Bảy Ngày Trước Khi Mặt Trăng RơiCh.30 / 30
Chapter 30

Sau bầu trời là những ngày thiếu điện

Bánh đáp của tàu Chim Vá chạm mạnh xuống mặt đường băng phủ đầy bụi xỉ của cảng Hạ Lam, khép lại hành trình một trăm sáu mươi mốt giờ nghẹt thở.

Cú va chạm cơ học khô khốc truyền qua khung dầm kim loại rách nát, dội thẳng vào lồng ngực những người ngồi bên trong buồng lái. Tiếng động cơ phụ lịm dần sau tiếng thở dài xả áp buốt óc của hệ thống van khí nén cao trình, nhường chỗ cho sự tĩnh lặng đặc quánh của lòng đất mẹ. Bên ngoài ô kính quan sát đa lớp đã bị mờ đục bởi bụi quặng thiêu kết và những vệt nám nhiệt loang lổ sau cú cọ xát dữ dội với rìa khí quyển, chiếc sà lan hộ tống Thiết Lĩnh 09 từ từ hạ bốn càng neo thủy lực xuống bãi đáp số ba. Khói trắng từ dàn giải nhiệt phụ trợ cuộn lên mù mịt, quấn lấy những chụp đèn pha sodium vàng vọt treo lơ lửng dưới vòm đá bazan của cảng ngầm.

Không có tiếng reo hò ầm ĩ hay cờ hoa đón rước tại bến đỗ. Những người đứng đợi dưới đường băng—những người thân với gương mặt hốc hác, thợ mỏ ca ba còn vương bụi than trên mí mắt, và lính cứu hỏa trong bộ đồ ami-ăng nặng nề—tiến lại gần bằng những bước chân chậm rãi, trĩu nặng trong sự im lặng thiêng liêng của những kẻ vừa cùng nhau bước qua lằn ranh hủy diệt. Cửa sập áp suất khoang trước rít lên một hồi dài, chốt khóa cơ khí bật mở từng nấc khô khốc rồi nặng nề hạ xuống mặt sàn bê tông nứt nẻ. Mùi không khí ẩm ướt, mặn chát hơi rêu phong của vòm hang đá, quyện chặt với mùi dầu cháy khét lẹt, khói hàn hồ quang và mồ hôi lưu cữu nhiều ngày trong lớp vải áp suất, ùa vào buồng lái như một lời xác nhận trần trụi: họ đã sống.

Đội ngũ y tế của trạm lập tức tràn lên khoang đệm với cáng cứu thương chống rung và các bình oxy dã chiến. Trần Kha, người hoa tiêu già với gương mặt xám ngoét vì mất máu và kiệt sức, được nhấc bổng khỏi ghế phụ. Chiếc nẹp chân không bằng sợi carbon ở cẳng chân trái của ông đã nứt toác dưới áp lực gia tốc, để lộ vùng mô dập tím tái, biến dạng do đòn quất kinh hoàng của sợi cáp thép cứu hộ ở Vùng Năm; ông được chuyển thẳng lên xe điện cấp cứu để đưa vào phòng phẫu thuật ghép nẹp xương chày và mác dưới sự giám sát trực tiếp của bác sĩ trưởng kíp trực.

Nguyễn Minh An lảo đảo bước xuống thang sắt bằng đôi chân cứng đờ như hai thanh gỗ mục. Khớp gối của anh run rẩy sau những giờ dài chịu tải trọng dị thường, nhưng anh từ chối chiếc cáng phụ mà người thợ cứu nạn đưa tới. Cánh tay phải của anh được Phạm Vân bó nẹp bất động trước ngực bằng ba vòng đai composit; lớp băng y tế chuyên dụng phủ ngoài những vệt bỏng điện độ ba cháy đen mô thịt, ăn sâu vào hệ thống gân gấp và làm trơ trụi những mảng da non phồng rộp vì bức xạ nhiệt. Mỗi nhịp đập của tim đều kéo theo một cơn đau giật buốt thấu tận màng xương, chạy dọc lên cuống họng, nhưng đôi mắt anh vẫn giữ vẻ bình thản đến gan lì, chất chứa thứ ánh sáng lạnh của kim loại đã tôi qua lửa đỏ.

Ngay sau lưng anh, Đỗ Linh cẩn trọng dìu Nguyễn Yến cùng nhóm thợ máy sống sót của Bạch Luân bước xuống từng bậc thang kim loại. Tạ Nhi đi sát phía sau, hai bàn tay cáu bẩn dầu mỡ ôm chặt chiếc hộp lưu trữ dữ liệu quang học trước ngực như một báu vật sống còn, mắt không rời những vết nứt nẻ trên sàn cảng. Bác sĩ Phạm Vân lập tức ký vào lệnh bàn giao y tế khẩn cấp ngay trên nắp ca-pô xe cứu thương, ấn định toàn bộ phi hành đoàn và kíp thợ cứu nạn phải bước ngay vào liệu trình truyền dịch giải độc bức xạ hạt nhân định kỳ tại khu cách ly tầng âm bốn trăm mét để hạ mức phơi nhiễm phóng xạ tích lũy suốt chặng đường liều mạng vượt qua Hành Lang Lửa.

Không ai nói một lời nào về chiến công hay danh hiệu anh hùng. Giữa cái ôm siết chặt đến nghẹt thở của những người ruột thịt và những cái bắt tay siết chặt đầy bụi than của bạn bè cùng kíp thợ, họ chỉ lặng lẽ nhìn nhau. Hơi ấm xương thịt của những con người bằng da bằng thịt vừa giật lại mạng sống từ tay thần chết truyền qua những lớp áo bảo hộ sờn rách, ấm áp và chân thực hơn bất kỳ tấm huân chương nào.

***

Hai giờ sau khi tàu Chim Vá hạ cánh, hội trường trung tâm của Hầm Hạt Giống chật kín người nhưng tuyệt nhiên không có một dấu hiệu nào của không khí ăn mừng. Không gian rộng lớn được đục sâu vào khối đá nguyên khối chìm trong thứ ánh sáng mờ đục; các cụm đèn trần huỳnh quang nhấp nháy chập chờn theo từng nhịp rền rĩ của máy biến áp, phản ánh nguồn điện lưới đang chao đảo ở mức sàn nguy hiểm nhất kể từ ngày thành lập thuộc địa. Hơi thở của hàng nghìn con người bốc lên thành làn sương mỏng dưới vòm trần lạnh ngắt, đặc quánh mùi vải dạ ướt, mồ hôi chua nồng và bụi quặng chưa kịp gột rửa.

Trên bục chỉ huy đúc bằng bê tông cốt thép, Nguyễn Minh Dung và Phan Oanh đứng cạnh nhau trước toàn thể đại diện cư dân, thợ mỏ các ca kíp và đại diện các gia tộc vận tải đường dài. Không có bất kỳ lời hiệu triệu hoa mỹ nào được chuẩn bị. Dung bước tới gần micro kim loại đã trầy xước sơn; mái tóc đen của cô rối bù, bết dính vào thái dương, và đôi mắt hõm sâu với những quầng thâm thẫm màu sau hơn một trăm giờ thức trắng điều phối mạng năng lượng và dòng truyền động. Giọng cô khàn đặc, có lúc khô khốc như tiếng hai mảnh kim loại cọ xát, nhưng vang rõ từng âm sắc, găm thẳng vào bầu không khí ngột ngạt của gian hầm:

— Thưa toàn thể cư dân Hạ Lam. Tổ hợp Bạch Luân đã không đâm xuống đầu chúng ta. Phần lõi của trạm mẹ, nơi chứa lò phản ứng hạt nhân phụ và khu vực kỹ thuật sống còn, đã được nâng lên quỹ đạo ổn định ở độ cao hai trăm mười lăm cây số. Thảm họa hủy diệt toàn bộ ba mươi nghìn con người dưới lòng chảo này đã được ngăn chặn thành công nhờ sự dũng cảm phi thường và độ chuẩn xác cơ học tuyệt đối của phi hành đoàn tàu Chim Vá cùng kíp trực buồng máy phụ.

Một tiếng thở phào tập thể, trầm đục và run rẩy như tiếng sóng ngầm, gợn lên trong biển người ken đặc. Những bờ vai căng cứng suốt nhiều ngày qua khẽ chùng xuống, vài tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ góc hàng ghế của các gia đình công nhân mỏ. Nhưng Dung lập tức giơ cánh tay áo xắn cao lên quá đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước, dứt khoát ra hiệu giữ trật tự. Đứng bên cạnh cô, Phan Oanh bước lên một bước. Gương mặt Oanh đanh lại như thép nguội, cô giơ cao tập biểu đồ kỹ thuật và sơ đồ dòng tải năng lượng in trên giấy than trước ống kính máy quay phát thanh toàn thuộc địa:

— Nhưng cái giá chúng ta phải trả để đổi lấy mạng sống này là vô cùng khắc nghiệt. Để cứu phần lõi thoát khỏi lực cản ma sát chí tử của tầng khí quyển trên, mười hai khoang quặng chiến lược—toàn bộ nguồn dự trữ kim loại quý và nhiên liệu đồng vị của Hạ Lam tích lũy trong năm năm qua—đã bị xả bỏ hoàn toàn vào khoảng không. Đau đớn hơn, việc vỡ vụn kết cấu giàn khung ngoài mạn trong quá trình nâng quỹ đạo khẩn cấp đã phá hủy hoàn toàn sáu tổ máy phát điện chính của trạm mẹ. Sản lượng điện truyền dẫn vi ba từ Bạch Luân về lòng chảo Hạ Lam sụt giảm bảy mươi phần trăm. Chúng ta đã thoát chết khỏi cú va chạm cơ học, nhưng kể từ giây phút này, toàn bộ thuộc địa chính thức bước vào một cuộc chiến sinh tồn mới: cuộc chiến trong bóng tối, cái lạnh và sự thiếu thốn cùng cực.

Cả hội trường nín bặt. Không một tiếng xì xào, không một cử động thừa thãi. Những con số lạnh lùng, tàn nhẫn của Oanh giáng thẳng vào thực tế trần trụi mà không ai có thể né tránh hay tô hồng.

— Hội đồng điều hành khẩn cấp quyết định ban bố tình trạng phân bổ năng lượng cấp bốn trên toàn lãnh thổ, — Oanh tiếp tục, thanh âm đanh thép, đều đặn như nhịp búa đập. — Kể từ sáu giờ sáng mai, ba phần tư các khu dân cư ngoại vi, các hành lang phụ và toàn bộ các hầm mỏ tầng nông sẽ bị cắt điện hoàn toàn. Chúng ta bắt buộc phải di tản và dồn toàn bộ ba mươi nghìn dân cư vào trục vòm trung tâm và các nhánh hầm kiên cố của Hầm Hạt Giống để tận dụng bảo toàn thân nhiệt quần thể. Nguồn điện ít ỏi còn lại từ các trạm biến áp dự phòng sẽ chỉ được ưu tiên tuyệt đối cho ba mục tiêu sống còn: hệ thống quạt lọc khí tuần hoàn ngầm, các trạm bơm nước sâu từ tầng ngậm nước bazan, và các nhà kính mầm protein sinh học. Điện sinh hoạt gia đình sẽ áp dụng chế độ luân phiên nghiêm ngặt ba giờ mỗi ngày cho từng phân khu. Mùa đông thiếu điện này sẽ kéo dài nhiều tháng, thậm chí có thể là nhiều năm cho đến khi chúng ta sửa chữa được mạng lưới ngoài không gian. Sẽ không có chỗ cho sự lãng phí, không có ngoại lệ cho bất kỳ cá nhân nào, và không một ai được phép đứng ngoài kỷ luật chung của lòng đất.

Lời tuyên bố như một gáo nước lạnh buốt dội thẳng vào bất kỳ ảo tưởng nào về một cái kết êm đẹp hay một kỳ nghỉ ngơi sau biến cố. Cứu được mạng sống của cả cộng đồng đồng nghĩa với việc chấp nhận một cuộc sống thắt lưng buộc bụng đến tận cùng xương tủy, một sự tồn tại tối giản chỉ đủ để duy trì nhịp thở. Nhưng nhìn vào mắt những người thợ mỏ, những người lái sà lan và những phụ nữ lam lũ đứng dưới khán phòng, người ta không thấy sự hoảng loạn hay những lời than vãn oán hờn. Trong những hốc mắt trũng sâu vì mệt mỏi ấy chỉ còn lại sự chai sạn quen thuộc của những con người sinh ra từ lòng đá, lớn lên trong bóng tối của các tầng quặng, sẵn sàng đón nhận gian truân bằng sự lầm lũi và lòng kiên cường đã ngấm vào máu thịt.

***

Ngay sau khi bản thông cáo hiện thực được ban bố, căn phòng họp kín của ban điều phối tại tầng ba—vốn là nơi làm việc của các kỹ sư cấp cao—nhanh chóng biến thành trụ sở làm việc đầu tiên của Ủy ban Điều tra Liên tịch.

Cơ cấu quyền lực của Hạ Lam đã thay đổi vĩnh viễn sau biến cố sinh tử trên quỹ đạo. Thay vì sự độc quyền phán quyết của Ban Điều hành kỹ trị cũ, những kẻ từng ngồi trong phòng kính máy lạnh để định đoạt số phận của hàng nghìn con người ngoài bãi thải, Ủy ban mới được thành lập với sự tham gia chính thức, có quyền biểu quyết ngang hàng của đại diện Nghiệp đoàn Thợ Mỏ và Bảo Trì, cùng đại diện Liên hội Sà Lan vận tải. Bà Lê Thu, khoác trên mình chiếc áo da sờn rách loang lổ vết dầu cồn của dân bến bãi, ngồi ở vị trí đối diện trực tiếp với các ủy viên hội đồng; mái tóc hoa râm búi chặt sau gáy làm lộ rõ khuôn mặt vuông vức đầy nếp nhăn cương nghị. Ngồi sát cạnh bà là người thợ trẻ tên Quốc—người đang cẩn trọng đặt con dấu đồng bát giác của nghiệp đoàn thợ máy lên mặt bàn gỗ thô thay cho thợ cả Bùi Sâm.

Lệnh đình chỉ công tác khẩn cấp đối với Giám đốc vận hành Vũ Thành được Phan Oanh dập mạnh xuống mặt bàn đầu tiên, tiếng kim loại của kẹp tài liệu va vào gỗ vang lên khô khốc.

Vũ Thành ngồi thu mình ở góc phòng. Chiếc áo vest công vụ màu xám tro thẳng thớm ngày nào giờ nhàu nhĩ, cổ áo mở phanh để lộ vùng cổ nhăn nheo ướt đẫm mồ hôi lạnh. Khuôn mặt từng trải, sắc sảo của một kẻ quen thao túng các luồng thông tin kỹ thuật giờ đây không giấu nổi sự sụp đổ toàn diện của một kẻ vừa bị tước đoạt toàn bộ công cụ quyền lực. Ông bị đình chỉ mọi chức vụ điều hành, bị thu hồi thẻ an ninh cấp một và cấm rời khỏi ranh giới thuộc địa để chờ đợi một phiên tòa công khai xét xử hàng loạt cáo buộc hình sự: che giấu khiếm khuyết kỹ thuật mang tính hệ thống suốt ba mươi sáu tháng, tự ý xóa bỏ phụ lục xả tải 09-B nhằm bảo vệ giá trị sổ sách của nhóm cổ đông trạm mẹ, và trực tiếp đẩy sinh mạng của toàn bộ cư dân trạm không gian lẫn mặt đất vào hiểm họa diệt vong.

— Tôi đã hành động để giữ ổn định hệ thống... — Vũ Thành lẩm bẩm, giọng nói run rẩy, khản đặc trong sự tuyệt vọng của một kẻ ngụy biện đã cạn kiệt lý lẽ. — Nếu công bố sự xuống cấp của hệ thống neo giữ vào ba năm trước, nguồn đầu tư sẽ bị cắt, toàn bộ dự án khai thác sẽ đổ vỡ... Tôi chỉ tìm cách cân bằng rủi ro...

— Ông hành động để giữ thể diện và chiếc ghế bọc da của mình thì đúng hơn, — bà Lê Thu lạnh lùng cắt ngang, giọng nói trầm đục của người cả đời gầm rú át tiếng máy nổ khiến Thành rụt cổ lại. Ngón tay trỏ thô ráp, nứt nẻ của bà gõ cộc cộc xuống mặt bàn thép. — Những đứa trẻ lái tàu của tôi suýt nữa đã chôn xác ngoài khoảng không lạnh ngắt kia chỉ vì những bản báo cáo kỹ thuật sạch bóng không tì vết mà ông vẽ ra trong văn phòng. Kể từ ngày hôm nay, không có một giọt nhiên liệu, một mét cáp chịu lực hay một then cài nào được phép vận hành mà không qua mắt kiểm tra trực tiếp của thợ thuyền và dân bến bãi. Trách nhiệm hình sự của ông sẽ do tòa án công khai của toàn thể cư dân định đoạt, không một dòng số liệu nào bị bôi xóa nữa đâu.

Đúng lúc bầu không khí trong phòng căng thẳng đến mức nghẹt thở, cánh cửa kim loại nặng nề mở ra, phát ra tiếng rít ken két của bản lề chưa kịp tra dầu.

Thợ cả Bùi Sâm bước vào phòng. Ống thở oxy dẻo bằng nhựa trong suốt vẫn ghim chặt nơi hai cánh mũi của người thợ già, dẫn khí từ chiếc bình dã chiến đeo bên hông. Từng bước đi của ông chậm chạp, kéo theo tiếng thở khò khè, nặng nhọc—di chứng nghiệt ngã của căn bệnh bụi phổi than đá đã làm vỡ các phế nang sau bốn mươi năm cày xới dưới lòng đất. Đi ngay sát phía sau ông là Nguyễn Minh An. Cánh tay phải của An vẫn bị nẹp cứng nhắc trong khung composit, chiếc áo khoác bảo hộ lao động màu xám tro còn dính những vệt bồ hóng đen sì từ buồng máy phụ của tàu Bạch Luân, mùi khói khét vẫn lẩn khuất quanh thân áo.

An bước thẳng tới trước bàn làm việc của Ủy ban Điều tra. Bằng bàn tay trái lành lặn nhưng đầy những vết chai sần và xước xát, anh đặt xuống mặt bàn một tập hồ sơ dày cộp đóng gáy sắt đã ố vàng, mép giấy quăn queo vì độ ẩm của hầm lò, kèm theo ba thẻ nhớ bằng vỏ titan cũ kỹ đã mòn vẹt các góc tiếp xúc. Cùng lúc đó, Bùi Sâm cũng lặng lẽ thò tay vào túi áo ngực, rút ra cuốn sổ tay bìa da cháy sém một góc—cuốn sổ tay kỹ thuật cá nhân ghi chép tỉ mỉ từng nhịp rung bất thường của kết cấu trạm mẹ suốt hàng chục năm qua mà ông đã giấu kín dưới đáy hòm đồ nghề.

— Đây là toàn bộ nhật ký xưởng Hai, biên bản nghiệm thu lô gioăng đệm làm kín mang mã hiệu PR-904-HL và các lần thỏa hiệp quy trình bảo trì trong suốt năm năm qua, — giọng An vang lên giữa gian phòng, bình thản, trầm tĩnh nhưng nặng trịch sức nặng của sự thật. — Ba năm trước, chính tôi đã ký nhắm mắt vào biên bản nghiệm thu tuyến làm mát số bốn dưới sức ép tiến độ bàn giao của ban quản lý xưởng. Chính chữ ký tắc trách đó của tôi đã gián tiếp tạo điều kiện cho khối muối kiềm kết tủa hàn chết then cài cơ khí số ba, đẩy đồng đội tôi vào chỗ suýt chết trong buồng lái tàu Chim Vá. Tôi không đến đây để xin giảm nhẹ hình phạt, và càng không dùng chiến công giữ được trạm mẹ để xóa đi sai lầm trong quá khứ. Tôi tự nguyện nộp toàn bộ tài liệu gốc này, yêu cầu Ủy ban thẩm định công khai mọi chữ ký của tôi và tôi sẵn sàng chịu mọi hình thức kỷ luật lao động hoặc tài phán kỹ thuật thích đáng từ phía nghiệp đoàn.

Bùi Sâm ho lên một tràng dài ngắt quãng, bả vai gầy guộc rung lên bần bật. Ông run rẩy rút chiếc khăn tay cáu bẩn lau vệt đờm lẫn máu nơi khóe miệng, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Quốc và Phan Oanh:

— Cả tôi nữa. Với tư cách là thợ cả quản lý xưởng, tôi biết rõ học trò của mình phải chịu những sức ép vô lý nào từ cấp trên nhưng tôi đã chọn cách im lặng để giữ việc làm và chén cơm cho anh em thợ thuyền trong xưởng máy. Sai phạm cơ học không bao giờ tự biến mất theo thời gian; nó chỉ tích tụ lại dưới lớp vỏ bọc bình yên, mục ruỗng dần từ bên trong và chờ ngày nổ tung như một khối thuốc nổ định giờ. Nếu các người thực sự muốn xây dựng lại một mạng lưới kỹ thuật mới trên đống đổ nát này, chúng ta phải bắt đầu bằng sự thật sạch sẽ và tàn nhẫn nhất, dù nó có làm hoen ố danh dự hay sự nghiệp của bất kỳ ai trong căn phòng này.

Căn phòng lặng phác đi. Không một tiếng động nào ngoài tiếng xì xì đều đặn của van xả bình oxy bên hông Bùi Sâm. Sự im lặng không mang tính phán xét, mà là sự chấn động trước lòng can đảm và phẩm giá nghề nghiệp trần trụi của hai thế hệ thợ máy. Phan Oanh nhìn tập tài liệu ố vàng trên bàn, rồi ngẩng lên nhìn người thợ cả già nua và chàng kỹ sư trẻ với cánh tay tàn tật. Dung đứng bên cạnh, ánh mắt cô dừng lại trên gương mặt cương nghị của em trai mình; trong ánh nhìn ấy tuyệt nhiên không có sự thương hại hay ý định bao che của tình ruột thịt, mà chỉ có sự tôn trọng sâu sắc giữa hai con người đại diện cho một thế hệ mới—một thế hệ dám đối diện với bóng tối, dám làm, dám thừa nhận sai lầm và dám trả giá sòng phẳng để làm sạch lại nền móng của sự sống.

***

Chiều muộn buông xuống lòng chảo cảng ngầm Hạ Lam.

Không gian bên ngoài trạm xưởng cơ khí số Bốn đổ nát chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo của bụi đá lơ lửng. Những mảng tường bê tông vỡ vụn sau dư chấn của vụ phóng tàu khẩn cấp đang được các đội dân phòng và thợ mỏ thu dọn từng tảng, tiếng xẻng xúc xỉ than và tiếng động cơ xe cẩu thủy lực gầm gừ vang vọng từ đằng xa. Không khí mát lạnh từ các tầng đá sâu phả ra qua những khe nứt địa chất, làm dịu đi cái cảm giác rát bỏng, khô khốc trên da thịt sau chuỗi ngày dài bị giam hãm trong buồng lái chật hẹp ngoài không gian.

An ngồi một mình trên một gờ thép hàn nhô ra bên mạn sườn của một chiếc sà lan cũ kỹ đang nằm chờ bảo dưỡng trên bệ kích. Cánh tay phải của anh được cố định chặt chẽ bằng khung nẹp y tế màu xám tro; những ngón tay bất động được bôi một lớp gel tái tạo mô bóng nhẫy, thỉnh thoảng lại khẽ giật lên từng nhịp ngắn theo các xung kích thích thần kinh truyền từ miếng dán điện cực dưới lớp băng. Cơn đau âm ỉ vẫn chạy râm ran trong tủy xương, nhưng cảm giác được hít thở bầu không khí quen thuộc của đất đá quê nhà khiến lồng ngực anh nhẹ bẫng.

Tiếng lạo xạo của đế giày đinh nghiến trên mặt xỉ sắt kéo An ra khỏi dòng suy nghĩ. Một bóng người cao ráo, vững chãi bước tới từ phía đường hầm thông gió. Lê Hải bước đến gần, trên người vẫn mặc chiếc áo khoác thợ máy bằng vải bạt thô dính đầy bụi mạt sắt. Trên hai tay anh là hai chiếc cốc bằng thép dập không gỉ chứa đầy nước lọc mát lạnh, hơi nước đọng thành những giọt li ti bên ngoài thành kim loại.

Hải ngồi xuống gờ thép cạnh An, bờ vai rộng khẽ chạm vào vai áo người bạn. Anh đưa một cốc nước sang cho An, rồi nâng cốc của mình lên, chạm nhẹ miệng cốc vào chiếc cốc trong tay An.

*Keng!*

Một tiếng vang thanh thoát, trong trẻo như tiếng chuông nhỏ ngân nga giữa bãi phế liệu ngổn ngang.

— Uống đi. Nước lọc tiêu chuẩn vừa rút từ vòi phân phối công cộng của trạm bơm số hai đấy, — Hải nói, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười quen thuộc. Khóe mắt anh hằn sâu những nếp nhăn mệt mỏi sau những ngày đêm bám vô-lăng chiếc Thiết Lĩnh 09, nhưng ánh mắt nhìn An thì nhẹ nhõm và ấm áp lạ kỳ. — Hàng nguyên chất đấy, không có một giọt cồn quặng hay tạp chất nào đâu.

An dùng bàn tay trái vụng về đón lấy chiếc cốc, đưa lên miệng uống một ngụm lớn. Dòng nước mát lạnh, mang theo vị khoáng chất ngai ngái của tầng đá ngầm trôi qua vòm họng khô khốc, xua tan cảm giác tanh nồng của kim loại và thuốc chống say không gian, làm bừng tỉnh từng giác quan đang rệu rã.

— Nghe nói ca phẫu thuật chân của lão Kha xong xuôi rồi, — Hải phóng tầm mắt nhìn ra bãi đáp hoang tàn phía trước, nơi chiếc Chim Vá đang nằm im lìm dưới ánh đèn xám xịt, trên thân tàu chằng chịt những vết nẹp gia cố bằng dầm thép chữ I. — Bác sĩ trưởng bảo ghép xương nhân tạo thành công, nhưng lão già sẽ phải làm bạn với đôi nạng gỗ ít nhất ba tháng. Thế mà vừa tỉnh thuốc mê, cái miệng lão đã oang oang đòi lập lại hải trình và vẽ lại bản đồ định vị các bãi phế liệu ngoài Vùng Một.

— Chân đau thì chân nằm yên, chứ mắt lão thì bao giờ chịu rời khỏi đường bay, — An khẽ cười, một nụ cười hiếm hoi và nhẹ nhõm nở trên gương mặt sạm đen vì khói quặng. Anh cúi đầu nhìn xuống bàn tay phải bất động của mình, nơi những ngón tay vẫn đờ đẫn dưới lớp gel trong suốt. — Bác sĩ điều trị bảo hệ thống gân ngón tay của tôi bị tổn thương nhiệt quá sâu. Cần ít nhất nửa năm kích thích điện và tái tạo mô sợi. Có thể... sau này tôi sẽ không bao giờ cầm lại được chiếc cờ-lê để căn chỉnh các chi tiết máy với độ chuẩn xác từng milimét như trước nữa.

Hải không vội vã an ủi bằng những câu từ sáo rỗng hay những lời hứa hẹn dễ dãi. Là một người thợ lái tàu đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu vụ tai nạn máy móc, anh hiểu cái cảm giác mất đi sự chuẩn xác của đôi bàn tay đối với một thợ máy bậc cao như An đau đớn đến nhường nào. Hải chỉ im lặng, đưa cốc nước lên uống một ngụm chậm rãi, hít một hơi thật sâu mùi dầu bôi trơn và sắt rỉ quen thuộc đang bốc lên từ lòng sà lan, rồi trầm ngâm nói:

— Cậu có thể không tự tay vặn từng con ốc nhỏ nữa, An ạ. Nhưng cậu đã giữ được cả trạm mẹ không rơi xuống nghiền nát ba mươi nghìn con người ở cái lòng chảo này. Và điều quan trọng nhất... — Hải quay sang, nhìn thẳng vào mắt bạn, ánh mắt chân thành và sâu thẳm, — là cậu đã không còn tự mình ôm đồm mọi rủi ro rồi giấu kín tất cả trong bụng như trước đây. Cậu đã biết dựa vào người khác, biết để đồng đội cùng gánh vác. Bàn tay có thể chậm đi một chút, nhưng cái đầu và tấm lòng của cậu thì đã tìm lại được nhịp đập chuẩn xác nhất rồi.

Cả hai ngồi sát bên nhau trong sự tĩnh lặng của buổi hoàng hôn dưới lòng đất. Giữa họ không có những lời thề thốt nồng nhiệt, không có những cái ôm siết cuống quýt hay sự vội vã tái hợp bằng những cảm xúc bộc phát sau khoảnh khắc thập tử nhất sinh. Trải nghiệm cận kề cái chết trên quỹ đạo không thể trong chốc lát xóa sạch những vết nứt, những bất đồng hay sự xa cách đã tích tụ qua nhiều năm tháng giữa hai người; nhưng ngọn lửa thử thách ấy đã dạy cho cả hai cách thấu hiểu, cách kiên nhẫn chờ đợi và nhìn nhận đối phương bằng sự sòng phẳng, tôn trọng tuyệt đối của những người đồng chí hướng.

— Sau ca trực ngày mai, — Hải đột ngột lên tiếng phá vỡ khoảng lặng, giọng anh trầm xuống, nhẹ nhàng nhưng rõ ràng từng tiếng, — ghé qua khoang sà lan của tôi nhé. Mẹ tôi vừa mở một hộp cá khô dự trữ do người quen từ Bến Không Chủ gửi sang từ tháng trước. Tôi sẽ nấu một nồi cơm nóng bằng gạo mầm. Chỉ có cơm trắng, cá khô nướng than và hai chúng ta. Ngồi xuống và nói chuyện tử tế như hai người bạn. Được không?

An quay sang nhìn Hải, cảm nhận được hơi ấm vững chãi, không hề vồ vập hay đòi hỏi phát ra từ người bạn lái tàu. Một cảm giác bình yên len lỏi vào tâm trí anh sau những ngày dài đối mặt với sự hủy diệt rình rập. Anh khẽ gật đầu, khóe môi cong lên một nét cười nhẹ nhõm:

— Được. Sau ca trực tối mai. Nhưng nhớ phần tôi chỗ cháy nồi ở đáy niêu đấy.

***

*Keng! Keng! Keng!*

Tiếng chuông đồng báo đổi ca cơ khí ngầm vang lên từng nhịp khô khốc, giòn giã, xé tan không gian tĩnh mịch của phân xưởng lắp ráp máy phát điện dự phòng Hạ Lam. Ngay sau tiếng chuông, dàn đèn huỳnh quang trên trần nhà vụt tắt theo chu kỳ tiết kiệm điện nghiêm ngặt vừa ban hành, chỉ còn lại những vệt sáng màu cam yếu ớt tỏa ra từ các hộp ắc-quy cứu hộ gắn rải rác trên vách đá bazan gồ ghề.

Bên trong lòng phân xưởng ngầm ngập tràn bóng tối mờ ảo, một khối máy phát điện diesel công nghiệp cỡ lớn—thiết bị quý giá vừa được đội sà lan của Bến Không Chủ vận chuyển khẩn cấp về qua ngả hầm phía Tây—đang nằm sừng sững trên bệ thử tải bằng thép đúc. Xung quanh thân máy nặng hàng chục tấn, những cuộn dây đồng mới tinh dùng để quấn lại cuộn kích từ tỏa ra mùi sơn cách điện nồng đậm, quyện với mùi dầu nhớt bảo quản tạo nên một bầu không khí lao động đặc trưng.

An đứng bên cạnh bệ máy, chiếc áo bảo hộ lao động màu xám tro được khoác hờ qua một bên vai phải đang nẹp cố định. Cánh tay đau của anh được giữ yên trước ngực, nhưng dáng đứng của anh vẫn thẳng tắp, vững chãi như một cột trụ chịu lực. Đứng đối diện anh ở phía đầu trục truyền động là Tạ Nhi. Cô thợ máy trẻ tuổi của tàu Bạch Luân đã buộc gọn mái tóc ngắn sau gáy bằng một sợi dây dù, hai gò má lấm lem những vệt dầu máy đen nhánh, nhưng đôi mắt mở to sáng ngời sự tập trung và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Trên tay Nhi là bảng thông số đo lực căng bu-lông và tập bản vẽ sơ đồ đấu nối vi sai của cụm động cơ.

— Chú ý con ốc số bảy ở mặt bích trục khuỷu, — An đưa bàn tay trái lành lặn ra chỉ vào một vị trí khuất sâu bên dưới lốc máy, giọng anh trầm ấm nhưng rõ ràng, rành mạch từng chi tiết kỹ thuật. — Độ dôi ren gia công ở vị trí này chỉ có một phẩy hai milimét. Nếu em siết quá tay dù chỉ nửa vòng ren, phần ren bằng hợp kim nhôm bên trong sẽ bị tuôn nứt ngay lập tức khi khối động cơ này rung lắc ở tần số làm việc năm mươi héc. Nhưng nếu siết non lực, lớp dầu áp lực cao sẽ xì qua vòng đệm cao su chịu nhiệt chỉ sau chưa đầy hai mươi phút vận hành thử tải.

Nhi chăm chú lắng nghe, ánh mắt dõi theo ngón tay của An. Cô hít một hơi thật sâu để xua đi sự hồi hộp, ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt anh rồi gật đầu dứt khoát:

— Em hiểu rồi, anh An. Ngưỡng ngắt lực danh định là một trăm bốn mươi lăm newton-mét. Em đã kiểm tra và hiệu chuẩn lại chiếc cờ-lê cân lực trên bàn chuẩn mẫu của xưởng Ba trước khi vào ca.

An khẽ mỉm cười. Trong ánh mắt anh không còn sự sốt ruột, không có vẻ muốn bước tới làm thay hay thói quen ôm đồm, bảo bọc đến mức kiểm soát mọi công đoạn như trước kia. Bằng những ngón tay vụng về của bàn tay trái, anh cẩn thận nhấc chiếc cờ-lê cân lực dài bằng thép mạ crôm sáng bóng từ trên khay dụng cụ chuyên dụng, nâng lên và trao tận tay cho Nhi.

Sau khi trao dụng cụ, An chậm rãi lùi lại một bước dài. Anh chắp bàn tay trái sau lưng, đứng tựa nhẹ vào cây cột thép chịu lực của gian xưởng, giữ khoảng cách quan sát nhưng hoàn toàn đặt trọn niềm tin vào đôi tay và năng lực của người thợ trẻ thế hệ sau.

Tạ Nhi hít một hơi sâu, hai bàn tay siết chặt lấy cán chiếc cờ-lê kim loại nặng trịch. Cô bước tới trước khối máy phát điện dự phòng, đặt khẩu tuýp lục giác vào đầu con ốc then chốt số bảy. Cô điều chỉnh lại tư thế đứng, hai chân mở rộng bằng vai để tạo thế trụ vững vàng, rồi bắt đầu hít thở đều đặn, chậm rãi theo đúng nhịp thở mà bác sĩ Phạm Vân từng hướng dẫn cho phi hành đoàn trong những giờ phút nghẹt thở bên trong buồng lái tàu Chim Vá. Đôi mắt Nhi tập trung cao độ vào vạch chia khắc chìm trên thân cờ-lê, dồn toàn bộ lực của bờ vai và cánh tay siết chặt theo một đường vòng cung dứt khoát, chuẩn xác.

*Cạch!*

Tiếng lẫy lò xo bên trong cờ-lê cân lực nhảy chốt vang lên giòn giã, dứt khoát, âm vang lanh lảnh giữa không gian tĩnh mịch của phân xưởng. Con ốc then chốt đã được khóa chặt chính xác đến từng phần mười milimét vào vị trí danh định của nó. Cụm máy phát điện như rùng mình một cái trên bệ lò xo giảm chấn, tiếng các bánh răng kim loại ăn khớp vào nhau ngọt ngào, tạo nên một chuỗi âm thanh cơ học chuẩn mực và vững chãi.

Nhi thở phào nhẹ nhõm, lau vệt mồ hôi trên trán bằng mu bàn tay đầy dầu mỡ, rồi ngẩng đầu lên nhìn An, nở một nụ cười rạng rỡ và tự hào. An nhìn cô gái trẻ, khẽ gật đầu tán thưởng, ánh mắt ánh lên niềm tin tưởng vững chãi và an lòng. Anh biết rằng, dù bàn tay mình có thể không bao giờ cầm lại chiếc cờ-lê như xưa, nhưng ngọn lửa nghề nghiệp, sự chuẩn xác và tinh thần trách nhiệm đã được trao truyền trọn vẹn cho những người thợ máy trẻ tuổi—những con người sẽ cùng nhau thắp sáng lại vùng đất này từ tro tàn đổ nát.

Bầu trời đêm nay trên lòng chảo Hạ Lam khuyết đi một mảng lớn nơi trạm mẹ Bạch Luân từng tỏa sáng rực rỡ, để lại một khoảng không gian đen thẫm, lạnh lẽo. Nhưng sâu dưới mặt đất bazan, trong từng ngóc ngách của Hầm Hạt Giống, những ánh đèn dầu tù mù, những chiếc đèn pin tự chế và những tia sáng nhỏ nhoi từ bình ắc-quy vẫn kiên trì, bền bỉ thắp lên trong từng căn nhà của những người thợ mỏ. Họ cùng nhau nhóm lên hơi ấm, chuẩn bị bước vào một mùa đông dài và khắc nghiệt, với niềm tin vững chắc rằng mặt đất dưới chân mình sẽ không bao giờ sụp đổ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories