Biển Sâu Không Biết ĐùaCh.9 / 30
Chapter 9

Thư viện hỏi nguồn thứ hai

Các buồng đá cộng hưởng của Thư Viện Tiếng Vang chìm trong thứ âm thanh rì rầm bất tận, nơi từng phiến khoáng lưu trữ lịch sử ngân vang theo dải tần số chuyên biệt của chính nó. Khi áp suất bên ngoài thành lũy bazan kiên cố vẫn duy trì ở mức bốn trăm át-mốt-phe—sức nặng khổng lồ của bốn nghìn mét nước biển đè nặng lên từng xen-ti-mét vuông kim loại—thì không gian bên trong cấu trúc vòm rỗng này lại mang đến một cảm giác tĩnh mịch khác thường. Đó tuyệt nhiên không phải sự vắng lặng vô trùng của hư không, mà là sự dồn nén nghẹt thở của hàng triệu dao động vi mô liên tục trượt qua các phiến thạch anh, đá bọt núi lửa và pyrit kết tủa. Mỗi luồng đối lưu vi mô, mỗi xung chấn nhiệt từ các mạch phun ngầm sâu dưới đáy móng đều được các vách đá giữ lại, chuyển hóa thành những rung chấn cơ học cực nhỏ râm ran khắp các ngách hang.

Hải An đưa tay điều chỉnh chốt giảm chấn trên khớp vai của bộ giáp lặn áp lực cao thế hệ bốn. Kim loại titan phát ra tiếng lách cách kim khí khô khốc, được micro thu âm truyền dẫn qua xương dội thẳng vào tai cô. Hệ thống trợ lực thủy lực rên rẽ một tiếng ngắn khi cô hạ thấp trọng tâm, giữ cho đế giày bọc chì bám vững trên nền đá phủ đầy một lớp bụi khoáng trơn trượt. Bộ đàm nội bộ gắn trong mũ giáp khẽ rè rè, truyền đến tiếng thở đều đặn nhưng có phần gấp gáp của Tường Vy bên cạnh. Cách họ chừng vài sải nước, Bát Nhịp đang uốn lượn tám xúc tu với vẻ cẩn trọng hiếm thấy. Những mảng sắc tố màu cam vui nhộn, tinh nghịch thường ngày trên lớp biểu bì của anh lúc này đã hoàn toàn biến mất; thay vào đó, toàn thân anh thu lại thành những vệt nâu xám trầm mặc, các nốt sần co thắt liên tục theo nhịp điệu nghi lễ, biểu thị sự tôn kính và phục tùng tối đa trước chốn tôn nghiêm của Những Người Giữ Vang.

Từ khoảng tối hun hút giữa hai trụ đá barit khổng lồ rủ xuống như nhũ thạch ngầm ngàn năm, một bóng dáng uy nghiêm trôi chậm rãi ra lòng gian phòng. Đó là Trầm Vang. Vị học giả bạch tuộc cao tuổi sở hữu thân hình đồ sộ mang màu xám tro pha vệt rêu sẫm của đá phong hóa. Đôi mắt lớn màu hổ phách sâu thẳm của ông dường như không chớp, phản chiếu từng tia sáng lân tinh yếu ớt phát ra từ rãnh khoáng tự nhiên chạy dọc sàn hang. Trên hai xúc tu phía trước, từng vòng giác hút thô ráp giữ chặt một cặp thanh cộng hưởng bằng đá phiến mài nhẵn thấu quang—công cụ vừa là biểu tượng quyền uy, vừa là nhạc cụ truyền âm độc nhất của tầng lớp trí thức đáy biển.

Bát Nhịp lập tức đưa xúc tu thứ ba chạm nhẹ vào ngực, khẽ nghiêng đầu theo đúng nghi thức ngoại giao trang trọng nhất của cư dân Vạn Triều:

“Thưa Thầy Trầm Vang, tôi đã đưa những người khách từ mặt biển đến như lời hẹn ước. Họ mang theo số đo cảm biến mới nhất từ Cột Nghe và hầm van số 7, và họ cần hiểu ngọn nguồn dòng chảy của tổ tiên để cùng chúng ta giữ vững thành phố.”

Trầm Vang không đáp lời ngay. Chuyển động của ông chậm rãi đến mức dường như hòa lẫn vào nhịp trôi của khối nước tù túng. Ông khẽ lướt hai thanh đá phiến vào nhau, tạo ra một chuỗi hạ âm trầm đục vang vọng khắp các ngách hang. Sóng âm chạm vào các phiến khoáng xếp tầng trên vách đá bazan, làm bùng lên những dải huỳnh quang hóa học màu xanh lơ mờ ảo, trải dài tít tắp vào các hành lang lưu trữ công khai. Từng đợt ánh sáng lạnh lẽo thức giấc, để lộ ra những cấu trúc lưu trữ đồ sộ chưa từng thấy.

“Những người mang vỏ thép kín,” giọng nói của Trầm Vang được bộ chuyển đổi tín hiệu ba lớp của Vy dịch ra với tông trầm đục, đượm chút mỉa mai kín đáo nhưng đầy chừng mực. “Các vị lặn xuống đáy sâu này để tìm kiếm câu trả lời thực sự, hay chỉ cốt tìm kiếm một sự xác nhận cho những định kiến mà máy móc mặt trời của các vị đã dựng sẵn từ trên mặt sóng?”

Hải An tiến lên nửa bước, để luồng sáng từ đèn pha trên ngực rọi thẳng xuống khoảng sàn trống giữa hai bên, tránh chiếu thẳng vào đôi mắt nhạy cảm của vị học giả già:

“Chúng tôi tìm kiếm sự thật về cơ chế vận hành của Bộ Điều Triều, thưa học giả. Vạn Triều đang rung chuyển từng giờ. Các đứt gãy kiến tạo ở sườn Đông Khe Mực đang trượt với tốc độ 4.8 milimét mỗi giờ, và dòng nhiệt từ Tim Van bị bóp nghẹt gần một nửa lưu lượng danh định. Nếu không hiểu nguyên lý gốc rễ của hệ thống cổ xưa này, chúng ta sẽ không thể phân biệt được đâu là biến động tự nhiên của vỏ Trái Đất, đâu là sự can thiệp có chủ đích mang tính phá hoại.”

Trầm Vang khẽ chớp đôi mắt hổ phách, các giác hút trên xúc tu khẽ rung lên một nhịp đồng tình ngắn ngủi. Sự sắc sảo trong câu trả lời của Hải An dường như đã chạm đúng vào mối bận tâm của ông.

“Một cái nhìn thực tế. Tốt. Ta mở quyền tiếp cận cho các vị vào các gian lưu trữ công khai của Những Người Giữ Vang. Hãy nhớ lấy, nơi này không lưu giữ lời nói thoảng qua như bọt khí nổi lên mặt nước rồi vỡ tan. Ký ức thành phố được khắc bằng hoa văn hóa học và nhịp âm cộng hưởng vĩnh cửu. Đọc bằng mắt thôi chưa đủ, các vị phải nghe thấy độ rung của đá, phải cảm nhận được sức căng của từng liên kết khoáng vật.”

Ông xoay người, một xúc tu vung lên vẽ một đường vòng cung mềm mại trong làn nước, chỉ về phía vòm hang trung tâm, nơi hàng trăm phiến khoáng hình lục giác được treo lơ lửng bằng các sợi tơ hữu cơ chịu lực kết từ bọt biển sâu. Những sợi tơ ấy mỏng manh như sợi cước nhưng lại dẻo dai vô cùng dưới áp lực bốn trăm át-mốt-phe, neo giữ các kho lưu trữ tri thức lơ lửng giữa các tầng nước đối lưu ngầm.

Hải An và Vy thận trọng điều chỉnh phao dằn lưng, bơi theo sau Bát Nhịp tiến vào gian phòng lưu trữ đồ sộ. Máy quét laser cầm tay của Hải An lập tức hoạt động, phát ra chùm tia đỏ quét dọc theo các bề mặt khoáng chất gồ ghề. Cùng lúc đó, thiết bị thu âm thanh định hướng gắn trên cánh tay của Vy bắt đầu ghi lại những tiếng rì rầm trầm bổng phát ra khi dòng đối lưu nhẹ trong phòng cọ xát vào các rãnh xẻ nhân tạo trên từng phiến đá. Mỗi rãnh xẻ, mỗi độ sâu của vết khắc đều mang một ý nghĩa âm học riêng biệt, tạo nên một bản giao hưởng tĩnh lặng chỉ có thể lắng nghe qua màng cảm biến độ nhạy cao.

Hải An tập trung cao độ vào việc đối chiếu các phiến khoáng cổ mô tả sơ đồ nguyên thủy của Bộ Điều Triều với chuỗi âm vang nền mà cô vừa thu được tại hiện trường hầm van số 7. Những ký hiệu hoa văn hóa học—kết tủa từ sulfide kim loại, oxit sắt và muối canxit kết tinh qua hàng thế kỷ—chạy dọc theo các phiến đá như những mạch máu ngầm phức tạp. Hải An điều chỉnh bước sóng máy quét sang dải huỳnh quang tia cực tím, làm nổi bật các lớp trầm tích nhân tạo. Khi phối hợp tín hiệu quang phổ với phân tích tần số dao động âm học dội lại từ đá bazan, mắt Hải An mở to đằng sau lớp kính bảo hộ dày cộp.

Một sự thật lạnh buốt chạy dọc sống lưng cô, xóa sạch hoàn toàn mọi giả định kỹ thuật ban đầu mà cả đoàn thám hiểm từng tin tưởng.

“Hải An, chị thấy gì thế?” Vy hỏi qua kênh nội bộ, nhận thấy nhịp tim trên đồng hồ sinh học của đội trưởng đột ngột tăng vọt lên mức cảnh báo vàng. “Chị phát hiện ra lỗi nghẽn mạch sao?”

Hải An hít một hơi sâu qua mặt nạ dưỡng khí, mùi cao su tổng hợp và khí tái sinh khô khốc tràn vào cuống họng. Giọng cô trầm xuống đầy căng thẳng, cố nén lại sự bàng hoàng:

“Vy, nhìn vào các rãnh đối lưu này đi. Nhìn cách các buồng giảm áp cơ học và họng xả phụ được bố trí trên nền móng bazan cổ. Từ trước tới nay, ngay cả trong các báo cáo sơ bộ của Hội Đồng Dòng Chảy mà Lam Đăng đưa cho chúng ta, họ luôn dùng từ ngữ gợi ý rằng Bộ Điều Triều là một kỳ quan có khả năng neo giữ nền móng mảng kiến tạo, trấn áp các chấn động địa chấn của Khe Mực. Cả thành phố này đang sống dưới một huyền thoại kỹ thuật.”

“Không phải sao?” Vy ngạc nhiên, ngón tay bọc giáp khẽ dừng lại trên bàn phím điều khiển máy thu âm. “Cả thành phố đều tin rằng nếu Bộ Điều Triều hoạt động ổn định, đáy biển sẽ không sụp đổ. Họ tôn thờ nó như một chiếc mỏ neo giữ chặt vận mệnh của cả thung lũng ngầm.”

“Hoàn toàn không!” Hải An lắc đầu dứt khoát, ngón tay bọc giáp gõ nhẹ lên màn hình hiển thị số liệu phân tích áp lực thủy lực. “Các phiến khoáng cổ này không hề nói dối. Hãy nhìn các thông số chịu tải cơ học này: cấu trúc của Bộ Điều Triều thực chất chỉ là một hệ thống tuần hoàn van điều tiết thủy lực khổng lồ! Nó nhận nước nóng giàu khoáng từ các miệng phun ngầm ở độ sâu lớn hơn, dẫn qua các nhánh van chính và phụ để phân phối nhiệt sưởi ấm cho các phân khu dân cư, đồng thời xả khí sulfur và metan độc hại ra các hành lang thoát hiểm biệt lập. Nó điều tiết áp lực chất lỏng và nhiệt lượng, nhưng nó hoàn toàn không có khả năng chế ngự hay ngăn chặn các đợt biến động kiến tạo tự nhiên!”

Bát Nhịp đứng bên cạnh, các xúc tu khẽ xoắn lại thành những vòng tròn bối rối khi nghe bản dịch tự động truyền qua loa ngoài của bộ giáp:

“Ý cô là... nếu một đợt đứt gãy kiến tạo thực sự ập đến từ Khe Mực, cỗ máy của tổ tiên chúng tôi... không thể giữ thành phố đứng yên sao?”

“Nó không phải là một chiếc mỏ neo địa chất, Bát Nhịp,” Hải An đáp, ánh mắt cô đăm đăm nhìn vào mô hình thủy lực đang xoay tròn trên màn hình hiển thị. “Nếu đứt gãy trượt đi, móng đá sẽ gãy đôi. Bộ Điều Triều chỉ có thể giúp thành phố không bị luộc chín bởi các dòng thủy nhiệt bùng phát hoặc ngộ độc khí sulfur trước khi động đất xảy ra, chứ nó không thể dập tắt cơn giận dữ của vỏ Trái Đất. Ảo tưởng rằng cỗ máy này có thể trấn áp địa chấn là một sự hiểu lầm chết người. Thành phố đã xây dựng toàn bộ chiến lược sinh tồn dựa trên một tiền đề kỹ thuật sai lệch.”

Phát hiện này làm đảo lộn toàn bộ bài toán sinh tồn của họ. Nguy cơ sạt lở hành lang rút lui mà Hải An từng âm thầm tính toán không thể được giải quyết bằng việc chỉ đơn giản là đi sửa vài cái van bị hỏng hay nạo vét các ống dẫn nhiệt. Thiên nhiên đang chuyển mình bên dưới móng bazan, và Vạn Triều đang ngồi trên một thùng thuốc nổ cơ học mà không hề hay biết giới hạn chịu đựng thực sự của chính mình.

Cả nhóm tiếp tục lần giở các phiến đá lưu trữ sâu hơn trong khoang công khai, cố gắng tìm kiếm tài liệu về cơ chế ứng phó thảm họa của công trình cổ. Họ lần lượt lật mở các bản ghi dạng khối nén, nơi mô tả mặt bằng chi tiết của trung tâm điều phối Tim Van và các quy trình xả lũ khẩn cấp. Những phiến đá ở đây được chế tác tinh xảo hơn, bề mặt phủ một lớp thạch anh mỏng để ngăn chặn sự ăn mòn của nước biển giàu khoáng qua hàng nghìn năm.

Đúng lúc đó, Vy dừng lại trước một cụm phiến đá bọt có màu đen ánh bạc, được khắc sâu bằng những rãnh xoắn hình học phức tạp. Lớp huỳnh quang trên phiến đá này phát ra ánh sáng màu lục thẫm, lập lòe như đốm lân tinh của loài giáp xác đáy sâu.

“Hải An, lại đây xem này,” Vy gọi khẽ, ngón tay cô lướt nhẹ phía trên bề mặt phiến đá, cẩn thận duy trì khoảng cách vài milimét để găng tay kim loại không vô tình làm trầy xước các kết tủa mong manh. “Đây là bản vẽ mô tả Chế độ khẩn cấp... Xem các đường dẫn lưu này, nó cho phép khóa toàn bộ một nhánh van và dồn toàn bộ lưu lượng nước nóng vào lõi bảo vệ sinh thái trong trường hợp xảy ra biến cố cực hạn. Nếu kích hoạt được cơ chế này, chúng ta có thể bảo toàn được khu vực trung tâm ngay cả khi các phân khu rìa ngoài bị cô lập.”

Hải An bơi lại gần, chiếu đèn rọi góc nghiêng ba mươi độ để làm nổi bật các vết rãnh chìm. Nhưng niềm hy vọng vừa le lói trong mắt cô lập tức bị dập tắt bởi một khoảng trống kỳ dị.

Ở góc dưới bên phải của phiến đá—nơi đáng lẽ phải là bảng chú giải mã hóa các ký hiệu điều phối, các thông số áp suất ngưỡng và thứ tự gạt chốt cơ học—mặt đá lại phẳng lì một cách bất thường. Những vệt cắt sắc gọn bằng công cụ cắt gọt cơ khí chuẩn xác lộ rõ dưới ánh đèn rọi góc nghiêng, cho thấy phần chú giải quan trọng nhất đã bị ai đó cố tình đục bỏ hoặc cưa rời khỏi bản vẽ gốc từ rất lâu trước đây. Bề mặt vết cắt đã có một lớp muối mỏng bám vào, chứng tỏ hành động phá hoại này đã diễn ra từ nhiều thế hệ trước.

“Bảng chú giải ký hiệu đã biến mất,” Hải An nghiến răng, sự thất vọng dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. “Không có bảng mã này, toàn bộ sơ đồ Chế độ khẩn cấp trở nên hoàn toàn vô dụng. Chúng ta thấy các đường ống, thấy các biểu tượng tam giác và vòng cung lồng nhau, nhưng không thể biết ký hiệu nào là mở cưỡng bức, ký hiệu nào là cô lập vĩnh viễn! Nếu gạt nhầm một van trong chế độ này, hiện tượng búa nước sẽ phá hủy toàn bộ mạng lưới đường ống ngay lập tức. Sóng xung kích thủy lực ở áp suất bốn trăm át-mốt-phe sẽ xé toạc các khớp nối bazan như xé giấy.”

Việc vận hành hệ thống cổ trong tình huống khẩn cấp bỗng chốc trở nên mù mịt như đi trong đêm tối đáy vực. Không có hướng dẫn thao tác, cỗ máy cứu sinh lại trở thành một cái bẫy chết người.

Nhìn vẻ mặt căng thẳng của Hải An và sự bế tắc bao trùm lên gian phòng, Tường Vy cắn nhẹ môi. Là một nhà ngôn ngữ học, cô không thể đứng nhìn đồng đội bất lực trước những ký tự chết. Cô cảm nhận sâu sắc cảm giác bất lực của bản thân từ đầu chuyến thám hiểm đến nay—khi mọi quyết định sống còn đều xoay quanh tính toán áp lực của Hải An, khả năng cân bằng dưỡng khí của Minh, hay các mẫu sinh thái của Linh. Vy lục lại kho dữ liệu phân tích ngữ nghĩa ba lớp trong bộ nhớ máy tính đeo tay, phóng to các biểu tượng tam giác xoắn và những rãnh khuyết trên phiến đá.

“Chờ đã,” Vy lên tiếng, giọng cô hào hứng hẳn lên khi một ý tưởng lóe sáng trong đầu. “Nhìn vào quy luật đối xứng này xem. Cấu trúc của ba rãnh khuyết ở van trung tâm có sự tương đồng tuyệt đối với hệ thống động từ điều hướng trong ngữ pháp âm học cổ của Vạn Triều. Nếu chúng ta áp dụng giả thuyết suy luận cấu trúc: biểu tượng góc tù đại diện cho hướng dòng chảy thuận, còn góc nhọn hướng lên biểu thị sự chặn dòng... thì theo logic này, ký hiệu hình rẻ quạt bị đứt đoạn kia chắc chắn là lệnh xả áp phụ! Chúng ta có thể dùng thuật toán phục dựng ngữ nghĩa để điền vào phần chú giải bị thiếu này. Tôi có thể lập trình lại bộ giải mã để mô phỏng thứ tự thao tác!”

Vy vừa dứt lời, một tiếng gõ đanh thép, lạnh lùng vang lên từ phía sau.

Trầm Vang bơi tới từ khoảng tối, xúc tu của ông quất mạnh thanh đá phiến vào một cột thạch anh gần đó. Cú va chạm cơ học tạo ra một tiếng rít hạ âm chói tai, mang theo năng lượng rung động cực lớn làm màng nhĩ của cả đội rung lên bần bật qua lớp mũ giáp bảo hộ. Sắc tố trên da vị học giả già lập tức chuyển từ màu xám tro sang màu tím than sẫm—dấu hiệu sinh học của sự tức giận và nghiêm khắc tột cùng ở loài bạch tuộc đáy sâu.

“Dừng lại ngay, cô gái mặt biển!” Trầm Vang gắt lên, âm điệu dịch qua máy vang lên gay gắt và thô ráp. “Đó là sự ngạo mạn nguy hiểm nhất mà ta từng nghe thấy dưới đáy sâu này!”

Vy giật thót, co rụt hai tay lại trước ngực, lúng túng nhìn vị học giả bạch tuộc đang trôi lơ lửng ngay trước mặt mình:

“Thưa ngài... tôi chỉ đang áp dụng quy luật tương đồng ngôn ngữ học... Cấu trúc ngữ pháp hoàn toàn khớp với văn bản lập pháp thời kỳ thứ hai—”

“Khớp trong đầu cô! Khớp trên những phương trình giả định mà cỗ máy vô hồn của các vị tự vẽ ra!” Trầm Vang vung một xúc tu sượt qua bề mặt phiến đá bọt, đôi mắt hổ phách nhìn trừng trừng vào lớp kính mũ giáp của Vy, nơi phản chiếu khuôn mặt tái nhợt của cô gái trẻ. “Cô nghĩ ngôn ngữ của chúng ta là trò chơi ghép hình của trẻ con trên bãi cát sao? Một ký hiệu bị dịch sai trên mặt đất chỉ khiến các vị tốn một lời xin lỗi hoặc một bản đính chính trên giấy. Nhưng ở độ sâu bốn nghìn mét này, dưới sức ép của cả một đại dương, một suy luận chủ quan thiếu căn cứ sẽ bẻ gãy một chiếc van chịu lực, làm vỡ tan vỏ ngăn nhiệt, và cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn cư dân vô tội trong vài giây!”

Ông dừng lại một nhịp, hạ thấp giọng xuống, nhưng từng lời nói ra nặng trĩu uy quyền của một giống loài đã tồn tại qua hàng triệu năm biến động địa tầng:

“Hãy ghi nhớ lấy nguyên tắc bất di bất dịch của Những Người Giữ Vang: Mọi dữ liệu lớn, mọi quy trình ảnh hưởng đến mạng sống của thành phố, bắt buộc phải có nguồn chứng cứ thứ hai độc lập xác nhận! Một phiến đá chưa đủ. Một bản ghi chưa đủ. Nếu không có nguồn độc lập thứ hai để đối chiếu chéo—một bản ghi âm cổ độc lập, một dấu vết cơ học trùng khớp từ một công trình phụ trợ khác—mọi suy luận của cô, dù nghe có vẻ thông minh và lộng lẫy đến đâu, đều chỉ là phỏng đoán vô giá trị. Và ở Vạn Triều, phỏng đoán khi vận hành dòng chảy chính là tội ác!”

Lời quở trách đanh thép như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào Vy. Cô cúi gằm mặt xuống, hai má nóng bừng sau lớp kính mũ giáp. Cảm giác xấu hổ, bẽ bàng và tự ti bóp nghẹt lồng ngực cô. Cô luôn mang trong mình nỗi sợ hãi mơ hồ về việc mình là một mắt xích yếu, một thành viên “không thiết yếu” chỉ biết đưa ra những lý thuyết ngôn ngữ viển vông trong khi những người khác đang đổ mồ hôi và đối mặt với hiểm nguy cơ học thực sự. Sự háo thắng và mong muốn khẳng định mình vừa rồi đã bị vị học giả già lột trần không thương tiếc, phơi bày sự non nớt và liều lĩnh của cô trước quy luật khắc nghiệt của vực sâu.

Bát Nhịp khẽ di chuyển một xúc tu, chạm nhẹ vào khớp vai áo giáp của Vy. Đó là một cử chỉ an ủi thầm lặng, không lời, cố gắng làm dịu đi bầu không khí ngột ngạt đang đè nặng lên các buồng đá.

Để cứu vãn tình thế và giải tỏa sự căng thẳng, Hải An nhẹ nhàng bước lên một bước, đứng chắn giữa Vy và tầm mắt sắc lạnh của Trầm Vang:

“Học giả Trầm Vang nói rất đúng. Chúng tôi hoàn toàn tôn trọng nguyên tắc hai nguồn kiểm chứng. Đó cũng chính là tiêu chuẩn an toàn hàng hải cao nhất của chúng tôi trên mặt biển: không bao giờ định vị tàu bằng một hải đồ đơn lẻ. Chúng tôi sẽ không hành động dựa trên bất kỳ giả thuyết đơn phương nào khi chưa có nguồn đối chiếu độc lập.”

Trầm Vang khẽ thu các xúc tu lại sát thân mình, sắc tố trên da ông dần dịu đi, chuyển từ màu tím than gay gắt trở về màu xám tro điềm tĩnh vốn có:

“Hiểu được điều đó là tốt. Ta tôn trọng sự thật, và ta cũng đã dành cả cuộc đời mình để đi tìm nguồn thứ hai cho bảng chú giải bị đục bỏ ấy suốt nhiều thập kỷ qua. Nhưng cho đến khi nó xuất hiện bằng xương bằng thịt, bằng âm thanh hay bằng đá, Chế độ khẩn cấp vẫn là một cánh cửa niêm phong mà không một ai được phép mù quáng chạm vào.”

Trong lúc Hải An tiếp tục trao đổi với Trầm Vang về các thông số lưu lượng thoát khí nền và lịch sử các đợt phun trào nhiệt cổ xưa, Vy lùi lại phía sau vài bước. Để che giấu sự bối rối và nỗi hụt hẫng đang cào xé tâm can, cô cúi đầu nhìn vào bảng điều khiển cá nhân gắn trên cẳng tay, mở giao diện thiết bị phân tích âm học và bật lại bản ghi các chuỗi nhịp âm cộng hưởng phát ra từ phiến đá cổ mô tả Bộ Điều Triều.

Tai nghe áp sát vào thái dương cô truyền đến những âm thanh lách cách, trầm bổng, ngắt quãng tuần hoàn: ba nhịp gõ đục, hai nhịp miết dài, tiếp nối bằng một khoảng lặng rung chuyển ở dải tần cực thấp.

Vy bỗng khựng lại.

Toàn thân cô cứng đờ như bị dòng điện giật qua lớp giáp. Nhịp tim trong lồng ngực đập dồn dập, mạnh đến mức làm hệ thống cảm biến sinh học phát ra một tiếng bíp cảnh báo khẽ khàng trong mũ giáp.

Giai điệu âm thanh này... nhịp điệu ngắt quãng và độ lệch pha này...

Bàn tay cô khẽ run khi chạm vào màn hình cảm ứng, mở một phân vùng dữ liệu được mã hóa sâu trong bộ nhớ thứ cấp—tập hồ sơ mang tên “Bản dịch thất bại”.

Đó là tập dữ liệu bí mật mà Vy chưa từng dám công khai với Hải An, với Minh, hay với bất kỳ ai trên tàu Mắt Bão. Trong suốt hành trình từ khi đoàn thám hiểm bắt đầu tiếp cận Khe Mực, cỗ máy phiên dịch ba lớp của cô đã nhiều lần loại bỏ hàng trăm chuỗi âm bất thường, dán nhãn chúng là “nhiễu âm thanh địa chất” hoặc “lỗi giải mã cú pháp không xác định”. Vì sợ bị Hội đồng Tuyển chọn và Thuyền trưởng Thu Hạnh đánh giá là năng lực kém cỏi, sợ làm suy giảm lòng tin của cả đội vào hệ thống máy móc phức tạp mà mình đã dành nhiều năm huấn luyện, Vy đã âm thầm nhặt nhạnh và lưu trữ tất cả những đoạn tín hiệu “rác” bị đào thải đó vào một góc riêng để tự mình nghiên cứu lúc rảnh rỗi.

Và giờ đây, khi đặt phổ âm của phiến đá cổ Bộ Điều Triều cạnh một tệp âm thanh trong tập hồ sơ bị ruồng bỏ ấy, điều không tưởng đã xảy ra.

Biểu đồ sóng âm trên màn hình hiển thị hai đường cong dao động màu vàng và màu lục. Chúng trượt qua nhau, khớp nối vào nhau từng đỉnh sóng, từng thung lũng tần số, trùng khít đến từng mili-giây!

Chuỗi nhịp âm cổ đại dùng để điều phối dòng chảy của Bộ Điều Triều... lại có nét tương đồng đáng sợ với một chuỗi tín hiệu kỳ lạ từng bị máy loại bỏ. Đó chính là chuỗi âm mà cô từng ghi nhận được lẩn khuất bên trong tín hiệu dẫn đường nhân tạo đã suýt nhấn chìm tàu Khe Mực 1 vào xoáy nước ngầm tử thần!

Hơn thế nữa, những biến thiên bước sóng ấy còn phảng phất cấu trúc của thứ ánh sáng tím sẫm ngắt quãng mà chính mắt cô vừa thấy Đốm Lặng phát ra về phía Quận Im Lặng cách đây không lâu. Thứ ánh sáng mà cô từng ngỡ là tín hiệu sinh học ngẫu nhiên của loài cephalopod.

Nguồn chứng cứ thứ hai!

Nó không hề nằm ở đâu xa xôi dưới đáy vực hay trong một kho lưu trữ bị chôn vùi. Nó đang nằm ngay trong máy tính của cô, ngay trên cổ tay cô!

Ngón tay bọc giáp của Vy run rẩy đặt lên phím chia sẻ màn hình trung tâm. Chỉ cần một thao tác chạm nhẹ, toàn bộ dữ liệu so sánh này sẽ được chiếu lên khoảng không trước mặt Hải An và Trầm Vang. Cô có thể chứng minh mình không hề vô dụng, có thể chứng minh các giả thuyết ngôn ngữ học của mình có cơ sở thực tiễn, và quan trọng nhất, có thể giúp cả đội phá vỡ thế bế tắc chết người này ngay lập tức.

Nhưng ngón tay cô khựng lại giữa không trung.

Một nỗi sợ hãi vô hình, lạnh buốt như nước biển vực thẳm bóp nghẹt lấy tâm trí Vy. Nếu cô đưa nó ra bây giờ, câu hỏi đầu tiên mà Hải An sẽ hỏi là gì? *“Tại sao em lại giấu tập hồ sơ này suốt từ đầu chuyến đi?”* Thuyền trưởng Thu Hạnh trên tàu mẹ sẽ nhìn nhận cô thế nào qua các bản ghi nhật ký? Một chuyên viên ngôn ngữ thiếu trung thực, giấu giếm các dữ liệu lỗi nghiêm trọng có nguy cơ đe dọa an toàn hàng hải chỉ vì lòng tự ái cá nhân?

Và tệ hơn nữa, nếu như sự trùng khớp này chỉ là một sự ngẫu nhiên kỳ quái khác của thuật toán xử lý tín hiệu số? Nếu như Trầm Vang lại một lần nữa gạt phắt đi, quở trách cô đem rác rưởi kỹ thuật số ra để đánh lừa thư viện thiêng liêng, cô sẽ đối mặt với sự sụp đổ hoàn toàn về danh dự nghề nghiệp ra sao? Cô sẽ mãi mãi là kẻ thất bại, kẻ tự phụ bị tước quyền lên tiếng.

Vy cắn chặt môi đến mức bật máu bên trong khoang miệng. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán, chảy tràn vào khóe mắt cay xè. Sự ngập ngừng, tự ti và nỗi sợ bị phán xét đã khóa chặt bàn tay cô lại.

Từng giây trôi qua nặng nề. Vy từ từ hạ cánh tay xuống. Cô chạm vào màn hình, tắt giao diện so sánh phổ âm, và đẩy tập hồ sơ “Bản dịch thất bại” sâu hơn vào vùng nhớ ẩn của hệ thống.

Chưa phải lúc. Cô tự nhủ với bản thân bằng một lý do phòng vệ yếu ớt. Cô cần phải chắc chắn hơn nữa. Cô cần phải tự mình tìm hiểu xem Đốm Lặng và những kẻ ẩn dật ở Quận Im Lặng thực sự nắm giữ điều gì. Cô không thể mạo hiểm danh dự của mình thêm một lần nào nữa trước khi nắm chắc bằng chứng tuyệt đối trong tay.

Đúng lúc sự giằng xé nội tâm của Vy đang lên đến đỉnh điểm nghẹt thở, một sự cố bất ngờ xé toạc không gian tĩnh lặng của Thư Viện Tiếng Vang.

*Rắc!*

Một tiếng nứt khô khốc, sắc lẹm vang lên từ khoang lưu trữ trung tâm phía trên vòm trần cao ngất.

Âm thanh đó không mang tính dao động mềm mại của dòng nước hay sự cộng hưởng êm dịu của đá bọt. Đó là tiếng kim loại hoặc cấu trúc khoáng chất bị gãy đứt đột ngột dưới một lực tác động cơ học thô bạo vượt ngưỡng chịu tải.

Trước ánh mắt kinh hoàng của Trầm Vang, Bát Nhịp và toàn bộ đội thám hiểm, một sợi dây tơ hữu cơ giữ phiến đá ghi chép cổ treo ở vị trí cao nhất trên vòm hang bất ngờ đứt phựt. Những sợi tơ bọt biển ngàn năm bung ra thành từng búi xơ xác trôi bồng bềnh trong làn nước.

Phiến đá khoáng lục giác khổng lồ—nặng hàng trăm ki-lô-gam, mang đầy những hoa văn hóa học lưu giữ lịch sử nghìn năm của nền móng thành phố—mất điểm tựa, lộn nhào trong làn nước rồi lao thẳng từ trên cao xuống nền đá bazan cứng ngắc bên dưới với tốc độ khủng khiếp.

*XOẢNG!*

Một tiếng nổ âm học dữ dội xé toạc lòng hang. Phiến đá cổ chạm đáy, vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh khoáng chất lấp lánh bắn tung tóe khắp không gian. Cú va chạm cực mạnh làm bùng lên một đám bụi lưu huỳnh mù mịt, đặc quánh như khói độc, bao trùm toàn bộ gian phòng và kích hoạt những hồi chuông cộng hưởng rền rĩ, hoảng loạn vang vọng khắp các ngóc ngách của Thư Viện Tiếng Vang.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories