đầy ba quan. Thúc có ép tôi đến chết, có bức tôi nhảy xuống giếng cạn của Kho Bếp Đông này, thúc cũng chẳng thể vớt lên được ba mươi sáu quan tiền đồng."

Trịnh Mộc trừng mắt nhìn nàng, lồng ngực phập phồng sau lớp áo thô, hơi thở phì phò qua kẽ răng đã bớt đi vẻ cay nghiệt nhưng vẫn tràn ngập hoài nghi:

"Thế rốt cuộc cô định tính sao? Cứ ngồi đây than nghèo kể khổ rồi dây dưa từ tháng này qua năm khác à?"

"Không dây dưa, chúng ta giải quyết dứt điểm bằng một lộ trình trả góp linh hoạt theo từng kỳ rõ ràng," An Trà dứt khoát nói. Nàng lật mặt sau của tờ giấy bản, cầm que than vạch ra ba cột số liệu rành mạch ngay trước tầm mắt của Trịnh Mộc. "Ba mươi sáu quan tiền gốc. Tiền lãi đơn ba phân mỗi tháng, tính trên số nợ gốc thực tế là đúng một quan không trăm tám mươi đồng. Tôi đề xuất chia toàn bộ số nợ này thành bốn đợt thanh toán đều đặn trong vòng bốn tháng liên tiếp tới đây. Mỗi tháng, tôi sẽ thanh toán dứt điểm cho thúc đúng mười quan tiền mặt, bao gồm cả nợ gốc và phần tiền lãi đơn tương ứng của kỳ đó."

Nghe đến con số mười quan mỗi tháng, Tống Diệp đứng phía sau giật thót mình. Nàng khẽ nghiêng người tới trước, toan cất lời can thiệp vì hiểu rõ sự phi lý của con số ấy đối với thu nhập của một nữ quan bậc thấp. Nhưng An Trà đã kín đáo đưa tay ra sau lưng, khẽ vẫy ngón tay ra hiệu cho Tống Diệp giữ bình tĩnh. Nàng nhìn thẳng vào Trịnh Mộc, tiếp tục phân tích:

"Để chứng minh thiện chí và giúp thúc có tiền xoay xở ngay trước mắt, đợt đầu tiên sẽ chia làm hai bước nhỏ: Đúng ngày mốt, tôi sẽ thanh toán trước cho thúc ba quan tiền mặt làm tiền bảo chứng kỳ một để thúc mang về trả trước tiền củi lửa cho người ta. Bảy quan còn lại của tháng thứ nhất, tôi cam kết thanh toán nốt sau đúng nửa tháng nữa, khi quầy hàng tự doanh của tôi đi vào vận hành và có dòng tiền thu về ổn định."

Trịnh Mộc hơi ngẩn ra, đưa bàn tay sần sùi lên gãi chòm râu lởm chởm dưới cằm: "Nửa tháng nữa? Cô lấy gì đảm bảo cô kiếm ra bảy quan tiền trong nửa tháng?"

"Mỗi lần đôi bên giao nhận tiền, chúng ta sẽ lập biên nhận thu tiền rõ ràng thành hai bản giống hệt nhau," An Trà chỉ tay vào các cột số liệu nàng vừa vẽ. "Trên biên nhận sẽ ghi đích xác số tiền giao nhận bằng chữ và bằng số, số nợ gốc còn lại sau khi trừ, ngày giờ cụ thể, có chữ ký và dấu điểm chỉ của cả tôi lẫn thúc. Thúc cầm tờ biên nhận có đóng dấu điểm chỉ này về xưởng, đưa ra cho cánh thợ lò và chủ củi xem. Họ nhìn thấy lộ trình trả nợ minh bạch, thấy dòng tiền mặt đổ về xưởng đều đặn từng kỳ, họ sẽ yên tâm tiếp tục làm việc mà không sợ xưởng vỡ nợ quỵt tiền. Đó chẳng phải là cách tốt nhất để ổn định lòng người hay sao?"

Trịnh Mộc cúi gập người xuống, dán chặt mắt vào những con số màu than đen nhánh trên nền giấy ố vàng. Từng con số, từng cột mục được phân chia rành mạch, cân đối đến kinh ngạc. Trong suốt mấy chục năm làm nghề, đi giao hàng cho không biết bao nhiêu ty viện, dinh thự, lão thợ gốm chỉ toàn gặp những lời hứa hươu vượn, những cái phẩy tay xua đuổi hay những ánh mắt khinh khỉnh của đám quan lại phụ trách ẩm thực. Chưa từng có một ai, nhất là một nữ quan trẻ tuổi, lại ngồi xuống đối thoại bình đẳng, giải thích cặn kẽ và vạch ra từng đường đi nước bước thực tế cho dòng tiền của xưởng gốm như nàng.

Cơn giận dữ nghẽn ứ trong ngực Trịnh Mộc như một quả bóng da bị châm kim, xẹp dần xuống. Bờ vai thô kệch của lão chùng hẳn lại. Lão thở dài một hơi sườn sượt, giọng chùng xuống thấy rõ:

"Nói thì nghe xuôi tai lắm... Nhưng nếu đến hẹn nửa tháng nữa mà cô không xoay ra bảy quan tiền để trả nốt kỳ đầu thì sao? Lời nói gió bay, lúc ấy ta biết bấu víu vào đâu?"

"Nếu tôi trễ hạn mà không có lý do bất khả kháng được đôi bên đồng thuận xác nhận bằng văn bản," An Trà cất giọng đanh thép, từng lời như đinh đóng vào cột, "thúc cứ việc cầm tờ khế ước gốc kèm theo biên nhận thanh toán dở dang này lên thẳng Ty Khảo Sổ. Tôi tự nguyện ký vào bản cam kết ủy quyền: Cho phép Ty Khảo Sổ phong tỏa toàn bộ bổng lộc hàng tháng cùng toàn bộ tiền trợ cấp xuất cung sau này của tôi để cấn trừ trực tiếp vào nợ của xưởng gốm Nam Thành cho đến đồng xu cuối cùng."

Một sự cam đoan đánh cược cả danh dự và đường lui chốn nội đình!

Trịnh Mộc im lặng nhìn An Trà hồi lâu. Đôi mắt già nua của lão chớp chớp, dường như đang đánh giá lại người con gái trước mặt. Sau một hồi đắn đo, lão thở hắt ra một tiếng, thò bàn tay chai sần vào đáy chiếc túi da bò, lục lọi một lúc rồi lôi ra một tập giấy gấp tư mép đã sờn rách, nát bấy vì bị mở ra gập vào không biết bao nhiêu lần.

"Được, ta tạm tin cô một lần này," Trịnh Mộc vừa nói vừa vuốt phẳng mép tờ giấy nhàu nát trên mặt bàn. "Nhưng cô phải hiểu cho ta, lão Trịnh này không phải phường vô cớ đến đây gây chuyện làm nhục thanh danh của cô. Ba tháng trước, chính tay ta đánh cỗ xe bò chở bốn mươi cái hũ sành muối dưa cùng sáu mươi bộ bát đĩa giao đến tận cổng Kho Bếp Đông này. Đây, biên nhận giao nhận hàng có chữ ký sống của người nhận ca hôm ấy ta vẫn giữ khư khư trong người, không thiếu một nét mực!"

An Trà đón lấy tờ giấy bản mỏng manh, bề mặt đã ngả sang màu vàng sậm vì mồ hôi tay của người thợ. Nàng mở toang tờ giấy ra, ánh mắt lướt nhanh qua từng dòng chữ viết vội bằng mực đen.

Nội dung biên nhận ghi rất rõ ràng: Ngày mười sáu tháng Hai, xưởng gốm Nam Thành của Trịnh Mộc đã bàn giao đủ bốn mươi hũ sành muối dưa loại một, sáu mươi bộ bát đĩa men xám; toàn bộ hàng hóa đã qua kiểm tra sơ bộ, đều nguyên vẹn, thành gốm dày dặn, không nứt vỡ, gõ kêu đanh; bên dưới có chữ ký nhận hàng rõ ràng của viên thủ kho trực ca nhật dụng.

Đúng lúc đó, An Trà với tay kéo cuốn sổ lưu trữ kho dầy cộp của Kho Bếp Đông mà nàng đã đem ra từ trước. Cuốn sổ bọc bìa cậy màu xanh đậm, bên trong ghi chép toàn bộ việc nhập xuất đồ sành sứ, nông cụ của kho bếp trong sáu tháng đầu năm. Nàng lật giở nhanh đến trang ghi chép trung tuần tháng Hai. Khi ngón tay trỏ của An Trà dừng lại ở dòng ghi chú về lô hàng gốm Nam Thành, ánh mắt nàng bỗng đanh lại, ngón tay khựng lại giữa không trung.

Tim nàng đập mạnh một tiếng "thịch" trong lồng ngực.

Trên trang sổ kho chính thức có đóng dấu đỏ của Kho Bếp Đông, nội dung ghi chép lại vẽ nên một bức tranh hoàn toàn trái ngược: Lô hàng nhập ngày mười sáu tháng Hai bị ghi chú là "có mười lăm chiếc hũ sành bị nứt đáy nghiêm trọng không thể sử dụng; hai mươi bộ bát đĩa vỡ vụn dọc đường vận chuyển do chất lượng xương gốm nung non lửa; tổng giá trị thiệt hại khấu trừ theo biên bản hao hụt lên đến gần mười quan tiền"!

Một sự sai lệch trắng trợn đến kinh người!

Biên nhận gốc của người giao hàng khẳng định toàn bộ đồ gốm nguyên vẹn khi qua cổng kho, có chữ ký của người nhận hàng. Thế nhưng khi vào đến sổ sách lưu trữ nội bộ của Kho Bếp Đông, số lượng bình sành và bát đĩa nguyên vẹn kia lại bị bốc hơi một cách thần kỳ, biến thành con số hư hỏng, vỡ vụn do "lỗi nhà sản xuất" để khấu trừ thiệt hại!

Chính vì khoản chênh lệch mười quan tiền hư hao vô căn cứ này mà Ty Khảo Sổ mới ra lệnh đóng băng toàn bộ khoản tiền hoàn ứng ba mươi sáu quan của xưởng gốm Nam Thành. Và cũng chính vì thế, Đỗ Kính mới có cớ đùn đẩy trách nhiệm, một mặt bảo với Trịnh Mộc là đồ gốm hỏng nên triều đình không chi tiền, mặt khác lại ép An Trà – người đứng tên ký bảo lãnh tiếp nhận hàng cho ca nấu mùa xuân – phải tự bỏ tiền túi ra đền bù phần thất thoát!

Một cái bẫy hoàn hảo vừa để nuốt trọn số đồ gốm nguyên vẹn đem bán ra ngoài chợ đen, vừa đổ sạch trách nhiệm bồi hoàn lên đầu một nữ quan thấp cổ bé họng!

"Trịnh đại thúc," An Trà ngẩng đầu lên, ánh mắt nàng lúc này sắc lạnh và ngưng đọng như băng tuyết đầu mùa đông, "tờ biên nhận giao hàng này, thúc hãy cất nó vào nơi sâu nhất, an toàn nhất trong chiếc túi da của thúc. Tuyệt đối không được để thất lạc, và đặc biệt, không được cho bất kỳ ai khác mượn xem hay sao chép lại, kể cả người của Đỗ quản kho hay bất kỳ cai dịch nào của bếp ăn."

Thấy vẻ mặt nghiêm trọng lạ thường của An Trà, Trịnh Mộc giật mình thảng thốt. Lão vội vàng chộp lấy tờ giấy, nhét tọt vào tận đáy túi da rồi kéo chặt dây buộc, lầm bầm hỏi:

"Cô nương... cô phát hiện ra điều gì mờ ám trong sổ sách sao?"

"Chuyện nội bộ của kho bếp, tôi sẽ có trách nhiệm tự mình điều tra làm sáng tỏ để giải tỏa khoản tiền hoàn ứng hợp pháp cho cả đôi bên," An Trà bình thản đáp, nhưng trong giọng nói ẩn chứa một uy lực ngầm khiến người khác không thể nghi ngờ. "Còn bây giờ, việc quan trọng nhất của chúng ta là ký vào bản phụ lục gia hạn nợ này."

Nàng nhanh chóng dùng que than thảo hai bản cam kết trả góp theo đúng những điều khoản giãn nợ vừa thống nhất. Dưới sự chứng kiến của Tống Diệp, Trịnh Mộc chấm ngón tay cái thô kệch vào hộp mực son đỏ au, ấn mạnh một dấu điểm chỉ đỏ thắm lên góc dưới của cả hai tờ giấy. An Trà cũng ký tên và điểm chỉ của mình bên cạnh.

Cầm bản phụ lục còn thơm mùi mực son, Trịnh Mộc đứng dậy. Chiếc túi da bò lại được cắp dưới nách, nhưng lần này bước chân của người thợ gốm quay ra cổng vòm đã bớt đi vẻ nặng nề, hằn học ban sáng, thay vào đó là sự giải tỏa của một người vừa tìm thấy một tia hy vọng sống giữa cơn bế tắc.

Bóng dáng vạm vỡ của Trịnh Mộc vừa khuất sau bức tường hoa râm bụt, Tống Diệp lập tức bước vội tới, kéo chiếc ghế đẩu ngồi thụp xuống đối diện An Trà. Gương mặt nàng tràn đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn lo lắng tột độ:

"An Trà! Muội... muội điên thật rồi sao? Tỷ thừa nhận muội ăn nói sắc sảo, tính toán đâu ra đấy, dẹp yên được cái miệng cộc cằn đòi chém đòi giết của lão Mộc. Nhưng muội lấy đâu ra mười quan tiền mỗi tháng? Lương của muội có một quan hai, trừ tiền ăn uống may mặc thì mỗi tháng dành dụm giỏi lắm được vài trăm đồng. Muội tính đi cướp kho bạc của Hộ bộ hay nửa đêm đi đào trộm vàng chôn dưới nền cấm thành chắc?"

An Trà khẽ thở dài một hơi dài, buông que than xuống bàn đá rồi đưa hai bàn tay lên xoa nhẹ hai bên thái dương vẫn còn hơi nhức buốt sau trận ốm. Nàng lôi từ trong dải thắt lưng ra chiếc túi vải thô bạc màu đựng toàn bộ tiền tiết kiệm của mình, dốc ngược xuống mặt bàn đá.

Những đồng tiền đồng xỉn màu rơi lanh canh trên nền đá lạnh. Hai quan tiền chẵn xếp thành hai cọc nhỏ, cùng bốn mươi đồng tiền lẻ nằm rải rác bên cạnh. Toàn bộ gia sản của nàng lúc này chỉ có vỏn vẹn hai quan không trăm bốn mươi đồng.

"Đúng là áp lực như ngàn cân đá đè lên ngực thật, Tống tỷ," An Trà tự trào, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mệt mỏi nhưng kiên nghị. "Nhưng ít nhất, chúng ta đã chặn đứng được việc lão ấy tính lãi mẹ đẻ lãi con, lại nắm được trong tay manh mối về tờ biên nhận giao hàng nguyên vẹn kia. Còn chuyện kiếm tiền... Tống tỷ, tỷ nghĩ xem, nếu bây giờ muội đi vay nóng bên ngoài một khoản chừng ba mươi quan để mở hẳn một phường buôn trà bánh lớn, lấy lãi đập vào nợ thì thế nào?"

"Muội câm ngay cái miệng lại cho tỷ!" Tống Diệp giật nảy mình, đưa tay đập một phát thật mạnh xuống mặt bàn đá đánh "chát", đôi mắt tròn xoe trừng trừng nhìn nàng đầy giận dữ: "Muội muốn chết sớm à? Vay nóng trong nội cung hay ngoài bến sông toàn là lũ ma cà rồng ăn thịt người không nhả xương! Lãi suất của chúng nó mười phân, mười lăm phân một tháng. Muội vừa vay hôm trước, hôm sau lãi đã đuổi sát gót. Quầy hàng của muội chưa kịp nổi lửa, chưa bán được chén nước nào thì cả người lẫn xương tủy của muội đã bị chúng nó nuốt trọn rồi! Khởi sự buôn bán bằng cách đi vay nợ nặng lãi là tự tròng dây thừng vào cổ mình mà thắt nút!"

Nhìn thấy phản ứng dữ dội của Tống Diệp, nụ cười trên môi An Trà bỗng trở nên ấm áp lạ thường. Nàng khẽ gật đầu, ánh mắt ngời sáng:

"Tỷ nói hoàn toàn đúng. Đó chính là quy tắc sống còn đầu tiên của muội: Khởi nghiệp tuyệt đối không khởi nợ! Không bao giờ được phép lấy một khoản nợ mới có lãi suất cao hơn, rủi ro lớn hơn để lấp liếm cho một khoản nợ cũ đang bế tắc. Càng thiếu vốn thì càng phải thắt lưng buộc bụng, liệu cơm gắp mắm, tận dụng từng mảnh tài nguyên nhỏ nhất mà mình có trong tay để sinh ra dòng tiền thực tế."

An Trà đứng dậy, bước ra rìa hiên đá, đưa tay chỉ về phía góc tường phía tây cách đó không xa.

Đó là góc Hiên Trà Sau Bếp, một khoảng không gian rộng chừng hơn mười thước vuông nằm nép mình dưới bóng một cây bàng cổ thụ. Nơi ấy quanh năm ẩm thấp, bị bỏ hoang phế từ lâu, chỉ dùng để chất đống mấy sọt củi mục, mấy chiếc kiềng sắt gãy chân và vài cái lu sành rạn nứt bị thải loại. Thế nhưng, trong mắt một người từng làm kinh doanh như An Trà, đó lại là một vị trí vô cùng đắc địa.

"Tống tỷ nhìn kỹ xem," An Trà nói, ngón tay vẽ một đường trong không gian. "Góc hiên hoang phế đó nằm ngay sát ngã ba lối đi chuyển ca của các đội tuần tra thị vệ, phu dịch gánh nước, tạp dịch dọn dẹp và cả nữ quan các ty viện sau giờ trực trưa. Tiết trời đã bắt đầu vào hè, nắng trưa Vân Kinh gay gắt như thiêu như đốt. Ai nấy đi qua con đường đó sau nhiều giờ lao động cật lực đều khát cháy cổ họng, người mệt lử vì mất nước. Muội sẽ dùng số vốn hai quan ít ỏi này, dọn sạch góc hiên đó để dựng một quầy thử nghiệm bán thức uống giải nhiệt mùa hè."

Tống Diệp chớp mắt, ngơ ngác nhìn theo hướng tay nàng chỉ: "Bán nước giải nhiệt? Nhưng trong cung này, mỗi ty viện, mỗi doanh trại thị vệ đều có tiêu chuẩn nước đun sôi để nguội do ty phòng cấp phát hàng ngày, ai dở hơi lại bỏ tiền túi ra mua nước của muội làm gì?"

"Nước lã đun sôi thì nhạt nhẽo vô vị, lại hay có mùi tanh nồng của đáy nồi đồng xua không hết; còn chè đắng của ngự trà phòng hay các quán trà ngoài phố thì chát ngắt, tính nhiệt, lại đắt đỏ đến cả chục đồng một ấm, kẻ lao dịch làm sao dám rớ vào?" An Trà tự tin phân tích, từng luận điểm đều sắc bén và thực tế. "Thứ muội làm sẽ là một loại nước uống hoàn toàn khác: Nước thanh mát, ngọt dịu nhẹ nhờ đường mía thứ phẩm nấu loãng với vỏ quýt khô, lại thả thêm những viên thạch dẻo dai mát lịm làm từ củ nhu rừng bản địa. Người uống vừa giải tỏa được cơn khát cháy họng, vừa có thạch nhai vui miệng, lại dằn được cơn đói lòng giữa buổi chuyển ca. Giá bán muội chỉ định lấy từ hai đến ba đồng một bát sành, một cái giá quá rẻ, chỉ bằng một góc tiền ăn quà vặt, hoàn toàn nằm trong khả năng chi trả hàng ngày của lính tuần và phu dịch."

Nàng quay lại nhìn Tống Diệp, ánh mắt lấp lánh sự tính toán chuẩn xác:

"Chỉ cần mỗi buổi trưa muội phục vụ được khoảng năm mươi đến sáu mươi bát nước, dòng tiền mặt thu về đều đặn mỗi ngày sẽ từ một trăm đến một trăm năm mươi đồng. Gom góp từng đồng tiền lẻ ấy, sau nửa tháng muội sẽ có đủ số tiền trả nốt kỳ đầu cho Trịnh Mộc, lại có thêm vốn lưu động để mua thêm nguyên liệu mở rộng quy mô. Tích tiểu thành đại, dòng tiền thực mới là thứ cứu sống chúng ta."

Tống Diệp nghe nàng phân tích từng li từng tí, từ tâm lý khách hàng, định giá sản phẩm cho đến dự toán dòng tiền xoay vòng, miệng bất giác há hốc ra vì kinh ngạc. Những khái niệm buôn bán này nghe lạ tai nhưng lại hợp tình hợp lý đến không thể bẻ gãy vào đâu được. Nàng bước tới, vỗ mạnh vào vai An Trà một cái:

"Khá khen cho cái đầu của muội! Nghe muội nói mà tỷ cũng thấy thèm một bát nước thạch giải nhiệt ngay lúc này rồi đấy. Nhưng An Trà này, muội tính toán giỏi đến mấy thì cũng phải bước qua một cửa ải sừng sững trước mặt đã: Đó là Phạm quản sự của Nội đình. Muội muốn đặt bếp nhóm lửa, bày bàn ghế ở Hiên Trà Sau Bếp thì buộc phải có sự phê chuẩn của bà ấy. Mà bà Phạm Tĩnh đó... muội biết rồi đấy, tính tình sắt đá, nguyên tắc khắc nghiệt đến phát sợ, ghét cay ghét đắng những kẻ tự tiện bày vẽ làm xáo trộn trật tự nội đình!"

An Trà mỉm cười, không hề tỏ ra nao núng: "Có nguyên tắc là tốt. Người làm quản lý có nguyên tắc thì mới nói chuyện bằng lý lẽ và con số được."

Không để lãng phí một khắc thời gian nào, An Trà ngồi lại xuống bàn đá. Nàng tận dụng nửa tờ giấy bản còn lại, dùng que than cẩn thận phác thảo một bản đề án thử nghiệm quầy trà một cách cực kỳ chi tiết và quy củ: Từ sơ đồ vị trí đặt bếp đất nung để không gây ám khói hành lang, giờ giấc nhóm lửa phục vụ (tuyệt đối chỉ từ đầu giờ Ngọ đến giữa giờ Mùi để không trùng giờ nấu nướng của bếp chính), đối tượng khách hàng mục tiêu, các biện pháp giữ gìn vệ sinh và phòng hỏa, cho đến bảng dự toán chi phí nguyên liệu và giá bán niêm yết công khai.

Sau khi thổi sạch lớp bụi than trên mặt giấy, nàng cẩn thận gấp đôi bản đề án lại, đứng dậy chỉnh trang lại vạt áo nữ quan cho ngay ngắn, rồi cùng Tống Diệp rảo bước đi thẳng sang sảnh phụ của Nội đình.

***

Sảnh phụ Nội đình nằm ở dãy nhà phía đông khu hành chính, tách biệt hẳn với sự ồn ào, dầu mỡ của Kho Bếp Đông. Nơi đây bài trí cực kỳ giản dị nhưng lại toát lên một vẻ ngăn nắp đến mức khắc nghiệt. Những hàng cột gỗ sơn then bóng loáng, không một vết xước. Trên các giá gỗ kê dọc tường, từng chồng sổ sách bọc vải xanh vải vàng được xếp thẳng tắp, vuông vức như những viên gạch nung. Trên mặt bàn làm việc bằng gỗ gụ lớn kê giữa phòng, ngoài nghiên mực đá đen nhánh, ống đựng bút lông bằng trúc và một chiếc chặn giấy bằng đồng thau hình con nghê thì tuyệt nhiên không có lấy một hạt bụi hay một mẩu giấy vụn thừa thãi.

Ngồi sau chiếc bàn ấy là Phạm Tĩnh. Người phụ nữ trung niên trạc ngoài bốn mươi tuổi, khoác bộ áo nữ quan chánh thất phẩm màu chàm viền đen thêu hoa văn mây chìm. Gương mặt bà vuông vức, đôi gò má xương xẩu cùng khóe môi mỏng mím chặt tạo nên một nét uy nghiêm, lạnh lùng cố hữu. Đôi mắt sắc như dao cau của bà đang chăm chú soi xét từng dòng số liệu trong cuốn sổ cấp phát vải vóc mùa hè cho các cung viện.

Nghe thấy tiếng bước chân dừng lại trước ngưỡng cửa, Phạm Tĩnh không ngẩng đầu lên ngay mà cẩn thận chấm một nét mực đỏ phê chuẩn vào trang sổ, sau đó mới từ từ gác bút lông lên giá đỡ bằng sứ. Đôi mắt sắc lạnh ngước lên, quét một lượt từ đầu đến chân An Trà:

"Nguyễn An Trà? Bổn quản sự nghe nói cô vừa trải qua một trận thương hàn thập tử nhất sinh, mới gượng dậy được vài ngày? Không ở lại phòng nghỉ ngơi cho lại sức, sang sảnh phụ này tìm ta có việc gì?"

Thanh âm của Phạm Tĩnh trầm, khô và đanh gọn, như hai viên sỏi va vào nhau giữa trời lạnh.

An Trà bước lên ba bước, dừng lại ở khoảng cách đúng quy củ, cúi đầu hành lễ rồi cung kính dâng bản phác thảo bằng cả hai tay:

"Bẩm Phạm quản sự, thân thể tiểu nữ đã hoàn toàn bình phục. Hôm nay tiểu nữ mạo muội sang yết kiến người là để đệ trình một bản phương án thử nghiệm: Xin phép người cho tiểu nữ được lập một điểm phục vụ thức uống giải nhiệt mùa hè cho thị vệ, phu dịch và nữ quan các ty viện tại góc Hiên Trà Sau Bếp, thời hạn thử nghiệm trong vòng một tháng."

Đôi mày lá liễu đã điểm vài sợi bạc của Phạm Tĩnh khẽ nhướng lên. Bà đón lấy tờ giấy bản thô sơ từ tay An Trà. Ánh mắt nghiêm nghị lướt qua những dòng chữ than ngay ngắn, mạch lạc. Từng mục trình bày từ khung giờ phục vụ ngắn gọn giữa trưa, đối tượng khách hàng cho đến mức giá bán chỉ từ hai đến ba đồng một bát gốm... Tất cả đều hiện lên với một trật tự tư duy rõ ràng, khác xa những lá đơn xin xỏ vụng về thường thấy.

Đứng bên dưới, An Trà nín thở chờ đợi. Nàng đã chuẩn bị sẵn trong đầu hàng loạt luận điểm vững chắc: Nào là giải quyết nhu cầu thanh nhiệt mùa hè cho hạ nhân lao dịch, nào là tăng cường thể lực tránh say nắng ngất xỉu giữa trưa hè, nào là cam kết không gây cản trở đường đi lối lại hay làm ảnh hưởng đến cảnh quan chung...

Thế nhưng, khi ánh mắt của Phạm Tĩnh lướt xuống gần cuối trang giấy, dừng lại ở mục "Chuẩn bị dụng cụ và nhóm lửa", đôi mày của bà bỗng nhiên giật mạnh một cái. Nếp nhăn giữa hai đầu chân mày hằn sâu lại, sắc mặt lập tức sa sầm xuống, phủ một lớp sương giá lạnh lẽo.

"Xoẹt!"

Không một lời báo trước, Phạm Tĩnh thẳng tay ném mạnh tờ giấy bản xuống mặt bàn gỗ gụ trước mặt An Trà. Tờ giấy bay là là rồi va vào nghiên mực đá, phát ra một tiếng đanh gọn đầy cự tuyệt.

"Vớ vẩn!"

Phạm Tĩnh cất giọng lạnh tanh, từng lời từng chữ thốt ra như gáo nước đá tạt thẳng vào sự kỳ vọng của An Trà:

"Bản kế hoạch của cô viết ra nghe thì hoa mỹ, văn phong gãy gọn, viện dẫn đủ thứ lý do vì sức khỏe của nhân sự nội đình... Nhưng nói cho cùng, toàn bộ những lời lẽ bùi tai này chẳng qua chỉ là trò lấp liếm tinh vi của một kẻ đang muốn trục lợi của công!"

An Trà giật mình, vội vàng chắp tay thưa: "Bẩm quản sự minh xét! Tiểu nữ xin thề toàn bộ tiền mua trà thô, đường mía hay củ nhu làm thạch đều là tiền túi riêng của tiểu nữ tích góp, tuyệt đối không dám tơ hào một hạt gạo, một lạng đường nào của kho bếp..."

"Cô không lấy trà, không lấy đường của kho lương, nhưng cái bếp lò cô nhóm lên nấu nước thì lấy nhiệt từ đâu? Bằng không khí chắc?"

Phạm Tĩnh đột ngột đứng phắt dậy, vạt áo chàm rung lên bần bật. Ngón tay trỏ gầy guộc nhưng cứng cáp của bà gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ, tiếng gõ dồn dập như tiếng trống trận:

"Hiên Trà Sau Bếp nằm trong khuôn viên quản lý của Nội đình. Cô bắc nồi đun nước sôi thì lấy than củi từ đâu ra? Chẳng phải là tiện tay rút từng thanh củi phi lao, từng gắp than hoa từ kho cấp phát nhiên liệu chung của nhà bếp hay sao? Nước cô dùng để nấu chè, cô múc từ đâu? Từ cái giếng công cộng của Kho Bếp Đông chứ đâu! Gáo múc nước bằng dừa, xô gánh nước bằng gỗ thông, đôi quang gánh, chiếc kiềng sắt... tất cả những thứ đó đều là tài sản do triều đình xuất tiền mua sắm và trang bị cho công việc chung của nội cung!"

Bà bước ra khỏi bàn làm việc, tiến lại gần An Trà, ánh mắt sắc như chim ưng nhìn thấu tâm can người khác. Trong ánh mắt ấy không hề có sự thù ghét hay trù dập cá nhân, mà là sự cảnh giác tột độ, sự cứng rắn của một người quản lý lâu năm đã chứng kiến quá nhiều trò gian lận, đục khoét chốn thâm cung:

"Cô đem củi của công ra đốt, múc nước của công ra nấu, dùng vật dụng của công để bày biện, rồi thu từng đồng tiền lẻ của đám thị vệ, phu dịch nhét vào túi riêng của mình để trả nợ cho xưởng gốm! Đấy không phải là lạm dụng của công, đục khoét tài sản triều đình để mưu lợi cá nhân thì gọi là cái gì?"

Phạm Tĩnh chỉ thẳng vào mặt An Trà, giọng đanh lại đầy răn đe:

"Cái đất Nội đình này, ta đã ở đây hơn hai mươi năm, ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu kẻ mượn danh nghĩa 'phục vụ việc chung', 'chăm lo cho người lao động' để rồi chấm mút từng bó củi, bớt xén từng đấu gạo, làm thất thoát không biết bao nhiêu tài sản của triều đình! Một kẻ làm kế toán sổ sách như cô, chưa làm rõ được cơ chế hạch toán độc lập, chưa phân định rạch ròi ranh giới giữa việc công và việc tư, mà đã vội vàng nôn nóng đòi mở quầy thu tiền lẻ!"

Bà quay lưng lại, phất mạnh tay áo xua đuổi, dập tắt mọi ý định biện bạch:

"Bổn quản sự không cần nghe bánh vẽ, trừ phi cô chứng minh được một gáo nước, một thanh củi đều có tiền trả sòng phẳng."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories