Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtCh.3 / 32
Chapter 3

Mùa Nước Đổ Qua Bếp Lửa

Những vệt nước ánh lên như gương vỡ trên các triền ruộng bậc thang Mù Cang Chải đón mùa đổ ải, nơi đất vừa cày xới nồng ngái mùi bùn non và cỏ mục. Từ trên yên đèo nhìn xuống, thung lũng như một tấm áo vá khổng lồ ghép bằng hàng ngàn mảng chì lấp loáng dưới bầu trời xám đục. Mặt nước trên từng bậc thang không phẳng lặng mà xao xác theo từng cơn gió luồn qua khe núi, phản chiếu những mảng mây nặng trĩu đang sà xuống rất thấp. Đẹp đến nao lòng trong mắt những kẻ viễn du cầm máy ảnh, nhưng với những người sống bám vào đất dốc, mùa nước đổ lại là thời điểm khắc nghiệt nhất trong năm: mùa giáp hạt. Đó là khoảng thời gian mà cái lạnh buốt của hơi nước ngấm vào từng kẽ đá, khi vụ cấy vừa bắt đầu nhưng hạt thóc trong bồ đã cạn đáy từ lâu, để lại những mái nhà sàn chìm trong nỗi âu lo thầm lặng.

Chiếc xe tải cũ hoán cải mang tên Bếp Nhỏ chồm lên một ổ gà ngập bùn quánh, máy gầm rú trong tiếng kim loại rên rỉ trước khi trườn qua con dốc trơn như bôi mỡ dẫn sâu vào bản ven suối. Tiếng động cơ diesel đời cũ nổ giòn giã, phả ra từng luồng khói xám đặc quyện vào màn sương ẩm. Khang ghì chặt vô lăng, hai bắp tay gồng cứng, những vệt dầu mỡ bám trên cổ tay anh lấm lem cùng bụi đường đỏ quạch. Mỗi lần bánh xe trượt nhẹ trên sống trâu nhão nhoét, chiếc xe lại lắc lư chực trôi dạt về phía mép vực taluy âm, khiến Khang phải liên tục nhấp nhả côn số để giữ cho thân xe không bị văng ngang.

"Đường nhão nhoét thế này thì phanh đĩa mòn vẹt mất thôi," Khang lẩm bẩm, mắt không rời khỏi rãnh lầy phía trước, nơi nước đục từ sườn đồi đang xẻ ngang mặt đường thành những con mương nhỏ. "Bùn đỏ ngậm nước luồn cả vào hốc bánh xe rồi đấy An. Cứ cái đà này, chỉ cần một đoạn sụt lún nữa là chúng ta nằm chết dí ở đây đến tối mịt."

An không đáp, tay giữ chặt chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đặt trên đùi để nó không va đập vào cánh cửa sắt rung bần bật. Ngón tay cô miết nhẹ lên bề mặt gỗ mát lạnh, cảm nhận từng đường viền xà cừ óng ánh như một điểm tựa tĩnh lặng giữa cơn chao đảo của chuyến đi. Qua ô kính lấm lem bùn đất, cô nhìn thấy những vạt đồi trơ trọi gốc rạ cũ đã mục rữa từ mùa gặt năm ngoái, đen xỉn và ngập chìm trong lớp bùn nhão. Xa xa, dọc mép đường mòn quanh co men theo vách đá, vài ba đứa trẻ người Thái chân trần cắp những chiếc giỏ tre rách bươm đứng ngơ ngác nhìn theo chiếc xe lạ. Ánh mắt chúng ngây thơ nhưng đượm một nỗi mỏi mòn, đôi môi thâm tím vì ngâm nước lạnh quá lâu khi lội ruộng mưu sinh.

Khi xe đỗ xịch dưới chân một con dốc thoải dẫn vào đầu bản, An cùng Khang bước xuống. Không khí vùng cao ùa vào lồng ngực, ngai ngái mùi đất ướt hòa lẫn mùi khói nứa bay là đà sát mặt đất từ những mái nhà sàn thấp thoáng sau rặng tre. Không gian ẩm ướt đến mức dường như chỉ cần vắt nhẹ một vạt lá cũng ứa ra nước lạnh.

Họ ghé qua một căn nhà sàn nhỏ sát ven đường để hỏi lối rẽ vào sâu trong thung lũng. Bước chân lên những bậc thang gỗ đã mòn vẹt và trơn trượt vì rêu, đập vào mắt An là những chiếc bồ đan bằng nứa ghép sát vách gỗ—những chiếc bồ đựng thóc nếp nương vụ cũ của bà con—đều đã trống trơn, nắp bồ mở toang, đáy bồ chỉ còn sót lại vài ba hạt thóc lép xơ xác lẫn trong lớp bụi mốc. Mùa lúa mới chỉ vừa cấy xuống lòng bùn lạnh, mạ non còn đang ngơ ngác trước gió buốt, còn hạt gạo cất từ mùa thu năm ngoái đã cạn kiệt từ cả tháng trước. Người trong bản phải ăn sắn khô độn thêm rau rừng để đợi ngày lúa trổ bông, bữa cơm gia đình trĩu nặng những tiếng thở dài nén chặt trong từng chén nước lá chát ngắt.

"Không chỉ thiếu nếp đâu," một người đàn ông trung niên quấn khăn chàm, tay cầm chiếc chài rách buông tiếng thở dài khi thấy Khang nhìn vào lòng suối cạn đáy bên dưới, nơi những bờ sỏi trơ trọi phơi mình dưới trời xám. "Cá suối tự nhiên giờ cũng chẳng còn bao nhiêu. Mấy đoàn xe du lịch từ dưới xuôi lên nườm nượp, các nhà hàng quán ăn dưới thị trấn gom mua ráo riết từ rạng sáng. Người ta kích điện, quăng lưới mắt nhỏ vét sạch từ cá bống, cá pa khính đến từng con cá hoa nhỏ bằng ngón tay út. Bọn trẻ con trong bản lội cả buổi sáng dọc ghềnh đá may ra mới dính được dăm con tép mương."

Người đàn ông gõ nhẹ cán chài mục vào cột nhà, tiếng gỗ kêu lộc cộc khô khốc như chính sự trống trải của mùa giáp hạt. Lời nói trần trụi kéo An trở về thực tại. Mảnh đất mà trên những tấm bưu thiếp du lịch luôn rực rỡ sắc vàng ấm no, lung linh dưới ánh nắng mùa thu của những mùa vàng bội thu, thực chất đang oằn mình trong khoảng trống hụt hẫng của cái đói trước vụ gặt. Sự sung túc chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi của vài tuần lễ hội, còn sự nhọc nhằn, thiếu thốn lại là dòng chảy bền bỉ bao trùm lấy cuộc sống quanh năm của những phận người nơi đây.

***

Chị Vàng Thị Dở đón hai người vào căn nhà sàn gỗ pơ-mu nép mình bên mép suối lớn. Dòng nước đục ngầu cuộn chảy róc rách dưới chân gầm sàn, nơi xếp ngay ngắn vài bó củi khô cùng những chiếc cày gỗ đã cũ mòn. Căn nhà sàn thoáng gió, mái lợp ngói fip-rô xi măng đã ngả màu rêu phong theo năm tháng, nơi gian bếp lửa trung tâm luôn âm ỉ than đỏ bốc lên mùi bồ hóng quen thuộc. Chồng chị đi làm phu khuân vác công trình dưới huyện chưa về, đường xa cách trở và tiền công ít ỏi khiến anh hiếm khi ghé nhà giữa vụ, trong nhà chỉ còn Dở và hai đứa con nhỏ gầy gò với đôi mắt tròn xoe, nép sau cột gỗ len lén nhìn khách lạ.

Nhận ra phong thái nhã nhặn và vẻ chân tình của An khi cô gửi biếu gia đình gói muối trắng cùng chút dầu ăn mang theo từ bến sông Hồng, Dở mỉm cười, nét mặt sạm nắng giãn ra, những nếp nhăn nơi khóe mắt khẽ rung rinh. Muối hạt trắng ngần và chai dầu ăn óng ánh là món quà quý giá ở lưng chừng núi, nơi người ta thường phải chắt chiu từng hạt muối cho những bữa măng luộc đắng ngắt. Chiếc giỏ tre vớt suối treo góc sàn chỉ vỏn vẹn gần chục con cá suối nhỏ bằng hai ngón tay—chiến lợi phẩm của mẻ lưới cất từ lúc tờ mờ sáng mà chị chắt chiu dành đãi khách. Những con cá vảy bạc lấp lánh, thân hình thuôn dài chắc nịch, dù kích thước khiêm tốn nhưng vẫn tươi roi rói, mang theo mùi vị tinh khôi của rêu đá đầu nguồn.

"Cá ít lắm," Dở vừa nói vừa đưa tay thoăn thoắt gọt mấy thanh nứa tươi bằng một con dao nhỏ sắc lẹm. "Nhưng có khách quý lên tận đây hỏi về nếp cúng, tao sẽ làm món pa pỉnh tộp theo cách mẹ tao dạy ngày xưa."

Dở dẫn An men theo con đường mòn sau chái nhà, leo ngược lên vạt rừng đồi ẩm ướt để hái gia vị. Mưa lất phất rây bụi trắng xóa làm nhòe đi những rặng sa mộc phía xa. Dưới tán rừng thưa rậm rạp hơi ẩm, đất xốp mềm lún sâu dưới từng bước chân, Dở chỉ cho An từng chùm hạt dổi rừng còn ngậm sương, vỏ căng mọng và thơm nồng một mùi tinh dầu cay dịu. Từng chùm hạt dổi lấp ló sau kẽ lá xanh thẫm, toát ra thứ hương thơm ấm áp xua đi phần nào cái lạnh buốt của buổi chiều miền núi. Gần đó là những bụi mắc khén hoang dại trổ hoa kết hạt, thứ hạt tròn nhỏ mang vị the buốt đầu lưỡi đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, chỉ cần khẽ chạm tay vào cành lá là một mùi thơm hoang dại, nồng đượm đã bốc lên bao phủ lấy không gian.

"Hạt dổi phải hái lúc vỏ vừa chuyển màu, đem nướng trên than hồng cho nứt vỏ rồi giã nhỏ thì mới dậy mùi," Dở vừa thoăn thoắt ngắt từng tàu lá dong non mọc ven bờ khe vừa bảo An. "Lá dong non này để bọc cá hoặc lót vỉ, còn kẹp cá thì dứt khoát phải dùng thanh tre tươi vừa chẻ ngoài bờ suối. Tre tươi có nước, nướng lâu trên than không bị cháy, nước ngọt từ ống tre tiết ra ngấm ngược vào thịt cá thì thịt mới ngọt, không bị khô xác."

Bàn tay Dở thoăn thoắt bấm từng búp lá, chọn những đọt tre bương bánh tẻ chắc nịch rồi chặt dứt khoát bằng vài nhát dao gọn gàng. Những giọt nước mưa đọng trên tán lá rây xuống vai áo chàm của chị, biến thành những vệt sẫm màu. An bước theo sau, chăm chú lắng nghe từng lời dặn dò mộc mạc, ghi nhớ từng cử chỉ của người phụ nữ vùng cao như cách người ta gìn giữ một bí quyết sống còn được truyền miệng qua bao thế hệ.

Về đến hiên nhà sàn, An ngồi xuống cạnh Dở, chăm chú quan sát đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ vùng cao. Dở dùng con dao nhọn khía dọc sống lưng con cá suối thay vì mổ bụng như cách làm dưới xuôi. Chị giải thích rằng mổ lưng mới giữ nguyên được bọc lòng cá béo ngậy và dễ gập đôi con cá lại khi ướp. Lưỡi dao bén ngọt lướt một đường dứt khoát dọc theo xương sống, để lộ phần thịt cá trắng hồng, săn chắc. Hạt dổi sau khi nướng qua than củi nổ lách tách được đem giã nhuyễn cùng mắc khén, muối hột, ớt nướng, gừng núi, tỏi khô và những ngọn rau thì là rừng non mướt, tỏa ra một hỗn hợp mùi hương ngào ngạt, kích thích khứu giác đến tột cùng. Thứ hỗn hợp gia vị sền sệt ấy được nhồi chặt vào khoang bụng cá, miết đều lên từng thớ thịt tươi rói. Từng con cá được bẻ gập ngược lại sao cho đầu và đuôi chạm nhau, kẹp chặt giữa hai thanh tre bương tươi chẻ đôi, đầu ngọn tre buộc túm bằng lạt nứa dẻo dai đã ngâm qua nước suối.

Nhìn chiếc bếp củi nhà sàn đang đỏ rực than củi mục, An chợt nhớ tới chiếc bếp than gấp gọn bằng thép không gỉ mà cô trang bị trên thùng xe Bếp Nhỏ. Chiếc bếp ấy là niềm tự hào của cô về tính cơ động, sử dụng loại than hoa không khói ép từ mùn cưa công nghiệp chuyên dùng cho các buổi dã ngoại hiện đại, vốn được ca ngợi về hiệu suất sinh nhiệt ổn định và sự sạch sẽ tối đa.

"Chị Dở ơi, để em nướng thử mấy con bằng bếp than của xe em nhé, xem nướng có nhanh hơn không để đỡ tốn củi nhà chị," An hào hứng đề nghị. Cô muốn thử nghiệm xem liệu công nghệ tiện lợi có thể hỗ trợ rút ngắn thời gian chuẩn bị bữa ăn trong điều kiện thiếu thốn này hay không.

Dở nhìn chiếc hộp inox sáng loáng mà An mang lên sàn nhà, đôi mắt thoáng chút tò mò nhưng không phản đối: "Cứ thử xem sao, bếp của người dưới xuôi trông sạch sẽ đấy."

An thoăn thoắt xếp than hoa ép công nghiệp vào lòng bếp, châm cồn khô mồi lửa. Lửa bốc đều, than đỏ rực không một vệt khói đen, tỏa ra thứ nhiệt lượng chuẩn xác và phẳng lặng như một thiết bị đo đạc trong phòng thí nghiệm. Không gian xung quanh chiếc bếp inox vẫn giữ nguyên vẻ tinh tươm, không bụi bặm, không một vệt muội than bám vào thành kim loại. An đặt ba kẹp cá suối lên vỉ nướng inox, kiên nhẫn lật trở. Dưới tác động của nhiệt lượng trực tiếp và mạnh mẽ, thịt cá xèo xèo tưa mỡ, vỏ ngoài vàng rộm rất nhanh nhờ nhiệt lượng cao và đồng đều. Mỡ cá rỏ xuống than hồng bốc lên những tiếng xì xèo vui tai, thoạt nhìn vô cùng bắt mắt.

Thế nhưng, khi mẻ cá chín tới, An nhấc một kẹp cá ra đĩa sứ, gỡ nhẹ một miếng thịt cá nếm thử, lòng cô chùng xuống.

Miếng cá chín đều, không cháy sém, thớ thịt săn lại gọn gàng, nhưng vị giác chỉ đón nhận được cái nóng rát của than nhiệt và vị mặn khô khốc của muối ớt. Nó hoàn toàn thiếu vắng cái tầng hương sâu lắng, cay nồng và mờ ảo mà chỉ tro tàn củi mục rừng già mới tạo ra được. Than hoa công nghiệp cháy kiệt không khói, nhưng chính vì không có khói—thứ khói đậm đà tinh dầu từ vỏ cây dẻ, củi nghiến mục rữa tích tụ bao năm tháng của đất trời đại ngàn—thịt cá suối không thể ngậm lấy hồn cốt của núi rừng. Miếng cá chín ép dưới nguồn nhiệt khô khốc trở nên trơ trọi, khô xác ở bề mặt và nhạt nhẽo ở bên trong, chẳng khác nào một món nướng hàng quán được sản xuất hàng loạt trong các lò nướng thành thị vô hồn.

Trong khi đó, ở góc bếp nhà sàn, mẻ cá của Dở vùi sát trên lớp tro hồng đượm, khói củi rừng bảng lảng quấn lấy từng thớ nứa tươi, len lỏi qua từng kẽ lá dong non bọc ngoài, thấm đẫm vào thớ thịt cá suối hoang dã. Ngọn lửa liu riu từ những thanh củi dẻ mục không đốt cháy bề mặt mà ủ ấm từng thớ thịt từ từ. Nước ngọt từ thanh tre tươi sôi lên, ngấm ngược vào xương cá, làm mềm từng chiếc vây nhỏ. Khi gỡ thanh tre ra, một mùi hương thơm lừng, ngai ngái, nồng đậm lan tỏa khắp gian nhà, xộc thẳng vào khứu giác khiến người ta ứa nước miếng. Miếng cá của Dở bóng bẩy lớp mỡ tự nhiên, mềm mọng và dậy lên một sự hòa quyện hoàn hảo giữa vị ngọt của cá suối, vị tê râm ran của mắc khén và lớp khói thơm nồng nàn của củi rừng.

An ngồi lặng nhìn chiếc bếp inox hiện đại của mình, rồi nhìn đống tro than mộc mạc của Dở đang tỏa ra ánh sáng ấm áp. Sự kiêu hãnh của kỹ thuật cơ khí hiện đại bỗng chốc trở nên nhỏ bé trước kinh nghiệm ngàn đời của người miền núi. Cô mở cuốn sổ tay bìa da, cẩn thận đặt bút ghi chép lại giới hạn nghiệt ngã của thiết bị công nghiệp: *“Lửa than ép có thể tạo ra nhiệt lượng sạch, nhưng không thể thay thế được lớp khói thơm nồng của củi rừng mục. Món nướng bản địa không chỉ cần nhiệt độ chín thịt, nó sống bằng chính linh hồn của loại gỗ nuôi dưỡng ngọn lửa.”*

***

Chiều muộn, sương mù từ đỉnh đèo tràn xuống thung lũng đặc quánh như sữa, nuốt chửng những mảng xanh của nương ngô và những nếp nhà sàn xa xa. Gió lùa qua các khe vách nứa mang theo hơi ẩm lạnh buốt khiến hai đứa trẻ nhà Dở phải xích lại gần bếp than, hai bàn tay nhỏ xíu hơ trên tro nóng. Dở bắc chiếc chõ gỗ lên chảo gang ngập nước để chuẩn bị đồ mẻ xôi nếp cuối cùng trong bồ thóc gia đình. Chiếc chõ gỗ làm từ thân cây mềm khoét rỗng, qua năm tháng đã ngả màu nâu đen bóng bẩy vì ngấm hơi nước và khói bếp.

Hạt nếp nương hạt tròn mẩy, đục như ngọc trai, được ngâm từ trưa trong làn nước suối lạnh ngắt. Từng hạt gạo ngậm no nước suối đầu nguồn, căng tròn và đều tăm tắp. Khi ngọn lửa củi nứa bùng lên dữ dội dưới đáy chảo gang, hơi nước sôi sục bốc lên qua các lỗ thoát của chõ gỗ, mang theo hương thơm dẻo quánh, ngọt lịm đặc trưng của giống nếp nương Mù Cang Chải. Hơi ấm lan tỏa xua tan đi cái giá lạnh tê tái đang bủa vây bên ngoài hiên. Mùi xôi nếp mới đồ ngào ngạt quyện cùng mùi cá nướng kẹp thanh tre biến gian nhà sàn lạnh lẽo thành một ốc đảo ấm cúng lạ thường.

Dở dùng chiếc muôi gỗ lớn xới đều mẻ xôi, khói nóng phả ngập khuôn mặt khắc khổ của người đàn bà vùng cao. Những hạt nếp dính vào muôi gỗ mềm dẻo, óng ánh như một lời hứa hẹn về sự no ấm. Thế nhưng, bất chợt, An thấy khóe mắt Dở rưng rưng, rồi hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má xạm nắng, rơi thẳng xuống mép chõ gỗ xèo một tiếng nhỏ. Tiếng nước mắt bốc hơi trên gỗ nóng nghe nghẹn ngào đến thắt lòng.

"Sao thế chị Dở?" An giật mình, khẽ chạm tay vào vai chị, cảm nhận được lớp vải áo chàm thô ráp đang rung lên nhè nhẹ.

Dở vội lấy vạt áo chàm lau nhanh khóe mắt, nhưng bờ vai chị vẫn khẽ run lên theo từng tiếng nấc nghẹn ngào cố kìm nén:

"Đây là mẻ nếp cúng cuối cùng trong bồ rồi cô An à. Đáng lẽ... đáng lẽ số nếp này tao phải giữ lại đến tháng mười, chờ ngày mở lễ cúng cơm mới để tạ ơn ma nhà, tạ ơn thần lúa đã cho hạt gạo nuôi sống tổ tiên. Đó là giống nếp thơm nhất, dẻo nhất của nhà tao truyền qua ba đời nương rẫy... Bao nhiêu năm dù đói kém thế nào, mẹ tao dặn cũng không được đụng vào số thóc dành riêng cho bát hương tổ tiên."

Chị nghẹn ngào, nhìn sang hai đứa con nhỏ đang ngồi co ro bên góc bếp đợi bữa, đôi mắt chúng thơ ngây nhìn mẹ mà chưa hiểu hết những gánh nặng đè lên đôi vai gầy guộc:

"Nhưng hôm qua tao vừa gật đầu bán ba phần tư số thóc nếp ấy cho con buôn dưới thị trấn rồi. Họ trả giá rẻ mạt, nhưng tao không thể không bán. Con bé lớn nhà tao năm nay đỗ vào trường nội trú trên huyện lỵ. Tiền sách vở, tiền ăn ở, tiền quần áo ấm cho nó vào đầu năm học... tao không biết đào đâu ra. Người Thái mình quý hạt nếp cúng như tính mạng, bỏ lễ cúng cơm mới là có tội với tổ tiên nhiều lắm, ma nhà phạt thì mùa sau lúa lép hạt thôi... Nhưng tao không thể để con gái tao thất học, lại suốt đời cắm mặt vào nương đá cằn cỗi như đời mẹ nó được."

Lời tâm sự của Dở như một nhát dao khía thẳng vào lòng An. Ngồi bên nồi xôi ngào ngạt khói trắng, An hiểu rằng phía sau những phong tục tập quán kỳ vĩ được ca tụng trong các cuốn sách du khảo là những giằng xé sinh tồn tàn khốc của người dân bản địa. Người đàn bà ấy đã phải chấp nhận đánh đổi niềm tin tâm linh truyền đời, chấp nhận cái mặc cảm tội lỗi với tổ tiên chỉ để đổi lấy tương lai của một đứa trẻ. Sự lựa chọn sinh kế nghiệt ngã ấy không có chỗ cho những phán xét lãng mạn hóa của những kẻ đứng ngoài đời sống thực tế. Văn hóa truyền thống ở đây không phải là những màn biểu diễn sắc màu lộng lẫy, mà là xương máu, là sự chắt bóp trong từng hạt gạo giữa lằn ranh của đói nghèo và hy vọng đổi đời.

An cúi đầu, lặng lẽ cùng Dở dọn mâm cơm ra mẹt tre. Bữa cơm chiều đạm bạc với xôi nếp dẻo thơm và đĩa cá pa pỉnh tộp nướng tro hồng chan chứa nỗi niềm trĩu nặng của người giữ bếp giữa mùa giáp hạt. Mùi thơm của nếp nương dẻo quánh, vị ngọt bùi béo ngậy của cá nướng thấm đẫm mắc khén hạt dổi như đọng lại nơi cuống họng một dư vị vừa tha thiết vừa đắng đót, khiến mỗi miếng ăn đều mang sức nặng của sự hy sinh thầm lặng.

***

Đêm buông xuống thung lũng đen kịt như mực tàu. Khí lạnh từ dòng suối bốc lên buốt thấu xương tủy, luồn lách qua từng kẽ ván sàn gỗ pơ-mu khiến không gian ngập tràn sự tịch mịch đến rợn ngợp. Ngoài trời, tiếng côn trùng rả rích tắt dần, nhường chỗ cho tiếng gió rít qua khe núi đá mỗi lúc một dữ dội.

Khoảng nửa đêm, một trận mưa rừng dữ dội bất thần trút xuống như thác đổ. Nước mưa xối xả đập vào mái nhà ràn rạt, tiếng sấm rền vang rung chuyển cả vách núi đá vôi, xé toạc màn đêm bằng những tia chớp xanh lét rạch ngang trời. Gió giật từng cơn điên cuồng làm căn nhà sàn rung rinh kẽo kẹt. Dòng suối hiền hòa ban chiều bỗng chốc gầm réo, nước đỏ ngầu cuồn cuộn dâng cao mấp mé chân cột nhà sàn, cuốn theo rác rưởi, cành cây mục và đất đá từ thượng nguồn đổ về ầm ầm như một đàn ngựa hoang lồng lộn.

Lo sợ chiếc xe Bếp Nhỏ đỗ bên mép dốc bị nước lũ cuốn trôi hoặc đất đá trên đồi vùi lấp, Khang và An vùng dậy, khoác vội chiếc áo mưa mỏng rồi hối hả chạy ra ngoài đường. Gió quất rát mặt, mưa táp buốt lạnh khiến họ gần như không mở nổi mắt. Con đường đèo độc đạo dẫn ra khỏi thung lũng lúc này đã biến thành một dòng sông bùn lầy nhão nhoét, trơn trượt và đầy nguy hiểm. Đất đá từ sườn taluy dương phía trên ngậm no nước bắt đầu sạt trượt từng mảng lớn, cây cối ngã rạp chắn ngang lối đi, tạo nên một cảnh tượng hỗn loạn và ngột ngạt.

"Phải nổ máy lùi xe vào bãi đất cao ngay lập tức!" Khang hét lớn qua tiếng mưa gầm rú đinh tai nhức óc, bàn tay anh quệt vội nước mưa đang chảy ròng ròng trên mặt.

An cầm đèn pin soi đường, ánh sáng vàng vọt quét qua những vũng bùn lầy đang sôi lên sùng sục vì nước chảy xiết. Khang nhảy tọt vào cabin, cắm chìa khóa điện rồi nhấn nút đề. Động cơ chiếc xe tải rùng mình chồm lên sau vài tiếng ho sặc sụa. Bùn đất đỏ quánh ngập quá nửa bánh xe, dính chặt lấy các gai lốp như keo dán. Khói đen phả mù mịt từ ống xả phía sau, hòa lẫn vào màn mưa trắng xóa, nhưng chiếc xe vẫn bị kẹt cứng giữa vũng bùn lầy sâu hoắm bên mép dốc.

"Lên số đi Khang! Đất trên đồi đang trôi xuống đấy!" An vừa soi đèn pin vừa hét to, giọng cô lạc đi giữa tiếng sấm chớp đùng đoàng.

Khang đạp lút ga, cố gài cầu trước để kéo xe thoát khỏi hố sụt. Kim đồng hồ tua máy vọt lên kịch trần, tiếng động cơ rít lên từng hồi đau đớn như một con thú hoang bị mắc bẫy. Thân xe rung giật dữ dội, lắc qua lắc lại nhưng vẫn không thể nhích lên được một tấc. Bùn đỏ văng tung tóe lên kính lái, che khuất hoàn toàn tầm nhìn phía trước.

Hai bánh sau quay tít mù trong tuyệt vọng, cọ xát dữ dội vào một tảng đá ngầm nhô lên giữa lòng đường. Bùn đất và đá vụn bắn tung tóe lên thân xe, gõ vào lớp vỏ tôn lách cách dồn dập. Khang nghiến chặt răng, hai tay ghì chặt vô lăng cố bẻ lái sang phải để tìm một điểm bám trên nền đất cứng hơn.

Giữa tiếng mưa gầm gào và tiếng máy rú rít đến cực hạn, một âm thanh vang lên khô khốc: *Rắc!*

Tiếng kim loại cọ xát dưới gầm xe vang lên sắc lẹm báo hiệu một bộ phận giảm chấn đã nứt lìa. Thân xe bỗng chốc sụt hẫng xuống một bên, nghiêng hẳn về phía dòng bùn đang cuồn cuộn chảy xiết dưới chân đèo.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories