Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.18 / 36
Chương 18

Cân Bằng Giữa Tình Thơ Và Lợi Nhuận

Mùi cà phê phin nhỏ giọt tí tách hòa lẫn với mùi giấy ố vàng trở thành hương vị đặc trưng mới của tiệm Mộc khi chiếc quầy gỗ thông mộc mạc do Vĩnh tự tay đóng chính thức đi vào hoạt động cạnh giá sách văn học.

Đó là một góc nhỏ khiêm nhường được tận dụng triệt để ở góc phía trước cửa tiệm, nơi mảng tường vừa được trát lại lớp vữa mới tinh còn thoảng mùi vôi khô và cát ẩm. Vĩnh đã dành trọn hai buổi tối cùng hai người bạn cùng lớp kiến trúc để ghép những thanh gỗ pallet xẻ từ các kiện hàng máy móc dỡ ở cảng Phú Định thành một chiếc quầy hình chữ L gọn gàng. Mặt quầy được bào nhẵn thín bằng chiếc bào tay lưỡi thép đã mòn vẹt của cha anh để lại, sau đó được lau kỹ bằng giấy ráp mịn rồi phủ một lớp dầu bóng mờ màu cánh gián non. Lớp véc-ni mỏng ấy không che giấu mà làm nổi bật những đường vân gỗ tự nhiên lượn sóng, cùng vài mắt gỗ gồ ghề, mộc mạc và đầy cá tính phong trần.

Bên trên mặt gỗ mộc ấy, một chiếc bếp dầu Thăng Long nhỏ màu xanh lam tróc sơn đôi chỗ luôn đỏ lửa liu riu dưới đáy chiếc ấm nhôm Liên Xô sáng bóng. Ngọn lửa xanh biếc viền quanh vòng tim bấc phả ra làn khói nước mỏng manh, ấm áp, phảng phất hơi nước sôi sùng sục làm mềm đi không khí hanh hao, se sắt của gian tiệm sách cũ vốn quanh năm chỉ ngập trong bụi bặm và hơi ẩm mốc.

Để hiện thực hóa góc nhỏ này, Tuệ Anh đã cẩn thận trích từ chiếc hộp thiếc Danisa đựng tiền tiết kiệm một khoản vốn vô cùng khiêm tốn: vừa vặn mười tám ngàn đồng. Đó là những đồng tiền giấy loại mười ngàn màu đỏ sẫm in hình giàn khoan dầu khí, cùng những tờ hai ngàn, một ngàn đồng đã sờn mép được cô vuốt phẳng phiu từng nếp gấp. Cô mượn chiếc xe đạp Thống Nhất cọc cạch của dì Lan để lại, lóc cóc đạp ra tận khu chợ hóa chất và đầu mối Kim Biên, rồi vòng qua chợ Nancy để lùng mua cho bằng được những món đồ vừa túi tiền nhất.

Cô chọn một chục bộ phin nhôm Hải Phòng dập lỗ tròn đều đặn dưới đáy, loại nhôm dày dặn cầm đầm tay; một tá cốc thủy tinh lùn khía sọc dọc – thứ ly uống trà đá và cà phê bình dân quen thuộc trên khắp các vỉa hè Sài Gòn từ thời bao cấp cho tới nay; cùng hai ký đường cát trắng hạt to của nhà máy đường Biên Hòa và năm lon sữa đặc có đường mang nhãn hiệu Ông Thọ trắng viền đỏ quen thuộc. Chiếc nắp lon sữa được cô đục khéo léo hai lỗ hình tam giác đối xứng bằng mũi dao nhọn, cắm một que tăm tre nhỏ vào một bên lỗ để tránh kiến bu.

Riêng về cà phê, Tuệ Anh kiên quyết không dùng loại bột cà phê đóng gói sẵn bán đầy ngoài chợ lớn – thứ bột đen kịt bị độn đến bảy phần bắp rang cháy, đậu nành khét lẹt và tẩm đẫm hương liệu hóa học tạo bọt nồng nặc. Nhờ mối quen của ông giáo Trịnh gửi mua từ một người bạn thân ở phố núi, cô lấy được đúng loại hạt Robusta Buôn Ma Thuột rang mộc nguyên chất. Những hạt cà phê tròn trịa, nâu óng ánh sắc cánh gián, được xay thủ công bằng chiếc cối gang quay tay của một tiệm tạp hóa đầu ngõ, độ mịn vừa tới độ thô của hạt cát biển, khi ngửi chỉ thấy mùi thơm thuần khiết, ngai ngái nồng nàn của đất đỏ bazan và nắng gió cao nguyên.

Trên một miếng gỗ thông vụn hình chữ nhật được Vĩnh gọt giũa vuông vức bốn góc, Tuệ Anh nắn nót dùng chiếc cọ lông chấm mực Tàu viết lên một bảng giá mộc mạc:

*“Cà phê phin: 1.500 đồng.* *Cà phê sữa: 2.000 đồng.* *Trà sen nóng: Miễn phí phục vụ bạn đọc.”*

Một nghìn năm trăm đồng cho một ly cà phê phin đen nhỏ giọt chầm chậm là mức giá vô cùng dễ thở giữa năm 1996, rẻ hơn hẳn mức hai ngàn đến ba ngàn đồng tại các quán giải khát có gắn dàn máy cassette hai hộc băng ngoài mặt đường lớn. Đối với Tuệ Anh, việc mở thêm góc cà phê ban đầu thuần túy là một bài toán dòng tiền thực dụng đến lạnh lùng của một người từng làm công tác quản lý: mỗi ly nước bán ra có thể thu về khoản lãi gộp khoảng bảy trăm đến một ngàn đồng sau khi đã trừ đi chi phí bột cà phê, sữa, đường và chút dầu hỏa đốt bếp.

Giữa lúc nợ gốc tiền thuê nhà còn treo lơ lửng một triệu tám trăm ngàn đồng phải thanh toán dứt điểm cho bà Tư Lành vào cuối tháng tới, trong khi các nguồn thu từ việc bán sách cũ lẫn cho thuê truyện thiếu nhi đang tăng trưởng chậm chạp theo từng bước dò dẫm, từng tờ bạc giấy năm trăm, một nghìn đồng lẻ vuốt phẳng phiu thu về mỗi buổi sáng chính là chiếc phao cứu sinh ngắn hạn. Nó giúp tiệm có thêm đồng ra đồng vào hàng ngày, phụ tiền điện nước sinh hoạt, mua thêm bó dầu lau sàn và đắp đổi chi phí mua than, mua dầu hỏa thắp sáng.

Thế nhưng, hiệu ứng mà góc cà phê nhỏ ấy tạo ra cho không gian tiệm Mộc lại vượt xa những tính toán tài chính thuần túy trên trang sổ cái của cô cựu biên tập viên thế kỷ hai mươi mốt.

Chỉ sau ba ngày mở bán thử nghiệm, tiếng lành đồn xa khắp mấy con hẻm ngoằn ngoèo quanh khu vực đường Trần Nhân Tôn, rồi nhanh chóng lan sang tận khu giảng đường Đại học Sư phạm, Đại học Kiến trúc và cả trường Tổng hợp nằm cách đó không xa. Không gian của Mộc hoàn toàn khác biệt với những tụ điểm giải khát đang mọc lên nhan nhản ngoài phố thị. Ở đây không có tiếng nhạc xập xình phát ra từ những chiếc băng cassette hải ngoại sao chép lậu, không có tiếng lách cách của những ván bài tây đỏ đen sát phạt, càng không có tiếng chửi thề văng tục thường thấy ở những quán cóc liêu xiêu dựng tạm ven kênh rạch nước đen.

Ở tiệm Mộc, người ta chỉ tìm thấy hương thơm trầm mặc của bột cà phê tươi gặp dòng nước sôi chín mươi độ, tiếng giọt đắng rơi khe khẽ xuống đáy ly thủy tinh dày “tóc… tóc…” như nhịp đập chậm rãi, kiên nhẫn của thời gian, và tiếng sột soạt dịu dàng của từng trang sách giấy bãi bằng, giấy giáp được lật nhẹ dưới ánh đèn tròn dây tóc tỏa ra thứ ánh sáng vàng ấm áp.

Giới trí thức nghèo, những cựu giáo chức hưu trí sống bằng đồng lương hưu còi cọc và đông đảo sinh viên các tỉnh lẻ lập tức tìm thấy ở tiệm Mộc một chốn dung thân lý tưởng giữa lòng đô thị Sài Gòn đang chuyển mình công nghiệp hóa quá đỗi vội vã và thực dụng. Họ rỉ tai nhau về một quán sách lạ đời nằm nép mình trong con hẻm rợp bóng cây xanh, nơi chỉ cần bỏ ra một nghìn năm trăm đồng – đúng bằng giá một bát xôi bắp gói lá chuối – là có thể đàng hoàng ngồi lại hàng giờ bên khung cửa sổ chấn song gỗ, tay nâng ly nước ấm men sứ, mắt lần giở những trước tác triết học Đông Tây, những tập khảo cứu văn hóa hay những cuốn tiểu thuyết kinh điển nằm phủ bụi trên kệ mà không hề bị người bán hàng lườm nguýt hay xua đuổi.

Thời gian lưu trú trung bình của khách ghé tiệm Mộc tăng vọt một cách đột biến, từ mười lăm phút tạt qua xem lướt lên tới gần một tiếng rưỡi, thậm chí gấp đôi, gấp ba vào những buổi sáng cuối tuần thảnh thơi. Những người khách trước kia chỉ tạt ngang qua tìm một cuốn giáo trình cũ rồi vội vã rời đi vì cái nóng hầm hập của gian nhà ống, nay đã hình thành một thói quen mới: chọn cho mình một góc ghế con, gọi một ly cà phê phin tí tách rồi chìm đắm vào từng chương sách chữ nhỏ li ti. Sự gắn kết vô hình nhưng bền chặt ấy dường như đã thổi một luồng sinh khí mới, làm sống dậy cả một không gian tưởng chừng như sắp tàn lụi và chìm vào quên lãng sau sự ra đi đột ngột của dì Mộc Lan.

Một buổi sớm thứ Bảy trong trẻo, sương sớm còn đọng lấm tấm trên những tán me già trước ngõ, ông giáo Trịnh Văn Nghiêm chậm rãi chống cây gậy song bước vào tiệm. Ông vận chiếc áo sơ mi lanh trắng đã ngả màu mây, cổ áo sờn chỉ nhưng được là ủi thẳng thớm, mái tóc bạc phơ chải ngược ngay ngắn để lộ vầng trán cao hằn sâu những nếp nhăn suy tư. Vừa thấy bóng dáng quen thuộc của ông nơi bậu cửa, Tuệ Anh đã nhanh nhẹn đặt chiếc ấm nhôm đang sôi réo rắt xuống bếp, bước vòng qua mép quầy cúi đầu chào cung kính:

“Cháu chào thầy Trịnh. Nay thầy ghé sớm quá, để cháu pha cho thầy một phin cà phê ít đường, nhiều nước dão như mọi bận nhé?”

Ông Trịnh dừng chân, đưa tay vịn vào mép kệ sách, cười đôn hậu. Những nếp nhăn nơi khóe mắt ông xô lại thành một vẻ hiền từ, độ lượng:

“Cứ từ từ thôi cô chủ nhỏ, không phải vội. Lão già này thèm cái không khí sớm mai ở đây hơn thèm chất caffein kích thích tim mạch. Mấy bữa nay bên khu tập thể trường Sư phạm người ta cứ kháo nhau râm ran, bảo tiệm Mộc dạo này có thứ hương thơm kỳ lạ lắm, kéo được cả những tay nghiên cứu già khó tính nhất cũng phải chịu mò mẫm ra khỏi góc phòng kín ngột ngạt. Tôi nghe người ta khen mà mát lòng mát dạ thay cho hương hồn cô Lan dưới suối vàng.”

Ông giáo thong thả ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông đặt cạnh kệ sách Triết học phương Tây, rút chiếc kính lão gọng đồi mồi đã lỏng ốc ra lau cẩn thận vào vạt áo sơ mi, rồi với tay lấy tập san *Sử Địa* xuất bản từ trước năm 1975 nằm ở ngăn thứ hai. Bên cạnh ông, hai cậu sinh viên khoa Xây dựng mặc áo sơ mi kẻ ca-rô bạc màu đang chụm đầu bên một ly cà phê đen đá cắm hai chiếc ống hút nhựa màu trắng, thì thầm trao đổi với nhau về một bản vẽ kết cấu giằng móng nhà cấp bốn được photo lem nhem trên nền giấy sáp gai.

Tuệ Anh thoăn thoắt tráng chiếc phin nhôm qua một lượt nước sôi già để khử mùi kim loại và làm nóng thành phin. Cô đong hai muỗng bột cà phê Robusta nâu sậm vào lòng phin, lắc nhẹ tay cho bề mặt phẳng phiu rồi đặt tấm nén kim loại lên trên, dùng ngón tay ấn nhẹ với một lực vừa đủ – không quá lỏng để nước sôi chảy tuột đi, cũng không quá chặt khiến bột bị nghẽn. Khi dòng nước sôi đầu tiên tưới đều lên bề mặt, ủ cho từng hạt bột cà phê ngậm nước nở bung ra, tỏa ngát một mùi thơm nồng nàn ngai ngái, Tuệ Anh cảm thấy một niềm bình yên kỳ lạ dâng lên trong lồng ngực mình.

Ở năm 2026 mà cô từng sống, những quán cà phê sách mọc lên như nấm sau mưa khắp các đô thị lớn. Chúng được trang bị máy lạnh công suất cao chạy ro ro suốt ngày đêm, hệ thống đèn led rực rỡ sắc màu, tường kính bóng bẩy và những góc trang trí phục vụ nhu cầu chụp ảnh sống ảo. Thế nhưng phần lớn khách bước vào những nơi ấy chỉ để cắm chặt mắt vào màn hình điện thoại thông minh, đeo tai nghe chống ồn hoặc gõ lạch cạch liên hồi trên bàn phím máy tính xách tay. Cà phê ở thời hiện đại được bán kèm một chỗ ngồi công nghiệp vô cảm; còn ở tiệm Mộc của năm 1996 nghèo nàn này, ly cà phê phin một nghìn năm trăm đồng lại đóng vai trò như một chiếc cầu nối tâm hồn mộc mạc, một tấm vé thông hành chậm rãi đưa con người ta trở về với chiều sâu của tri thức, sự thấu cảm và những khoảng lặng cần thiết của đời sống nội tâm.

Những đồng bạc lẻ tích cóp từ góc quầy cà phê bắt đầu làm chiếc hộp thiếc Danisa nặng dần lên sau mỗi buổi hoàng hôn. Cứ mỗi tối khi hạ màn cửa sắt xuống, ngồi dưới ánh đèn bàn kiểm quỹ, nhìn những xấp tiền năm trăm, một nghìn đồng nhăn nheo được cô tỉ mỉ vuốt phẳng phiu, xếp ngay ngắn bên cạnh số tiền cho thuê truyện tranh thiếu nhi của bé Hạnh, Tuệ Anh lại thở phào nhẹ nhõm. Đáy vực tài chính tưởng chừng như không lối thoát sau tang lễ của dì dường như đã không còn quá thăm thẳm và đáng sợ nữa.

Thế nhưng, quy luật vận hành khắc nghiệt của một không gian vật lý hữu hạn chưa bao giờ chịu chiều lòng những giấc mơ thuần túy lãng mạn. Chưa đầy hai tuần sau ngày góc cà phê chính thức đi vào hoạt động đều đặn, sự xung đột gay gắt về mặt công năng bắt đầu phát tác như một căn bệnh âm ỉ nay gặp cơ hội bộc phát dữ dội.

Mặt bằng của tiệm Mộc vốn là một căn nhà phố kiểu cũ điển hình của khu cư xá lao động nghèo: chiều ngang mặt tiền chỉ vỏn vẹn hơn ba mét, chiều sâu hun hút gần tám mét nhưng trần nhà lại khá thấp. Kể từ hôm xảy ra sự cố bức tường kho phía sau bị rò điện và nứt toác một mảng lớn sau cơn mưa dông lớn, toàn bộ những chồng sách quý, sách khảo cứu Hán Nôm và các bộ tạp chí chuyên môn chưa kịp gia cố nơi kho ẩm đã phải di tản khẩn cấp ra nửa sau của gian nhà trước. Lối đi duy nhất giữa hai dãy kệ gỗ lim đồ sộ nay đã bị thu hẹp lại, chỉ vừa vặn cho một người lớn đi lách nghiêng người.

Nay, với sự xuất hiện của quầy pha chế chữ L choán mất gần hai mét vuông phía trước, cùng bốn chiếc bàn gỗ thấp vuông vức ba mươi phân và gần chục chiếc ghế đẩu con do Vĩnh tranh thủ đóng thêm từ những mẩu gỗ thừa, không gian tiệm Mộc lập tức bị nén chặt lại đến mức ngột ngạt.

Sáng thứ Hai đầu tuần, khi lượng khách sinh viên đổ xô đến tiệm tìm chỗ ngồi nghỉ chân trước giờ lên lớp buổi chiều, sự hỗn loạn thực sự nổ ra.

Một nhóm bốn sinh viên ngành Luật của trường Đại học Tổng hợp kéo ba chiếc ghế đẩu quây tròn lại quanh một góc bàn sát kệ sách Văn học Cổ điển. Họ gọi bốn ly cà phê sữa đá nhiều sữa, mở tung những tập giáo trình bìa bọc giấy báo dày cộp cùng cuốn Bộ luật Dân sự vừa mới ban hành năm 1995, rồi bắt đầu hăng say tranh luận về một tình huống tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Những giọng nói sôi nổi ban đầu được kiềm chế ở mức thì thầm có ý tứ, nhưng khi cuộc tranh cãi về các điều khoản pháp lý nóng dần lên, âm lượng của họ vô tình vang dội khắp bốn bức tường vôi hẹp.

Tiếng chân bàn gỗ kéo lê sột soạt trên nền gạch bông cũ kỹ hoa văn da báo, tiếng muỗng nhôm va lanh lảnh vào thành ly thủy tinh khi khuấy sữa đặc, hòa lẫn với những tràng cười đùa giòn giã của tuổi trẻ khiến gian phòng sách vốn tĩnh mịch, trang nghiêm như một thư viện thu nhỏ bỗng chốc biến thành một góc quán cóc ồn ào đầu hẻm.

Đúng lúc đó, một vị khách trung niên mặc bộ âu phục kaki sờn cũ màu cỏ úa, vẻ ngoài nghiêm nghị và nho nhã – một nhà nghiên cứu văn hóa Hán Nôm quen thuộc từng là bạn vong niên của dì Lan – bước vào tiệm. Ông muốn tìm cuốn *Đại Nam Nhất Thống Chí* bản in của Nha Văn hóa Sài Gòn trước năm 1975, vốn được xếp ở ngăn thấp nhất của kệ sách Địa chí Nam Bộ. Nhưng trớ trêu thay, ngay trước mặt ngăn kệ sát đất ấy, hai bạn trẻ khác đang ngồi co chân trên ghế đẩu, say sưa nhấp từng ngụm nước trà sen và mải miết chỉ trỏ vào tờ báo *Tuổi Trẻ* mở rộng toang hoang trên đầu gối.

Vị khách già đứng tần ngần giữa lối đi hẹp, chiếc cặp da cũ kỹ kẹp chặt bên sườn. Ông khẽ hắng giọng một tiếng lịch sự, ngập ngừng tiến lên một bước rồi lại phải vội vã lùi lại vì sợ tà quần của mình vô tình quẹt đổ ly cà phê sữa đá đang đọng đầy những giọt nước mát lạnh đặt mấp mé trên mép chiếc bàn con. Muốn cúi xuống ngăn kệ thấp nhất để đọc tên in trên gáy sách bằng chữ mạ vàng đã mờ, ông buộc phải mở lời yêu cầu hai người bạn trẻ đứng dậy, thu dọn đồ đạc để nép sang một bên nhường đường.

Nhìn vẻ mặt bối rối, có phần ái ngại của đôi bạn trẻ và sự chật chội bất tiện đang vây bủa chung quanh, vị học giả đứng lặng người vài giây. Ông thở dài một tiếng thật khẽ, bàn tay đang chạm vào gáy một cuốn sách khảo cứu từ từ buông ra. Ông đặt cuốn sách vừa rút dở trở lại giá, khẽ gật đầu chào Tuệ Anh rồi lẳng lặng quay lưng bước ra khỏi cửa tiệm, bờ vai hơi so lại trong cái lắc đầu thất vọng kín đáo.

Đứng sau quầy pha chế, chứng kiến trọn vẹn từ đầu đến cuối cảnh tượng ấy, tim Tuệ Anh khẽ thắt lại. Một cảm giác cay đắng và bất an sâu sắc dội lên dữ dội trong tâm trí cô.

Sự xung đột không chỉ dừng lại ở vấn đề tiếng ồn và lối đi bị cản trở. Mùi thơm ngào ngạt của bơ và hạt cà phê rang xay – thứ ban đầu mang lại cảm giác dễ chịu, ấm cúng – khi bị giam hãm trong một không gian kín mít, trần thấp, thiếu cửa sổ thông gió và thiếu ánh sáng tự nhiên lại bắt đầu bốc lên nồng nặc. Nó quện vào không khí ẩm xông lên hăng hắc, lấn át hoàn toàn mùi hương trầm tĩnh, thanh tao của giấy cũ và mực in mục nát – thứ hương vị nguyên bản làm nên linh hồn của tiệm Mộc.

Nguy hiểm hơn cả, một vài vị khách trẻ tuổi theo thói quen ngồi quán xá vỉa hè đã vô tư rút những điếu thuốc lá Mai, thuốc lá Du Lịch ra định châm lửa hút phì phèo cho đỡ nhạt miệng. Chỉ trong một buổi sáng, Tuệ Anh đã phải ba lần vội vã bỏ dở việc pha chế, chạy ra tận bàn nhỏ nhẹ can ngăn, tim đập thình thịch từng hồi thảng thốt khi nhìn thấy đầu que diêm bùng cháy đỏ rực ngay sát cạnh những chồng tạp chí *Bách Khoa*, *Tri Tân* giấy bổi khô khốc có niên đại nửa thế kỷ. Chỉ cần một tàn lửa vô tình rơi xuống đống giấy dễ bắt lửa kia, tiệm Mộc sẽ biến thành một biển lửa thiêu rụi toàn bộ di sản cả một đời của dì Lan chỉ trong chớp mắt.

“Cháu Tuệ Anh này,” ông giáo Trịnh chiều hôm đó ghé qua trả lại cuốn tập san cũ, khẽ kéo cô vào một góc khuất gần chiếc bàn thu ngân bằng gỗ lim, giọng ông trầm ấm nhưng không giấu nổi nét âu lo chân thành, “Mấy bữa nay tôi thấy khách ghé đông đúc, nhộn nhịp hẳn lên, tiền thu vào góc quầy chắc cũng khá hơn trước, trong lòng tôi mừng cho cháu lắm. Nhưng cô Lan ngày xưa giữ cái tiệm này mấy chục năm trời qua bao nhiêu biến động thời cuộc, cái quý nhất mà cô ấy gìn giữ không phải là bán được bao nhiêu ký giấy vụn, kiếm được bao nhiêu đồng tiền lời, mà là giữ được cái ‘khí thiêng’ của một nơi đọc sách. Sách vở cần sự tĩnh lặng tuyệt đối để người ta có thể đối thoại với tiền nhân, với tư tưởng của những bậc hiền triết. Nếu để sự ồn ào, xô bồ của phố xá tràn vào, biến tiệm thành chỗ tụ tập tán gẫu uống nước giải khát đơn thuần, thì cái hồn cốt tôn nghiêm của Mộc coi như mất hết, cháu hiểu ý lão già này chứ?”

“Cháu hiểu ạ,” Tuệ Anh cúi đầu thật thấp, hai bàn tay đan chặt vào nhau, giọng cô chùng xuống nghẹn ngào vì xúc động, “Cháu cảm ơn thầy đã thẳng thắn nhắc nhở. Cháu tuyệt đối không bao giờ quên mục đích ban đầu khi nhận trách nhiệm giữ lại tiệm Mộc đâu thầy.”

Tối hôm đó, sau khi tiệm cài then đóng cửa, không gian tĩnh mịch quen thuộc trở lại dưới ánh đèn né-on mờ ảo phát ra tiếng ro ro nhè nhẹ của chiếc tăng-phô cũ. Vĩnh bước ra từ gian kho sau, chiếc áo thun bộ đội màu lam lũ ướt đẫm mồ hôi, hai cánh tay rắn rỏi dính đầy mùn cưa và bụi gỗ. Anh nhìn Tuệ Anh đang ngồi thừ người bên chiếc bàn gỗ lim, đôi mắt chăm chú nhìn vào cuốn sổ thu chi bìa bọc giấy xi măng nhưng nét mặt lại trĩu nặng những ưu tư không giấu giếm.

Vĩnh đặt chiếc bào gỗ xuống thềm xi măng, kéo một chiếc ghế đẩu ngồi đối diện với cô, chậm rãi lên tiếng sau một hồi ngập ngừng:

“Tuệ Anh đang lo chuyện mặt bằng bị chật chội quá đúng không? Hồi chiều tôi đứng trong kho nghe hết cả rồi. Tôi thấy mấy anh sinh viên kiến trúc cùng khóa có bảo nhau, hay là tiệm mình kê thêm dăm ba cái bàn ghế nhựa loại thấp màu xanh đỏ ra ngoài vỉa hè đường Trần Nhân Tôn đi. Buổi chiều vỉa hè bên mình rợp bóng mát cây me, lại rộng rãi thoáng đãng. Kê bàn ra đó vừa bán được gấp đôi, gấp ba lượng nước cho khách vãng lai qua đường, mà bên trong nhà này lại trả lại được sự yên tĩnh hoàn toàn cho người ta đọc sách nghiên cứu.”

Tuệ Anh ngước mắt lên nhìn Vĩnh. Đề xuất của anh hoàn toàn mang tính thực tế của một người thợ quen lăn lộn với đời sống vỉa hè, và xuất phát từ một tấm lòng tốt muốn nhanh chóng giải tỏa áp lực nợ nần cho cô. Ở Sài Gòn những năm 90, việc các hàng quán kinh doanh tận dụng triệt để từng tấc vỉa hè công cộng để buôn bán, từ quán hủ tiếu gõ, tiệm sửa xe máy cho đến quán chè chuối nướng là chuyện diễn ra hàng ngày khắp hang cùng ngõ hẻm, quen thuộc đến mức được toàn xã hội mặc nhiên xem như một lẽ đương nhiên của nền kinh tế tự do. Bán cà phê vỉa hè với lượng khách qua lại tấp nập trên trục đường này có thể giúp cô thu về cả chục ngàn đồng tiền lãi ròng mỗi ngày, nhanh chóng xóa sạch món nợ một triệu tám trăm ngàn của bà Tư Lành chỉ trong vòng hai tháng.

Nhưng Tuệ Anh lắc đầu dứt khoát. Ánh mắt cô kiên định một cách lạ lùng.

“Không được đâu Vĩnh. Chiều nay em đã suy nghĩ rất kỹ về chuyện này rồi.” Giọng cô trầm tĩnh nhưng vang lên một sự dứt khoát không thể lay chuyển. “Nếu mình kê bàn ghế nhựa ra vỉa hè, Mộc sẽ lập tức bị biến chất, trở thành một quán nước cóc vỉa hè tầm thường có bày vài kệ sách cũ làm cảnh để làm màu. Người đi đường tạt vào sẽ chỉ xem đây là chỗ dừng chân giải khát, khói bụi xe cộ mịt mù xông thẳng vào mặt, tiếng còi xe inh ỏi, rồi ngày nào chúng ta cũng phải nơm nớp lo đối mặt với đội trật tự đô thị của phường đi xe ba gác gom bàn ghế như trường hợp gánh bắp luộc của chị Thu Cúc đầu hẻm hôm trước. Nhưng điều quan trọng nhất, cốt tử nhất: Mộc là một tiệm sách cũ có bề dày truyền thống. Cà phê chỉ là thứ phương tiện phụ trợ để nâng đỡ văn hóa đọc, giúp nuôi sống sách, chứ không bao giờ được phép trở thành cứu cánh để mình đánh đổi bản sắc và phẩm giá của tiệm.”

Vĩnh im lặng ngồi lắng nghe, ánh mắt anh nhìn cô từ ngạc nhiên ban đầu chuyển dần sang sự khâm phục sâu sắc. Người phụ nữ trẻ trước mặt anh, dù sống giữa thời buổi kinh tế thị trường mở cửa đầy rẫy những cám dỗ làm giàu chớp nhoáng và bản thân đang oằn mình gánh nợ, dường như luôn có một lằn ranh đạo đức nghề nghiệp vô cùng rõ ràng, một sự tỉnh táo và bản lĩnh đáng kinh ngạc trước những đồng tiền dễ dãi.

“Vậy… theo Tuệ Anh, mình phải làm sao để giải quyết cái mâu thuẫn giữa việc cần tiền duy trì và việc giữ gìn sự yên tĩnh cho sách?” Vĩnh hỏi, giọng nói đầy vẻ chia sẻ và sẵn sàng phụ việc.

“Chúng ta phải tái cấu trúc lại toàn bộ không gian này và đưa ra những chuẩn mực vận hành nghiêm ngặt,” Tuệ Anh lấy ra một tờ giấy can trắng khổ A4 còn phẳng phiu, trải rộng lên mặt bàn gỗ rồi cầm chiếc bút chì 2B vạch ra từng khu vực chức năng cụ thể. “Trước hết, về phần cứng: em nhờ anh giúp em cưa giảm kích thước các mặt bàn con xuống còn hai mươi lăm phân, chỉ giữ lại đúng ba chiếc bàn đôi loại nhỏ nhất, kê sát vào mảng vách tường phía có quầy pha chế. Tuyệt đối không để bất kỳ chiếc ghế nào choán ngang lối đi dẫn vào các kệ sách chuyên sâu phía sau. Thứ hai, về phần mềm: chúng ta phải thiết lập một bản quy ước ứng xử rõ ràng.”

Suốt đêm hôm đó, dưới ngọn đèn dầu hột vịt le lói trên căn gác lửng ọp ẹp, Tuệ Anh nắn nót dùng chiếc bút lông đầu nhỏ viết từng dòng chữ ngay ngắn lên một tấm bìa các-tông cứng màu nâu nhạt cắt ra từ vỏ thùng mì tôm. Những kinh nghiệm quý báu về quản trị không gian văn hóa, quản trị trải nghiệm bạn đọc và điều phối sự kiện cộng đồng từ thế kỷ hai mươi mốt được cô chắt lọc tỉ mỉ, gạn bỏ hết những yếu tố công nghệ xa lạ hay thuật ngữ đao to búa lớn để hòa nhập một cách tự nhiên nhất vào đời sống mộc mạc của cư dân Sài Gòn năm 1996.

Sáng hôm sau, khi những tia nắng ban mai đầu tiên rọi qua khe cửa gỗ lá sách, người ta thấy trước lối vào góc cà phê của tiệm Mộc xuất hiện một tấm bảng gỗ nhỏ được treo trang trọng bằng sợi dây thừng gai bên cạnh bảng giá nước, mang tiêu đề nắn nót bằng mực Tàu đen nhánh:

*“QUY ƯỚC GÓC ĐỌC & THƯỞNG TRÀ TIỆM MỘC*

*1. Không gian tĩnh lặng: Xin quý bạn đọc vui lòng giữ âm lượng trò chuyện ở mức thì thầm vừa đủ nghe. Không tranh luận lớn tiếng, không gây xáo trộn sự tập trung của những người chung quanh.* *2. Khung giờ vàng nghiên cứu: Từ 8h00 đến 11h00 sáng mỗi ngày là khoảng thời gian ưu tiên tuyệt đối cho việc tra cứu chuyên sâu. Góc cà phê xin phép tạm ngưng phục vụ các nhóm khách đi từ hai người trở lên trong khung giờ này.* *3. Lối đi của sách: Xin quý khách không đặt vật dụng cá nhân, ly tách hoặc ngồi chắn ngang tầm với của các ngăn kệ sách thấp.* *4. An toàn trang giấy: Tuyệt đối không hút thuốc lá trong toàn bộ khuôn viên tiệm. Xin cẩn trọng tối đa khi đặt ly nước gần các ấn phẩm cũ dễ thấm ẩm.* *Tiệm Mộc trân trọng sự thấu hiểu và đồng hành văn minh của quý bạn đọc!”*

Cùng lúc đó, Vĩnh cũng khéo léo dùng những thanh gỗ thông xẻ mỏng đóng thêm một chiếc giá hẹp áp sát vào vách tường cao ngang tầm ngực, có gờ chắn mép cẩn thận để khách có thể đặt ly tách gọn gàng sau khi uống, trả lại một lối đi hoàn toàn thông thoáng rộng hơn một mét dẫn thẳng tắp từ cửa trước vào khu vực sách khảo cứu, văn học và tủ tài liệu Hán Nôm quý hiếm.

Sự điều chỉnh cương quyết nhưng vô cùng tế nhị và thấu tình đạt lý ấy lập tức phát huy tác dụng rõ rệt chỉ sau vài ngày áp dụng.

Các nhóm sinh viên khi bước chân qua ngạch cửa tiệm, vừa ngước nhìn thấy tấm bảng quy ước trang nghiêm liền tự giác thu nhỏ âm lượng nói cười, những cuộc trao đổi bài vở trở nên chừng mực, nhỏ nhẹ và có ý thức giữ gìn không gian chung hơn hẳn. Những vị khách vãng lai chỉ muốn tìm một chỗ ồn ào để tụ tập bù khú, hút thuốc lá hay tán gẫu chuyện thế sự tự động chuyển hướng sang các quán cóc giải khát bên ngoài mặt đường lớn; nhường lại những chiếc ghế đẩu khiêm nhường cho những độc giả thực thụ sẵn sàng tôn trọng không gian chung của sách.

Khi chiếc đồng hồ quả lắc trên tường điểm tám tiếng ngân nga báo hiệu khung giờ vàng nghiên cứu bắt đầu, tiệm Mộc lại tìm về trọn vẹn với sự tĩnh mịch thanh tịnh vốn có của nó: chỉ còn lại tiếng ngòi bút máy gai cào nhẹ trên giấy kẻ ngang, tiếng sột soạt dịu dàng như hơi thở của những trang sách ngả màu thời gian, tiếng giọt cà phê tí tách rơi đều đặn và ánh mắt chăm chú, say mê của những con người đang đắm mình vào thế giới tri thức vô tận.

Đúng chín giờ sáng ngày hôm đó, ông giáo Trịnh lại chống gậy bước vào tiệm. Nhìn thấy lối đi phong quang, sạch bóng bụi dẫn thẳng tới kệ sách Địa chí Nam Bộ mà không còn một chiếc ghế hay chiếc ly nào chắn lối, trên gương mặt già nua chằng chịt nếp nhăn của ông bừng lên một nụ cười mãn nguyện sâu sắc. Ông đứng lặng vài giây, gật đầu tán thưởng nhìn Tuệ Anh đang đứng sau quầy. Ông không nói một lời khen ngợi thừa thãi nào, nhưng ánh mắt lấp lánh sau tròng kính lão chan chứa một sự tin cậy tuyệt đối vào bản lĩnh gìn giữ gia tài của cô gái trẻ.

Việc sắp xếp lại trật tự không gian vừa tạm thời đi vào nền nếp ổn định được ba ngày thì một biến cố hoàn toàn bất ngờ ập đến vào một buổi xế trưa oi ả, báo hiệu những sóng gió lớn hơn sắp sửa quét qua tiệm sách nhỏ.

Đó là khoảng mười một giờ trưa, khi cái nắng gắt gỏng đặc trưng của mùa khô phương Nam hắt những vệt sáng chói chang, nung bỏng rát mặt đường nhựa Trần Nhân Tôn. Hơi nóng từ mặt đường bốc lên hầm hập khiến không khí trong con hẻm như đặc quánh lại. Khách đọc sách trong tiệm đã vãn dần để về lo bữa cơm trưa gia đình, chỉ còn lại hai cô sinh viên năm cuối khoa Ngữ văn đang ngồi cặm cụi ghi chép nốt những dòng trích dẫn tài liệu vào cuốn sổ tay đóng gáy chỉ ở góc bàn trong cùng sát vách tường.

Tuệ Anh đang đứng sau quầy gỗ cúi đầu dùng một chiếc khăn vải xô sạch lau khô từng chiếc phin nhôm vừa rửa xong, chuẩn bị thu dọn quầy để chuẩn bị cho buổi chiều. Ở gian kho phía sau, Vĩnh đang lúi húi dùng thước dây kiểm tra lại độ khô và độ võng của những thanh gỗ giằng xà gồ mà anh vừa chuyển về hôm qua.

Bỗng nhiên, chuỗi chuông gió làm bằng những vỏ ốc biển treo trên bậu cửa gỗ của tiệm khua lên những tiếng lách cách khô khốc, dồn dập và hỗn loạn một cách khác thường. Tiếng va chạm sắc nhọn của vỏ ốc phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của buổi trưa oi ả.

Một bóng người cao ráo bước vào, che khuất một khoảng sáng chói chang nơi ngạch cửa.

Tuệ Anh theo phản xạ ngẩng đầu lên, nụ cười đón khách niềm nở vừa hé mở trên môi bỗng chốc lập tức khựng lại, rồi đông cứng trên gương mặt thanh tú.

Người đàn ông bước vào tiệm trạc ngoài ba mươi tuổi, vóc dáng cao gầy, dong dỏng. Gã mặc một chiếc áo sơ mi trắng cộc tay được may bằng chất liệu vải ngoại nhập đắt tiền, phẳng phiu không một nếp nhăn, cắm thùng gọn gàng trong chiếc quần tây màu xanh đen là thẳng tắp nếp ly đôi. Gã đeo một cặp kính cận gọng kim loại mạ vàng sáng loáng, mái tóc dày được chải keo bóng mượt, vuốt ngược ra phía sau một cách cầu kỳ theo đúng phong cách của những tay doanh nhân thành đạt mới nổi thời bấy giờ. Chiếc cà vạt lụa màu đỏ bầm thắt nút vuông vức nơi cổ áo nổi bật lên một cách trịch thượng và có phần kệch cỡm giữa không gian mộc mạc, cũ kỹ của tiệm sách.

Tuệ Anh nhận ra gã ngay lập tức, không một chút phân vân.

Dù hôm nay gã đã cởi bỏ chiếc áo khoác âu phục màu xám tro hôm nào, nhưng cặp kính kim loại sắc lạnh, đôi lông mày xếch ngược và đặc biệt là ánh mắt dò xét thâm độc, lạnh lùng kia thì không thể lẫn vào đâu được: chính là kẻ đã đứng rình rập hàng giờ sau chiếc cột điện đối diện tiệm Mộc sau cơn mưa dông chiều hôm trước, và cũng chính là người sở hữu chữ ký tắt “L.B.K.” ngoằn ngoèo trên mảnh phiếu chi tạm ứng tiền gài bẫy mua cuốn sách mỹ thuật cổ mà bé Hạnh từng vô tình nhặt được dưới gốc cây me.

Lê Bá Khôi – quản lý nguồn hàng và điều hành kinh doanh khét tiếng của Nhà sách Minh Châu sầm uất ngoài phố lớn.

Khôi không hề vội vã cất lời chào hỏi. Gã chắp hai tay sau lưng, thong thả cất từng bước chân chậm rãi lướt qua gian phòng hẹp của tiệm Mộc. Đôi giày da màu đen bóng lộn của gã nện xuống nền gạch bông cũ kỹ phát ra những tiếng “cộp… cộp…” khô khốc, nặng nề và đầy vẻ khiêu khích ngạo mạn.

Ánh mắt soi mói sau cặp kính cận mạ vàng của gã đảo quanh từng ngóc ngách của căn phòng. Gã liếc nhìn chiếc kệ gỗ thông pallet còn tươi màu nhựa thông của Vĩnh mới đóng, đưa ngón tay quẹt một vệt bụi trên gáy những cuốn sách cũ kỹ sờn rách được bọc giấy bóng cẩn thận, rồi dừng lại thật lâu ở tấm bảng “Quy ước Góc Đọc & Thưởng Trà” viết bằng mực Tàu treo bên vách gỗ. Khóe môi mỏng của gã khẽ nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng đầy vẻ mỉa mai, khinh miệt lộ liễu.

Cuối cùng, Khôi bước lại gần quầy pha chế chữ L, đứng đối diện với Tuệ Anh. Gã không tựa vào quầy mà đưa ngón tay trỏ có đeo một chiếc nhẫn vàng cẩn mặt đá đỏ to bản gõ nhẹ lên mặt gỗ thông ba tiếng cộc cằn, đanh gọn:

“Cốc… cốc… cốc.”

Tuệ Anh vẫn đứng bất động sau quầy gỗ, hai bàn tay nắm chặt mép chiếc khăn lau xô dưới gầm bàn, sống lưng giữ thẳng tắp. Cô nhìn thẳng vào mắt gã đàn ông đối diện bằng ánh mắt điềm tĩnh lạ thường, không hề chớp mắt né tránh, cũng không để lộ ra nửa phần e ngại hay lúng túng:

“Xin chào anh. Cửa hàng chúng tôi có thể giúp anh tìm loại sách gì ạ?”

Khôi khẽ bật ra một tiếng cười khẩy qua sống mũi, âm thanh nghe sắc nhọn như mảnh kính vỡ. Gã đưa mắt nhìn lướt qua hàng phin nhôm Hải Phòng xếp ngay ngắn trên kệ gỗ, nhìn ấm nước sôi đang bốc làn khói mỏng manh trên chiếc bếp dầu Thăng Long nhỏ, rồi nhìn thẳng vào khuôn mặt mộc mạc không phấn son của Tuệ Anh bằng một vẻ thương hại giả tạo đến buồn nôn:

“Tôi nghe danh cô cháu gái từ Hà Nội vào tiếp quản cơ nghiệp của bà Mộc Lan đã lâu, nay mới có dịp diện kiến tận mắt. Thú thật với cô em, mấy hôm nay tôi đi ngang qua đường Trần Nhân Tôn, thấy cái tiệm Mộc danh giá lẫy lừng một thời bỗng nhiên mọc thêm cái bếp dầu leo lét với mấy cái phin nhôm con con bày ra phía trước, tôi cứ ngỡ mắt mình hoa lên, nhìn nhầm tiệm sách văn hóa thành cái quán nước chè chén rẻ tiền của mấy bà bán ve chai đầu chợ.”

Gã dừng lại một nhịp đầy toan tính, cố ý liếc xéo về phía hai cô sinh viên đang ngơ ngác ngẩng đầu lên nghe ngóng ở góc phòng phía trong. Rồi gã cúi thấp người xuống một chút, hạ giọng nhưng từng lời từng chữ lại rành rọt buông ra như tẩm thuốc độc:

“Tội nghiệp thật đấy. Một cái hiệu sách từng có tiếng tăm lừng lẫy khắp đất Sài Gòn Gia Định, từng là nơi lui tới đàm đạo của toàn những bậc học giả uyên thâm, giáo sư đầu ngành, mà nay tàn tạ, khốn cùng đến mức sắp chết đói, phải đi bán từng ly nước dạo, bòn mót từng đồng bạc lẻ năm trăm một nghìn của đám sinh viên nghèo kiết xác để đắp đổi qua ngày thế này sao? Cô chủ trẻ ơi, làm người làm nghề sách mà phải hạ mình bấu víu vào dăm ba cái trò buôn thúng bán mẹt vặt vãnh này để kiếm tiền trả nợ thuê nhà, thì tôi khuyên thật lòng một câu… chi bằng dẹp tiệm sớm đi, sang nhượng lại cho người có năng lực, đóng cửa sớm cho đỡ làm nhục nhã hương hồn người đã khuất dưới suối vàng!”

Từng lời cay độc, thâm hiểm của Khôi như những mũi kim thép tẩm độc chĩa thẳng vào lòng tự trọng và phẩm giá của một người làm nghề gìn giữ sách. Không khí trong gian phòng sách bỗng chốc đông cứng lại, ngột ngạt và căng thẳng đến nghẹt thở. Hai cô sinh viên ngồi ở góc bàn giật mình sợ hãi, vội vã gấp cuốn sổ tay lại, lén lút nhìn nhau không dám thở mạnh.

Từ trong gian kho phía sau, nghe thấy tiếng ồn ào và giọng điệu khiêu khích bất thường, Vĩnh cầm chiếc đục gỗ lưỡi thép bén ngót bước nhanh ra ngoài. Đôi mày rậm của người thợ mộc trẻ nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, đôi mắt rực lửa giận dữ nhìn chằm chằm vào gã đàn ông xa lạ ăn mặc bảnh bao đang đứng lấn lướt trước quầy. Bắp tay Vĩnh gồng lên cuồn cuộn, sẵn sàng lao tới tống cổ kẻ ngông cuồng ra khỏi cửa tiệm.

Nhưng trước khi Vĩnh kịp bước tới can thiệp, Tuệ Anh đã khẽ đưa bàn tay trái lên ngang ngực làm dấu bảo anh dừng lại. Ánh mắt cô trao cho Vĩnh chứa đựng sự trấn an bình tĩnh tuyệt đối.

Khuôn mặt cô gái trẻ không hề biến sắc. Không một chút run rẩy, không một giọt nước mắt uất ức. Cô chậm rãi gấp chiếc khăn lau bàn lại thành một hình chữ nhật vuông vức, đặt ngay ngắn bên cạnh hũ thủy tinh đựng hạt cà phê rang mộc, rồi ngẩng cao đầu đối diện trực tiếp với cặp mắt sắc lạnh sau lớp kính kim loại mạ vàng của Lê Bá Khôi.

“Anh Khôi này,” Tuệ Anh cất tiếng, giọng cô trong trẻo, âm lượng vừa phải, vô cùng điềm đạm nhưng từng âm tiết phát ra lại đanh thép, lạnh buốt như một tảng băng trôi giữa mùa đông, “Người ta chỉ cảm thấy nhục nhã khi dùng mưu hèn kế bẩn, lén lút rình rập sau lưng người khác để đạp đổ chén cơm của kẻ thế cô, và làm hoen ố thanh danh của nghề làm sách vốn dĩ thanh cao. Còn ở tiệm Mộc này, chúng tôi lao động chân chính bằng chính mồ hôi, trí tuệ và đôi bàn tay sạch sẽ của mình. Chúng tôi chắt chiu bán từng ly cà phê sạch, lương thiện để giữ lại từng trang sách hay, quý giá cho những người thực sự cần đến nó. Dù là một trang trước tác triết học uyên thâm hay một hạt cà phê mộc mạc của người nông dân vùng đất đỏ, miễn là được tạo ra và trao đi bằng sự lương thiện và tử tế, thì trên cõi đời này tuyệt đối không có thứ nào là hèn mọn cả.”

Đôi mắt Tuệ Anh mở to, nhìn xoáy thẳng vào tâm can kẻ đối diện khiến gã đàn ông thoáng giật mình lùi lại nửa bước. Khóe môi cô khẽ cong lên một nụ cười thản nhiên, lạnh lùng:

“Nếu hôm nay anh đến đây với tư cách một người mua sách, tiệm Mộc dù nghèo nàn vẫn luôn sẵn lòng mở rộng cửa đón tiếp anh một cách lịch sự nhất. Còn nếu anh ghé qua chỉ để mua một ly nước dạo và buông lời xúc phạm… thì rất tiếc, cà phê ở đây chúng tôi chỉ pha chế và phục vụ cho những người biết trân trọng con chữ, trân trọng người lao động, chứ không hề thừa mứa để tiếp đãi những kẻ rỗi việc thích đi dòm ngó, soi mói chuyện thiên hạ!”

Nụ cười mỉa mai ngạo nghễ trên môi Lê Bá Khôi chợt tắt ngấm hoàn toàn. Khuôn mặt gã giật giật từng cơn, một vệt đỏ tía vì sượng sùng, bẽ bàng và tức tối lan nhanh từ cổ lên tận hai bên mang tai. Gã không thể ngờ được rằng một cô gái trẻ tuổi trạc ngoài hai mươi, trông có vẻ mảnh mai yếu đuối, đang phải oằn lưng gánh trên vai món nợ tiền thuê nhà ngập đầu lại có thể tung ra những lời đối đáp sắc lẹm như dao cạo, chọc thẳng vào tim đen và bóc trần bản chất đê tiện của gã một cách chuẩn xác, không hề khoan nhượng hay run sợ như vậy.

Gã siết chặt hai nắm tay giấu sau lưng quần, cặp kính gọng vàng khẽ rung rinh trên sống mũi. Khôi hít một hơi thật sâu, gằn giọng qua kẽ răng, để lộ hàm răng bọc sứ trắng bóng nhưng nụ cười đã trở nên méo mó, lạnh tanh và hằn học:

“Khá lắm. Mồm mép sắc sảo, đanh đá lắm cô chủ nhỏ. Cứ việc giữ lấy cái mớ lý tưởng tử tế viển vông đó đi. Để rồi xem dăm ba cái lý tưởng thanh cao với mấy đồng bạc lẻ bán nước dạo của cô giữ cho cái tiệm rách nát, mục ruỗng này tồn tại được bao lâu nữa trước khi đợt sóng lớn ngoài thị trường ập tới nuốt chửng!”

Nói đoạn, gã hằn học xoay gót giày thật mạnh, dộng đôi giày da bóng lộn xuống bậc thềm xi măng phát ra tiếng kêu “chát” chói tai rồi sải bước thật nhanh ra đường. Gã nhảy phóc lên chiếc xe máy Honda Dream II màu nho bóng loáng đang dựng sẵn ngoài vỉa hè, đạp cần khởi động rồi rồ ga phóng vụt đi trong làn khói xám mờ mịt xộc mùi xăng sống.

Gian tiệm Mộc dần dần lấy lại sự tĩnh lặng vốn có của buổi trưa, nhưng dư vị cay độc và hiểm hóc từ cuộc viếng thăm đầy ác ý của Lê Bá Khôi vẫn còn lởn vởn trong không khí như một đám mây đen nặng trĩu báo hiệu cơn dông bão sắp sửa ập đến.

Hai cô sinh viên khoa Văn khẽ khàng đứng dậy, đặt tiền sách lên bàn rồi lí nhí chào Tuệ Anh để ra về. Tiệm sách chỉ còn lại hai người.

Vĩnh bước lại gần quầy pha chế, anh đặt chiếc đục gỗ lưỡi thép xuống mặt bàn, ánh mắt đầy vẻ lo lắng nhìn chăm chú vào gương mặt có phần nhợt nhạt của Tuệ Anh:

“Hắn rốt cuộc là ai vậy Tuệ Anh? Sao lại tìm đến tận đây buông những lời cay nghiệt và khiêu khích vô lối như thế?”

Tuệ Anh khẽ thở ra một hơi dài thật chậm, buông lỏng hai bờ vai nãy giờ đang phải gồng cứng để đối phó với kẻ thù. Cô lắc đầu nhẹ, ánh mắt nhìn ra khoảng nắng chói chang ngoài ngõ:

“Gã là quản lý nguồn hàng của Nhà sách Minh Châu đấy anh Vĩnh. Chính là kẻ chủ mưu đứng sau vụ cho người gài bẫy mua cuốn sách mỹ thuật cổ của gia đình bác Hùng tuần trước. Hắn xuất hiện công khai ở đây, buông lời đe dọa tức là hắn đã bắt đầu sốt ruột và e ngại sự hồi sinh từng ngày của tiệm mình rồi. Những kẻ làm ăn chụp giật thường rất sợ những nơi giữ được uy tín và lòng tin của người đọc.”

Đúng lúc ấy, từ ngoài đầu con hẻm, tiếng lách cách quen thuộc của xích líp chiếc xe đạp Thống Nhất màu xanh bưu điện vang lên gấp gáp, kèm theo tiếng chuông đồng reo vang “kính coong… kính coong…” và tiếng gọi lớn, giòn giã của người nhân viên đưa thư:

“Có ai ở tiệm sách Mộc nhà cô Lan đây không? Có công văn bảo đảm chuyển phát khẩn từ bưu điện trung tâm này!”

Tuệ Anh giật mình quay phắt lại. Anh bưu tá mặc bộ đồng phục xanh công nhân đẫm mồ hôi bước vội qua bậc cửa, đưa tay quệt vệt mồ hôi đang chảy dài trên trán. Anh rút từ trong chiếc túi da bạt dày cộm treo bên hông xe ra một phong bì thư khổ lớn màu vàng ngà, dán ba con tem bưu chính Việt Nam in hình chim bồ câu màu đỏ chót.

Tuệ Anh vội vàng bước ra đón lấy chiếc bút bi từ tay anh bưu tá, ký nhận vào cuốn sổ giao nhận dày cộp bìa bọc nylon rồi cầm chiếc phong bì thư trở vào quầy.

Trên góc trái phía trên của bìa thư in rõ ràng hàng chữ đen đậm trang trọng của Tổng công ty Phát hành sách miền Nam – cơ quan phát hành và phân phối sách quốc doanh lớn nhất toàn khu vực, đầu mối cung cấp sách mới, sách giáo khoa và độc quyền phân phối các bộ truyện tranh thiếu nhi ăn khách mà sinh thời dì Mộc Lan xưa nay vẫn kiên trì duy trì quan hệ bạn hàng thân thiết để lấy hàng gối đầu theo phương thức thanh toán trả chậm từng đợt.

Đó chính là huyết mạch sống còn để tiệm Mộc duy trì mảng cho thuê truyện tranh cho trẻ con trong xóm và có sách mới bày trên kệ.

Nhưng ngay giữa thân chiếc phong bì thư màu vàng ngà ấy, một con dấu hình chữ nhật lớn đóng bằng mực đỏ tươi chói gắt đập thẳng vào mắt cô, với dòng chữ in hoa sắc lạnh, tàn nhẫn như một bản án chung thẩm:

*“NGỪNG CẤP HÀNG GỐI ĐẦU DO NGHI NGẠI NĂNG LỰC TÀI CHÍNH.”*

Lá thư thông báo từ nhà phát hành lớn bị gửi trả về tiệm với dòng chữ đỏ: "Ngừng cấp hàng gối đầu do nghi ngại năng lực tài chính".

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn