Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.27 / 36
Chương 27

Bản Lĩnh Người Giữ Lửa

Gió chiều xốc qua ngã tư, thốc theo từng cơn bụi xám và cuốn những mảnh giấy màu đỏ chói lọi của Nhà sách Minh Châu rải rác bay tấp vào bậc thềm tiệm Mộc. Những tờ rơi in trên chất giấy mỏng tang, lem nhem dòng chữ “Đại hạ giá 30% – 40% toàn bộ ấn phẩm” bằng thứ mực đen rẻ tiền bốc mùi hăng hắc, bị cuốn lốc theo từng vòng xoáy bụi đường Trần Nhân Tôn rồi nằm bẹp dí, dính chặt dưới chân cột gỗ hiên tiệm. Phía đầu phố, tiếng loa phát thanh công suất lớn gắn trên chiếc xe ba gác của Minh Châu vẫn gầm rú từng chặp rin rít, chát chúa át cả tiếng chuông xe đạp cọc cạch, tiếng còi xe lam lẫn tiếng rao chiều quen thuộc của xóm lao động nghèo. Nơi bậc tam cấp lát đá mài đã mòn vẹt của tiệm Mộc, vài người khách quen nheo mắt nhìn dòng chữ đỏ lòm rồi lại ngập ngừng ngước lên tấm bảng gỗ khắc chữ chìm, nơi bảng giá sách cũ vẫn đứng yên bất động, không suy suyển một nét phấn nào.

Chị Thu Cúc buông phịch đôi quang gánh bắp luộc còn bốc khói ngùn ngụt xuống mép vỉa hè trước cửa tiệm. Chiếc đòn gánh tre bóng nhẫy mồ hôi kêu lên một tiếng “cắc” khô khốc trên nền xi măng. Chiếc nón lá rách vành tả tơi được chị cầm trên tay phe phẩy liên hồi, để lộ gương mặt sạm nắng nhễ nhại mồ hôi, hai bên thái dương giật giật từng cơn vì cuống cuồng và lo lắng. Đi xăm xăm ngay sau gót chân chị là chú Thắng thợ may ở đầu hẻm, cổ vẫn vắt hờ chiếc thước dây bằng vải dù màu vàng đã sờn mép, tay mân mê viên phấn may dẹp lép; và thím Năm bán nước mía, hai ống tay áo bà ba xắn cao tới nách, bàn tay còn dính đầy vụn mía khô ráp.

“Cô Tuệ Anh ơi! Cô út ơi là cô út!” Chị Cúc sốt ruột bước qua bậu cửa, gót dép mủ kéo lê quẹt mạnh vào tấm thảm bện bằng bao tải gai đặt trước lối đi. “Cô còn ngồi thong dong đó mà lau mấy cái gáy sách mục làm chi nữa trời đất ơi? Ra mà coi kìa! Mau ra mà coi người ta bu kín mít cái hiệu sách Minh Châu đằng ngã tư kia kìa! Tụi nó xả kho kinh hoàng lắm, cuốn truyện tranh dày cộp bán có năm ngàn, ba ngàn, sách văn học mới tinh thơm phức mùi giấy láng mà nó hạ giá tới non nửa. Khách khứa học sinh sinh viên người ta xúm xít khiêng từng chồng, chen nhau bẹp cả ruột, còn tiệm mình từ trưa trờ trưa trật tới giờ vắng như chùa Bà Đanh! Chị ngồi ngoài gánh bắp mà ruột gan nóng như có ai đốt lửa!”

Chú Thắng thợ may cúi người nhặt một tờ rơi màu đỏ nằm bẹp dưới thềm lên, miết miết ngón tay cái dính bụi phấn may màu xanh vào mép giấy in nham nhở, rồi giơ thẳng ra trước mặt Tuệ Anh, giọng khàn đặc vì hụt hơi:

“Con Cúc nó nói trúng phóc đó cô út. Thương trường như chiến trường, người ta chơi đòn sát ván hạ giá đè mình thì mình phải xả hàng đè lại chứ! Mấy cuốn sách cũ này cô với cậu Vĩnh đi gom ve chai đồng nát, nhặt nhạnh từng xó nhà kho xưởng giấy cũ với giá rẻ rề như cho không, giờ cứ việc đề ngay cái bảng xả hàng tồn kho thanh lý, bán đồng giá ba ngàn, năm ngàn một cuốn đi! Bán hòa vốn cũng được, bán chịu lỗ chút đỉnh tiền công cũng được, miễn là vớt vát thu hồi tiền mặt về đút túi thủ thân, giật lại mối khách quen từ tay thằng Khôi. Chứ cô cứ ngồi đó neo cái giá cũ mèm, ai mà thèm ghé mắt vô đây nữa? Đồ cũ mà đòi bán ngang ngửa đồ mới hạ giá, người đời ai dại dột vậy cô? Để lâu cứt trâu hóa bùn, rồi cuối tuần này lấy đâu ra tiền nộp cho bà Tư Lành tiền thuê mặt bằng?”

Thím Năm đứng tựa mép cửa gỗ, hai bàn tay đẫm mùi nước mía vỗ chan chát vào đùi, tợp vội một ngụm nước trà nguội rồi chép miệng phụ họa, mắt ngó dáo dác ra phía đường cái:

“Phải đó cô Tuệ Anh ơi! Tiệm buôn nhỏ như mình, thấy nước lũ đổ về là phải lo tháo cống tống hàng đi cho rảnh nợ chứ. Cố giữ giá làm chi cho nó ế ẩm mốc meo ra đó? Thằng Khôi nó giở ngón hiểm, nó tính dìm cô chết sặc gạch vụ này đó!”

Tuệ Anh dừng tay. Miếng vải nỉ mềm màu xám đang miết nhẹ trên mép gáy cuốn khảo cứu *Gia Định Thành Thông Chí* khẽ ngừng lại lưng chừng. Cô ngẩng đầu lên, gương mặt thanh tú không một nét hoảng loạn, ánh mắt bình thản và trong trẻo đón nhận những gương mặt đang đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại vì lo lắng cho mình.

Ở góc quầy pha chế phía sau, Vĩnh đang cầm chiếc cưa tay cắt dở thanh nẹp gỗ thông. Bàn tay phải còn quấn lớp băng gạc trắng toát hơi ngả vàng ở các đầu ngón siết chặt cán cưa gỗ nghiến răng ken két, nổi rõ từng đường gân xanh xao nhưng rắn rỏi. Đôi mắt Vĩnh bốc lên ngọn lửa giận dữ, quắc nhìn trừng trừng về phía những tờ rơi màu đỏ vương vãi ngoài hiên tiệm, lồng ngực anh phập phồng sau lớp áo sơ mi bạc phếch dính đầy mạt cưa.

Tuệ Anh nhẹ nhàng đặt miếng vải nỉ mềm xuống mặt bàn thu ngân bằng gỗ mộc. Cô nở một nụ cười ấm áp, bước vòng qua chiếc quầy ngăn nắp để xoa dịu bầu không khí đang ngột ngạt đến nghẹt thở:

“Em cảm ơn chị Cúc, chú Thắng với thím Năm đã lo cho tiệm Mộc. Em biết mọi người thương em, thương cái tiệm nhỏ này như người nhà nên mới sốt ruột chạy qua báo tin. Nhưng mà mọi người ơi, cuộc chiến hạ giá này... tiệm mình tuyệt đối không thể và không bao giờ được phép tham gia.”

“Sao lại không thể?” Chị Thu Cúc sốt ruột giậm mạnh gót chân dép mủ xuống nền bao tải gai, hai tay vò nát vành nón lá. “Thằng Khôi nó đang tính bóp chết ngạt cái tiệm này bằng tiền rừng bạc biển của nó đó cô út! Cô không xả hàng tống khứ đi thì lấy đâu ra tiền mà xoay sở, lấy đâu ra tiền đắp đổi qua ngày?”

Tuệ Anh bước hẳn ra khỏi quầy, đưa tay đón lấy chiếc nón lá từ tay chị Cúc, dịu dàng mời chú Thắng và chị ngồi xuống chiếc ghế băng dài bằng gỗ thông pallet đóng mộc mà Vĩnh vừa hoàn thiện tuần trước. Cô với lấy chiếc ấm tích bọc trong bao bố giữ nhiệt cũ kỹ đặt trên góc kệ, cẩn thận rót ra ba bát nước vối ấm thơm lừng mùi lá vối khô, đưa tận tay từng người rồi mới ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện, chậm rãi phân tích từng lời:

“Chú Thắng thử nghĩ mà xem, Nhà sách Minh Châu có lưng vốn hàng trăm triệu đồng, sau lưng họ là các đầu mối phân phối sỉ từ Chợ Lớn tới các nhà xuất bản quốc doanh lớn. Họ nhập sách mới với số lượng hàng vạn bản, chiết khấu hoa hồng của họ lên tới bốn mươi, thậm chí năm mươi phần trăm giá bìa. Họ chấp nhận hạ giá cắt lỗ, bán tháo một vài tuần lễ để hút trọn thị phần, đè bẹp các tiệm sách nhỏ xung quanh và dọn sạch kho sách tồn đọng từ năm ngoái. Tiền vốn của họ dày như tảng đá hoa cương, cắn răng chịu lỗ vài chục triệu đối với họ chỉ là một khoản chi phí quảng cáo. Còn tiệm Mộc chúng ta thì sao hở chú? Tiền mặt lưu động trong chiếc hộp thiếc Danisa của em hiện tại chỉ còn vỏn vẹn vài chục ngàn tiền lẻ. Nếu em hoảng loạn cuốn vào vòng xoáy phá giá của họ, đem bán tháo một cuốn sách cũ với giá hai ngàn, ba ngàn đồng chỉ để thu về món tiền hòa vốn tức thời, thì ngày mai em lấy tiền đâu ra để bù vào chi phí sinh hoạt cho cả tiệm, tiền điện nước cuối tháng, và quan trọng nhất là khoản tiền cọc in ba ngàn bản sách cho xưởng An Thành?”

Cô nhìn thẳng vào đôi mắt trũng sâu vì thức khuya cắt vải của chú Thắng, giọng nói dứt khoát, điềm tĩnh nhưng chứa đựng sức nặng ghê gớm:

“Một tiệm sách nhỏ nhoi đua sức về giá với một siêu thị sách thương mại thì chẳng khác nào đem trứng gà chọi vào đá tảng. Họ có thể chịu lỗ một tháng, hai tháng mà không hề hấn gì, nhưng tiệm Mộc chỉ cần chịu lỗ ba ngày liên tiếp là dòng tiền đứt gãy, cánh cửa này phải đóng sập lại ngay lập tức. Đó chính là cái bẫy chết người mà anh Khôi giăng sẵn ra để ép chúng ta hoảng sợ mà tự bóp nghẹt lấy chính mình, tự làm cạn kiệt đồng vốn còm cõi của mình.”

Từ phía dãy giá sách nghiên cứu lịch sử bên trong, ông giáo Trịnh Văn Nghiêm chậm rãi bước ra. Tay ông cầm chiếc kính lão gọng đồi mồi đã mòn lớp mạ kim loại, ánh mắt sáng quắc sau đôi lông mày bạc trắng. Ông khẽ gật đầu, cất giọng trầm vang:

“Tuệ Anh nói trúng tim đen của thói đời buôn bán. Kẻ có tiền nhiều thường dùng tiền để làm đục nước béo cò, ép kẻ yếu thế phải tự dẫm chân lên gai nhọn. Người làm kinh doanh chữ nghĩa mà mất bình tĩnh chạy theo đòn thù nông cạn của kẻ khác là tự tay dâng thành trì của mình cho giặc.”

Tuệ Anh quay sang nhìn những kệ sách cũ bằng gỗ mộc mạc phía sau lưng. Từng dãy sách xếp lớp ngay ngắn, những gáy sách mang đậm dấu ấn phong trần của thời gian, giấy đã ngả sang màu vàng sẫm của rơm rạ, mép bìa sờn rách qua bao biến thiên tao loạn của đất Sài Gòn suốt mấy mươi năm:

“Hơn nữa, thưa chú Thắng, thưa chị Cúc, sách cũ ở tiệm Mộc không phải là mớ rau muống héo, con cá ươn cuối buổi chợ chiều để người ta đem ra đổ đống bán xổ, bán tháo lấy mấy đồng bạc lẻ. Mỗi một cuốn sách nằm lặng lẽ trên giá này — từ tập thơ tiền chiến in năm 1940, cuốn từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh, cho tới những bản dịch văn học phương Tây lừng lẫy của thập niên sáu mươi — đều mang trong mình một giá trị văn hóa và lịch sử xuất bản độc bản không thể thay thế. Dì Mộc Lan cả một đời nâng niu gom góp từng cuốn một từ những gánh ve chai đầu đường xó chợ, lau chùi từng hạt bụi, giữ gìn cho chúng không bị xé ra làm giấy gói xôi hay nghiền nát thành bột giấy vụn trong các nhà máy tái chế. Nếu hôm nay em vì hoảng sợ trước vài chiêu trò giảm giá thương mại mà đem bán rẻ mạt công sức, tâm huyết của người xưa, thì chính em đã tự tay hạ thấp phẩm giá của tiệm Mộc, tự biến mình thành một kẻ buôn giấy vụn tầm thường.”

Lời nói của Tuệ Anh không hề đao to búa lớn, không mang giọng điệu răn dạy, nhưng từng câu từng chữ đều thấm đượm lòng kiên định sắt đá và sự tự trọng sâu sắc của một người làm nghề biên tập sách chân chính.

Chú Thắng thợ may ngồi lặng phắc một hồi lâu. Chú cúi nhìn bát nước vối đang bốc làn khói mỏng manh trên hai bàn tay thô ráp dính đầy bụi vải, rồi thở dài một tiếng thật sâu, khẽ lắc đầu tự trách:

“Nghe cô út nói rành rẽ từng khúc ruột như vầy... tôi mới thấy cái đầu thợ may của mình nông nổi quá chừng. Thấy người ta xúm đông xúm đỏ xách từng bọc sách bên kia mà ruột gan tôi cứ cồn cào như lửa đốt, sợ cô thân gái dặm trường trụ không nổi với cái thằng Khôi ranh ma đó.”

Chị Thu Cúc cũng rụt rè cúi đầu, bàn tay xoa xoa vạt áo bà ba đã bạc màu chỉ:

“Chị dốt chữ, buôn gánh bán bưng ngoài vỉa hè chỉ biết rẻ thì đắt khách, ế thì chết đói, thấy người ta bán rẻ rề thì tưởng cứ bán tống bán tháo là xong chuyện. Nghe cô nói vậy chị mới hiểu ra cái lý... Nhưng mà cô út ơi, mình không hạ giá đua với nó, thì làm cách nào để kéo người ta quay lại cái tiệm này đây? Nhìn ngoài đường người ta lướt qua tiệm mình vắng tanh vắng ngắt vầy, chị thấy xót ruột xót gan quá chừng.”

Tuệ Anh nhìn chị Cúc, đôi mắt đen láy bừng lên tia sáng kiên nghị:

“Họ có tiền bạc để giảm giá vài ngàn đồng, nhưng họ không có sự trân trọng đối với từng cuốn sách và từng người đọc như chúng ta có. Khách hàng tìm đến Minh Châu vì món hời giảm giá nhất thời, cuốn sách mua về chỉ như một món hàng tiêu dùng xốc xếch. Nhưng người tìm đến Mộc là để tìm một nơi chốn tri âm, tìm một cuốn sách thực sự thuộc về tâm hồn họ. Em sẽ giành lại độc giả bằng chính cái nghề, cái tâm của người làm sách.”

Nói là làm, ngay khi chị Cúc gánh đôi bắp luộc rời đi và chú Thắng trở về tiệm may đầu ngõ, Tuệ Anh lập tức bắt tay vào kế hoạch mà cô đã nung nấu cẩn thận suốt từ sáng sớm.

Cô bước nhanh tới góc bàn làm việc bên cạnh cửa sổ, lấy ra một cuộn giấy kiếng bóng kính trong suốt, phẳng lì — thứ vật liệu mà cô đã chắt chiu dùng số tiền túi còm cõi nhờ Vĩnh đạp xe cọc cạch sang tận khu chợ hóa chất và bao bì Kim Biên tìm mua chiều hôm trước. Cuộn giấy kiếng loại dày, không mùi, có độ dai và trong vắt như nước hồ mùa thu. Cùng với đó là một chiếc kéo thợ may bằng thép đen sắc lẹm, cây thước nhôm dài đúng một mét có khắc vạch milimet rõ ràng, và một xấp giấy bìa roki màu nâu nhạt hạt dẻ được cô cắt vuông vức thành từng mảnh nhỏ vừa vặn cỡ bao thuốc lá.

“Vĩnh ơi, phụ tôi một tay với.” Tuệ Anh gọi khẽ.

Vĩnh buông thanh cưa gỗ xuống mặt bàn bào, đưa mu bàn tay áo quẹt vội những giọt mồ hôi đang rịn ra trên trán rồi bước nhanh lại gần chiếc bàn gỗ thông. Nhìn thấy cuộn giấy kiếng bóng loáng và xấp thẻ bìa roki được xếp ngay ngắn, đôi mắt sáng của anh khẽ lay động:

“Tuệ Anh tính làm gì với đống giấy này? Định bọc sách mẫu để trưng bày hả?”

“Chúng ta sẽ bọc lại toàn bộ sách trên các kệ cho độc giả. Miễn phí hoàn toàn cho bất cứ ai mua hoặc thuê sách mang về.” Tuệ Anh mỉm cười, đôi bàn tay thon thả thoăn thoắt trải tấm giấy kiếng phẳng phiu lên mặt bàn gỗ thông láng mịn. “Nhưng không phải là kiểu dán băng keo vàng nham nhở, dính chặt vào bìa làm hỏng sách như ngoài mấy tiệm tạp hóa hay tiệm cho thuê truyện tranh đâu. Tôi sẽ hướng dẫn anh cách bọc sách theo đúng chuẩn bảo tồn tư liệu của các thư viện cổ.”

Vĩnh đứng sát bên cạnh, chăm chú dõi theo từng cử động nhỏ của Tuệ Anh. Với kinh nghiệm mười năm làm biên tập viên xử lý và phục chế tư liệu quý hiếm ở thời hiện đại, từng thao tác ngón tay của cô mềm mại, chuẩn xác và khéo léo một cách kỳ lạ.

Cô chọn ra cuốn tiểu thuyết *Đoạn Tuyệt* của Nhất Linh, bản in đầu của nhà in Đời Nay vào mùa thu năm 1952, lớp bìa giấy dó đã ngả màu nâu vàng và mép gáy đã hơi rạn chân chim. Cô đặt cuốn sách nằm ngay ngắn vào chính giữa tấm màng kiếng trong vắt, dùng thước nhôm canh mép giấy dư ra đúng hai phân rưỡi đồng đều ở mỗi cạnh trên, dưới và hai bên mép mở.

Lưỡi kéo thợ may sắc lẹm lướt đi ngọt xớt trên mặt màng kiếng, không để lại một gợn sóng hay vết răng cưa nào.

Tiếp đó, bằng động tác dứt khoát nhưng vô cùng nâng niu, Tuệ Anh gấp hai mép trên và mép dưới vào phía trong của bìa gốc, dùng cạnh móng tay cái miết một đường thẳng tắp, tạo thành một nếp gấp chết sắc cạnh như lưỡi dao. Ở bốn góc bìa sách, thay vì cắt xén hay dán băng dính, cô khéo léo gập chéo một góc bốn mươi lăm độ theo kỹ thuật gấp phong bì thư của người Pháp, luồn phần màng thừa vào rãnh hở giữa lớp bìa cứng và ruột sách. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết cũ kỹ, sờn rách bỗng chốc như được khoác lên một tấm áo giáp thủy tinh trong suốt, phẳng lì, ôm khít rịt lấy từng đường gân sống sách. Tấm áo ấy bảo vệ trọn vẹn lớp giấy cổ giòn rụm khỏi bụi bặm, mồ hôi tay dầu mỡ và hơi ẩm tai hại của mùa mưa Sài Gòn, mà tuyệt đối không cần dùng đến một mẩu băng dính nào làm hoen ố, chảy keo hay xé rách lớp bìa nguyên bản.

“Khéo thật...” Vĩnh buột miệng trầm trồ, đầu ngón tay thô ráp của người thợ mộc khẽ chạm vào mặt kiếng căng phẳng phiu không một bọt khí. “Khít khao từng ly một, không xô lệch một đường chỉ nào.”

“Chưa hết đâu anh,” Tuệ Anh khẽ cười, với tay cầm lấy cây bút máy Kim Tinh nắp vàng đã được bơm đầy thứ mực xanh Cửu Long đậm đặc. “Chiếc áo giáp này chỉ là hình thức bên ngoài thôi. Đây mới thực sự là linh hồn của sự chăm sóc bạn đọc.”

Cô kéo xấp thẻ bìa roki màu nâu nhạt lại gần ngọn đèn bàn dây tóc. Ánh sáng vàng dịu hắt lên khuôn mặt nghiêng thanh tú của cô gái trẻ. Ngòi bút thép chấm nhẹ xuống mặt giấy nhám, và nét chữ nghiêng đều đặn, nắn nót, mềm mại nhưng dứt khoát của Tuệ Anh bắt đầu hiện lên trên từng thớ giấy nâu:

*“Gửi bạn đọc yêu quý,* *Cuốn ‘Đoạn Tuyệt’ này được in tại nhà in Đời Nay vào mùa thu năm 1952. Ở trang 74, tác giả đã viết một câu thoại rất đau đớn nhưng đầy phẩm giá của Loan khi đứng trước ngưỡng cửa gia đình phong kiến. Nếu bạn đang trải qua những ngày tháng bế tắc, cô đơn trước những định kiến khắt khe của cuộc đời, hy vọng sự kiên cường và phẩm cách của nhân vật sẽ là một ngọn đèn nhỏ soi đường cho bạn.* *Gợi ý đọc kèm: ‘Nửa Chừng Xuân’ (Khái Hưng) hoặc ‘Gia Đình’ (Khái Hưng) để thấu hiểu trọn vẹn tinh thần đấu tranh giải phóng cá nhân của người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn giao thời.* *Thân mến gửi tặng — Tiệm Mộc.”*

Tuệ Anh đặt bút xuống, thổi nhẹ cho lớp mực xanh mau khô rồi cẩn thận kẹp chiếc thẻ ghi chú vào trang đầu tiên của cuốn sách. Chiếc đuôi thẻ nhô ra khỏi mép trên của sách đúng một phân, vừa vặn như một chiếc thẻ đánh dấu trang tao nhã và kín đáo.

Bé Hạnh vừa xách chiếc giỏ mây đựng xấp vé số ế buổi chiều chạy vội vào tiệm, đứng nép sát bên mép bàn, đôi mắt to tròn trố lên nhìn không chớp:

“Trời đất ơi... Chị Tuệ Anh viết chữ đẹp như cô giáo dạy văn trường điểm vậy đó! Cuốn sách cũ xì mốc thếch mà bọc kiếng vô nhìn sang trọng như đồ hiệu để trong tủ kiếng nhà giàu luôn á!”

“Hạnh lại đây chị chỉ cho nè,” Tuệ Anh kéo cô bé lại gần, âu yếm xoa đầu em. “Nhiệm vụ của Hạnh chiều nay là dùng chiếc khăn xô khô này, lau thật sạch từng hạt bụi và vết ố bám trên mép từng cuốn sách trước khi đưa cho anh Vĩnh đo kiếng. Còn anh Vĩnh, anh dùng chiếc cữ gỗ anh vừa đóng để rọc giấy kiếng theo đúng ba khổ sách tiêu chuẩn: khổ bỏ túi mười hai – mười chín phân, khổ thông thường mười bốn – hai mươi phân, và khổ tạp chí lớn. Ba chúng ta cùng làm, xong sớm chừng nào tiệm có sách đẹp đón khách chừng đó.”

Một dây chuyền làm việc thủ công đầy nhịp nhàng và ăn ý lập tức được thiết lập bên chiếc bàn gỗ thông pallet. Gian nhà trước của tiệm Mộc bỗng chốc trở nên rộn ràng, ấm cúng lạ thường. Không gian ngập tràn tiếng sột soạt êm tai của từng thớ giấy kiếng được mở ra, tiếng kéo cắt ngọt xớt lướt đi, mùi thơm nồng nàn của mực bút máy Cửu Long hòa quyện với mùi giấy cũ ngai ngái và hương cà phê mộc thoang thoảng bốc lên từ chiếc phin nhôm trên quầy.

Cứ mỗi một cuốn sách được mang ra từ kệ gỗ — dù là một tập khảo luận triết học dày cộp bìa da hay một tập truyện ngắn mỏng manh của nhà văn Nam Bộ — Tuệ Anh đều dừng lại vài giây, đọc lướt qua tên tác phẩm, nhắm mắt nhớ lại bối cảnh xuất bản rồi cẩn thận nắn nót viết một mảnh ghi chú riêng biệt.

Có cuốn cô tóm lược cảm nhận cá nhân về một chi tiết đắt giá; có cuốn cô ghi chú cặn kẽ về xuất xứ của bản dịch đầu tiên trước năm 1975; có cuốn tài liệu kỹ thuật dành cho sinh viên kiến trúc, cô cẩn thận chỉ ra những bản vẽ mặt cắt quý giá nằm ở phần phụ bản cuối sách vốn thường bị người đọc bỏ qua; và có cả những cuốn truyện tranh thiếu nhi, cô nắn nót vẽ thêm một hình mặt cười ngộ nghĩnh kèm lời dặn dò các bạn nhỏ giữ gìn sách cho phẳng phiu, đừng làm quăn mép.

Khoảng hơn bốn giờ chiều, khi cái nắng oi nồng của ngày bắt đầu chùng xuống và không khí trở nên ngột ngạt kỳ lạ trước một cơn dông đang tích tụ ngoài khơi, tiệm Mộc đón những người khách đầu tiên quay trở lại.

Đó là nhóm ba sinh viên Đại học Kiến trúc — những người bạn học cùng khóa với Vĩnh — trên vai ai nấy đều đeo chiếc ống đựng bản vẽ A0 dài ngoằng bằng nhựa đen bóng. Họ bước vào tiệm với vẻ mặt bơ phờ, đôi mắt thâm quầng mệt mỏi sau một ngày dài còng lưng trên giảng đường và phòng đồ án.

“Chào Vĩnh! Chào cô chủ tiệm!” Cậu sinh viên đi đầu tên Tuấn cất tiếng chào mệt mỏi, đưa mắt lơ đãng nhìn quanh gian tiệm rồi bỗng ngạc nhiên thốt lên: “Ủa, tiệm Mộc hôm nay thay áo mới hay sao vậy? Sách trên kệ nhìn bóng bẩy, tươm tất khác hẳn tuần trước vậy nè?”

Tuấn tò mò bước nhanh đến kệ sách chuyên ngành kỹ thuật, rút ra cuốn *Nguyên Lý Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Ở* vốn đã sờn rách góc bìa mà cậu đã ngắm nghía, nâng lên đặt xuống suốt tuần trước nhưng chưa đủ tiền mua. Cuốn sách giờ đây nằm gọn gàng trong một lớp màng kiếng trong vắt phẳng phiu, cứng cáp và sạch bong không một hạt bụi. Khi Tuấn lật mở trang bìa xám xịt, mảnh thẻ ghi chú màu nâu nhạt kẹp bên trong khẽ rơi nhẹ ra lòng bàn tay cậu.

Tuấn nheo mắt đọc những dòng chữ viết tay bằng mực xanh đều tăm tắp:

*“Ấn bản này có phần phân tích rất sâu sắc về hệ thống thông gió tự nhiên và giếng trời trong nhà phố truyền thống miền Nam ở chương 4 (từ trang 112 đến trang 135). Rất thích hợp làm tài liệu tham khảo cốt lõi cho đồ án nhà ở đô thị nhiệt đới.”*

Mắt Tuấn sáng bừng lên. Cậu quay phắt sang hai người bạn đi cùng, giọng nói vỡ òa không giấu nổi vẻ phấn khích:

“Mấy ông qua đây coi nè! Trời ơi, cô chủ tiệm ghi chú đúng ngay cái phần thông gió vi khí hậu mà ông thầy hướng dẫn đang chửi tôi tơi bời sáng nay luôn nè! Đúng ngay trang một trăm mười hai! Chiều nay tôi lội qua Nhà sách Minh Châu đằng kia, bên đó hạ giá sách dữ dội thiệt, nhưng người đông như kiến cỏ, chen lấn muốn nghẹt thở. Nhân viên thì đứng lườm lườm như coi chừng kẻ cắp, hối thúc người ta mua cho lẹ như đuổi tà. Toàn là sách giáo trình mới in lại bìa bóng loáng nhưng cắt bớt phụ bản, chẳng có một cuốn nào chỉ rõ đúng cái thực tế mà dân kiến trúc mình đang bế tắc như cuốn sách cũ bọc kiếng này!”

Tuấn quay sang quầy thu ngân, sốt sắng móc chiếc ví vải dù bạc màu từ túi quần sau ra:

“Cuốn này cô Tuệ Anh tính giá bao nhiêu vậy cô?”

“Dạ, cuốn đó giá bìa cũ vẫn giữ nguyên là mười tám ngàn đồng ạ. Tiệm bọc giấy kiếng bảo quản và tặng kèm thẻ ghi chú miễn phí cho bạn đọc,” Tuệ Anh mỉm cười nhã nhặn đáp lời.

“Lấy tôi cuốn này liền!” Tuấn đếm đủ mười tám ngàn đồng tiền giấy nhàu nhĩ đặt ngay ngắn lên mặt bàn thu ngân. “Mà cô làm ơn cho tôi xin thêm một ly cà phê đen đá thật đậm nha, để tôi ra chiếc ghế băng đằng kia ngồi ngâm cứu luôn chương bốn coi các cụ ngày xưa giải quyết hướng gió nồm ra sao.”

Tiếng những tờ tiền giấy và đồng xu lẻ rơi lách cách vào chiếc ngăn kéo hộp thiếc Danisa vang lên giòn giã. Một sự khởi đầu êm ả, chậm rãi nhưng vững chãi như một chiếc mầm cây đâm xuyên qua lớp đất đá khô cằn.

Ngay sau nhóm sinh viên, cánh cửa liếp bằng gỗ thông lại khẽ lay động, kéo theo tiếng chuông gió bằng vỏ ốc va vào nhau lách cách.

Ông giáo Trịnh Văn Nghiêm dẫn theo hai người bạn già nguyên là cựu giáo viên trường trung học Petrus Ký bước vào tiệm. Những bậc cao niên này bước đi khoan thai, áo sơ mi cài kín cổ, mái tóc bạc phơ chải ngược ra sau. Họ hoàn toàn không đoái hoài gì đến những tiếng loa quảng cáo chói tai đang gầm rú ngoài đầu phố. Đối với những bậc túc nho cả đời trân quý con chữ, sự ồn ào xô bồ, chen chúc giành giật của những đợt đại hạ giá thương mại ngoài kia chỉ mang lại cảm giác xót xa, đau đớn cho phẩm giá của sách vở.

Họ tìm đến Mộc như tìm về một chốn nương náu thanh tịnh của tâm hồn. Ở đây, họ được hít thở mùi hương quen thuộc của bụi giấy cổ, được ngồi trên những chiếc ghế gỗ mộc mạc không sơn phết lấp lánh, nhấp từng ngụm trà sen ấm nóng trong chiếc chén sành mộc, và lắng nghe tiếng lật sách thì thầm giữa một không gian tĩnh lặng, tôn nghiêm.

Một cụ giáo già run run đưa bàn tay có những đốm đồi mồi cầm lên cuốn *Tuyển Tập Thơ Văn Yêu Nước Đầu Thế Kỷ XX*. Khi mở trang đầu và nhìn thấy mảnh thẻ ghi chú của Tuệ Anh chỉ ra sự dị biệt tinh tế giữa hai bản dịch chữ Nôm của một bài thơ chí sĩ thời phong trào Duy Tân, cụ xúc động đẩy gọng kính lão lên trán, quay sang nắm lấy tay ông Trịnh:

“Anh Nghiêm nói không sai một chữ nào. Cô chủ trẻ ở đây không đơn thuần là người đi bán sách cũ kiếm miếng cơm qua ngày. Đây là tấm lòng và sự mẫn tiệp của một người làm nghề biên tập thực thụ, biết trân quý cái hạt ngọc tinh hoa ẩn giấu sau lớp bụi thời gian. Những siêu thị sách thương mại bề thế ngoài kia có thể bán rẻ hơn cho ta vài đồng bạc, nhưng làm sao có được cái tình sâu nặng, cái sự tri âm tri kỷ này với từng trang chữ?”

Giữa lúc gian tiệm đang ấm áp những lời đàm đạo tao nhã về thơ văn và thế sự thì tiếng chuông gió bằng vỏ ốc treo trước cửa tiệm bỗng reo lên một tiếng “leng keng” lảnh lót.

Một người phụ nữ bước qua bậu cửa.

Cô ta đội một chiếc nón vành rộng bằng cói đan màu nâu nhạt, mắt đeo cặp kính râm to bản màu trà che gần hết nửa khuôn mặt kiêu kỳ. Trên người cô là bộ âu phục bằng lụa tơ tằm màu xám tro được cắt may vô cùng tinh tế, từng đường kim mũi chỉ ôm khít vóc dáng thon thả, toát lên vẻ sắc sảo, lạnh lùng và quyền lực của một nữ thương nhân thành đạt giữa chốn thương trường Sài Gòn. Người phụ nữ bước đi rất nhẹ, gót đôi giày da màu đen gõ từng nhịp êm ru, đều đặn trên sàn gạch tàu cũ kỹ của tiệm.

Tuệ Anh đang cúi đầu nắn nót viết một chiếc thẻ ghi chú mới, nghe tiếng bước chân liền ngước mắt lên, mỉm cười theo thói quen của người làm nghề dịch vụ:

“Kính chào quý khách. Mời cô cứ tự nhiên xem sách ạ.”

Người phụ nữ khẽ gật đầu, môi không hé mở lấy một lời chào đáp lại. Ánh mắt giấu kín sau lớp kính râm đảo qua một lượt khắp gian phòng: từ chiếc quầy cà phê bằng gỗ thông pallet ngăn nắp, chiếc bảng gỗ nhỏ ghi quy ước “Xin vui lòng đọc sách trong thì thầm”, dãy ghế băng nơi các bạn sinh viên đang cắm cúi vẽ phác thảo đồ án, cho đến góc bàn làm việc nơi Vĩnh và bé Hạnh đang tỉ mẩn bọc từng góc màng kiếng cho những cuốn sách cũ.

Cô ta chậm rãi bước về phía giá sách văn học kinh điển thế giới, đưa bàn tay thon dài với những móng tay được tỉa tót, sơn màu cánh gián cẩn thận lướt nhẹ qua từng gáy sách. Bàn tay ấy khẽ khựng lại, dừng lại ở cuốn tiểu thuyết dày cộp *Những Người Khốn Khổ* bản dịch kinh điển của nhóm Lê Trọng Sâm in từ đầu thập niên bảy mươi.

Người phụ nữ rút cuốn sách ra khỏi kệ. Lớp giấy kiếng trong suốt phẳng lì phản chiếu ánh đèn vàng dây tóc lấp lánh như một tấm gương soi. Mảnh thẻ ghi chú bằng giấy bìa roki màu nâu kẹp bên trong khẽ lộ ra nơi mép trên của sách.

Bàn tay người phụ nữ khẽ run lên một nhịp rất nhẹ, gần như không thể nhận ra. Cô ta lật mở trang bìa lót ố vàng, chăm chú đọc từng nét chữ viết tay bằng mực xanh Cửu Long của Tuệ Anh:

*“Văn hào Victor Hugo từng nói: ‘Tương lai thuộc về những người biết trân trọng ánh sáng của tri thức trong bóng đêm’. Cuốn sách này tuy đã trải qua ba thập kỷ thăng trầm, chất giấy đã giòn vàng theo năm tháng, nhưng từng dòng chữ về lòng trắc ẩn mênh mông của Giám mục Myriel và cuộc đời của Jean Valjean vẫn vẹn nguyên sức mạnh lay động tâm can con người. Người giữ sách đã cẩn thận gia cố lại đường chỉ khâu ở gáy sách bằng chỉ sợi gai chống ẩm, mong cuốn sách sẽ tiếp tục đồng hành cùng bạn thêm nửa thế kỷ nữa.”*

Người phụ nữ đứng lặng như một pho tượng đá trước giá sách suốt gần năm phút đồng hồ. Dưới lớp kính mát to bản, khóe môi cô ta khẽ mím chặt lại thành một đường thẳng thon nhỏ, một thoáng xúc động sâu xa xen lẫn kinh ngạc và thảng thốt lướt qua gương mặt kiêu hãnh vốn được che đậy kỹ càng.

Tuệ Anh đứng ở bàn thu ngân quan sát người khách lạ từ xa. Linh cảm nghề nghiệp nhạy bén của một người từng trải qua bao cuộc cạnh tranh trên thương trường mách bảo cô rằng người này tuyệt đối không phải là một độc giả tầm thường tình cờ ghé ngang. Dáng vẻ cao sang ấy, phong thái điềm tĩnh mà sắc lạnh ấy, và cả ánh mắt trầm tư đang gắn chặt vào cuốn sách được bọc kiếng tỉ mỉ kia... quen thuộc đến kỳ lạ. Đó chính là người phụ nữ từng ngồi sau chiếc xe máy Honda Astrea đời mới, dừng lại bên kia đường nhìn chằm chằm vào tiệm Mộc vài hôm trước: Trần Minh Châu, người chủ thực sự đứng sau lưng hệ thống Nhà sách Minh Châu sầm uất.

Trần Minh Châu dường như không hề hay biết Tuệ Anh đã nhận ra thân phận của mình. Cô ta khép cuốn sách dày lại một cách nhẹ nhàng, cẩn thận đặt nó trở về đúng vị trí cũ trên kệ gỗ thông, rồi dùng đầu ngón tay khẽ vuốt phẳng lại mép giấy kiếng như sợ làm nhăn nếp gấp hoàn hảo của nó.

Sau đó, người phụ nữ xoay gót, bước thẳng ra phía cửa tiệm mà không nói một lời nào. Khi bước qua bậu cửa gỗ, Trần Minh Châu khẽ ngoảnh đầu lại nhìn Tuệ Anh một lần nữa. Lần này, ánh mắt sau cặp kính râm không còn nét dò xét, khinh thị hay toan tính của một đối thủ cạnh tranh thương trường đầy mưu mô, mà là một ánh nhìn đầy suy ngẫm, sâu thẳm, ẩn chứa một sự kính nể kín đáo và bất ngờ dành cho một người đồng nghiệp cùng yêu sách, nhưng đã dũng cảm chọn cho mình một lối đi hoàn toàn khác biệt giữa thời buổi kim tiền.

Tiếng chuông gió lại một lần nữa leng keng reo lên trong gió chiều. Bóng dáng người phụ nữ hòa nhanh vào dòng người hối hả đang vội vã chạy xe xuôi ngược trên phố Trần Nhân Tôn.

“Ai vậy chị Tuệ Anh?” Bé Hạnh ngơ ngác ngẩng đầu lên hỏi, hai bàn tay nhỏ xíu vẫn cầm chặt chiếc kéo cắt giấy. “Khách gì mà lạ lùng dữ dội, vô tiệm ngó quanh một hồi rồi hổng thèm hỏi giá cuốn nào hết trơn vậy chị?”

Tuệ Anh mỉm cười hiền từ, khẽ lắc đầu:

“Một người khách đặc biệt thôi em. Mau làm tiếp đi, chúng ta còn hơn hai mươi cuốn sách khảo cứu quý cần bọc xong trước khi trời tối mịt đó.”

Sáu giờ ba mươi phút tối.

Sài Gòn buông màn đêm xuống nhanh như một cái chớp mắt. Những ngọn đèn đường vàng vọt, tù mù bắt đầu bật sáng dọc theo con đường Trần Nhân Tôn, soi rọi vào một không gian oi nồng, bức bối đến nghẹt thở. Mặt đất dường như đang bốc lên từng luồng hơi nóng hầm hập bị nén chặt dưới sức ép khủng khiếp của một khối không khí ẩm khổng lồ đang sà sát nóc nhà. Mùi nước cống rãnh, mùi rác rưởi từ các hố ga ven đường bốc lên nồng nặc, tanh nồng và hôi hám — một dấu hiệu thời tiết quen thuộc mà bất kỳ người dân Sài Gòn lâu năm nào cũng đều thấu hiểu: một đợt triều cường kết hợp với áp thấp nhiệt đới lịch sử đang tiến sát vào lòng thành phố.

Tiệm Mộc bắt đầu chuẩn bị đóng cửa đón bão.

Tuệ Anh ngồi ngay ngắn bên bàn thu ngân, chiếc máy tính bỏ túi Casio cũ kỹ được cô đặt trang trọng lên mặt bàn bên cạnh cuốn sổ cái theo dõi thu chi bọc bìa da màu đen.

Hôm nay, dòng tiền mặt của tiệm không hề bùng nổ ồ ạt như những ngày mở đợt thanh lý vỉa hè trước đây, hay những buổi chiều đông đúc trẻ con tụ tập thuê truyện tranh. Đòn hạ giá tàn khốc của Minh Châu rõ ràng vẫn hút đi một lượng rất lớn những khách hàng vãng lai ham của rẻ. Thế nhưng, từng dòng chữ nắn nót trong cuốn sổ nhật ký bán hàng của Mộc lại ghi nhận những con số vững vàng, kiên định đến bất ngờ:

Tiền bán sáu cuốn sách cũ có giá trị chuyên môn và học thuật cao (toàn bộ đã được bọc màng kiếng phẳng phiu và kẹp thẻ ghi chú biên tập): một trăm hai mươi lăm ngàn đồng.

Tiền thu từ quầy cà phê phin mộc và trà sen ấm: hai mươi tư ngàn đồng.

Tiền cho thuê truyện tranh của các bạn đọc nhí quen thuộc trong xóm: mười hai ngàn đồng.

Và đặc biệt nhất, trước khi ra về, vị giáo viên già đi cùng ông Trịnh và hai cậu sinh viên kiến trúc bạn của Vĩnh đã quyết định đăng ký thêm ba “Phiếu Đăng Ký Đỡ Đầu Bản In” cho tác phẩm khảo cứu văn hóa Nam Bộ *Hồn Đất Phù Sa* — bao gồm hai bản bìa mềm và một bản đặc biệt bìa cứng có đánh số lưu niệm, đóng góp thêm bốn mươi ngàn đồng tiền cọc vào quỹ in ấn.

Tuệ Anh cẩn thận dùng bút bi đỏ cộng từng khoản mục lại, rồi trừ đi chi phí mua hai ký giấy kiếng loại tốt ở chợ Kim Biên (hết mười lăm ngàn đồng) và tiền mua thức ăn đạm bạc cho bữa cơm tối của cả bốn người trong tiệm (hết mười tám ngàn đồng).

Số tiền mặt tự do tăng thêm thực tế trong ngày hôm nay: đúng một trăm sáu mươi tám ngàn đồng.

Cộng dồn với số tiền chín trăm năm mươi hai ngàn đồng đã tích lũy an toàn từ ngày hôm qua, tổng quỹ khả dụng hiện tại của tiệm Mộc đã chính thức cán mốc một triệu một trăm hai mươi ngàn đồng.

Khoảng cách để đạt tới con số mục tiêu một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc in ba ngàn bản sách cho xưởng An Thành giờ đây chỉ còn vỏn vẹn ba trăm tám mươi ngàn đồng. Và điều quan trọng hơn tất cả mọi con số khô khan, đó là số tiền mặt lẻ kiếm được từ việc bán sách chân chính và bán cà phê hôm nay đã hoàn toàn đủ để tiệm chi trả tiền ăn uống sinh hoạt, tiền điện nước hàng ngày mà không phải đụng phạm vào dù chỉ một đồng tiền cọc thiêng liêng của độc giả đã gửi gắm.

Tuệ Anh khẽ gập cuốn sổ cái lại, nghe lồng ngực mình dâng lên một niềm xúc động khó tả xốn xang.

Cô đã không thỏa hiệp. Cô đã không hèn nhát cuốn mình vào vòng xoáy phá giá tự sát của những kẻ nhiều tiền. Bằng sự tỉ mẩn của đôi bàn tay, bằng nghiệp vụ biên tập nghiêm cẩn và lòng trân trọng chân thành sâu sắc dành cho từng trang sách cũ, cô đã chứng minh rằng một tiệm sách độc lập, dù nhỏ bé và nghèo nàn, vẫn hoàn toàn có thể sinh tồn, đứng vững và ngẩng cao đầu bằng chính phẩm giá chữ nghĩa của mình.

Vĩnh từ trên chiếc thang gỗ gác lửng kho sau chậm rãi bước xuống, tay cầm chiếc đèn pin Liên Xô bằng vỏ sắt nặng trịch:

“Tuệ Anh ơi, tôi vừa trèo lên kiểm tra lại toàn bộ giàn lam thông gió và hệ thống cột chịu lực ở kho sách phía sau rồi. Tôi đã dùng búa chèn thêm nêm gỗ thông vào các khớp mộng chữ A để chống rung lắc khi gió giật. Nhưng mà không khí ngoài trời oi nồng kỳ lạ quá, ngực tôi cứ tức nghẹn lại như bị ai đè tảng đá lên. Đài phát thanh lúc sáu giờ chiều vừa thông báo, áp thấp nhiệt đới ngoài biển Đông đã chính thức mạnh lên thành bão, đêm nay sẽ đổ bộ trực diện vào vùng ven biển và quét thẳng vào đất liền thành phố mình.”

Tuệ Anh đứng dậy, bước ra trước hiên tiệm, đứng bên cạnh Vĩnh.

Cả con đường Trần Nhân Tôn lúc này im lìm một cách rợn người. Không có lấy một ngọn gió thoảng qua. Những tán lá me cổ thụ hai bên đường đứng im phăng phắc, rũ rượi, bất động trong bầu không khí ngột ngạt, đặc quánh như một thùng thuốc súng chực chờ phát nổ. Mùi bùn sình từ lòng cống, mùi rác rưởi ẩm ướt và mùi nồng nặc của đất cát bốc lên cay xè nơi sống mũi.

Bên trong gian nhà, ông giáo Trịnh đã cẩn thận dùng những tấm bạt nhựa dày phủ kín lên các kệ sách thấp dưới chân tường để đề phòng nước ngập tràn qua bậu cửa. Bé Hạnh vì mệt mỏi sau một ngày dài lăn lộn ngoài đường đã nằm ngủ thiếp đi ngon lành trên chiếc ghế băng dài bằng gỗ thông pallet, hai tay nhỏ xíu vẫn ôm khư khư vào lòng cuốn truyện tranh thiếu nhi vừa được bọc lớp giấy kiếng phẳng phiu, lấp lánh dưới ánh đèn vàng.

Bất chợt, một tia chớp ngoằn ngoèo xé toạc bầu trời đêm đen kịt phía chân trời Nam, rọi sáng bừng cả góc phố trong một tích tắc ma quái.

Nửa đêm, tiếng sấm nổ đinh tai nhức óc xé rách bầu trời, nước mưa bắt đầu trút xuống như thác đổ.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn