Mảnh giấy trong ổ chuột
Tiếng sột soạt gấp gáp và giòn rụm vang lên từ góc nhà kho chứa rơm khô, xé toạc không gian tĩnh mịch của gian hậu viện Bách Thảo Đường, trước khi một bóng lông xám tro thoăn thoắt phóng vút ra mặt sàn gỗ thô. Hai chân trước của Đậu Đậu ôm chặt lấy một mảnh giấy ố vàng đã mục nát, mép giấy nham nhở những vết răng gặm nhọn hoắt.
Cái đuôi xù to như một bông lau trắng ngả xám của con thú nhỏ dựng đứng lên thành một vệt thẳng tắp, bốn chiếc chân ngắn cũn nhưng dẻo quẹo lướt trên mặt ván gỗ dầu đã mòn bóng theo năm tháng. Nó vừa phi mạng sống vừa lấm lét ngoái cái đầu tròn xoe lại phía sau, đôi tai hình tam giác giật giật liên hồi, miệng phát ra những tiếng “chít chít” lanh lảnh, vừa mang vẻ đắc chí tột cùng vừa tràn ngập sự cảnh giác láu cá của loài linh thú chuyên đào bới hang hốc.
"Đậu Đậu! Ngươi đứng lại ngay cho ta! Mau nhả cái chổi rơm của ta ra!"
Một tiếng quát non nớt, the thé nhưng hừng hực lửa giận đuổi sát ngay sau lưng. Ninh Tiểu Mãn xắn cao hai ống tay áo vải thô màu nâu sẫm lên tận khuỷu, để lộ cẳng tay gầy guộc nhưng chắc nịch. Vạt áo trước của nàng dắt vội bên hông sườn, chân xỏ đôi giày vải mũi bọc da bò đã sờn rách chỉ mép, vừa thở hồng hộc vừa lăm lăm nửa chiếc cán chổi đót gãy đuổi theo bén gót. Mái tóc đen nhánh của nàng vốn búi kiểu củ tỏi gọn gàng nay đã xô lệch hẳn sang một bên mang tai, trên vầng trán lấm tấm mồ hôi hột và vương vãi mấy cọng rơm vàng óng ánh dưới tia nắng rọi nghiêng.
Chẳng là ban nãy, khi trời vừa sang quá buổi trưa, Tiểu Mãn đang cặm cụi quét dọn lớp mạng nhện và bụi bặm lưu cữu ở gian kho phía sau chái bếp để dọn chỗ xếp các sọt rễ Cát Cánh cùng Bạch Chỉ khô vừa thu từ giàn phơi hiên đông vào, Đậu Đậu đã rình rập từ lúc nào trên xà ngang. Con Tầm Hương Thử háu ăn và nghịch ngợm này thừa lúc nàng quay lưng đi lấy sọt mây, liền lén lút nhảy phóc xuống bó chổi rơm mới bện mà Tú Nương vừa cất công tước từ vụ lúa trước. Nó cắn phăng một túm rơm bánh tẻ để lót ổ, rồi chẳng biết ngửi thấy mùi gì lạ lùng trong kẹt kẹp gỗ chân tường mà thò mõm vào ngoạm luôn một vật mang đi.
"Đứng lại! Đừng có cắm đầu chạy vào gầm tủ thuốc! Ngươi mà làm đổ mấy bọc vỏ quýt khô mười năm của Bạch đại nương thì trưa nay đừng hòng có nửa góc bánh cúc núi!" Tiểu Mãn vừa dọa dẫm vừa dậm mạnh gót giày xuống sàn gỗ kêu thình thịch, cố tình tạo ra tiếng động lớn để chặn đường con thú nhỏ.
Đậu Đậu nghe thấy ba chữ "bánh cúc núi" thì cái chân sau khựng lại nửa nhịp, lỗ mũi hếch lên ngửi ngửi không khí, nhưng bản tính tò mò cố hữu và thói quen tha lôi những thứ kỳ lạ về tích trữ trong hang ổ lập tức chiếm thế thượng phong. Đôi mắt đen láy như hai hạt huyền của nó đảo tròn xoe, cái đầu nhỏ nghiêng sang một bên nhìn Tiểu Mãn đầy vẻ khiêu khích, rồi chớp lấy khoảnh khắc nàng vừa vung cán chổi lên, nó co mình phóng vèo qua khe hở giữa hai chân chiếc bàn cân thuốc bằng gỗ lim, chui tọt vào khoảng hẹp tối tăm dưới chân chiếc giá để sọt thảo mộc ở góc sâu nhất của gian kho.
Tiểu Mãn tức đến đỏ bừng cả hai gò má, chẳng buồn nghĩ ngợi đến bụi bẩn, quỳ rạp cả hai đầu gối xuống nền đất nện ẩm mát, rạp hẳn người ép sát mặt xuống sàn để nhòm vào khe hở tăm tối. Chiếc giá gỗ này đóng bằng những thanh thông già dày dặn, bốn chân to bản kê vững chãi trên bốn tảng đá xanh chẻ thô để ngăn hơi ẩm từ lòng đất xông lên, bên dưới từ lâu đã bị nhồi nhét đủ thứ rổ sề nan gãy, bao tải gai cũ rách và những bó củi vụn lưu cữu từ ba mùa đông trước.
"Ra đây mau! Ngươi trốn ở xó xỉnh nào rồi hả đồ chuột béo?" Tiểu Mãn nghiến răng, thò đoạn cán chổi ngắn vào sâu bên trong khua khoắng loạn xạ.
Đầu cán chổi chạm phải một vật gì đó mềm xốp, kêu lên những tiếng sột soạt quen tai. Cùng lúc ấy, một luồng bụi mỏng màu xám xịt mang theo mùi ngai ngái nồng nặc của thảo dược khô lâu năm xen lẫn mùi giấy mục ẩm mốc bốc thẳng lên mũi, khiến nàng không kìm được mà hắt hơi liền ba tiếng vang dội:
"Hắt xì! Hắt xì... ui da, bụi quá chừng!"
Đậu Đậu ở bên trong bị đầu chổi chọc trúng mông, liền rít lên một tiếng the thé đầy bực bội. Nó cắp chặt lấy mảnh giấy chiến lợi phẩm, cong đuôi phóng vọt ra ngoài qua một kẽ nứt sát chân tường phía đối diện, lao như một vệt khói xám về phía cửa kho mở toang.
Thế nhưng lúc này, Tiểu Mãn đã chẳng còn bụng dạ nào mà đuổi theo con sóc nhỏ háu ăn nữa. Đôi mắt nàng mở to, bị hút chặt vào khoảng tối dưới chân giá gỗ vừa bị đầu chổi lùa ra một góc trống trải.
Nơi đáy kẹp khuất gió giữa chân cột gỗ thông và vách tường đất nện nứt nẻ chằng chịt, có một khoảng hõm sâu vào trong lòng tường. Ở chính nơi ấy, một chiếc ổ chuột tròn xoe, được đan kết vô cùng tỉ mỉ và khéo léo hiện ra dưới luồng sáng le lói rọi xiên qua khe liếp nứa. Chiếc ổ được lót bằng nhiều tầng bông gòn tơi xốp lấy từ các quả bông dại trên vách núi Vân Mộng, nhưng đan xen giữa lớp bông trắng ngả vàng ấm áp ấy không phải là rơm rạ hay lá thông khô thông thường, mà là hàng chục mẩu giấy bản đã mục nát, rách tơi tả thành từng dải nhỏ. Mép giấy đã ngả sang màu vàng sậm như sáp ong lâu năm, trên bề mặt phủ kín những vệt mực đen mờ nhạt nhưng nét chữ vẫn toát lên vẻ cứng cỏi lạ thường.
"Tô tỷ tỷ! Mặc Trúc đại ca! Mau... mau tới xem cái này này!"
Tiểu Mãn tròn xoe mắt, không kịp phủi bụi bặm trên đầu gối, vội vàng ngoái cổ cất tiếng gọi thất thanh vọng ra ngoài sân sau.
Lúc bấy giờ, Tô Linh Chi vừa từ gian tiền đường bước vào sau khi tiễn đoàn người của Dược Sư Hội rời đi. Nàng vẫn còn mặc bộ đạo bào học đồ màu xanh nhạt giản dị, tà áo khép kín đáo, trên tay xách chiếc giỏ tre nhỏ đựng mấy nhánh thảo mộc tươi vừa cắt tỉa ngoài vườn ươm. Vừa bước chân tới bậu cửa gỗ của nhà kho, nàng đã thấy một bóng xám lao vút tới chân mình. Đậu Đậu nhảy phóc lên vạt áo nàng, bốn chiếc móng vuốt nhỏ bám chặt lấy thớ vải thô, cái miệng nhỏ vẫn ngậm cứng mảnh giấy giòn rụm màu vàng úa như thể đang ngậm một chiếc lá khô quý giá nhất trần đời.
"Đậu Đậu, không được nghịch ngợm."
Linh Chi khẽ ngồi xổm xuống, đặt chiếc giỏ tre sang một bên rồi đưa lòng bàn tay đón lấy con thú nhỏ. Đậu Đậu ngước cặp mắt ươn ướt, đen láy lên nhìn cô chủ, hai chân trước ôm lấy ngón tay cái của nàng, cái mũi hồng hào phập phồng hít hà mùi hương thảo dược thanh khiết và dịu mát toát ra từ đầu ngón tay nàng, rồi mới từ từ thả lỏng hàm răng nhỏ, nhả mẩu giấy vào lòng bàn tay nàng.
Linh Chi nhẹ nhàng gỡ mảnh giấy ra. Phiến giấy thô ráp chỉ to bằng nửa bàn tay người lớn, bốn góc viền mép đã bị răng nanh của con thú nhỏ gặm nham nhở thành những đường răng cưa lởm chởm. Chất giấy làm từ sợi vỏ cây dâu tằm thô sơ, trải qua không biết bao nhiêu mùa mưa nắng hanh hao nằm trong xó tối ẩm thấp nên đã khô giòn tới mức chỉ cần khẽ bóp mạnh là có thể vỡ vụn thành bột cám. Nàng cẩn thận đặt mảnh giấy lên lòng bàn tay trái, dùng đầu ngón tay trỏ mềm mại nhẹ nhàng vuốt phẳng từng nếp gấp hằn sâu đã gãy nếp từ bao giờ.
Một luồng linh lực Mộc hệ ôn nhu, tinh thuần và êm dịu như dòng suối đầu nguồn từ đầu ngón tay nàng khẽ khàng thẩm thấu qua từng thớ giấy, tựa như một lớp sương mỏng bao bọc lấy những sợi cellulose cổ xưa, giữ cho chúng không bị luồng gió núi vừa thốc qua khe cửa làm cho tan tác.
Và rồi, khi từng nếp gấp dần dần phẳng phiu dưới ánh nắng vàng óng như mật ong rọi nghiêng qua khung cửa sổ nhỏ trên vách kho, đồng tử của Linh Chi bỗng co rút kịch liệt, lồng ngực nàng như có một tảng đá vô hình đè nặng khiến hơi thở nghẽn lại nơi cuống họng.
Những dòng chữ trên mảnh giấy hiện ra rõ mồn một. Nét chữ thảo phóng khoáng, cứng cáp mà phiêu dật khôn cùng, từng nét phẩy sắc nhọn như cành tùng vươn mình qua vách đá dựng đứng, từng nét mác lại trầm ổn, nặng nề như rễ cổ thụ bám sâu vào lòng đất mẹ. Nhưng điều khiến sống lưng Linh Chi run lên từng chặp chính là sắc mực — đó hoàn toàn không phải thứ mực nho đen tuyền pha keo da trâu thông thường mà các học đồ đan đạo ở phường nghề Thanh Khê vẫn dùng để chép bài vị thuốc, mà là thứ mực màu nâu đen ánh lên sắc hổ phách nhàn nhạt dưới nắng, thoang thoảng một mùi nhựa thông thơm mát dịu nhẹ trộn lẫn với vị chát mặn của vỏ cây ngâm đặc.
Mực thông bì.
Thứ mực do chính tay dưỡng phụ và cũng là ân sư của nàng — Tô Hoài Sơn — tự tay chiết xuất từ vỏ những cây thông đỏ trăm tuổi trên đỉnh Lãnh Vân Phong buốt giá, đem ninh kỹ với nước suối ngầm rồi hòa cùng bồ hóng thu được từ ngọn đèn dầu mè cháy chậm. Thứ mực ấy chỉ được ông dùng vào những dịp đặc biệt nhất, khi cần ghi chép lại những tâm đắc đan đạo cốt tủy tích lũy suốt nửa đời người vào những trang sổ mật truyền. Từ thuở lên bảy, những buổi chiều mùa đông lạnh buốt gió lùa qua liếp nứa, Linh Chi đã hàng trăm lần ngồi bên án thư mài thỏi mực ấy cho ông, ngửi cái mùi nhựa thông ấm nồng quen thuộc ấy, làm sao cả đời này nàng có thể nhìn lầm cho được?
"Nét chữ của sư phụ..." Linh Chi lẩm bẩm, thanh âm run rẩy đến mức gần như chỉ là hơi thở lướt qua kẽ răng. Những ngón tay nàng khẽ run lên bần bật, vội áp chặt mảnh giấy mỏng manh vào ngực mình như sợ rằng chỉ một cơn gió nhẹ thoảng qua cũng có thể cuốn phăng đi chút hơi ấm tàn dư của người thân duy nhất trên cõi đời này.
Tiểu Mãn lúc này đã lồm cồm bò ra khỏi gầm giá gỗ, hai tay nàng cẩn thận bưng theo chiếc ổ chuột đan bằng bông dại và vô số vụn giấy nát, mặt mũi lấm lem những vệt bụi tro xám ngoét: "Tô tỷ tỷ! Muội tìm thấy cái ổ này nằm kẹt cứng ở chân tường! Chắc chắn là lũ chuột đồng hay chính con Đậu Đậu chết tiệt kia đã tha từ góc tủ thuốc cũ nào ngoài tiền đường về đây làm tổ từ năm ngoái năm kia... Nhiều vụn giấy lắm tỷ ơi, nhưng khốn nỗi chúng bị cắn nát vụn như trấu mục rồi, chỉ còn mỗi mảnh trên tay tỷ là còn nhìn rõ chữ nhất thôi!"
Linh Chi hít sâu một hơi dài để đè nén cơn xúc động đang cuộn trào trong huyết quản, cố gắng giữ cho bàn tay mình không còn run rẩy. Nàng cẩn thận đặt mảnh giấy lên chiếc khay gỗ dâu sạch sẽ đặt trên bàn cân thuốc, khẽ vẫy tay ra hiệu cho Tiểu Mãn đặt chiếc ổ chuột xuống bên cạnh. Nàng ghé sát mắt vào mặt giấy, nương theo dải nắng vàng rực rỡ chiếu rọi qua khung cửa, bắt đầu đọc từng hàng chữ thảo sắc sảo, dứt khoát.
Thế nhưng, càng đọc sâu xuống dưới, đôi lông mày thanh tú như lá liễu của nàng càng nhíu chặt lại, trong đáy mắt ánh lên sự bàng hoàng và kinh ngạc tột cùng.
Đây tuyệt nhiên không phải là một phương thuốc hoàn chỉnh theo bất kỳ quy chuẩn nào của giới tu chân. Mảnh giấy không hề có danh mục thảo dược, không phân chia liều lượng từng đồng, từng phân của các vị Quân, Thần, Tá, Sứ, cũng không hề nhắc tới thứ tự trước sau khi ném dược liệu vào lò đan như trong các điển tịch đan đạo thông thường mà Dược Sư Hội vẫn ban hành.
Toàn bộ mảnh giấy chỉ ghi lại một đoạn khẩu quyết khống chế hỏa lực.
Và điều khiến tim nàng đập thình thịch chính là: đoạn khẩu quyết này lại đi ngược hoàn toàn, thậm chí đối nghịch đến mức kinh thế hãi tục so với tất cả những giáo điều đan đạo mà Linh Chi từng tiếp thu từ các pho sách giáo khoa nhập môn, trái ngược cả những quy chuẩn nghiêm ngặt mà chính Phó hội trưởng Kỷ Như Tâm từng răn dạy các học đồ trong những buổi giảng pháp đường đường chính chính.
Trong đan thư chính thống của các môn phái tu tiên, thuật ngự hỏa luôn tuyệt đối tuân theo nguyên tắc đẳng cấp linh thảo cứng nhắc: thảo dược phàm giai hạ phẩm phải dùng văn hỏa ôn hòa để từ từ chiết xuất dược dịch thô; thảo dược nhất phẩm bắt buộc phải dùng linh hỏa sơ kỳ duy trì liên tục ở một mức nhiệt độ cố định, dùng nhiệt lực cưỡng bức bẻ gãy lớp linh giáp bảo vệ bên ngoài; còn thảo dược nhị phẩm lại đòi hỏi vũ hỏa bộc phát mãnh liệt trong khoảnh khắc để tôi luyện tạp chất. Nhiệt độ của ngọn lửa càng tinh thuần, mức nhiệt càng cố định bất biến bao nhiêu thì viên đan dược thành hình mới có cơ may đạt được độ tinh khiết cao bấy nhiêu. Tất cả mọi quy chuẩn đều lấy chiếc lò đan bằng kim khí lạnh lùng và dược tính của linh thảo làm trung tâm tuyệt đối.
Thế nhưng, những dòng chữ bằng mực thông bì của Tô Hoài Sơn trên mảnh giấy rách nát này lại viết:
*"... Phàm hỏa nhập đan, chớ chấp nhất vào phẩm bậc cao thấp của thảo mộc, chớ câu nệ vào độ nóng lạnh cố định của địa hỏa nơi lò luyện. Thảo mộc trong thiên địa dẫu quý giá đến vạn lượng linh thạch, chung quy khi vào lò cũng chỉ là vật chết vô tri; thân thể người bệnh dẫu suy kiệt nghèo hèn, lại là gốc rễ của một sinh linh đang từng khắc thở.*
*Muốn luyện đan thông kinh, ngọn lửa trong lòng lò phải phỏng theo đúng nhịp đập của mạch tượng, tùy thuận theo độ đàn hồi của kinh lạc người dùng thuốc mà biến thiên khôn lường. Kinh mạch phàm nhân mỏng manh tựa hồ tơ tằm mùa xuân, gặp hỏa lực bạo liệt cương mãnh ắt đứt gãy tiêu tan, gặp hàn khí ngưng trệ ắt tắc nghẽn vón cục. Khi luyện vị thuốc hành khí, hỏa lực của đan sư phải nhu hòa nhấp nhô như sóng nước mùa thu: ba phần nhiệt dẫn huyết mạch, bảy phần ôn dưỡng khí tức. Hỏa theo mạch mà chuyển dịch, đan theo kinh mà ngưng kết. Đan thành mang trọn tính nhu nhuận của sinh cơ, ấy mới gọi là 'Hỏa Nhuận Thông Kinh'..."*
Đoạn văn bên dưới tiếp nối bằng một chuỗi khẩu quyết vận hành linh hỏa kỳ dị chưa từng thấy trong sách vở:
*"... Nhất chuyển: Hỏa tức như mạch đập tam thốn, hư nhiệt vi thăng, giữ cho đan đỉnh ấm tựa hơi thở lúc bình minh.* *Nhị chuyển: Nhiệt giáng tam phân, phỏng theo độ co giãn của âm lạc, dùng mộc khí thanh nhu bao bọc lấy hỏa tính cuồng bạo bên trong.* *Tam chuyển: Thu triệt để linh hỏa về đáy lò, duy trì dư nhiệt tựa như hơi ấm từ lòng bàn tay mẹ đặt lên ngực con trẻ, để đan khí tự dưỡng lấy phần hồn phách tinh túy nhất của thảo mộc..."*
Linh Chi đứng chôn chân bên bàn cân thuốc, đọc đi đọc lại từng chữ, từng dấu ngắt câu, lồng ngực nàng cuộn trào những đợt sóng ngầm chấn động dữ dội.
Từ trước đến nay, nàng cũng như bao đan đồ khác ở Thanh Khê, chỉ biết nơm nớp lo sợ điều chỉnh ngọn lửa sao cho linh thảo không bị quá nhiệt mà cháy khét thành than, cố giữ nhiệt độ buồng lò ở mức ổn định nhất để linh dịch không bị tán loạn. Ngay cả sáng nay, khi nàng đứng giữa sảnh lớn đối chất với Hà Uyển Dung về tính an toàn của cao bôi trị nứt nẻ ngoài da, nàng cũng chỉ mới nhận thức được tầng nông cạn nhất: thuốc dành cho người phàm cần phải triệt tiêu bớt linh lực dư thừa và thanh lọc triệt để đan độc.
Nhưng nàng chưa từng dám nghĩ tới tầng sâu thẳm này: ngay từ khoảnh khắc ngọn lửa đầu tiên bùng lên dưới đáy lò đồng, tâm thức và linh hỏa của người đan sư đã phải hòa làm một với sự sống, phải phỏng theo từng nhịp đập của quả tim, từng hơi thở mong manh và độ co giãn đàn hồi của những sợi kinh lạc vô hình bên trong cơ thể con người!
Thay vì coi chiếc lò đan là một cái cối đá kiên cố để nghiền nát, cưỡng bức dược tính thảo mộc, sư phụ Tô Hoài Sơn lại xem không gian bên trong lòng lò chính là một cơ thể sống thu nhỏ. Ngọn lửa không phải là công cụ bạo tàn để tôi luyện sắt đá, mà ngọn lửa chính là dòng máu ấm áp, dịu dàng len lỏi vào từng ngóc ngách u tối nhất để vỗ về và khai thông những chỗ ứ trệ bế tắc.
"Hỏa nhuận thông kinh... Phỏng theo độ đàn hồi của kinh mạch..." Linh Chi khẽ thì thầm lặp lại từng âm tiết, cảm giác như có một cánh cửa bí mật giấu kín bấy lâu nay trong đan đạo vừa bật mở toang trước mắt nàng, rọi xuống một luồng ánh sáng nhân bản xua tan đi tất cả những giáo điều khô cứng, lạnh lùng của giới tu chân.
"Đó không phải là khẩu quyết luyện đan thông thường của bất kỳ tông môn nào."
Một giọng nói trầm thấp, bình thản nhưng lại ẩn chứa một sức nặng sắc bén bỗng nhiên vang lên từ phía ngạch cửa kho.
Linh Chi khẽ giật mình, vội vàng ngẩng đầu lên.
Mặc Trúc đã đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ từ lúc nào chẳng rõ. Anh vẫn mặc chiếc áo chẽn cộc tay bằng vải thô màu xám tro bạc màu, hai ống tay áo để lộ cẳng tay săn chắc như gân bò rừng, phủ đầy những vết sẹo kiếm khí ngang dọc đã mờ nhạt theo năm tháng. Một tay anh cầm chiếc khăn vải sạch màu chàm dùng để lau mồ hôi sau khi vừa chẻ xong đống củi thông lớn ngoài sân sau, ánh mắt đen sâu thẳm như hồ nước mùa đông đang dừng lại chăm chú trên những dòng chữ thảo bằng mực thông bì trên mặt bàn.
Anh cất bước đi vào. Bước chân của người kiếm tu nhẹ nhàng đến mức không phát ra một tiếng động nhỏ nào trên sàn gỗ, tựa như một con báo tuyết lướt qua lớp lá mục trong rừng sâu. Nhưng anh vẫn giữ đúng khoảng cách chừng ba bước chân đầy chừng mực và tôn trọng đối với Linh Chi, dừng lại bên mép bàn, đôi mắt sắc lẹm lướt qua từng dòng chú thích li ti viết ở góc dưới cùng của mảnh giấy:
*"... Khí trệ huyết ứ nơi lạc mạch sâu kín, kỵ nhất dùng hỏa cương mãnh kích xung. Phải dùng hỏa nhuận thấm dần từng khắc, tựa gió xuân ấm áp thổi tan lớp băng tuyết đầu mùa..."*
Bàn tay đang cầm chiếc khăn lau của Mặc Trúc bất giác siết chặt lại. Các khớp ngón tay thô ráp của anh gồ lên, trắng bệch ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Đôi chân mày lưỡi kiếm sắc bén khẽ nhíu chặt lại nơi mi tâm, và trong đáy mắt vốn luôn tĩnh lặng, xa xăm như mặt hồ không gợn sóng của người kiếm tu bỗng dâng lên một ngọn sóng dao động mãnh liệt. Đó là sự bàng hoàng tột độ, xen lẫn niềm xúc động khôn nguôi của một kẻ tưởng chừng đã lạc lối giữa bóng đêm vĩnh hằng bỗng tìm lại được cội nguồn ký ức sâu kín nhất của đời mình.
"Mặc Trúc đại ca? Huynh... huynh nhận ra những dòng chữ này sao?"
Linh Chi nhạy bén nhận ra sự biến chuyển dị thường trong nhịp thở của anh, ngước đôi mắt trong veo nhìn anh đầy nghi hoặc và chờ đợi.
Mặc Trúc im lặng một hồi lâu. Lồng ngực vạm vỡ của anh khẽ phập phồng theo từng nhịp thở sâu và nặng nhọc, như thể anh đang dốc toàn bộ ý chí kiên định của một kiếm tu để đè nén dòng ký ức đau đớn nhưng thiêng liêng đang trào dâng. Anh chầm chậm đưa một ngón tay trỏ chai sần chỉ vào dòng chữ "ba phần nhiệt dẫn huyết, bảy phần ôn dưỡng khí", cất giọng khàn đặc:
"Năm năm trước... vào cái mùa đông mà kiếm khí trong cơ thể ta nghịch hành dữ dội nhất, xé rách toàn bộ mười hai đường kinh mạch chính ở sườn tây Lãnh Vân Phong... Ta rơi xuống đáy một khe vực sâu không đáy trong cơn mê man thoi thóp... Khi ấy, có một lão đan sư mang theo một bầu rượu thuốc bằng hồ lô cũ kỹ đã nhặt ta về."
Linh Chi nín thở, hai mắt mở to, bàn tay vô thức siết nhẹ mép áo: "Lão đan sư?"
"Lúc đó, toàn bộ kinh lạc trong cơ thể ta đều đứt đoạn từng khúc, chân khí Trúc Cơ tẩu hỏa nhập ma bốc cháy rừng rực như ngọn lửa ngầm thiêu đốt lục phủ ngũ tạng." Mặc Trúc chậm rãi kể, ánh mắt anh nhìn chăm chú vào mảnh giấy nhưng tâm trí dường như đã vượt qua ngàn dặm tuyết trắng trở về buổi chiều tà buốt giá của năm năm về trước. "Những y sư cao minh nhất của tông môn trước đó đều đã lắc đầu buông tay. Bọn họ bảo rằng nếu dùng đan dược công phạt mãnh liệt để dập tắt chân hỏa thì kinh mạch rách nát của ta sẽ vỡ vụn thành tro bụi ngay tức khắc; còn nếu để mặc cho ngọn lửa tự do hoành hành thì trong vòng ba ngày ta sẽ chết cháy từ bên trong. Tất cả bọn họ... đều khuyên ta nên tự phế bỏ toàn bộ tu vi, chấp nhận làm một phế nhân liệt giường suốt phần đời còn lại."
Anh đưa bàn tay trái chai sần chạm nhẹ lên vùng ngực trước tim mình, nơi từng phải gánh chịu những cơn co giật xé ruột xé gan:
"Nhưng lão nhân gia ấy không phế tu vi của ta. Ông ấy dùng ba mươi sáu cây châm bạc mảnh như sợi tóc phong tỏa các đại huyệt dẫn đường, rồi dùng một luồng đan hỏa kỳ lạ chưa từng thấy truyền qua lòng bàn tay, ép thẳng vào huyệt Đan Điền của ta. Ngọn lửa ấy... lạ lùng thay, không hề nóng rát, không hề thiêu đốt da thịt hay kinh mạch. Nó ấm áp, mềm mại, uốn lượn nhịp nhàng theo từng đường kinh lạc rách nát của ta, nhấp nhô phỏng theo từng hơi thở thoi thóp yếu ớt. Ngọn lửa đi đến đâu, máu độc ứ trệ tan rã đến đó; những vết nứt rách trên kinh lạc như được một lớp màng sinh cơ ấm áp bao bọc lại, giữ lại cho ta một tia sinh mạng cuối cùng để sống sót qua mùa đông năm ấy."
Mặc Trúc ngước mắt lên, nhìn thẳng vào đôi mắt đang rung động của Linh Chi, giọng nói của anh trầm đục nhưng chắc nịch như một lời thề khắc sâu vào bia đá:
"Phương pháp điều tức và dẫn hỏa cứu mạng ta năm đó... từng đường đi nước bước, từng nhịp thăng giáng của hơi ấm... chính là thứ được viết trên mảnh giấy rách nát này: 'Hỏa Nhuận Thông Kinh'. Suốt đời này, ta vĩnh viễn không bao giờ quên được cảm giác ngọn lửa hòa làm một với nhịp đập kinh mạch ấy. Người đã cứu mạng ta năm xưa... chính là Tô lão tiền bối."
Gian nhà kho bằng gỗ bỗng chốc chìm vào một sự im lặng trang nghiêm và thiêng liêng đến nghẹt thở.
Gió núi từ đỉnh Vân Mộng xào xạc thổi qua những tán thông già ngoài hiên sau, mang theo hơi thở mát rượi của đất ẩm và hương cỏ dại ngạt ngào. Linh Chi đứng lặng người bên chiếc bàn cân thuốc, từng giọt máu trong lồng ngực nàng như đang râm ran chuyển động theo một nhịp điệu kỳ lạ.
Hóa ra, mối duyên nợ giữa Mặc Trúc và mái nhà Bách Thảo Đường này không phải chỉ bắt đầu từ cái đêm mưa bão lạnh buốt khi anh gục ngã trước hàng rào tre gãy nát với thanh kiếm gỉ sét trên lưng. Sợi dây nhân duyên vô hình kết nối giữa y quán nhỏ bé nghèo nàn này và người kiếm tu trầm mặc mang đầy thương tích đã được chính sư phụ nàng âm thầm gieo xuống từ năm năm trước, bằng chính y đức bao la và thuật cứu người không màng đến danh phận hay báo đáp của ông.
"Sư phụ..." Linh Chi khẽ thốt lên nghẹn ngào, khóe mắt nàng hoe đỏ, một giọt nước mắt trong suốt lăn dài trên gò má thanh tú.
Nàng không chần chừ thêm một khắc nào nữa, lập tức xoay người, bước thật nhanh ra khỏi gian nhà kho ẩm mốc, đi thẳng về phía gian phòng ngủ phía trong — nơi đặt chiếc tráp kỷ vật bằng gỗ đào ngàn năm của Tô Hoài Sơn.
"Tiểu Mãn, muội giúp ta giữ chặt Đậu Đậu lại, cẩn thận nhặt hết những mẩu giấy vụn còn lại trong ổ chuột gom vào một chiếc hộp gỗ, tuyệt đối đừng để nó làm xáo trộn thêm nữa!" Linh Chi dặn với lại qua bờ vai.
"Dạ! Tỷ tỷ cứ yên tâm giao cho muội!" Tiểu Mãn vội vàng gật đầu lia lịa, hai tay ôm ghì lấy con Tầm Hương Thử đang tròn xoe mắt ngơ ngác, trong ánh mắt cô bé lấp lánh sự khâm phục và háo hức trước những điều kỳ diệu vừa hé lộ.
Mặc Trúc cũng lặng lẽ sải những bước chân dài đi theo sau Linh Chi. Bóng dáng cao lớn, thẳng tắp của anh như một bức tường thành vững chãi sừng sững che chắn sau lưng nàng, vừa trầm tĩnh bảo hộ, vừa mang theo sự tôn kính tuyệt đối đối với những bí mật mà bậc tiền bối để lại cho đời.
Bước vào gian phòng trong mộc mạc thoang thoảng mùi ngải cứu khô, Linh Chi tiến thẳng đến bên chiếc rương gỗ lim đặt ở góc phòng khuất sáng. Nàng rút chiếc chìa khóa đồng nhỏ luôn đeo sát bên người, cẩn thận tra vào ổ khóa, mở nắp rương và nâng chiếc hộp gỗ đào cũ kỹ đựng bệnh án thời thơ ấu ra ngoài. Chiếc hộp này chính là nơi lưu giữ tập hồ sơ *"Kỷ lục ấu thời mạch chứng — Linh Chi nhi"* mà nàng từng lật giở trong đêm mưa gió bão bùng để tìm phương cứu chữa cho con gái nhỏ Tiểu Nha của Trần thợ rèn.
Linh Chi trân trọng đặt chiếc hộp lên mặt bàn gỗ tếch cạnh bậu cửa sổ ngập tràn ánh nắng, cẩn thận lật từng trang giấy dó mỏng manh đã ố vàng theo năm tháng. Bên cạnh tập bệnh án của chính bản thân mình, nàng còn lấy ra từ đáy rương cuốn sổ tay bìa bọc da nai cũ nát ghi chép việc trồng trọt và thuần hóa thảo mộc hoang dại mà Tô Hoài Sơn để lại trước ngày ông một mình bước vào Cốc Tĩnh Mạch bế quan. Cuối cùng, nàng đặt mảnh giấy rách vừa tìm thấy từ ổ chuột xuống chính giữa, nằm sóng đôi bên cạnh hai tập tài liệu cổ xưa.
Mặc Trúc đứng lặng lẽ bên cạnh án thư, ánh mắt trầm tĩnh dõi theo từng cử chỉ nâng niu của nàng.
Dưới ánh sáng rực rỡ và ấm áp của buổi trưa vùng sơn cước, ba tập tài liệu nằm kề bên nhau, tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh đến rợn ngợp.
Linh Chi run run đưa ngón tay trỏ chỉ vào góc dưới cùng của trang bệnh án ghi lại hệ thống kinh lạc bẩm sinh suy nhược của nàng lúc nàng vừa tròn sáu tuổi. Ở góc trang giấy ấy, bên cạnh những đường vẽ mô tả mười hai chính kinh mảnh dẻ như sợi chỉ, có một chuỗi ký hiệu kỳ lạ hình ngọn lửa ba tầng được vẽ bằng chu sa đỏ au, bên cạnh mỗi tầng lửa là những dòng số gia giảm nhiệt độ ngắn gọn: *“Thìn sơ: hỏa thăng nhị phân, phỏng mạch hư; Tỵ chính: hỏa giáng nhất phân, ôn nhuận lạc vĩ”*. Thuở ấu thơ còn ngây ngô, nàng cứ ngỡ đó chỉ là những ghi chú vụn vặt của sư phụ về nhiệt độ của nước sắc thuốc thang hằng ngày, hoặc là bảng theo dõi độ nóng của những cơn phát sốt triền miên hành hạ thân xác nàng.
Thế nhưng giờ đây, khi đặt mảnh giấy khẩu quyết khống hỏa "Hỏa Nhuận Thông Kinh" nằm kề bên cạnh, mọi bức màn sương mù dày đặc đều tan biến như mây khói dưới ánh mặt trời!
Từng con số gia giảm nhiệt độ, từng độ thăng giáng của ngọn lửa chu sa trong bệnh án ấu thơ hoàn toàn trùng khớp từng li từng tí với các bước *"Nhất chuyển", "Nhị chuyển", "Tam chuyển"* trong khẩu quyết ngự hỏa! Những ký hiệu ngọn lửa ba tầng ấy tuyệt đối không phải dùng để miêu tả cơn sốt của một đứa trẻ bệnh tật, mà chính là sơ đồ biến thiên hỏa lực tinh vi nhất, được người cha nuôi đan sư dồn hết tâm huyết cả đời để nghiên cứu ra nhằm tạo ra một loại đan dược có dược tính tương thích tuyệt đối với hệ thống kinh lạc mong manh nhất của con người!
Chưa dừng lại ở đó, Linh Chi vội vã lật tiếp cuốn sổ tay trồng trọt của Tô Hoài Sơn sang trang ghi chép về hai loài linh thảo chủ chốt: Tử Vân Ngọc Diệp Thảo và Thanh Ti Mộc. Tại trang giấy này, nét chữ thảo phóng khoáng của sư phụ nàng hiện lên rõ ràng từng dòng:
*“Thanh Ti Mộc bẩm thụ tính nhu mộc thuần khiết của trời đất, kỵ nhất kim khí và hỏa khí bạo liệt tương khắc. Khi thu hái nơi vách đá, phải chọn cây đủ chín năm tuổi, rễ đã cắm sâu vào mạch đá hoa cương để hấp thu đủ âm khí của sương mù; lúc nhập lò luyện chế, tuyệt đối phải dùng hỏa nhuận ôn hòa nuôi dưỡng từng thớ sợi, nếu đan sư cậy thế tu vi mà dùng linh hỏa cương mãnh thúc ép cho mau tan, thì toàn bộ mộc khí thanh khiết sẽ hóa thành tro tàn đan độc, thuốc uống vào bụng không những chẳng thể nối liền kinh lạc, mà còn biến thành vạn mũi kim bén xé toạc phủ tạng người bệnh...”*
Linh Chi lùi lại nửa bước, hai bàn tay nàng chống chặt lên mép bàn gỗ tếch để giữ cho thân mình khỏi chao đảo. Lồng ngực nàng phập phồng kịch liệt, đôi mắt mở to ngập tràn sự bàng hoàng, kinh ngạc lẫn lòng kính cẩn sâu sắc đến tận cùng tâm can.
"Ta hiểu rồi... Đến tận hôm nay ta mới thực sự hiểu được vì sao bao năm qua, cả giới tu chân vùng Tây Lĩnh không một ai có thể tìm thấy toàn bộ đan phương của Thanh Mạch Hồi Sinh Đan..."
Giọng nói của Linh Chi run rẩy từng chặp, từng âm tiết thốt ra như một lời giải đáp cho câu đố lớn nhất bao trùm lấy cuộc đời nàng suốt mười mấy năm qua:
"Đan phương cái thế này... vốn dĩ chưa từng bị thất lạc do chiến loạn, cũng chẳng hề bị kẻ gian trộm cắp như người đời đồn đại! Mà chính sư phụ... chính người đã cố ý xé rời nó ra làm ba phần hoàn toàn độc lập, giấu vào ba nơi bình dị nhất!"
Mặc Trúc đứng bên cạnh, ánh mắt thâm trầm như màn đêm của anh cũng khẽ chớp động một luồn sáng kỳ dị. Anh nhìn ba phần tài liệu nằm lặng lẽ trên mặt bàn, chậm rãi gật đầu tán đồng:
"Một phần... nằm trong chính cách thức con người đối đãi với cây cỏ và đất trời tự nhiên."
"Đúng vậy!" Linh Chi tiếp lời, ánh mắt nàng bừng sáng lên một niềm tin mãnh liệt chưa từng có. "Phần thứ nhất chính là cuốn sổ trồng trọt này. Người dạy ta phải học cách thấu hiểu từng loài cây ngọn cỏ, hiểu rõ tính nết của đất đai, độ ẩm của sương mù, chu kỳ sinh trưởng tự nhiên của Thanh Ti Mộc hay Tử Vân Ngọc Diệp Thảo. Nếu một kẻ lòng đầy tham lam, nôn nóng muốn hái những mầm cây non mới ba năm tuổi để trục lợi như ta từng suýt phạm sai lầm ở Rừng Sương Trắng, thì dù có cầm trong tay công thức luyện đan hoàn chỉnh nhất thiên hạ, mẻ thuốc luyện ra cũng chỉ là thứ độc dược giết người không chớp mắt!"
Nàng khẽ đưa những ngón tay thon dài chạm nhẹ lên trang bệnh án ấu thơ đã ố vàng:
"Phần thứ hai... lại nằm sâu trong những ca bệnh lâm sàng thực tế, trong tập bệnh án ghi lại từng nhịp mạch đập, từng tiếng rên siết và từng biến chuyển mong manh nhất của kinh lạc người bệnh. Người muốn người kế thừa đan đạo của mình trước hết phải là một thầy thuốc thực thụ bằng xương bằng thịt, phải biết đặt tay lên cổ tay người bệnh để cảm nhận nỗi đau đớn, thấu suốt được sự yếu ớt của người phàm cũng như tu sĩ khi kinh mạch bị tàn phá. Nếu không có lòng trắc ẩn để thấu hiểu bệnh lý, không biết độ đàn hồi của kinh lạc người bệnh co giãn ra sao trong từng cơn bạo bệnh, thì làm sao một đan sư có thể biết điều chỉnh nhiệt độ ngọn lửa cho phù hợp?"
Cuối cùng, nàng nâng niu nhặt mảnh giấy ố vàng vừa lấy ra từ chiếc ổ chuột lên bằng cả hai tay:
"Và phần thứ ba, chính là mảnh khẩu quyết khống hỏa 'Hỏa Nhuận Thông Kinh' này! Đây chính là chiếc cầu nối kỳ diệu giữa cây thuốc và con người, là bí quyết dùng ngọn lửa biến hóa mềm mại như hơi thở mùa xuân để dung hòa dược tính thảo mộc vào cơ thể mà không sinh ra nửa điểm đan độc hay hỏa sát bạo tàn!"
Linh Chi ngước mắt nhìn lên bức hoành phi gỗ cũ kỹ treo trang trọng ở gian giữa y quán, nơi khắc sâu bốn chữ lớn *"Bách Thảo Tế Thế"* do chính bàn tay gầy guộc đầy vết chai sạn của Tô Hoài Sơn đẽo gọt năm xưa. Trong làn nắng ấm áp rọi qua khung cửa, nàng như nhìn thấy lại nụ cười hiền từ, ánh mắt vừa bao dung vừa nghiêm khắc của người cha nuôi nghèo khó năm nào.
Người đã nhìn thấu sự đời ô trọc từ hàng chục năm trước. Người biết rõ mười mươi rằng nếu để lại một tờ đan phương hoàn chỉnh ghi rõ ràng liều lượng từng vị thuốc và quy trình luyện chế đơn thuần, thì những kẻ như Lục Cảnh Minh của Vạn Đan Các, hay vô số những phường buôn đan dược chỉ biết hám lợi trước mắt, sẽ lập tức dùng hỏa lực cương mãnh của tu sĩ để cưỡng bức, dùng linh thảo non ngày bị thúc ép sinh trưởng để sản xuất hàng loạt những viên đan dược hào nhoáng nhằm vơ vét hàng vạn linh thạch của thiên hạ. Khi ấy, thứ đan dược mang danh nghĩa "Hồi Sinh" cao quý kia sẽ lập tức biến thành lưỡi đao tàn độc nhất, âm thầm xé nát kinh mạch và cướp đi sinh mạng của biết bao con người vô tội, hệt như bi kịch nghiệt ngã mà người mẹ quá cố của Hà Uyển Dung từng phải gánh chịu!
Sư phụ đã dùng cả cuộc đời thanh bần, dùng chính tình thương yêu bao la và sự cẩn trọng tột cùng để giấu kín bí mật đan phương vào cuộc sống thường nhật, vào từng luống đất trong vườn ươm, vào từng trang bệnh án thấm đẫm mồ hôi và vào ngọn lửa nhân từ trong lò luyện. Người chỉ cho phép phương thuốc ấy một lần nữa tái sinh trên cõi đời khi và chỉ khi có một người hội tụ đủ ba điều cốt tử: biết tôn trọng quy luật sinh trưởng tự nhiên của thảo mộc, có một tấm lòng trắc ẩn sâu xa biết đau cùng nỗi đau của người bệnh, và nắm vững đạo ngự hỏa nhu hòa vì sự sống của sinh linh.
"Tô lão tiền bối tính toán thật sâu xa khôn lường..." Mặc Trúc khẽ thở dài một tiếng, trong thanh âm trầm ổn của anh mang theo một sự kính phục xuất phát từ tận đáy tâm can của một kiếm tu kiêu hãnh. "Ông ấy không chỉ cất công bảo vệ một phương thuốc quý báu của thế gian, mà hơn hết thảy, ông ấy đang bảo vệ chính đạo tâm thuần khiết của người bước chân vào đan đạo."
Linh Chi cẩn thận xếp lại ba tập tài liệu. Nàng đặt mảnh giấy khẩu quyết vào ngăn kéo bí mật dưới đáy tráp gỗ đào, tra chìa khóa khóa lại cẩn thận rồi cất vào sâu trong rương gỗ lim.
Lòng nàng lúc này phẳng lặng và kiên định như mặt nước hồ mùa thu không một gợn sóng. Mọi nỗi hoang mang, sợ hãi trước những đòn công kích bôi nhọ nham hiểm của Vạn Đan Các, mọi gánh nặng ngàn cân về món nợ một trăm linh lăm linh thạch đang treo lơ lửng trên đầu Bách Thảo Đường, vào giờ phút này đều đã hoàn toàn lắng xuống đáy sâu, nhường chỗ cho một ý chí sắt đá kiên cường chưa từng có.
Nàng đã thấy rõ con đường phía trước mà mình phải bước đi.
Nàng không chỉ cần thi đỗ danh hiệu Đan sư nhất phẩm để giữ lại mái nhà tranh Bách Thảo Đường đầy ắp kỷ niệm của sư phụ, mà nàng còn phải dùng chính y đạo chân chính, quang minh chính đại của người để chứng minh cho toàn thể giới đan đạo Thanh Khê thấy rõ một chân lý: đan dược sinh ra trên đời là để chữa lành và cứu vớt sinh linh, tuyệt đối không phải là thứ công cụ để khoe khoang quyền năng tu vi hay trục lợi trên thân xác đớn đau của người bệnh tật!
"Tiểu Mãn!" Linh Chi bước ra ngạch cửa phòng trong, cất tiếng gọi trong trẻo và rành rọt.
"Dạ! Có muội đây tỷ tỷ!" Ninh Tiểu Mãn từ ngoài sân sau lon ton chạy vào, hai tay vẫn ôm ghì lấy Đậu Đậu đã ngoan ngoãn nằm im thin thít.
"Chiều nay muội cùng Tú Nương tiếp tục nướng mẻ bánh cúc núi thứ hai cho thật cẩn thận, nhớ ghi chép đầy đủ số lượng bánh giao cho các phường thợ vào cuốn sổ kho. Còn ta... từ giờ đến tối ta sẽ xuống phòng Đan Hỏa ngầm dưới lòng đất." Ánh mắt Linh Chi ánh lên một tia kiên định rực rỡ. "Ta phải tự mình thử nghiệm nhịp điệu của 'Hỏa Nhuận Thông Kinh' trên chiếc lò Thanh Đồng cũ kỹ trước ngày đại khảo hạch diễn ra."
Mặc Trúc bước tới bên cạnh nàng, khẽ gật đầu nói: "Ta sẽ đi cùng muội xuống hầm ngầm. Nếu địa hỏa bên dưới có dao động bất thường hay xung đột với linh lực của muội, ta có thể giúp muội trấn áp và giữ vững nhịp lửa."
Linh Chi quay sang nhìn người kiếm tu trầm lặng, trên khóe môi nàng nở một nụ cười ấm áp và dịu dàng: "Được, vậy làm phiền Mặc Trúc đại ca rồi."
Hai người nhìn nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Không cần phải nói thêm bất kỳ một lời thừa thãi nào nữa, sự thấu hiểu sâu sắc và lòng tin cậy tuyệt đối dành cho nhau đã ngấm sâu vào từng hơi thở, từng nhịp đập của chuỗi ngày gian khó bên sườn núi Vân Mộng.
***
Phòng Đan Hỏa ngầm của Bách Thảo Đường nằm sâu dưới lòng đất gần hai trượng, được Tô Hoài Sơn đích thân đục đẽo từ một hang đá tự nhiên ăn sâu vào lòng mạch núi. Không khí dưới căn hầm luôn nồng đượm một mùi khoáng thạch khô khốc xen lẫn mùi lưu huỳnh ngai ngái bốc lên từ một nhánh địa hỏa thứ cấp rất nhỏ được dẫn qua các rãnh đá hoa cương.
Ở chính giữa căn phòng đá vuông vức, chiếc lò đan Thanh Đồng ba chân cũ kỹ đứng sừng sững trên một bệ đá bát giác. Toàn thân chiếc lò phủ đầy những mảng gỉ đồng màu xanh lục lam cổ kính, nắp lò đúc hình một đóa sen ngậm nụ, trên thân khắc chìm những đường vân mây đã mòn vẹt vì qua tay người sử dụng suốt mấy mươi năm.
Linh Chi ngồi xếp bằng trên một tấm bồ đoàn bện bằng cỏ bấc đèn đặt cách bệ lò ba thước. Nàng khẽ nhắm mắt, hít thở từng hơi thật sâu để điều hòa kinh mạch toàn thân. Sau khi tâm trí đã hoàn toàn lắng đọng như nước giếng cổ, nàng chậm rãi mở mắt ra, nhìn vào cửa nạp hỏa dưới đáy lò đồng.
Mặc Trúc ngồi khoanh chân ở góc phòng đối diện, lưng tựa vào vách đá hoa cương lạnh buốt. Thanh trường kiếm bọc vải thô đặt ngang trên gối, hai bàn tay buông lỏng nhưng toàn bộ thần thức của anh đều âm thầm tỏa ra, bao bọc lấy không gian tĩnh mịch của căn hầm ngầm, sẵn sàng ứng phó với bất kỳ biến động linh khí đột ngột nào.
"Bắt đầu thôi." Linh Chi khẽ tự nhủ.
Nàng khẽ nâng hai bàn tay lên, mười đầu ngón tay mềm mại kết thành một đạo ấn quyết đan hỏa mộc hệ cơ bản.
*Bùng!*
Một ngọn lửa màu xanh lục nhạt mang theo ánh vàng ấm áp bùng lên từ đầu ngón tay nàng, theo luồng linh lực dẫn dắt lao thẳng vào cửa lò, châm ngòi cho nhánh địa hỏa đang ngủ yên dưới đáy bệ đá. Ngay lập tức, ngọn lửa ngầm bên dưới bốc lên, liếm quanh đáy lò Thanh Đồng, tỏa ra một luồng nhiệt lượng khô nóng hầm hập khiến những giọt mồ hôi trên trán Linh Chi rịn ra tức khắc.
Nếu là trước đây, theo đúng những gì được dạy trong đan thư thông thường, Linh Chi sẽ lập tức vận chuyển linh lực để tăng cường áp lực buồng lò, ép ngọn lửa cháy thật mạnh và duy trì một độ nóng cố định để nung đỏ chiếc lò kim loại.
Nhưng lần này, nàng không làm như vậy.
Trong đầu nàng, từng dòng chữ bằng mực thông bì của khẩu quyết "Hỏa Nhuận Thông Kinh" hiện lên sáng rõ mồn một. Nàng khép hờ hàng mi, không nhìn vào ngọn lửa hữu hình đang nhảy múa dưới đáy lò nữa, mà dùng toàn bộ thần thức Mộc hệ mẫn cảm của mình để lắng nghe.
Nàng lắng nghe nhịp thở của chính mình. Nàng phỏng theo nhịp mạch đập bình hòa của một người khỏe mạnh: một hơi thở vào đập ba nhịp, một hơi thở ra đập ba nhịp.
*Nhất chuyển: Hỏa tức như mạch đập tam thốn, hư nhiệt vi thăng.*
Linh Chi khẽ hạ thấp cổ tay, luồng linh lực Mộc hệ truyền đi không còn cứng nhắc dồn ép nữa mà bắt đầu nhấp nhô theo từng nhịp co bóp của quả tim nàng. Ngọn lửa dưới đáy lò Thanh Đồng lập tức biến đổi kỳ diệu! Ánh lửa hung hãn ban đầu bỗng dịu hẳn xuống, ngọn lửa không còn bốc thẳng đứng thiêu đốt mà uốn lượn thành từng vòng tròn mềm mại ôm lấy đáy lò, nhiệt lượng tỏa ra không còn khô khốc bỏng rát mà ấm áp, ẩm mượt tựa như làn gió sớm thổi qua đồng cỏ ướt sương.
*Nhị chuyển: Nhiệt giáng tam phân, phỏng theo độ co giãn của âm lạc...*
Linh Chi đổi ấn quyết, linh lực từ mười đầu ngón tay nàng tản ra thành hàng trăm sợi tơ mỏng manh vô hình, quấn quanh thân lò. Chiếc lò đồng cũ kỹ rung lên những tiếng *ong ong* trầm đục, kim loại Thanh Đồng vốn lạnh lùng và cứng nhắc dường như cũng bắt đầu giãn nở theo nhịp điệu của ngọn lửa, lớp gỉ đồng xanh biếc dưới sức nóng nhu hòa ánh lên một vầng hào quang mờ ảo.
Bất chợt, một luồng địa khí hung hiểm từ sâu trong lòng mạch núi rò rỉ qua kẽ đá, khiến ngọn địa hỏa dưới đáy lò bỗng bùng phát dữ dội, ngọn lửa đỏ rực gầm gừ muốn xé toạc lớp màng Mộc hệ bao bọc!
Linh Chi biến sắc, lồng ngực nàng khẽ thắt lại, chân khí trong kinh mạch có dấu hiệu tán loạn.
Đúng lúc ngàn cân treo sợi tóc ấy, một bàn tay rộng lớn, ấm áp và chai sần bỗng nhẹ nhàng đặt lên bờ vai gầy của nàng.
Một luồng kiếm ý thuần khiết, trầm ổn và cương nghị vô song từ lòng bàn tay Mặc Trúc truyền thẳng vào lưng nàng. Luồng kiếm ý ấy không hề mang theo sát khí công phạt, mà trầm tĩnh như một ngọn núi đá ngàn năm đứng chắn trước đầu sóng ngọn gió. Kiếm ý đi tới đâu, luồng địa khí hung bạo dưới đáy lò bị ép lùi về tới đó, tạo ra một khoảng không gian ổn định tuyệt đối cho ngọn lửa Mộc hệ của nàng phát huy tác dụng.
"Đừng hoảng loạn." Giọng nói trầm ấm của Mặc Trúc vang lên sát bên tai nàng, vững chãi như một điểm tựa ngàn cân. "Nhớ lấy nhịp thở của muội. Dùng nhu chế cương, hỏa theo mạch mà chuyển."
Linh Chi cắn chặt môi dưới, hít sâu một hơi. Lòng nàng lập tức an định trở lại. Nàng thuận theo luồng kiếm ý bảo hộ của Mặc Trúc, mềm mại chuyển đổi linh quyết sang tầng thứ ba:
*Tam chuyển: Thu hỏa về đáy lò, duy trì dư nhiệt như hơi ấm lòng bàn tay mẹ...*
Ngọn lửa cuồng bạo ngoan ngoãn thu mình lại thành một đóa hoa sen lửa nhỏ bé lập lòe nơi đáy lò, nhiệt lượng ôn nhuận lan tỏa đều đặn khắp thân lò Thanh Đồng suốt nửa canh giờ mà không hề dao động dù chỉ nửa phân.
Khi Linh Chi từ từ thu hồi toàn bộ linh lực, thu đan quyết lại trước ngực và thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, nắp lò Thanh Đồng khẽ bật mở. Một làn khói trắng mang theo hương thơm thanh khiết, ngọt ngào và êm dịu tột cùng của thảo mộc tự nhiên bay lượn lờ khắp căn hầm đá, không hề vương lại dù chỉ một chút mùi khét lẹt của đan độc hay hỏa sát thường thấy!
Linh Chi ngước mắt nhìn Mặc Trúc, đôi mắt nàng lấp lánh niềm vui sướng tột cùng: "Thành công rồi... Mặc Trúc đại ca, ta đã nắm được nhịp điệu chuyển hỏa của người rồi!"
Mặc Trúc nhìn nụ cười rạng rỡ của nàng dưới ánh lửa tàn, khóe môi cương nghị của anh cũng khẽ cong lên một nụ cười hiếm hoi, trong ánh mắt ngập tràn sự tin tưởng tuyệt đối: "Đại khảo ngày mai, muội nhất định sẽ làm được."
***
Ba ngày sau.
Tiết trời đã chính thức bước vào những ngày cuối hạ đầu thu. Bầu trời trên đỉnh núi Vân Mộng cao vút và trong vắt như một tấm ngọc bích khổng lồ không một gợn mây xám. Màn sương sớm bảng lảng vừa tan biến trên những rặng thông già ven sườn đồi, những tia nắng mai vàng rực rỡ và ấm áp bắt đầu trải dài khắp các nẻo đường lát đá của thị trấn Thanh Khê.
Trước cổng lớn của Dược Sư Hội — tòa kiến trúc uy nghiêm và đồ sộ bậc nhất trấn, được xây dựng hoàn toàn bằng những khối đá hoa cương trắng muốt và chạm khắc tinh xảo — dòng người đổ về mỗi lúc một đông đúc như nêm cối.
Các đan đồ trẻ tuổi đến từ khắp các phân hội ngoại vi của vùng Tây Lĩnh, những đan sư tập sự mang đạo bào lụa viền chỉ bạc sang trọng của các đan các danh tiếng, cùng đông đảo thương nhân, chủ tiệm thuốc và dân chúng hiếu kỳ tụ tập chật kín hai bên quảng trường đá rộng lớn. Tiếng bàn tán xôn xao, tiếng chào hỏi rôm rả và tiếng bước chân dồn dập hòa quyện vào nhau tạo nên một bầu không khí náo nhiệt chưa từng có trong năm.
Trên khán đài cao nhất dựng ngay trước tiền sảnh Dược Sư Hội, dãy bàn dài của ban giám khảo đã được phủ kín bằng những tấm khăn gấm màu đỏ thêu hình lò đan chín tầng tỏa ánh kim quang lộng lẫy.
Phó hội trưởng Kỷ Như Tâm ngồi ở vị trí chính giữa trung tâm. Bà mặc một bộ đạo bào đan sư tam phẩm màu lam đậm trang trọng, gương mặt phủ đầy vẻ nghiêm nghị và uy quyền bất khả xâm phạm. Ngồi bên tay hữu của bà là Hà Uyển Dung trong bộ đạo bào nhị phẩm màu tím nhạt thanh nhã, mái tóc cài một chiếc trâm bạc hình lá thuốc giản dị, ánh mắt trong trẻo nhưng trầm tư đang lặng lẽ quét qua hàng ngũ thí sinh đứng ngay ngắn phía dưới sân.
Ở góc đối diện trên khán đài dành cho các đan các lớn, Lục Cảnh Minh của Vạn Đan Các đứng khoanh tay, y phục gấm vóc lộng lẫy thêu kim tuyến chói mắt. Nụ cười nửa miệng đầy vẻ mưu toan, ngạo mạn và lạnh lùng vẫn thường trực trên khuôn mặt trắng bệch của hắn khi ánh mắt hắn lướt qua đám đông và dừng lại ở một góc khuất dưới sân khấu.
Ở chính nơi ấy, Tô Linh Chi đang đứng thẳng lưng giữa hàng chục thí sinh áo gấm lụa là thơm nức hương phấn. Nàng vẫn mặc bộ áo vải thô màu xanh nhạt sạch sẽ quen thuộc, tà áo thẳng thớm không một nếp nhăn, bên hông chỉ đeo duy nhất một chiếc ngọc bài nhỏ bằng gỗ đào khắc hình nhành linh chi mộc mạc do chính tay Tô Hoài Sơn đẽo gọt cho nàng từ thuở ấu thơ. Vẻ mặt nàng bình thản, an tĩnh như một nhành lan rừng đứng giữa gió sương, không hề tỏ ra chút bối rối hay tự ti nào trước những ánh mắt dòm ngó xoi mói xung quanh.
Phía sau hàng rào chắn bằng gỗ ngăn cách khu vực thi cử và khán giả, Mặc Trúc đứng sừng sững như một cây tùng cổ thụ giữa biển người chen chúc. Thanh trường kiếm bọc vải thô màu xám vẫn khoác chéo sau lưng anh, hai tay anh khoanh trước ngực, đứng che chắn một khoảng trống rộng rãi cho Ninh Tiểu Mãn và Bạch Tú Nương. Đôi mắt đen sâu thẳm, tĩnh lặng như hồ nước mùa thu của người kiếm tu không hề rời khỏi bóng hình nhỏ nhắn màu xanh nhạt của Linh Chi dù chỉ trong chớp mắt.
"Tỷ tỷ cố lên! Bách Thảo Đường cố lên!" Tiểu Mãn kiễng chân lên hàng rào gỗ, vẫy mạnh chiếc khăn tay màu vàng nhạt, cất tiếng gọi lảnh lót qua đám đông ồn ã.
Bạch Tú Nương đứng bên cạnh khẽ mỉm cười dịu dàng, hai tay nắm chặt chiếc giỏ đựng những chiếc bánh cúc núi thơm nức, trong ánh mắt bà ánh lên niềm hy vọng và sự tin tưởng son sắt dành cho đứa cháu gái nhỏ kiên cường.
Đúng vào khoảnh khắc vầng thái dương rực rỡ nhô cao quá đỉnh tháp chuông bát giác của Dược Sư Hội, xua tan vạt sương mỏng cuối cùng còn vương trên những phiến đá hoa cương của quảng trường...
*Coong...*
*Coong...*
*Coong...*
Tiếng chuông đồng cổ kính trên đỉnh lầu cao Dược Sư Hội ngân vang ba hồi chín tiếng trầm hùng, thanh âm vang vọng như sấm rền lan tỏa khắp các ngõ phố cùng hang cùng ngõ hẻm của thị trấn Thanh Khê. Tiếng chuông xé toạc bầu không khí náo nhiệt của buổi sớm mai, rền vang giữa đất trời bao la, báo hiệu kỳ đại khảo hạch Đan sư nhất phẩm chính thức bắt đầu.