Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtCh.4 / 32
Chapter 4

Khói Hồ Không Đóng Hộp

Làn sương mỏng manh giăng kín mặt nước hồ Ba Bể khi chiếc xe Bếp Nhỏ khó nhọc lết từng mét cuối cùng vào khoảng sân đất nện trước nếp nhà sàn của Hoàng Thị Lành, mang theo bộ giảm chấn trước đã vặn vẹo và được níu giữ tạm bợ bằng những tao dây thép chịu lực xoắn vội.

Mỗi vòng bánh xe lăn qua lớp sỏi dăm ẩm ướt rải trước cổng lại nghiến lên những âm thanh kim loại cọ xát khô khốc, buốt nhói như tiếng khớp xương rạn vỡ sau một chuyến đi đày. Chiếc xe tròng trành nghiêng sang mạn phải, khục lên một tiếng nghẹn ứ rồi mới chịu dừng hẳn dưới bóng râm của rặng vầu già bao quanh mép nước. Khang tắt khóa điện, buông hai bàn tay đã mỏi nhừ khỏi vành vô lăng bọc da sờn rách, rồi ngồi bất động trong khoang lái chật chội suốt mười mấy giây chỉ để thở ra từng hơi nặng nhọc, trút bớt cơn căng thẳng nghẹt thở đã tích tụ sau hàng trăm cây số đèo dốc sạt lở từ mạn Mù Cang Chải vòng qua mỏm núi đá phía Tây Bắc. Khi tiếng rung bần bật của lốc máy nguội dần, anh mới đẩy cửa nhảy xuống đất. Không kịp phủi lớp bụi đường bám dày trên đầu gối, Khang lập tức quỳ rạp, chui nửa người xuống gầm xe ẩm lạnh, quẹt vạt áo lấm lem bùn đất khô khốc từ vùng cao lên vầng trán nhễ nhại mồ hôi để rà soát lại bó dây thép cứu sinh mà hai anh em đã phải chong đèn mắt mèo thức trắng đêm siết tạm ở vệ đường dốc đá. Những mối xoắn kim loại vẫn ghì chặt lấy tay đòn sắt, nhưng vài tao ngoài cùng đã tưa ra, cứa vào khung gầm những vệt xước sáng loáng rỉ dầu.

Nghe tiếng máy lạ, Hoàng Thị Lành bước vội xuống những bậc thang gỗ nghiến nhẵn bóng đã mòn lõm theo năm tháng. Người phụ nữ Tày dong dỏng cao, khoác chiếc áo chàm cũ ngắn ngang hông, bước chân thoăn thoắt nhưng trĩu nặng âu lo. Chẳng có những cái ôm vồn vã hay những lời chào đón đon đả, trau chuốt của một người làm dịch vụ đón khách chuyên nghiệp, chị dừng lại ở chân cầu thang, đưa mắt nhìn vệt dầu thủy lực sẫm màu đang nhỏ từng giọt chậm rãi xuống lớp đá sỏi trước sân, rồi nhìn đôi mắt thâm quầng, trũng sâu vì chuỗi ngày thiếu ngủ triền miên của An. Lành khẽ gật đầu, một cái gật đầu như đón những người thân ruột thịt vừa gượng gạo bước qua một cơn hoạn nạn sinh tử:

"Vào đi em. Đỡ nhau lên sàn đã. Ra sau nhà múc nước giếng khơi mà rửa mặt cho tỉnh người. Chị bắc sẵn nồi cháo trên bếp rồi, lửa đượm từ lúc mờ sương."

Gian bếp của Lành nằm ép mình ở góc hồi nhà sàn, nơi sàn tre cật đã lên nước bóng màu bồ hóng qua hàng chục mùa khói củi. Đón hai vị khách phong trần sau chặng đường dài không phải mâm cao cỗ đầy với những món đặc sản phô trương mà là một nồi cháo cá mương nấu lá chua đạm bạc, đặt lọt thỏm giữa ba chân kiềng sắt đã mòn rỉ. Khói bếp bốc lên nghi ngút từ chiếc nồi gang con đen bóng, mang theo mùi thơm dịu nhẹ, chân chất của gạo nương giã dối xen lẫn vị chua thanh mát, dìu dịu của những nắm lá rừng vừa được chị hái vội ngoài vườn ẩm hơi sương sớm.

Thứ cá mương hồ Ba Bể này chỉ bé bằng ngón tay trỏ, vảy trắng bạc li ti như ánh lân tinh, thịt ngọt mềm nhưng chi chít xương dăm tơ mảnh. Để nấu được nồi cháo này, người nấu phải luộc cá chín tới trên nồi nước sôi lăn tăn, vớt ra chờ nguội rồi dùng đầu ngón tay tỉ mẩn gỡ từng thớ thịt trắng phau, giữ lại phần đầu và xương giã nhuyễn lọc lấy nước cốt ngọt lịm. Thịt cá sau đó được đảo sơ trên chảo mỡ lợn bản thơm nức cùng vài củ hành tăm đập dập cho săn lại, dậy mùi thơm ngậy mà không hề vỡ nát, trước khi trút ngược vào nồi cháo hoa đang sôi sùng sục, từng hạt gạo bung nở đều tăm tắp như những búp hoa nhỏ.

Bưng bát sành đựng cháo nóng hổi trên tay, An húp từng thìa nhỏ, chậm rãi cảm nhận hơi nóng lan dần từ vòm họng xuống lồng ngực. Vị chua thanh thoát của thứ lá rừng giấu tên như gột rửa sạch lớp bụi đường hanh hao, vị ngai ngái của dầu mỡ máy móc và cơn mỏi mệt rã rời đang đè nặng lên từng thớ cơ suốt dọc đường đèo hiểm trở. Nhưng khi ngước mắt nhìn thẳng vào gương mặt Lành qua làn khói mỏng manh, An nhận thấy nét bơ phờ, tiều tụy nơi chị chẳng kém gì mình. Đôi mắt người phụ nữ Tày vốn sắc sảo, cương nghị và đượm vẻ phóng khoáng của sóng nước nay trĩu nặng quầng thâm thâm quầng. Hai bàn tay thô ráp đầy những vết nứt nẻ vì quanh năm ngâm nước lạnh khẽ run rẩy khi với lấy thanh củi dẻ khô chọc sâu vào đống than hồng dưới đáy kiềng.

"Ăn cho ấm bụng đi em," Lành buông một tiếng thở dài nặng nhọc, giọng chị chùng xuống, phẳng lặng và u uất như mặt nước hồ Ba Bể mùa cạn đáy. "Chút nữa thôi là đoàn khách bốn mươi người của công ty lữ hành dưới xuôi kéo lên. Xe bốn mươi lăm chỗ sắp đỗ ngoài bến chính rồi. Lại bắt đầu một ngày làm thớt, làm phu phục vụ đến tối tăm mặt mũi."

An đặt bát cháo xuống mép chiếc khay đan bằng mây tre mộc, nhìn sâu vào đôi mắt mỏi mệt của chị: "Nhà nghỉ cộng đồng của chị đợt này đông khách lắm phải không? Em thấy dưới bến thuyền ca nô chạy rầm rập suốt từ mờ sáng."

Lành cười, một nụ cười cay đắng đến thắt lòng, khóe môi giật nhẹ theo từng nhịp thở: "Đông khách nhưng kiệt cùng sinh lực, em ạ. Ký hợp đồng liên kết với các công ty du lịch dưới Hà Nội, nhất là những gói tour do bên điều phối của Vị Việt đứng ra bao tiêu, hồi đầu tưởng là phao cứu sinh vớt cái nhà sàn này sau trận lũ quét lịch sử năm ngoái cuốn trôi cả bè cá lẫn ruộng lúa ven hồ. Hóa ra, nó lại là cái tròng thòng lọng siết chặt vào cổ mình mỗi ngày một chặt hơn. Trong bản hợp đồng dày cộm toàn những từ ngữ pháp lý xa lạ, họ trói chị bằng một điều khoản chết tiệt: thực đơn cố định quanh năm không được phép thay đổi một dấu phẩy. Bất kể là mùa cá đẻ tháng ba, mùa nước đỏ ngầu phù sa tháng bảy hay mùa đông giá buốt căm căm khi mặt hồ cạn kiệt nguồn tôm cá, lúc nào trên mâm cơm mười người của khách cũng phải có đủ cá nướng trui, chả cá hồ, canh chua cá lăng. Họ đâu cần biết cái hồ tự nhiên này không phải là cái ao nuôi công nghiệp muốn quăng lưới xúc lúc nào cũng có sẵn cá to."

Chị đứng dậy, kéo vạt áo chàm rồi ra hiệu cho An đi theo. Lành dắt cô bước qua hành lang gỗ thông hẹp, dẫn sang buồng bếp phụ dựng lùi phía sau chái nhà — nơi vốn là chỗ cất nông cụ và phơi ngô khô, nhưng nay lại bị chiếm trọn bởi hai chiếc tủ đông công nghiệp loại lớn màu xám trắng. Hai cỗ máy đồ sộ ấy đang gầm rú rì rầm suốt ngày đêm, tiếng quạt tản nhiệt phả hơi nóng hầm hập vào vách nứa, tạo nên một sự chắp vá kệch cỡm, hoàn toàn lạc lõng giữa kết cấu gỗ mộc mạc và mùi khói bếp ngàn đời của nếp nhà sàn truyền thống.

Lành bước tới, dùng cả hai tay giật mạnh nắp chiếc tủ đông thứ nhất. Một luồng khí lạnh ngắt như băng tuyết kèm theo mùi tanh nồng, ngai ngái xộc thẳng vào mũi An, khiến cô phải lùi lại nửa bước. Bên trong lòng tủ sâu hoắm chất tầng tầng lớp lớp những bọc cá đông cứng ngắc như những hòn đá cuội xám ngoét, bên ngoài dán kín những tờ nhãn mác in máy phẳng phiu với mã vạch công nghiệp sắc cạnh.

"Em nhìn tận mắt đi," Lành cay đắng chỉ tay vào từng bọc nilông dày cộm đóng tuyết trắng xóa. "Bữa ăn thực sự của gia đình chị từ bao đời nay phụ thuộc hoàn toàn vào mẻ lưới sớm lúc bốn giờ sáng. Sáng nay chú em chèo thuyền ra giữa hồ, kéo lưới suốt hai tiếng đồng hồ buốt cóng cả ngón chân ngón tay, kéo lên chỉ được non một bát cá mương với mớ tép nhảy le te để nấu nồi cháo em vừa ăn. Đó là cái hồ Ba Bể thật, nghèo nàn nhưng thành thật, cho gì nhận nấy theo nhịp của trời đất. Còn đây," chị đập mạnh mu bàn tay xuống một túi cá bọc giấy bạc đóng gói công nghiệp dày đặc, tiếng kim loại va chạm khô khốc vang lên giữa buồng tối, "toàn là cá rô phi, cá trắm cỏ nuôi cám tăng trọng công nghiệp dưới các lồng bè sông Chảy, sông Lô, do bên điều phối tiếp vận của Vị Việt chở xe lạnh giao lên từng thùng xốp hai ngày một chuyến. Khách đi tour trọn gói họ đâu có chịu ngồi nhằn từng cái xương cá mương nhỏ tí, họ đòi cá phải to bằng bắp chân, thịt phải dày cộp, không có xương dăm, cắn ngập chân răng. Chị bị ép phải rã đông từng tảng cá này bằng nước ấm, bọc vào giấy bạc đã nhét sẵn sả ớt xay bằng máy từ dưới xuôi đưa lên, rồi đặt lên vỉ than củi nướng lại cho nóng, đóng gói trao tay cho khách mang về và gọi đó là 'đặc sản cá nướng truyền thống hồ Ba Bể'. Một sự lừa dối có hệ thống, được tính toán chi li đến từng đồng xu để phục vụ cho cái ảo tưởng về sự dồi dào, hoang dã mà du khách thành thị luôn thèm khát và đòi hỏi."

An sững sờ đứng chôn chân bên mép tủ đông, ngón tay cô chạm khẽ vào lớp giấy bạc lạnh ngắt phủ đầy tinh thể tuyết nhân tạo. Cảm giác buốt giá truyền từ đầu ngón tay chạy dọc sống lưng. Ở Mù Cang Chải cách đây vài ngày, chị Dở đã phải nuốt nước mắt bán đi từng thúng nếp cúng tổ tiên truyền đời để đổi lấy vài tập sách vở cho con tới trường; còn ở vùng nước biếc Ba Bể này, một người giữ bếp kiên cường như Hoàng Thị Lành lại đang bị biến thành một thứ mắt xích rẻ mạt, một cỗ máy hâm nóng những khối thức ăn công nghiệp vô hồn đội lốt ẩm thực bản địa. Chuỗi cung ứng đại trà với những chiếc xe đông lạnh và những bản hợp đồng bao tiêu khắc nghiệt đã bóp nghẹt tính mùa vụ, tước đoạt hoàn toàn cái quyền giản dị nhất của con người: quyền được sống nương tựa, thuận hòa vào nhịp thở tự nhiên của dòng nước và cánh rừng.

Đúng lúc ấy, một âm thanh chói gắt xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, trầm mặc của bản làng ven hồ. Tiếng cánh quạt kim loại rít lên từng hồi chát chúa, the the như đàn ong vò vẽ khổng lồ bị chọc giận. Một chiếc thiết bị bay không người lái cỡ lớn lượn sát sạt trên những mái ngói âm dương phủ đầy rêu phong của các nếp nhà sàn lân cận, tạo nên những luồng gió xoáy thốc mạnh làm bầy gà đang bới giun dưới gầm sàn hoảng loạn đập cánh kêu quang quác, chạy tán loạn vào các lùm chuối rừng.

Dưới bến nước trước cửa nhà, tiếng động cơ gầm rú vang lên kèm theo tiếng phanh rít kin kít trên nền sỏi ướt. Chiếc xe bán tải hai cầu dán kín đề-can rực rỡ với dòng chữ "Vị Việt — Tinh hoa ẩm thực di sản" vừa đỗ xịch lại. Ba nhân viên thuộc ê-kíp sản xuất truyền thông của Đỗ Thành Vinh xăm xăm nhảy xuống xe. Họ vác theo những chân máy quay bằng sợi carbon cồng kềnh, những tấm hắt sáng bằng bạc khổng lồ và hàng loạt thùng nhựa đựng đạo cụ cơ động, giày dẫm huỳnh huỵch trên nền đất.

Gã đạo diễn hiện trường mặc chiếc áo khoác gió chuyên dụng có thêu logo Vị Việt màu đỏ rực ở ngực xồng xộc bước thẳng lên những bậc cầu thang gỗ. Chẳng thèm tháo bỏ đôi giày leo núi dính đầy bùn đất đỏ, gã đi thẳng vào giữa gian nhà chính, ném phịch một chiếc túi vải dù lớn xuống mặt ván sàn tre bóng loáng, ngay sát mép chiếu nơi An và Lành đang đứng.

"Chị Lành! Thay bộ này vào ngay đi, nhanh cái tay lên hộ tôi với!" Gã đạo diễn hất hàm, giọng điệu hối hả, mang vẻ kẻ cả quen thuộc của những kẻ quen ra lệnh từ các phim trường đô thị. "Hôm nay trời Ba Bể nhiều mây mù đấy, nhưng theo dự báo thì tầm năm giờ rưỡi chiều hoàng hôn ven hồ sẽ có ráng đỏ rất gắt. Theo kịch bản mới tinh mà anh Vinh vừa trực tiếp phê duyệt từ trụ sở Hà Nội gửi hỏa tốc lên ban trưa, chúng ta phải ghi hình gấp cảnh 'Huyền thoại lửa trên sóng nước'. Chị mặc bộ trang phục này vào, chèo chiếc thuyền độc mộc ra đúng giữa lòng hồ, trên mũi thuyền chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một chậu than củi cháy hồng rực rồi chị kẹp mấy con cá nướng trực tiếp trên sóng nước khi mặt trời vừa chạm mép núi đá."

Lành sững sờ nhìn gã đạo diễn, rồi chầm chậm cúi xuống kéo khóa chiếc túi vải dù. Khi lớp vải bên trong lộ ra, gương mặt chị từ ngỡ ngàng chuyển sang bàng hoàng rồi tím tái vì phẫn nộ.

Đó là một bộ trang phục phụ nữ Tày đã bị cắt xén và biến dạng hoàn toàn dưới bàn tay của những người làm mỹ thuật thương mại: sắc chàm xanh thẳm, trầm lắng nhuộm từ lá chàm rừng ngâm nước vôi truyền thống đã bị thay thế bằng thứ vải lụa bóng pha nylon màu tím sẫm lòe loẹt, trơn tuột và bắt sáng một cách trơ trẽn. Cổ áo bị xẻ sâu hoắm một cách bất thường, hai bên tà áo và viền cổ tay được đính đầy những dải cườm nhựa ngũ sắc rẻ tiền, lấp lánh phản quang dưới ánh sáng ban ngày.

"Các chú... các chú điên hết cả rồi à?" Lành giận dữ đến mức hai bờ vai run lên bần bật, giọng chị nghẹn lại nơi cuống họng. "Cái thứ giẻ rách này mà là áo chàm của người Tày chúng tôi ư? Đàn bà con gái vùng hồ này từ đời cụ, đời bà truyền lại chưa từng có ai khoác lên mình thứ vải bóng nhẫy, hở hang như phường tuồng này cả! Còn cái chuyện các chú bảo tôi chèo thuyền độc mộc nướng cá giữa hồ? Thuyền độc mộc là chiếc thuyền đẽo khoét từ một thân cây gỗ nguyên khối, lòng thuyền chỉ vừa khít một thân người ngồi, đáy tròn trơn láng, nó lắc lư và chao đảo theo từng gợn sóng tăm nhỏ nhất. Người bản địa chèo giỏi từ thuở lên mười, nội cái việc giữ cho thuyền cân bằng trên mặt nước sâu thẳm lúc có gió lộng đã phải dồn hết tâm trí vào mũi dầm, ai lại dại dột đi đặt một chậu than hồng bén lửa hừng hực lên cái lòng thuyền gỗ khô giữa lòng hồ sâu hàng chục mét nước? Chỉ cần một ngọn gió xoáy tạt ngang, tàn lửa bay vào váy áo hay một cơn sóng vỗ làm nghiêng thuyền, người rơi xuống hồ đá vôi sâu hoắm thì cầm chắc cái chết! Việc ấy vừa nguy hiểm đến tính mạng, vừa trái ngược hoàn toàn với đời sống thực tế bao đời nay của người Ba Bể! Cư dân chúng tôi đánh cá về đều mang lên bờ, ủ cá vào trấu mục hoặc nướng trên kiềng bếp gian hồi ấm cúng, tuyệt nhiên không ai làm cái trò làm xiếc nguy hiểm ấy trên mặt nước để mua vui cho thiên hạ cả!"

Gã đạo diễn nhíu mày thật sâu, vẻ mặt lộ rõ sự mất kiên nhẫn. Gã rút phắt chiếc điện thoại thông minh đời mới từ túi ngực ra, bấm lia lịa rồi dí thẳng màn hình hiển thị tệp PDF phụ lục hợp đồng vào sát mặt Lành:

"Chị Lành này, tôi nói để chị nhớ lại cho tỉnh ra: trong điều khoản số 4 của hợp đồng gói truyền thông quảng bá điểm đến và cung ứng tour độc quyền mà chị đã đặt bút ký với anh Vinh bên công ty chúng tôi, chị có nghĩa vụ bắt buộc là phải 'tối ưu hóa hình ảnh thị giác và phong cách trình diễn theo yêu cầu nghệ thuật của bên A'. Độc mộc lướt trên làn sương, áo chàm cách tân lấp lánh nổi bật trên nền nước biếc, khói lửa bốc lên ngùn ngụt giữa mặt hồ tĩnh lặng lúc hoàng hôn buông xuống — đó mới là thứ hình ảnh triệu view người xem trên mạng xã hội muốn thấy, đó mới là văn hóa huyền bí, hấp dẫn của vùng cao mà thị trường cần! Chứ chị cứ khư khư chui vào cái xó bếp tối tăm mù mịt đầy bồ hóng, nướng mấy con cá mương bé tí bằng ngón tay thì ai xem, ai thèm bỏ tiền triệu mua tour của Vị Việt nữa? Chị tính đơn phương phá vỡ hợp đồng, đền bù toàn bộ chi phí di chuyển, nhân sự của đoàn quay bảy con người này, rồi bị cắt đứt hoàn toàn khỏi mạng lưới khách du lịch của công ty chúng tôi ngay từ ngày mai hay sao?"

Sự áp đặt trâng tráo và những lời đe dọa mang tính triệt hạ kinh tế giáng xuống như búa bổ khiến Lành tái mét mặt mày. Nỗi sợ hãi vô hình nhưng có thực về một khoản tiền phạt khổng lồ vượt quá sức chịu đựng của một nếp nhà nghèo khó, cùng nguy cơ nhà sàn bị cô lập hoàn toàn, không một bóng khách du lịch lai vãng giữa mùa đông sắp tới khiến đôi chân chị chao đảo. Chị lùi lại nửa bước, đôi bàn tay thô ráp, chai sần nắm chặt lấy mép vạt áo chàm cũ kỹ đã bạc màu sương gió, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì bối rối và uất ức.

"Dừng lại đi."

Một giọng nói dứt khoát, sắc lạnh vang lên, cắt ngang chuỗi đe dọa trơ trẽn của gã đạo diễn.

Nguyễn Hoài An bước tới, thân hình mảnh dẻ nhưng thẳng thớm như một thân vầu rừng, đứng chắn ngang giữa ống kính chiếc máy quay điện ảnh cồng kềnh mà gã quay phim phụ đang chĩa thẳng vào gương mặt bẽ bàng, khổ sở của Lành.

Gã đạo diễn giật nảy mình, ngước mắt nhìn lên. Khi nhận ra tấm thẻ tác quyền chuyên gia và huy hiệu đồng khắc biểu tượng chiếc kiềng ba chân quen thuộc của dự án Bếp Nhỏ cài trên ngực áo của An, khóe mắt gã giật giật: "Cô An? Anh Vinh ở văn phòng trung tâm đã dặn dò rất kỹ là cô có trách nhiệm phải phối hợp chặt chẽ với tổ sản xuất hình ảnh của chúng tôi để thu thập tư liệu chuẩn hóa ở chặng hồ Ba Bể này cơ mà? Cô đang làm cái trò gì vậy?"

"Tôi đang làm đúng nhiệm vụ của một người ghi chép ẩm thực và di sản văn hóa," An nhìn thẳng vào mắt gã đạo diễn, ánh mắt cô không hề né tránh, lạnh lùng và kiên định đến mức khiến gã đàn ông phải khựng lại. "Và nguyên tắc nền tảng đầu tiên của dự án Bếp Nhỏ, được ghi rõ trong tôn chỉ hoạt động từ ngày đầu thành lập, là tôn trọng tuyệt đối hiện thực canh tác và đời sống lao động của cộng đồng bản địa. Cảnh quay mà các anh đang cố tình dàn dựng này là một sự bịa đặt trắng trợn, một sự xúc phạm nặng nề đến tập quán sinh hoạt và kinh nghiệm an toàn trên sông nước của cư dân hồ Ba Bể. Tôi tuyên bố: cảnh quay này bị hủy bỏ. Các anh không có quyền ghi hình bất kỳ một thước phim giả tạo, sai lệch nào dưới danh nghĩa dự án văn hóa của chúng tôi."

"Cô lấy tư cách gì, lấy cái quyền gì ở đây mà đòi hủy?" Gã đạo diễn sấn sổ bước lên một bước, gắt gỏng ra mặt, giơ cánh tay cầm kịch bản lên cố lách qua người An để tiếp cận người phụ nữ Tày đang co mình lại phía sau. "Cô cũng chỉ là một đối tác nhận kinh phí nghiên cứu từ gói tài trợ văn hóa của Vị Việt mà thôi! Đừng tưởng anh Vinh nể nang danh tiếng của bà cô mà cô muốn tự tiện vượt quyền làm gì thì làm trên hiện trường của tôi!"

"Anh ấy có thể không cần nể cô ấy, nhưng pháp luật nể quyền định đoạt của người sở hữu không gian sống này," một giọng nói trầm đục, vang dội cất lên từ phía cửa bếp.

Lê Minh Khang từ dưới sân lững thững bước lên những bậc thang gỗ. Dáng người cao lớn, vạm vỡ của anh choán gần hết khung cửa gió. Chiếc cờ-lê bằng thép dày cộp, đen bóng dầu mỡ vẫn nằm gọn trong bàn tay to bản của anh buông thõng bên hông, tạo nên một áp lực thị giác nặng trĩu khiến gã quay phim phụ bất giác lùi lại một bước, hạ thấp chân máy xuống sàn.

Khang không hề dùng đến bạo lực hay những lời chửi bới thô lỗ. Anh bình thản tiến tới bên chiếc bàn gỗ mộc giữa nhà, đặt chiếc máy ghi âm kỹ thuật số chuyên dụng của mình xuống mặt bàn, ấn ngón tay cái vào nút ghi âm có chấm đỏ nhấp nháy, rồi mở chiếc cặp tài liệu bằng da thuộc lấy ra một tập văn bản được in sẵn theo quy chuẩn nghiêm ngặt — thứ tài liệu mà anh và An đã cùng luật sư Tạ Gia Bảo chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước chuyến đi dài ngày này.

"Tôi là Lê Minh Khang, phụ trách kỹ thuật và điều phối hiện trường của dự án Bếp Nhỏ," từng lời nói của Khang rơi xuống không gian tĩnh lặng, chậm rãi, trầm ấm nhưng đanh gọn như đinh đóng vào gỗ nghiến. "Căn cứ theo cam kết đạo đức truyền thông độc lập và quyền bất khả xâm phạm về không gian cư trú của công dân theo luật pháp hiện hành, chúng tôi cùng chị Hoàng Thị Lành — với tư cách là chủ hộ hợp pháp của căn nhà sàn này và là điều phối viên cơ sở của Mạng lưới Người Giữ Bếp — chính thức lập 'Biên bản quy chuẩn tiếp đón minh bạch tại chỗ'. Theo văn bản này, chị Lành có toàn quyền từ chối biểu diễn các nghi thức ẩm thực giả định không có trong truyền thống, có quyền từ chối khoác lên mình các trang phục sai lệch nguyên bản gây tổn hại đến bản sắc dân tộc, và bảo lưu quyền tuyệt đối cấm mọi hành vi ghi hình, phát sóng bên trong không gian sinh hoạt riêng tư của gia đình."

Khang dùng chiếc bút bi kim loại lướt nhanh những dòng chữ dứt khoát vào các ô trống trên mẫu biên bản ba liên in sẵn, đưa văn bản qua cho Lành ký rồi chìa cây bút sang trước mặt gã đạo diễn đang đứng sượng sùng giữa nhà:

"Mời anh ký vào đây, xác nhận việc đại diện Bếp Nhỏ và chủ nhà kiên quyết từ chối hợp tác với kịch bản dàn dựng sai sự thật này. Hoặc là các anh tự động thu dọn toàn bộ máy bay không người lái, máy quay và thiết bị hắt sáng, rời khỏi bến nước của gia đình chị Lành ngay lập tức trong vòng mười phút, trước khi tôi bấm số gọi trực tiếp cho Trưởng Công an xã và đại diện chính quyền địa phương về hành vi xâm phạm chỗ ở và điều khiển thiết bị bay không người lái trái phép trong khu dân cư có người già và trẻ nhỏ."

Nhìn ánh mắt kiên định, không một chút dao động của ba con người đang đứng sát cánh bên nhau trước bậu cửa sàn gỗ — một nhà nghiên cứu ẩm thực quả quyết, một kỹ sư hiện trường nắm chắc từng điều luật, và một người phụ nữ bản địa đã tìm lại được điểm tựa cho sự tự tôn của mình — gã đạo diễn biết mình không thể bắt nạt hay dùng vài ba điều khoản hợp đồng lắt léo để đè bẹp họ được nữa. Gã nghiến răng trèo trẹo, thô bạo giật lấy chiếc túi đựng bộ áo chàm nylon lóng lánh dưới sàn, hậm hực vẫy tay ra hiệu cho hai tên nhân viên đang lúng túng ôm chân máy:

"Được lắm! Các người cứ việc ôm lấy cái sự bảo thủ nghèo kiết xác ấy của các người đi! Để xem các người cứng đầu được bao lâu khi anh Vinh ra tay xử lý hợp đồng tài trợ!"

Tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên cầu thang gỗ dồn dập rồi xa dần. Chiếc xe bán tải lại gầm rú động cơ, bánh xe cày nát lớp sỏi ẩm trước cổng, quẳng lại một làn khói đen khét lẹt rồi lao vút ra con đường liên xã chạy dọc mép hồ.

Sự rời đi ồn ào ấy trả lại cho bến nước Ba Bể bầu không khí tĩnh mịch nguyên sơ của buổi chiều tà. Mặt nước hồ dần lấy lại vẻ phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ màu ngọc bích sẫm, phản chiếu những vách núi đá vôi dựng đứng nghìn năm phủ kín rêu xanh và mây xám lững lờ. Xa xa, một cánh chim bói cá chao nghiêng rồi lặn hút vào bóng râm của rặng cây ven bờ.

Hoàng Thị Lành ngồi thụp xuống bậc cửa sàn gỗ, hai bờ vai buông thõng sau cơn căng thẳng tột cùng. Nhưng trong đôi mắt trũng sâu vì thiếu ngủ của người phụ nữ Tày, một tia sáng ấm áp, trong trẻo bừng lên, đẩy lùi chuỗi ngày dài phải nén nhịn sự nhục nhằn và giả tạo để đổi lấy chén cơm manh áo. Chị ngước nhìn An, hai hốc mắt hoe đỏ, giọng chị nghẹn lại giữa khoảng không tĩnh lặng:

"Cảm ơn em... Cảm ơn hai đứa thật nhiều. Nếu hôm nay em và chú Khang không đứng ra chắn trước mũi máy quay, có lẽ chị lại phải nhắm mắt đưa chân, lại phải khoác cái thứ giẻ rách ấy lên người rồi làm một kẻ làm xiếc lố bịch giữa mặt hồ để mong giữ lấy cái hợp đồng chết tiệt kia..."

"Chị không đơn độc đâu, chị Lành," An ngồi xuống chiếc bậc cửa bằng phẳng bên cạnh chị, hai bàn tay cô bao lấy bàn tay thô ráp, chai sạn của người đàn bà sông nước. "Ẩm thực của một vùng đất, hương vị của một nếp nhà không sinh ra để làm cảnh nền, làm thứ đạo cụ rẻ tiền cho những màn kịch mua vui trên màn ảnh. Nếu hôm nay chúng ta nhượng bộ họ một tấc, ngày mai họ sẽ biến toàn bộ văn hóa, toàn bộ ký ức và mồ hôi nước mắt của cha ông các chị thành những món hàng đông lạnh đóng gói sẵn, bán đổ bán tháo cho những thị hiếu hời hợt."

Lành im lặng không nói. Chị nhìn An thật lâu, một cái nhìn sâu thẳm, cẩn trọng như thể đang soi chiếu tâm can của cô gái trẻ, cân đo một quyết định hệ trọng đã được chị chôn chặt dưới đáy lòng suốt bao nhiêu năm qua. Cuối cùng, chị khẽ thở hắt ra một hơi nhẹ nhõm, đứng dậy gật đầu với An:

"Đi theo chị vào trong này."

Lành dẫn An bước qua gian thờ tổ tiên trang nghiêm nghi ngút khói trầm, tiến sâu vào gian buồng tối nằm tít ở góc trong cùng của nếp nhà sàn. Nơi đây là chốn linh thiêng và riêng tư nhất của một gia đình người Tày, nơi dành riêng cho những việc hệ trọng của dòng tộc và không bao giờ cho khách lạ bén mảng bước chân vào. Căn buồng thoang thoảng mùi gỗ mục ẩm ướt quyện với mùi bồ hóng khô ráp đã tích tụ qua hai, ba thế hệ.

Lành thắp một ngọn đèn dầu hỏa nhỏ đặt trên chiếc chõng tre, ánh lửa vàng vọt lay lắt xua bớt bóng tối đặc quánh. Chị bước đến góc tường, quỳ xuống trước một chiếc rương gỗ lim cũ kỹ, bề mặt gỗ đã lên nước đen nhánh, có chiếc khóa đồng đúc hình con rùa đã hoen rỉ xanh rì vì hơi ẩm của hồ nước. Lành rút chiếc chìa khóa nhỏ đeo ở cạp váy, tra vào ổ rồi nhẹ nhàng xoay chốt.

Nắp rương mở ra với một tiếng cọt kẹt trầm đục. Bên trong không có vàng bạc hay gấm vóc quý giá, chỉ có vài tấm chăn bông dệt thổ cẩm đã sờn rách và những gói giấy bản gói hạt giống khô. Từ tận đáy rương, Lành cẩn thận lấy ra một chiếc hộp sắt đựng chè Thái Nguyên đã ố vàng theo năm tháng, bốn góc mép hộp đều bị móp méo vì va đập. Chị mở nắp hộp sắt, nâng niu trên hai lòng bàn tay một cuộn băng cassette Maxell loại 90 phút màu xám tro, mép nhãn dán bằng giấy trắng bên ngoài đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, góc nhãn sờn rách để lộ ra những sợi chỉ giấy tưa lơ thơ.

"Năm ấy, trận lũ lịch sử đổ về làm vỡ tung các đập nước thượng nguồn, hồ Ba Bể bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài suốt hơn hai mươi ngày ròng rã," Lành khẽ nói, giọng chị thì thầm như sợ đánh thức những linh hồn ký ức đang ngủ yên trong lòng căn buồng tối. "Đoàn công tác cấp dưỡng của bà ngoại em — bà Mùi — trên đường đi khảo sát tiếp tế lương thực đã bị kẹt lại đúng ở xóm này. Mực nước dâng cao ngập đến tận sàn nhà, nước xoáy làm cá trắm đen khổng lồ dưới đáy hồ dạt vào các vũng nước nông ven chân núi nhiều vô kể, bắt được không xuể. Nhưng khốn nỗi thời ấy làng bản không có lấy một hạt muối ăn dự trữ, đường giao thông đứt gãy, điện không có, tủ lạnh lại càng là chuyện hoang đường. Hàng tạ cá thịt ngon lành bắt đầu ươn thối, bốc mùi tanh tưởi phải đem chôn hoặc vứt xuống dòng nước lũ, trong khi đàn bà, con nít trong bản thì đói lả vì cạn kiệt lương thực. Chính bà Mùi đã ngồi thâu đêm trong chính căn buồng này, bên cạnh mẹ chị, bật chiếc máy cát-sét chạy bằng pin con thỏ để ghi âm lại toàn bộ kinh nghiệm bí truyền của bà về cách ủ khói giữ thịt cá trắm đen vượt qua những ngày lũ dữ mà không cần dùng đến một hạt muối nào. Cuộn băng này, mẹ chị trước lúc nhắm mắt xuôi tay đã trao lại, dặn chị phải giữ gìn như tính mạng suốt ba mươi năm qua."

An nín thở, đôi mắt mở to nhìn chăm chú vào cuộn băng từ tính mỏng manh đang nằm yên trong bàn tay Lành. Tim cô đập thình thịch trong lồng ngực. Đây chính là mảnh ghép thiêng liêng, vô giá mà cô đã lặn lội tìm kiếm suốt hàng ngàn cây số: dấu vết lịch sử sống động, chân thực về thời kỳ bà ngoại cô đem những hiểu biết tường tận về căn bếp, về tính chất của từng loài cây, từng ngọn khói để cứu sống con người trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, cùng cực nhất của chiến tranh và thiên tai.

Nhưng Lành không vội vàng trao cuộn băng sang tay An. Chị khép nhẹ hai bàn tay lại, ngước nhìn thẳng vào mắt cô gái trẻ với sự nghiêm cẩn, trang trọng tột cùng của một người đang nắm giữ linh hồn của di sản:

"Chị trao cuộn băng kỷ vật này cho em, không phải vì em mang dòng máu của bà Mùi, cũng không phải vì em có danh tiếng hay học vị dưới xuôi. Chị trao cho em là vì lúc nãy, em đã dám đứng thẳng lưng trước họng máy quay và những lời đe dọa của kẻ có tiền, dám đứng ra để bảo vệ danh dự và phẩm giá cho căn bếp nghèo này của chúng tôi. Nhưng chị có một điều kiện tiên quyết, một lời giao ước bằng danh dự mà em phải khắc ghi trong lòng: Mọi dòng chữ, mọi trang bản thảo, mọi lời trích dẫn từ giọng nói của bà Mùi và từ tri thức bản địa của vùng hồ Ba Bể này do ngòi bút của em viết ra sau này, cộng đồng Người Giữ Bếp chúng tôi phải là những người đầu tiên được đọc, được tham gia góp ý và có quyền phủ quyết tuyệt đối trước khi nó được in thành sách hay công bố ra cho công chúng. Câu chuyện của chúng tôi, số phận của dòng nước này, chúng tôi phải là người nắm giữ lấy cái hồn cốt chân thật nhất của nó. Em có chấp nhận giao ước này không?"

"Em xin cam kết bằng cả danh dự và lương tâm của mình," An trả lời dứt khoát, không một giây ngập ngừng, giọng cô vang lên trầm tĩnh nhưng đanh thép giữa căn buồng tối. "Tri thức và ký ức này mãi mãi thuộc về cộng đồng, thuộc về mảnh đất đã sinh ra nó. Em chỉ là một người ghi chép khiêm nhường, được các chị tin cậy trao cho cây bút mà thôi."

Hoàng Thị Lành mỉm cười. Nụ cười đầu tiên trong ngày rạng rỡ và thuần khiết, làm bừng sáng cả gương mặt khắc khổ, in đậm những nếp nhăn lao lực của chị. Chị trân trọng nâng cuộn băng cassette bằng cả hai tay, đặt nó ngay ngắn vào lòng bàn tay đang mở sẵn của An.

Ngay đúng khoảnh khắc những đầu ngón tay của An vừa chạm vào lớp vỏ nhựa thô ráp, sờn nhẵn của cuộn băng cũ thì từ sâu trong túi áo khoác gió, chiếc điện thoại thông minh của cô bỗng rung lên bần bật từng hồi dồn dập.

An rút điện thoại ra. Màn hình cảm ứng sáng lóa trong bóng tối của gian buồng, hiện lên dòng thông báo thư điện tử khẩn cấp gửi trực tiếp từ hòm thư cá nhân của Đỗ Thành Vinh:

*TIÊU ĐỀ: CẢNH BÁO VI PHẠM TIẾN ĐỘ VÀ NGUYÊN TẮC HỢP TÁC NỘI DUNG.* *Người gửi: Đỗ Thành Vinh — Tổng Giám đốc Vị Việt.* *Nội dung: Nguyễn Hoài An, cô vừa có hành vi cản trở nghiêm trọng hoạt động sản xuất tư liệu hiện trường của ê-kíp Vị Việt tại điểm cầu Ba Bể. Tôi chính thức gửi văn bản cảnh cáo vi phạm tiến độ bàn giao nội dung chặng phía Bắc. Nếu trong vòng 24 giờ tới cô không nộp kịch bản chuẩn hóa công thức cá hồ Ba Bể để kịp tiến độ chiến dịch truyền thông độc quyền mùa thu, Vị Việt sẽ lập tức kích hoạt điều khoản đơn phương chấm dứt hợp đồng, thu hồi toàn bộ gói tài trợ kỹ thuật, tịch thu phương tiện thử nghiệm Bếp Nhỏ và tiến hành các thủ tục pháp lý khởi kiện bồi thường toàn bộ thiệt hại kinh tế phát sinh.*

An đứng lặng đi vài giây, ánh mắt lướt nhanh qua từng dòng chữ lạnh lùng, sắt máu mang đầy tính đe dọa của quyền lực tiền tệ. Những con chữ điện tử phát sáng như những nhát roi quất vào không gian. Nhưng rồi, chẳng có một chút hoảng sợ hay nao núng nào thoáng qua trên gương mặt cô. An thản nhiên ấn ngón tay vào nút nguồn bên hông máy, dập tắt màn hình đen ngòm, rồi nhét chiếc điện thoại sâu vào đáy túi áo khoác. Những lời đe dọa nặng nề từ những toan tính thị trường bỗng chốc trở nên nhẹ bẫng và bất lực trước sức nặng ngàn cân của cuộn băng từ tính đang nằm yên ấm áp trong lòng bàn tay cô.

Khang từ ngoài hiên bước vào, trên tay anh là chiếc máy phát băng cassette hai cửa băng cũ kỹ chạy bằng bốn cục pin đại mà anh vừa mượn được từ góc bàn làm việc của bố Lành. Anh nhẹ nhàng đặt chiếc máy lên mặt chiếc chiếu hoa trải giữa sàn gỗ, cạnh bếp than vẫn còn vương vất vài tàn lửa đỏ.

An ngồi quỳ một chân xuống chiếu, cẩn thận đặt cuộn băng Maxell vào khay chứa, đóng nắp lại bằng một tiếng *cách* khô giòn. Cô đưa ngón trỏ khẽ ấn mạnh vào phím *Play*.

Bánh răng kim loại bên trong máy bắt đầu quay đều. Tiếng xè xè, rào rào của dải từ tính ma sát qua đầu từ bằng kim loại vang lên lách tách qua màng loa giấy, âm thanh nghe như tiếng những đốm than dẻ nổ tí tách trong đêm đông lạnh giá. Rồi từ trong khoảng không gian mờ mịt của hơn ba mươi năm trước, giọng nói hào sảng, ấm áp, rắn rỏi và đượm nồng mùi khói bếp thân thương của bà Mùi cất lên, vang vọng khắp gian nhà sàn, xóa nhòa đi mọi khoảng cách mịt mùng của thời gian:

*"...Cá trắm đen to con, thịt dày thớ, muốn giữ qua mùa nước lũ mà không có muối thì phải lấy lá chuối rừng hơ mềm bọc ngoài, hun bằng khói củi mục cây dẻ ba ngày ba đêm cho kiệt nước... Nấu ăn thời đó, một lạng muối cũng chia đôi, có ai nghĩ giữ lại tên mình..."*

Khi An tắt máy ghi âm, giọng bà Mùi trong dải từ băng cũ vẫn còn thì thầm: "Nấu ăn thời đó, một lạng muối cũng chia đôi, có ai nghĩ giữ lại tên mình..."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories