Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaCh.1 / 30
Chapter 1

Xuyên không, mở mắt đã gặp chủ nợ

Nguyễn An Trà choàng tỉnh giữa cơn đau nhức ê ẩm lan dọc hai bên thái dương, từng mạch máu nhỏ dưới da đầu giật thót từng hồi buốt buốt. Thứ đầu tiên ập vào các giác quan của nàng không phải là mùi tinh dầu cam ngọt quen thuộc trong căn hộ chung cư tầng mười hai, cũng chẳng phải tiếng còi xe máy ken đặc của giờ tan tầm nơi đô thị hiện đại. Đập vào khứu giác nàng là một mùi thảo dược ẩm mốc, nồng hắc hơi đất cùng mùi khói củi cháy dở vương vít trong những thớ vải thô nhám.

Ánh sáng ban mai lờ mờ xuyên qua khung cửa sổ dán giấy dầu đã ố vàng vì mưa nắng, hắt lên những vệt loang lổ mốc meo trên xà nhà thô mộc xám xịt. Nàng cố gượng trở mình, nhưng khắp các khớp xương từ bả vai xuống đến đầu gối đều rã rời, đau nhói như thể vừa bị người ta tháo rời từng bộ phận rồi gắn tạm bợ lại bằng những chiếc đinh gỉ. Lớp mồ hôi lạnh toát ra từ đêm qua dính bết vạt áo nâu nhạt vào mạn sườn, lạnh ngắt và nhớp nháp.

Cơn sốt dai dẳng dường như chỉ vừa mới hạ nhiệt sau những cơn co giật mê man. An Trà chậm rãi nâng bàn tay lên trước tầm mắt. Đây không phải bàn tay của nàng. Những ngón tay thanh mảnh gõ phím mười tiếng mỗi ngày của một quản lý chuỗi đồ uống thế kỷ hai mươi mốt đã biến mất; thay vào đó là đôi bàn tay gầy guộc, đầu ngón tay đầy những vết chai sần thô ráp vì khuân vác nong nia, kẽ móng tay còn hằn vệt xước nông đã đóng vảy khô.

Những mảnh ký ức vụn vỡ bất ngờ tràn về tâm thức nàng như một dòng nước lũ phá vỡ bờ đê, chen chúc, xô đẩy và chắp vá như một tập hồ sơ kế toán bị xé rách rồi dán vội bằng hồ nếp.

Thân thể này quả thực cũng mang tên Nguyễn An Trà, năm nay vừa tròn hai mươi sáu tuổi, giữ chức nữ quan coi kho bậc thấp thuộc quyền quản hạt của Kho Bếp Đông triều Đại Ninh. Nàng không phải tiểu thư đài các ngậm thìa vàng chịu cảnh gia tộc lụi tàn rồi mang hàm oan vào cung, càng chẳng phải tú nữ tuyệt sắc giai nhân lọt vào mắt xanh của bậc đế vương quyền quý; nàng chỉ là một người làm công ăn lương đúng nghĩa giữa chốn hoàng thành thâm nghiêm đầy rẫy quy củ này. Sáng sớm nghe tiếng chuông boong boong thì vác thẻ bài đi chấm công, mở khóa kiểm tra kho gạo, kho mắm, chiều muộn lại cầm phấn đá rà soát từng chiếc nong nia, ky hốt rác, chổi quét sân nộp về sau ca nấu. Trận ốm vừa rồi thực chất là một cơn sốt thương hàn thập tử nhất sinh, hành hạ nàng suốt bốn ngày bốn đêm trong gian phòng chung chật hẹp, lấy đi hơi thở tàn tạ cuối cùng của người cũ để nàng — một linh hồn kiệt sức vì chạy chỉ tiêu doanh số ở một thế giới khác — rơi thẳng vào tiếp quản.

Không có tiếng chuông cơ khí thánh thót vang lên bên tai. Không có thanh đo điểm kinh nghiệm, chẳng có bảng giao diện nhiệm vụ phát sáng màu xanh lơ giữa hư không, và tuyệt nhiên không có bất kỳ giọng nói máy móc nào chúc mừng người chơi xuyên không.

Hiện thực trần trụi chỉ có cơn váng đầu như búa bổ và một mốc thời gian lạnh lùng khắc sâu trong tiềm thức: nhiệm kỳ của nàng tại Kho Bếp Đông chỉ còn đúng tám tháng nữa là tròn hạn xuất cung.

Tám tháng. Một khoảng thời gian không dài cũng chẳng quá ngắn, tựa như đợt thử thách cuối cùng trước khi một nhân viên kỳ cựu được nhận quyết định thôi việc trong danh dự, gom góp hành lý bước qua cánh cửa thành đỏ thẫm để tìm về cuộc sống tự do ngoài phố thị, mua vài mẫu ruộng hoặc mở một tiệm nước nhỏ tự nuôi sống bản thân.

Thế nhưng, cảm giác nhẹ nhõm ngắn ngủi vừa mới nhen nhóm lập tức bị xé toạc bởi một chuỗi âm thanh chói tai vọng vào từ ngoài sân gạch.

"Rầm!"

Tiếng đập bàn cộc cằn kèm theo tiếng khua lách cách của đồ gốm thô nện mạnh xuống nền đá hoa cương cũ kỹ khiến An Trà giật nảy mình, tim đập thình thịch trong lồng ngực gầy guộc.

"Bảo nàng ta ra đây! Đừng có viện cớ ốm đau sốt rét mà giở trò trốn tránh! Khế ước trắng mực đen rành rành ra đó, hôm nay không đưa được tiền bạc phân minh thì Trịnh Mộc ta không rời khỏi cái sân này đâu!"

Giọng một người đàn ông trung niên khàn đặc, thô ráp, nồng nặc mùi đất sét nung, khói lò và tro trấu gầm lên như sấm rền giữa khoảng sân vắng.

An Trà cắn chặt môi, chống hai khuỷu tay xuống dát giường tre kẽo kẹt để ngồi thẳng dậy. Đầu óc nàng ong lên từng chặp khi một mảnh ký ức tiếp theo tự động kích hoạt, khớp chuẩn xác với cái tên vừa vang lên ngoài cửa sổ. Trịnh Mộc — chủ một xưởng gốm có tiếng ở khu vực chợ Nam Thành ngoài cửa đông kinh thành. Ba tháng trước, tổ bếp trong lúc dọn rửa ca chiều đã sơ suất làm đổ sập giàn kệ, vỡ nát một lô lớn hũ sành muối dưa cùng hàng chục chồng bát đĩa dùng cho người làm công ăn cơm hằng ngày. Muốn kịp giờ phục vụ bữa tối mà không bị quản sự phạt đòn vì thiếu hụt đồ dùng, tổ bếp phải chạy vạy mua chịu khẩn cấp của xưởng Trịnh Mộc để trám vào chỗ trống. Khoản tiền hoàn ứng từ ngân khố Nội đình vốn dĩ theo lệ thường phải rót xuống sau đó một tuần, nhưng vì lý do nào đó đã bị đình trệ, kẹt cứng ở khâu xét duyệt của tầng tầng lớp lớp nha môn. Và người đã ngây thơ đứng tên bảo lãnh trên bản khế ước giao hàng ấy không ai khác chính là nữ quan giữ kho Nguyễn An Trà.

Con số hiện lên rõ mồn một trong tâm thức nàng như một bản báo cáo nợ quá hạn nhảy màu đỏ chót: ba mươi sáu quan tiền.

"Trịnh thúc, ông bớt lời đi một chút! Đây là khu nội viện của nữ quan Kho Bếp Đông, không phải sạp hàng xén giữa chợ Nam Thành mà ông muốn gõ bàn đập ghế lúc nào cũng được!"

Một giọng nữ đanh gọn, dõng dạc vang lên từ bậc thềm ngoài cửa, chặn đứng cơn thịnh nộ của người thợ gốm. An Trà lập tức nhận ra giọng điệu quen thuộc ấy — Tống Diệp, nữ quan phụ trách ca ba mươi bốn tuổi, người nổi tiếng thực tế, miệng lưỡi sắc sảo nhưng luôn đứng mũi chịu sào bảo bọc đám đàn em trong tổ bếp.

"Tống cô nương, không phải ta muốn làm khó các cô!" Tiếng Trịnh Mộc hạ bớt tông giọng nhưng sự sốt ruột và gay gắt vẫn không hề giảm bớt. "Nhưng các cô nghĩ xem, ba mươi sáu quan tiền hũ sành bát đĩa chứ có phải ba mươi sáu đồng xu rỉ đâu! Xưởng của ta chỉ là xưởng nhỏ, tiền củi đun lò, tiền công thợ nặn đang réo từng ngày từng giờ. Mấy tay lái buôn lớn của Liên hiệu Vạn Phúc thì cấu kết ép giá đất sét, thợ thuyền thì đình công đòi ăn cơm. Ta tin các cô là người làm trong cung đàng hoàng mới cho nhận đồ trước không cần đặt cọc, ai ngờ hẹn năm lần bảy lượt cứ khất mãi! Hôm nay ta nghe người ta đồn cái người đứng tên bảo lãnh lăn ra ốm sắp chết, nhỡ nàng ta buông tay nhắm mắt xuôi tay thì ta biết vác cái khế ước này đi gõ cửa nhà nào đòi nợ?"

"Nàng ấy chưa chết! Vừa dứt cơn sốt sáng nay thôi!" Tống Diệp cất giọng răn đe, tiếng đế giày vải dẫm mạnh trên đá dăm kiên quyết chặn đứng lối vào dãy hành lang phía đông. "Ông xông vào buồng nữ quan lúc người ta đang bệnh thập tử nhất sinh, nếu quản sự đi tuần phạt tội quấy nhiễu trật tự nội đình thì một đồng ông cũng đừng hòng vác về chợ Nam Thành. Đứng yên đó cho ta!"

Tiếng then cài cửa phòng khẽ lay động, rồi cánh cửa gỗ phát ra tiếng kẽo kẹt quen thuộc. Tống Diệp bước nhanh vào trong, khép vội cánh cửa lại sau lưng. Tà áo dài màu chàm sẫm của nàng còn vương chút bụi than củi và mùi gừng ấm từ khu bếp lớn. Nhìn thấy An Trà đã gượng ngồi dậy trên mép giường, ánh mắt nghiêm nghị đầy cảnh giác của Tống Diệp dịu lại đôi chút, nhưng khóe mày vẫn cau chặt lại thành một nếp gấp sâu hoắm.

"Tỉnh rồi à? Nhận ra ta không đấy?" Tống Diệp bước tới mép giường, đưa mu bàn tay thô ráp áp lên trán nàng kiểm tra. Cảm nhận được hơi nóng rực đã lui bớt, chỉ còn lại lớp mồ hôi mỏng, nàng mới thở hắt ra một hơi dài sườn sượt. "Trời đất còn thương, chưa đến mức cháy thành tro than. Nhưng ngoài sân kia thì đang sắp cháy thật rồi đấy."

"Tống tỷ..." An Trà khẽ gọi, cổ họng khô khốc như có nắm cát vụn cọ xát vào thành thực quản. Nàng cố gắng điều chỉnh âm lượng và tông giọng sao cho thật tự nhiên, giấu kín sự bàng hoàng của một kẻ vừa mượn xác tái sinh. "Muội nghe thấy tiếng Trịnh thúc ngoài sân rồi."

"Nghe thấy là tốt, chứng tỏ tai chưa bị sốt làm cho điếc đặc." Tống Diệp cười nhạt một tiếng, nét mặt khô khốc mệt mỏi nhưng bàn tay với lấy chiếc áo khoác bông chần cũ kỹ trên mắc áo choàng lên vai cho nàng thì lại vô cùng cẩn thận, ém chặt mép áo quanh cổ để chắn gió lùa. "Khoản tiền hoàn ứng từ Ty Khảo Sổ vẫn bị nghẽn lại ở cửa nha môn, lão quản kho Đỗ Kính thì cứ lảng vảng đẩy trách nhiệm sang ca nấu, bảo rằng chứng từ kê khai số bát đĩa vỡ của tổ bếp có chỗ mờ ám nên ngân khố Nội đình không chịu xuất bạc. Trịnh Mộc bị bạn hàng đòi nợ rát quá nên đánh liều mò vào tận đây làm ầm ĩ. Mau lục hòm đồ lấy bản khế ước ra xem lại cho kỹ, chúng ta phải nói chuyện rành mạch với lão, không thể để lão đứng ngoài sân lu loa làm càn, kinh động đến quan trên thì cả tổ bếp ăn roi."

Hai người cùng tiến lại góc phòng, nơi đặt chiếc hòm gỗ mun đã sứt một góc của An Trà. Chiếc khóa đồng rỉ sét lách cách mở ra sau ba lần vặn chốt vụng về. Dưới đáy hòm, nằm lẫn giữa vài ba cuộn chỉ thêu dang dở, đôi hài vải cũ và vài mảnh vải vụn, là một tờ giấy tuyên phong đã ngả màu ố vàng, phủ một lớp bụi mỏng tang.

An Trà cầm tờ khế ước lên, cẩn thận trải ra trên mặt bàn con. Từng dòng chữ viết bằng mực nho đen nhánh hiện rõ mồn một: tổ bếp nhận chịu bốn mươi chiếc hũ sành muối dưa loại lớn, sáu mươi bộ bát đĩa gốm mộc tráng men xám; tổng trị giá ba mươi sáu quan tiền; thời hạn hoàn trả trong vòng hai tháng; người bảo lãnh cá nhân chịu trách nhiệm đôn đốc hoặc khấu trừ nếu ngân sách chậm trễ: Nguyễn An Trà. Dưới cùng là dấu vân tay đỏ chót của nguyên chủ cùng con dấu của xưởng gốm Trịnh Mộc.

Bên cạnh bản khế ước là một thẻ gỗ nhỏ mạ sơn đỏ đã tróc gần hết góc mép — chiếc thẻ ghi nhận mức bổng lộc hằng tháng của một nữ quan coi kho bậc thấp.

An Trà nhìn chăm chú vào con số khắc chìm trên thớ gỗ: mỗi tháng một quan hai trăm đồng tiền đồng, cộng thêm định mức gạo, muối và dầu thắp theo mùa. Nàng nhẩm nhanh một phép tính đơn giản trong đầu rồi bất giác rùng mình ớn lạnh.

Ba mươi sáu quan tiền!

Với mức lương còm cõi này, nếu nàng nhịn ăn, nhịn uống, không chi tiêu lấy một đồng một cắc nào suốt bốn mùa, thì phải mất ròng rã hai năm rưỡi mới trả hết nợ. Trong khi đó, nhiệm kỳ của nàng tại Kho Bếp Đông chỉ còn vẻn vẹn tám tháng nữa là hết hạn!

Nếu không giải quyết dứt điểm món nợ bảo lãnh này, đến kỳ mãn hạn, Nội đình sẽ căn cứ vào khế ước có chữ ký và điểm chỉ mà giữ lại toàn bộ giấy tờ tùy thân, tước quyền nhận tiền trợ cấp hồi hương, biến nàng thành người lao động cưỡng bức vô thời hạn để cấn trừ nợ nần cho xưởng gốm.

Khởi nghiệp làm giàu chưa thấy đâu mà đã mở màn bằng cảnh nợ nần ngập đầu ngập cổ — An Trà thầm cay đắng tự trào trong lòng, ngón tay bất giác miết mạnh lên mép tờ giấy tuyên phong giòn rụm.

Đúng lúc ấy, tấm rèm vải thưa ngoài cửa khẽ lay động, phát ra tiếng sột soạt nhẹ. Một thiếu nữ trạc hai mươi bốn tuổi, dáng người gầy guộc nhỏ nhắn, bưng một chậu đồng đựng nước ấm bước vào với vẻ mặt rụt rè, thấp thỏm. Đó là Vũ Mai, nữ quan giữ sổ ca của Kho Bếp Đông, người thường ngày vẫn cùng An Trà chia nhau kiểm đếm rau dưa mỗi sớm. Nhìn thấy An Trà đã tỉnh táo ngồi ngay ngắn bên bàn gỗ, đôi mắt tròn xoe của cô gái nhỏ chợt ánh lên tia mừng rỡ xen lẫn bối rối tột cùng.

"An Trà tỷ! Tỷ tỉnh thật rồi!" Vũ Mai vội vã đặt chậu nước lên chiếc đôn gỗ con bên vách, lúng túng rút chiếc khăn vải mềm đã giặt sạch vắt khô rồi đưa sang cho nàng. "May quá, trời phật phù hộ... Sáng nay lúc muội qua phòng lấy sổ nhận rau cải, thấy tỷ nằm mê man thở hắt ra từng cơn, người nóng như hòn than, muội sợ đến mức suýt thì phát khóc chạy đi tìm y quan..."

"Cảm ơn muội, ta không sao nữa rồi, chỉ hơi váng đầu một chút thôi." An Trà đón lấy chiếc khăn ấm áp lên hai bên má. Hơi nước nóng ẩm cùng mùi vải sạch giúp các dây thần kinh đang căng như dây đàn nơi thái dương nàng giãn ra đôi phần. Nàng chậm rãi lau mặt, lau bàn tay thô ráp, cố gắng để từng cử chỉ của mình toát lên vẻ điềm tĩnh thường ngày.

Vũ Mai đứng dịch sang một bên, nhìn bản khế ước nằm chình ình trên bàn rồi lại lén liếc mắt nhìn ra khoảng sân ngoài cửa sổ — nơi vẫn đang vọng vào tiếng bước chân đi đi lại lại đầy bực dọc và tiếng thở phì phò của Trịnh Mộc. Nàng cắn môi dưới, ngập ngừng một thoáng như muốn nói lại thôi, cuối cùng không nhịn được bèn bước lại gần, hạ thấp giọng thì thào:

"Tỷ ơi... ngoài chuyện Trịnh thúc vác khế ước đến đòi nợ rát mặt ra, bên mấy phòng nữ quan thuộc Ty Châm Khâu với Thượng Trà Thư viện đang xì xào nhiều chuyện khó nghe lắm."

Tống Diệp đang xếp lại mép chiếc áo khoác bông lập tức ngẩng đầu lên, mày liễu dựng ngược, nghiêm giọng hỏi: "Lũ rỗi việc ấy lại bới móc chuyện quái quỷ gì nữa? Cơm kho bếp nấu cho chúng nó ăn chưa đủ no hay sao mà thừa hơi lắm chuyện?"

Vũ Mai dáo dác nhìn quanh gian phòng vắng vẻ như sợ có ai đó đang nấp sau khe cửa nghe lén, rồi lí nhí bộc bạch: "Họ đồn ầm lên khắp mấy dãy hành lang phía tây rằng... trước hôm tỷ phát sốt mê man, có người tận mắt thấy An Trà tỷ lén lút đứng ở Cửa Tây Dịch, hỏi thăm thư lại coi cổng về lối đi tắt và giờ giấc lính gác đổi ca ở điện Ngọc Chiếu. Họ bảo tỷ... tỷ muốn tìm cửa luồn lách tiếp cận chủ nhân điện Ngọc Chiếu để cầu ân sủng, mượn cớ dâng món điểm tâm lạ miệng để tranh sủng đổi đời, ai ngờ chưa kịp diện kiến người ta thì đã lăn đùng ra ốm thập tử nhất sinh vì sợ tội..."

An Trà đang cầm góc khăn lau dọc mu bàn tay chợt khựng lại. Nàng chớp mắt, trong đáy mắt thoáng hiện vẻ hoang mang tột độ như vừa nghe thấy một câu chuyện tiếu lâm hoang đường nhất trần đời.

Tranh sủng?

Nàng lục lọi ráo riết trong những tầng ký ức còn sót lại của nguyên chủ vài ngày trước. Đúng là ba ngày trước khi ngã bệnh, thân thể này quả thực có chạy sang Cửa Tây Dịch tìm gặp một thư lại quen biết tên là Lê Thuận để hỏi han về cung đường dẫn tới điện Ngọc Chiếu. Nhưng nguyên do thực tế là gì? Là vì đợt giao nhận củ cải, hành hoa và gia vị ca sáng chuyển sang khu vực đó thường xuyên bị trễ nải cả nửa canh giờ! Đoạn đường chính dẫn qua hồ Thái Dịch đang bị mấy cỗ xe ngựa chở đá xanh và vôi vữa tu sửa tường thành chắn ngang lối, khiến xe đẩy thức ăn của tổ bếp không tài nào lách qua nổi. Nguyên chủ chỉ đơn thuần muốn hỏi thăm xem có con đường ngách nào thông thoáng hơn, vắng người qua lại để đẩy xe củ cải đến đúng giờ, tránh cho cả tổ bếp bị trừ điểm chuyên cần và phạt tiền cuối tháng!

Thế mà qua miệng lưỡi của những kẻ rảnh rỗi quanh năm chỉ biết săm soi chuyện thị phi trong cung, một câu hỏi nghiệp vụ hậu cần khô khan, sặc mùi hành tỏi củ cải lại bị thổi phồng thành một âm mưu "tranh sủng" ly kỳ! Biến một nữ quan giữ kho mặt mày lấm lem bụi trấu, áo quần ám mùi củi lửa thành một kẻ ôm mộng trèo cao, rắp tâm bước chân vào chốn hậu đình đầy rẫy mưu mô tranh đoạt!

"Ảo ma thật sự..." An Trà buột miệng lẩm bẩm một câu bằng thứ ngôn ngữ đời thường quen thuộc của thế kỷ hai mươi mốt.

"Tỷ bảo sao cơ?" Vũ Mai ngơ ngác chớp chớp mắt, hoàn toàn không hiểu bốn chữ kỳ lạ ấy có nghĩa là gì.

"Không có gì." An Trà lắc đầu, cố nén một tiếng thở dài ngao ngán đến tận mang tai. Nàng ngước nhìn Tống Diệp, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười chua chát: "Tống tỷ, tỷ nhìn mặt muội xem. Bộ dạng gầy trơ xương, mặt mũi xám ngoét như tàu lá chuối này mà cũng đòi đi tranh sủng được sao? Cơm ăn ca trưa còn phải chia nhau từng cọng dưa chua, nợ nần thì treo lơ lửng trên đầu ba mươi sáu quan tiền, lấy cái gì ra mà tranh với sủng chứ?"

Tống Diệp nghe vậy thì bật cười khì một tiếng, nét mặt căng thẳng dịu đi thấy rõ: "Ta còn lạ gì cái tính cắm đầu cắm cổ làm việc của cô. Nếu cô mà có cái lá gan cùng tâm cơ đi tranh sủng mượn gió bẻ măng, thì đã chẳng cắm rễ ở cái xó kho bếp ẩm mốc nhem nhuốc này suốt mấy năm trời, để cho lão Đỗ Kính đùn đẩy cái bản khế ước chết tiệt kia vào tay. Mấy con ả rỗi việc ở Ty Châm Khâu thêu thùa đến lác cả mắt nên đầu óc toàn tơ tưởng chuyện trên mây trên gió. Miệng lưỡi thế gian rỗi hơi, cô bận tâm làm gì cho hao tổn tâm thần. Việc sống còn trước mắt là cái đuôi nợ đang đòi dỡ nhà ngoài sân kìa."

Tống Diệp xua tay bảo Vũ Mai lui ra ngoài sân canh chừng và nấu thêm một ấm nước gừng nóng. Khi cánh cửa gỗ khép lại, gian phòng chỉ còn lại hai người, An Trà mới hít sâu một hơi, thò tay vào sâu trong gầm chiếc đôn gỗ dưới chân giường, lôi ra một chiếc túi vải thô nhỏ buộc dây gai giấu kín dưới lớp chiếu cói.

Nàng dốc toàn bộ những gì bên trong chiếc túi ra mặt bàn gỗ thô.

"Lách cách. Leng keng."

Vài đồng tiền đồng chạm vào nhau trơ trọi giữa khoảng trống trải của mặt bàn. An Trà dùng đầu ngón tay gạt từng đồng, đếm đi đếm lại ba lần không sót một xu: đúng hai quan tiền chẵn và bốn mươi đồng lẻ.

Đây là toàn bộ số tiền mồ hôi nước mắt mà nguyên chủ đã tích cóp, chắt bóp từng bữa ăn sáng, nhịn mua từng thỏi son, từng mảnh vải may áo mới suốt bao nhiêu năm làm lụng vất vả nơi chốn hoàng thành, để dành làm lộ phí xuất cung hồi hương. Giờ đây, đem hai quan lẻ này đặt bên cạnh con số ba mươi sáu quan nợ gốc trên tờ khế ước, trông chẳng khác nào một gáo nước lã đổ vào lò lửa đang ngùn ngụt cháy.

An Trà ngồi thẳng lưng, ánh mắt dần lấy lại sự sắc bén, lạnh lùng và chuẩn xác vốn có của một người từng lăn lộn quản lý vận hành, đối mặt với hàng tá khủng hoảng chuỗi cung ứng ở thời hiện đại.

Nàng không có hệ thống phù trợ để ban phát ngân lượng từ trên trời rơi xuống. Nàng không có hào quang nữ chính vạn người mê để khiến các bậc vương tôn công tử vừa nhìn đã muốn vung tiền cứu mỹ nhân. Và quan trọng hơn cả, thân thể này tuyệt đối không có bất kỳ tư cách, bối cảnh hay tham vọng điên rồ nào để dấn thân vào cuộc chiến tranh sủng đẫm máu nơi thâm cung nội viện. Nữ quan triều Đại Ninh thực chất chính là những người lao động tự do làm công ăn lương, bán sức lực và tuổi trẻ để đổi lấy tiền tài và sự bảo đảm khi về già. Tranh sủng dựa vào nhan sắc tàn phai theo năm tháng hay sự đoái hoài thất thường của kẻ nắm quyền lực tối thượng là một canh bạc có tỷ lệ rủi ro một mất mười còn, một nước cờ ngây thơ và nguy hiểm chỉ tồn tại trong những trang tiểu thuyết diễm tình viển vông.

Con đường sống duy nhất, bền vững và an toàn nhất để nàng có thể ngẩng cao đầu bước ra khỏi hoàng cung trước khi tám tháng nhiệm kỳ khép lại, chính là đối soát lại từng dòng sổ sách kế toán, lôi khoản tiền hoàn ứng đang bị tắc nghẽn ở Ty Khảo Sổ ra ánh sáng, và quan trọng hơn cả: tìm cách tạo ra dòng tiền chân chính để bù đắp vào lỗ hổng này.

Khởi nghiệp để sinh tồn, giải quyết triệt để cục diện nợ nần, chứ tuyệt đối không thể để bản thân bị dìm chết trong vòng xoáy bù nhìn của kẻ khác.

"Nguyễn An Trà!"

Tiếng Trịnh Mộc ngoài sân lại gầm lên, lần này sự kiên nhẫn của người thợ gốm rõ ràng đã cạn kiệt hoàn toàn. Tiếng bước chân nặng nề nện thẳng từng bước thình thịch lên bậc tam cấp, bóng người to lớn in hằn lên khung cửa sổ dán giấy dầu.

"Ta nể tình Tống cô nương nên đã cho các người nửa tuần trà để bàn tính! Rốt cuộc các người tính toán thế nào? Có tiền trả ngay cho ta mua củi giữ lò không? Hay là định đóng cửa trốn tiệt trong đó?"

Tống Diệp nhíu chặt mày, ánh mắt lóe lên tia giận dữ, toan đứng phắt dậy bước ra ngoài chắn cửa lần nữa. Nhưng nàng vừa mới cất bước thì một bàn tay thon gầy đã nhẹ nhàng mà kiên quyết giữ lấy vạt áo chàm của nàng lại.

"Tống tỷ, để muội."

Giọng An Trà cất lên, bình thản lạ lùng.

Nàng hít một hơi thật sâu, nén lại cơn đau nhức vẫn đang âm ỉ nơi thái dương, đưa tay chỉnh lại cổ áo thô ngay ngắn, vuốt phẳng những nếp nhăn trên tà áo nâu rồi tự mình đứng dậy. Đôi chân nàng còn hơi lảo đảo vì dư âm của cơn sốt thương hàn, nhưng ánh mắt nhìn về phía khung cửa gỗ thì phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng. Nàng bước từng bước vững vàng, đưa tay kéo chốt then cài, đẩy cánh cửa gỗ bước ra ngoài thềm hiên ngập nắng sớm.

Gió sớm thổi qua khoảng sân rộng, mang theo mùi ngai ngái của đất ẩm và lá cây rụng.

Trịnh Mộc đang đứng hầm hầm giữa sân, hai tay chống nạnh, ống quần thô xắn cao để lộ bắp chân cuồn cuộn vương đầy bụi đất sét. Nhìn thấy An Trà bước ra, người gầy rộc đi, sắc mặt trắng bệch không còn một giọt máu nhưng sống lưng thẳng tắp, thần thái phẳng lặng không hề có chút vẻ gì là lúng túng, chột dạ hay muốn quỳ lạy van xin, người thợ gốm bất giác ngẩn ra một thoáng. Cơn thịnh nộ đang bốc hừng hực trong lồng ngực lão bỗng chốc khựng lại nửa nhịp trước ánh nhìn bình tĩnh đến kỳ lạ của một thiếu nữ vừa thoát khỏi tay thần chết.

Nhưng rồi, thực tế khắc nghiệt về món nợ mua bán lập tức kéo người thợ già trở về với vẻ dữ dằn vốn có. Lão siết chặt bàn tay thô ráp đầy vết nứt nẻ, chỉ thẳng ngón tay chai sần về phía nàng:

"Được, cô còn đứng vững được trên hai chân là tốt! Ta không cần nghe các cô phân trần lý do lý trấu gì hết, cung đình sâu như biển, quy củ của các cô ta không hiểu và cũng không muốn hiểu! Ta hẹn cô đúng ba ngày nữa! Ba ngày sau, nếu không có đợt thanh toán đầu tiên ít nhất là mười quan tiền mặt, ta sẽ vác nguyên bản khế ước này trình lên công đường Vân Kinh và Ty Khảo Sổ, yêu cầu niêm phong sổ lương, khấu trừ toàn bộ tiền công lẫn trợ cấp xuất cung của cô cho đến đồng cuối cùng!"

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories