Đừng Vội Tin Dòng Tiêu ĐềC.1 / 28
Chương 1

Khay bánh cuối buổi

Tiếng chuông gió gắn trên cánh cửa kính tiệm bánh Mẻ Sớm leng keng khô khốc khi Linh đẩy cửa bước vào, mang theo chiếc âu men trắng đựng đồ cô từng mượn từ mùa trước.

Mùi bơ nhạt, mùi bột ủ men chua nồng và hơi ẩm ngai ngái của gian bếp cũ kỹ vẫn quẩn quanh nơi bậu cửa, nhưng ngõ Tường Vi cuối chiều vắng lặng hơn mọi bận. Những dãy nhà hai tầng quét vôi vàng nhạt, rêu phong bám đầy chân tường, nép mình dưới bóng những tán xà cừ râm mát. Nắng tắt sớm, để lại một dải trời nhờ nhờ đục như nước vo gạo; tiếng ve sầu đầu mùa chỉ râm ran từng chặp rời rạc trên cành cao rồi lịm hẳn vào khoảng không ngột ngạt.

Ngày trước, cứ tầm năm giờ chiều là học sinh trường cấp ba gần đấy tan lớp, sinh viên từ mạn cổng phụ Đại học Nam Khê túa ra đổ về, đứng chen chúc dưới mái hiên tiệm bánh. Mùi bánh mì nướng vỏ giòn rụm vừa ra lò thơm nức cả khúc quanh, tiếng cười đùa rổn rảng át cả tiếng còi xe ngoài đường lớn. Giờ đây, suốt dọc ngõ chỉ thỉnh thoảng có vài bóng xe máy chạy lướt qua, tiếng lốp xe nghiến trượt trên nền gạch đỏ cũ kỹ nghe rõ mồn một từng tiếng xao xác của lá khô bị cuốn theo.

Linh đứng chững lại nơi lối vào lát gạch bông hoa chanh đã mòn vẹt ở bậc thềm. Không gian bên trong tiệm thoáng đãng một cách gượng gạo và trống trải. Dãy bàn gỗ keo dài bốn chỗ vốn kê sát vách kính lớn nhìn ra mặt ngõ nay đã bị dọn đi mất một nửa. Khoảng sàn trống trơn trơ trọi, để lộ những vệt chân bàn màu sẫm in hằn trên lớp bụi mịn chưa kịp lau kỹ, như những vết thẹo xám xịt trên nền gạch hoa.

Trên chiếc quầy kính bọc khung nhôm sáng mờ, khay bánh mì vỏ giòn nướng mẻ cuối chiều vẫn còn nguyên non nửa. Mười mấy ổ bánh thuôn dài màu vàng cánh gián xếp đều tăm tắp, vỏ bánh đã thôi nổ lách tách từ lâu, nằm im lìm, nguội ngắt và không có bàn tay nào buồn với tới. Tấm bảng gỗ nhỏ viền mây treo lệch một bên quầy, nơi từng nắn nót dòng chữ phấn trắng “Bánh mì bơ tỏi mè đen — Hết hàng sớm”, nay nằm chỏng chơ dưới chân kệ, mặt bảng phủ một lớp bụi mỏng, nét chữ phấn cũ đã mờ nhạt từ bao giờ.

Linh siết nhẹ các đầu ngón tay quanh quai chiếc âu men. Lớp men trắng lạnh toát truyền qua da thịt, ngấm sâu vào lòng bàn tay khiến cổ họng cô khô khốc, đắng nghét.

Sau quầy thu ngân, Thu Mai ngẩng đầu lên. Cô gái trạc tuổi Linh, mặc chiếc tạp dề màu nâu thêu biểu tượng ba bông lúa và ổ bánh mì quen thuộc của tiệm Mẻ Sớm. Mái tóc đen buộc túm vội sau gáy để lộ vài lọn tóc con lòa xòa bên thái dương ướt mồ hôi, gương mặt không giấu nổi nét mệt mỏi cùng sự bực dọc âm ỉ. Nhìn thấy Linh, ánh mắt Mai thoáng khựng lại trong tích tắc, đồng tử co rút, rồi lập tức phủ lên một lớp băng lạnh nhạt cố hữu.

Mai không cất tiếng chào, cũng không nở nụ cười đón khách như thói quen cũ. Cô chỉ lẳng lặng chìa hai bàn tay thô ráp ra, đón lấy chiếc âu men mà Linh run rẩy đặt lên mặt đá nhân tạo của quầy thu ngân.

“Chị trả âu men ạ,” Linh mở lời, phá vỡ khoảng lặng nén chặt giữa hai người. Giọng cô tự nghe thấy mỏng manh, run rẩy và lúng túng một cách thảm hại. “Hôm trước mẹ chị dặn mang sang gửi trả cô Hòa từ tuần rồi mà... dạo này lu bu thi cử hết môn trên trường nên giờ chị mới ghé được...”

Thu Mai không đáp lại lời giải thích vu vơ ấy. Cô lật đáy chiếc âu men lên, liếc nhìn vết sứt men nhỏ xíu bằng hạt tấm ở góc viền đáy, rồi đặt nó cạch một tiếng khô khốc xuống hộc tủ gỗ phía dưới chân bàn. Âm thanh va chạm chói tai vang lên giữa không gian vắng ngắt. Bàn tay Mai với lấy cuốn sổ ghi chép bìa da màu nâu đã sờn rách mép, lật giở sột soạt những tờ giấy mỏng tanh kẹp đầy hóa đơn nhập hàng, rồi ngước mắt nhìn lên mảnh giấy nhớ màu vàng dán ngay góc màn hình máy tính tiền.

Trên mảnh giấy đó, những con số viết bằng bút bi mực xanh bị gạch xóa nham nhở, ghi lại tiến độ nướng bánh trong ngày.

“Mẻ ba giờ chiều nướng mười hai ổ, đến giờ vẫn còn lại bảy,” Mai nói bâng quơ, đầu ngón tay trỏ gõ nhịp lách cách từng hồi xuống mặt bàn gỗ nhưng giọng điệu thì hướng thẳng về phía người đối diện, lạnh băng và xoi mói. “Cắt bớt hẳn hai mẻ bánh ngọt buổi sáng rồi mà bánh mì thường vẫn ế chỏng chơ thế này đây. Bác tổ trưởng dân phố lúc nãy ghé qua mua một ổ ủng hộ, còn đứng lại hỏi khéo tiệm dạo này sao vắng khách thế, hay là đổi loại bột làm bánh dở hơn trước.”

Linh cắn chặt môi dưới, ngón chân cựa quậy bất an trong đôi giày vải đã bạc màu và sờn mép. Cô thấy lồng ngực mình thắt lại: “Mai à... khách quen quanh đây họ ăn bao năm rồi, chắc chắn họ hiểu tiệm mà...”

“Khách quen cũng đọc mạng xã hội chứ chị Linh,” Mai ngắt lời, mắt nhìn trừng trừng vào mặt Linh, trong ánh mắt hằn lên sự bực bội không thèm che giấu. “Người ta đọc xong rồi người ta ngại. Người ta sợ rước họa vào thân. Ai dám đánh cược bụng dạ của mình và con cái mình với một lời đồn lửng lơ trên mạng? Chị biết tháng này em bị cắt mấy ca không? Hai ca mỗi tuần. Chị Hòa bảo tiệm ế ẩm thế này thì em ráng nghỉ bớt để một mình chị ấy tự đứng bếp xoay xở, chứ doanh thu sụt non nửa thì lấy đâu ra tiền mà trả lương làm theo giờ cho em? Sinh viên đi làm thêm trông cả vào mấy ca này để gom tiền đóng phòng trọ cuối tháng, giờ thì hay rồi, ngồi không nửa buổi chiều ngắm khay bánh ế.”

“Chị... chị thực sự không cố ý,” Linh luống cuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước bụng, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. “Lúc đó chị chỉ lướt thấy bài cảnh báo trên nhóm cư dân ven kênh Hạ... Chị thấy người ta chụp ảnh bao bì bột nên giật mình hoảng hốt. Chị nghĩ mình chỉ bấm chia sẻ lại để mọi người cảnh giác để ý thôi, chị đâu có nghĩ bài đó lại lan nhanh tới mức...”

“Không cố ý à?”

Một giọng nói trầm, đều đặn và điềm tĩnh vang lên từ sau tấm rèm vải thô dệt sợi gai ngăn cách gian bếp lò với quầy bánh bên ngoài.

Tấm rèm vén sang một bên. Cô Hòa bước ra.

Trên người cô vẫn mang chiếc tạp dề viền xanh đã bạc phếch theo năm tháng, hai cánh tay áo xắn cao để lộ đôi tay gầy gò dính một lớp bột mì trắng xóa mịn như phấn. Tóc cô búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc kẹp lưới đen, vài sợi tóc mai điểm bạc lấp lánh dưới ánh đèn vàng tiết kiệm điện treo lơ lửng trên trần. Đôi mắt cô Hòa có những nếp nhăn sâu nơi khóe mắt — đôi mắt mà ba tháng trước từng nhìn Linh đầy ấm áp, bao dung khi cô bỡ ngỡ từ quê lên An Lộc nhập học, lần đầu bước chân vào con ngõ Tường Vi thuê trọ và được cô dúi vào tay một túi bánh nóng hổi còn thơm lừng mùi bơ kèm lời dặn ân cần: “Một thân một mình đi học xa nhà, khi nào nhớ cơm mẹ nấu hay túng thiếu gì cứ sang đây bảo cô.”

Linh nín bặt, cổ họng nghẹn ắng. Theo phản xạ tự nhiên, cô lùi lại nửa bước, lưng gần như chạm vào cánh cửa kính.

Cô Hòa không hề cao giọng, cũng không lộ vẻ tức giận hay hằn học như Thu Mai. Cô chậm rãi bước đến bên quầy, rút chiếc khăn lau sạch treo trên móc sắt bên cạnh để phủi nhẹ lớp bột mì bám trên mu bàn tay. Những hạt bụi bột li ti bay lên, lơ lửng trong vệt nắng muộn sót lại qua ô cửa kính rồi rơi lả tả xuống mặt bàn.

“Mai, em ra sau bếp canh lò nướng mẻ bánh quy bơ đi. Canh nhiệt độ cho chuẩn, để lửa trên thấp một chút, đừng để khét đáy như mẻ hôm qua,” cô Hòa khẽ bảo người em họ, giọng nói rành rẽ và dứt khoát.

Thu Mai hậm hực liếc nhìn Linh thêm một cái sắc như dao cạo, rồi quay lưng đi vào trong bếp. Tấm rèm vải thô khẽ đung đưa sau gót chân cô, khép lại khoảng không gian phía sau.

Trong gian phòng phía trước chỉ còn lại tiếng cánh quạt trần cũ kỹ quay đều đều từng nhịp trên đỉnh đầu, phát ra tiếng rít khe khẽ của trục bi khô dầu. Cô Hòa ngẩng lên nhìn Linh.

Ánh nhìn của cô không có sự gay gắt, không có thù địch hay oán trách, nhưng nó mang một khoảng cách rõ rệt — một ranh giới vô hình, lạnh lùng và dứt khoát ngăn cách Linh ra khỏi sự thân tình mà cô từng có được ở nơi này suốt hai năm qua.

“Linh này,” cô Hòa cất tiếng, từng chữ thốt ra rõ ràng, bình thản nhưng nặng trịch như đá tảng. “Cháu bảo cháu chỉ bấm chia sẻ lại bài cảnh báo của người khác trên mạng. Nhưng hôm bài đó nổi lên trên nhóm ngõ Tường Vi và khu dân cư Nam Khê, cô có chụp lại màn hình bài đăng của cháu. Cả con Mai cũng đọc được từng câu từng chữ.”

Linh cảm thấy từng đợt máu dồn giật lên hai má, nóng ran và rát buốt như bị tát giữa chốn đông người.

“Cái bài trên nhóm cư dân lúc đó chỉ đăng một tấm ảnh chụp góc bao bì bột mì có dòng ngày tháng bị cắt cúp lèm nhèm, người ta đặt câu hỏi lấp lửng là tiệm dùng đồ trôi nổi, hết hạn,” cô Hòa nói tiếp, thanh âm đều đặn đến mức tàn nhẫn. “Người ngoài đọc vào có thể còn ngờ vực, có thể lướt qua xem như một chuyện thị phi vu vơ. Nhưng chính cháu — người ở trọ ngay đầu ngõ này hai năm qua, người hay chạy sang đây ăn bánh mì nóng mỗi sáng, người cô vẫn tin cậy — khi bấm chia sẻ bài viết đó, cháu đã tự tay gõ thêm một dòng chữ bên trên. Cháu có nhớ cháu gõ chữ gì không?”

Cổ họng Linh nghẹn ứ, như có một nắm bột mì khô khốc tắc nghẽn lại giữa thanh quản, không thể nuốt xuống mà cũng chẳng thể khạc ra.

Cô làm sao quên được. Ký ức về buổi tối định mệnh ba tháng trước bỗng ùa về rõ mồn một trong tâm trí cô: ánh sáng xanh lét hắt ra từ màn hình điện thoại trong căn phòng trọ tối om, thông báo nhảy liên tục, cảm giác bàng hoàng pha lẫn chút vội vàng muốn chứng tỏ mình là người hiểu biết, thức thời, người có trách nhiệm cảnh báo cộng đồng trước một nguy cơ vệ sinh an toàn thực phẩm.

“Cháu gõ... ‘Tiệm quen mà dùng bột mốc, thất vọng thực sự’...” Linh thì thào, hai mắt cay xè, nước mắt bắt đầu ứa ra đọng nơi khóe mi.

“Phải,” cô Hòa khẽ gật đầu, ánh mắt không hề chớp. “Cháu tự tay gõ: ‘tiệm quen mà dùng bột mốc’. Chính chữ ‘tiệm quen’ của cháu, chính sự quen biết của một cô sinh viên sống ngay trong ngõ, sáng nào cũng qua mua bánh, đã biến một bài đăng vu vơ vô căn cứ thành lời khẳng định chắc như đinh đóng cột. Hàng xóm láng giềng, bạn bè của cháu, phụ huynh quanh trường Nam Khê... người ta tin bài đăng đó không phải vì người chụp ảnh vô danh nào đó, mà vì họ thấy một đứa bé hay lui tới tiệm này đứng ra làm chứng. Cháu biến sự quen biết thành chứng thực cho một điều cháu chưa từng tận mắt kiểm chứng.”

“Cô Hòa ơi, cháu... cháu thật sự xin lỗi cô,” những giọt nước mắt lăn dài trên má Linh, giọng cô vỡ òa ra trong sự hoảng loạn và ân hận tột cùng. “Hôm sau khi nghe mẹ gọi điện từ quê lên mắng, cháu đã sợ hãi xóa ngay bài chia sẻ đó rồi ạ! Cháu gỡ bài liền ngay trong sáng hôm sau... Mấy tháng nay cháu trốn tránh, cháu không dám bước chân sang gặp cô vì cháu thấy mình có lỗi quá. Hôm nay mẹ dặn mang âu men sang, cháu gom hết can đảm đến đây chỉ muốn xin lỗi cô thật lòng. Cô cho cháu phụ tiệm làm cái gì cũng được, cháu lau dọn sàn nhà, cháu rửa khay bánh, rửa âu bột... Cháu không lấy một đồng công nào đâu ạ, cháu chỉ mong cô tha thứ cho cháu, cho lòng cháu bớt cắn rứt...”

Linh run rẩy đưa bàn tay ra định vịn vào góc quầy gỗ, định dùng những lời lẽ tha thiết nhất, thống thiết nhất để làm tan đi bầu không khí ngột ngạt này.

Nhưng cô Hòa khẽ nghiêng người, đưa tay nhấc chiếc âu men đặt vào vị trí ngay ngắn trên kệ gỗ phía sau, tránh đi cử chỉ bối rối của cô gái trẻ.

Hành động ấy dứt khoát và lạnh lùng như một nhát kéo cắt đứt sợi dây liên lạc cuối cùng.

“Linh, cô không ghét cháu,” cô Hòa nói, ánh mắt nhìn thẳng vào gương mặt ướt đẫm nước mắt của Linh. “Cô cũng không rảnh rỗi để đi mắng chửi hay lên mạng bêu riếu cháu làm gì cho mệt mỏi. Nhưng cháu nghe cô nói cho kỹ này.”

Cô Hòa dừng lại một nhịp, hít một hơi sâu rồi chậm rãi nói tiếp:

“Lời xin lỗi của cháu không giải quyết được số bánh ế trên khay cuối mỗi buổi chiều. Nó không kéo lại được những khách hàng đã bỏ đi sang ngõ khác mua bánh vì họ vẫn đinh ninh tiệm này làm ăn dối trá, dùng nguyên liệu bẩn. Và nó càng không thể bù lại hai ca làm việc bị cắt mất của con Mai tuần này. Tiền thuê mặt bằng, tiền điện chạy lò nướng, tiền nguyên liệu nhập từ công ty, tiền trả nợ cho các mối hàng... những thứ đó đều phải trả bằng tiền thật, mồ hôi thật. Không có ai ngoài chợ hay ngân hàng nhận một lời xin lỗi để trừ bớt tiền nợ cho cô cả.”

Từng lời cô Hòa nói như từng tảng đá tảng nện thẳng vào lồng ngực Linh, bóp nghẹt mọi ý định thanh minh hay nài nỉ.

“Cháu muốn xin lỗi cô, muốn chạy sang phụ việc không công, thực chất là vì cháu muốn trút bỏ cảm giác bứt rứt, cắn rứt lương tâm trong lòng cháu cho nhẹ nhõm,” cô Hòa thẳng thắn vạch trần tâm can cô gái trẻ. “Cháu muốn nghe một câu ‘cô bỏ qua cho cháu rồi’ để tối về cháu ngủ ngon giấc, để cháu không phải thấy mình là kẻ có lỗi nữa. Nhưng cô không có nghĩa vụ phải làm điều đó để cháu cảm thấy dễ chịu hơn. Chuyện của tiệm, cô sẽ tự tìm cách xoay xở. Lô bột đó cô vẫn giữ nguyên hóa đơn tài chính và giấy kiểm định chất lượng, ảnh chụp đầy đủ nhãn mác nguyên đai nguyên kiện cô vẫn lưu trong máy. Nhưng cô tự quyết định khi nào và làm thế nào để nói với khách, không cần cháu phải đến diễn một màn hối hận muộn màng ở đây.”

Cô Hòa quay người lại, với tay lấy chiếc chổi đót nhỏ quét sạch những hạt bột mì vương vãi trên mặt bàn đá nướng.

“Chiếc âu men mẹ cháu mượn thì gửi trả lại là xong việc rồi. Cháu về đi. Sau này không có việc gì cần thiết thì cháu đừng ghé qua đây nữa. Để cho tiệm được yên tĩnh.”

Dứt lời, cô Hòa cặm cụi quét bàn, không nhìn Linh thêm một lần nào nữa. Tiếng chổi quét sột soạt trên mặt đá nhân tạo đều đặn, lạnh lùng như một tín hiệu tiễn khách dứt khoát.

Linh đứng chôn chân tại chỗ mất một lúc lâu, toàn thân run rẩy. Gương mặt cô nóng ran vì tủi hổ, nhục nhã và xót xa. Cô khẽ cúi gập đầu, lí nhí trong cuống họng một tiếng “Cháu chào cô”, rồi quay người, run rẩy đẩy cánh cửa kính bước ra ngoài ngõ.

Leng keng.

Tiếng chuông gió gắn trên khung cửa lại va đập vào nhau khô khốc. Âm thanh ấy buốt nhói, rền rĩ như tiếng chuông báo hiệu một cánh cửa lòng đã vĩnh viễn khép lại sau lưng cô, không cách nào mở ra được nữa.

***

Con đường từ ngõ Tường Vi dẫn sang cổng phụ Đại học Nam Khê chỉ dài chừng hai cây số, nhưng Linh cảm thấy từng vòng quay bàn đạp của chiếc xe đạp cũ nặng trĩu như thể cô đang kéo theo một cỗ xe chứa đầy đá tảng.

Nắng chiều đã tắt hẳn, nhường chỗ cho bóng hoàng hôn xám xịt buông xuống mặt kênh Hạ đục ngầu rác rưởi. Gió thốc ngược từ lòng kênh bốc lên mùi bùn tanh nồng, thổi tung những lọn tóc mai dính bết mồ hôi bên trán Linh, nhưng ngọn gió ẩm ướt ấy không tài nào làm dịu đi cảm giác ngột ngạt, nhức nhối đang bóp nghẹt lồng ngực cô.

Trong tâm trí Linh, từng lời nói điềm tĩnh mà tàn nhẫn của cô Hòa cứ dội lại liên hồi, vang vọng như tiếng chuông đồng giữa khoảng không rỗng toác:

*“Cháu muốn xin lỗi cô... thực chất là vì cháu muốn trút bỏ cảm giác bứt rứt trong lòng cháu cho nhẹ nhõm... Cô không có nghĩa vụ phải làm điều đó để cháu cảm thấy dễ chịu hơn.”*

Linh siết chặt hai bàn tay quanh ghi-đông xe đạp, các khớp ngón tay nhức buốt. Cô nhớ lại từng chi tiết của buổi tối ba tháng trước. Khi ấy, vừa thấy bài viết trong nhóm cư dân, chẳng mảy may suy nghĩ hay kiểm tra xem bao bì đó chụp từ góc nào, chụp ở đâu, cô đã bấm nút chia sẻ kèm theo dòng chú thích đầy phẫn nộ và thất vọng. Bài đăng của cô lập tức nhận về hàng trăm lượt tương tác, hàng chục lượt chia sẻ lại chỉ trong vòng chưa đầy hai tiếng đồng hồ.

Bạn bè cùng lớp, cùng khoa ùa vào bình luận rôm rả: “May quá Linh cảnh báo, xém chút nữa chiều nay tao ghé mua”, “Tiệm này ngay gần chỗ trọ của mình, khiếp thật, làm ăn thất đức thế”, “Sinh viên truyền thông có khác, nắm bắt thông tin nhanh ghê”.

Vào cái đêm định mệnh ấy, giữa ánh sáng nhấp nháy của hàng chục thông báo trên màn hình điện thoại, Linh đã cảm thấy một cảm giác thỏa mãn kỳ lạ — một thứ ảo tưởng quyền lực ngọt ngào rằng mình là người nắm giữ sự thật, là người đem lại giá trị bảo vệ cộng đồng, là trung tâm của sự chú ý.

Để rồi sáng hôm sau, khi cô Hòa đăng bài giải trình đầu tiên kèm ảnh chụp giấy tờ kiểm định và hóa đơn xuất kho, khi mẹ cô từ dưới quê gọi điện lên mắng xối xả trong điện thoại rằng: “Mày ăn bánh nhà người ta suốt hai năm qua mà lại đi đặt điều hùa theo thiên hạ hại tiệm người ta thế à?”, Linh chỉ biết run rẩy hoảng sợ. Phản ứng đầu tiên của cô không phải là chạy sang xin lỗi hay đăng bài đính chính, mà là hèn nhát bấm nút xóa bài chia sẻ trên trang cá nhân.

Cô xóa bài viết, nhưng cô không hề đăng lấy một dòng đính chính hay giải thích nào. Cô im lặng tuyệt đối, trốn tránh trong phòng trọ, tự lừa mị bản thân rằng chỉ cần xóa đi dấu vết trên không gian mạng là mọi tổn hại ngoài đời thực sẽ tự động tan biến như bọt xà phòng.

Thế nhưng thực tế cuộc sống không vận hành như một nút bấm trên mạng xã hội. Khách hàng biến mất, doanh thu sụt giảm, cô Hòa phải còng lưng gánh nợ, Thu Mai bị cắt ca làm việc. Và bức ảnh chụp góc bao bì bột mì bị cắt xén ấy, đến tận giây phút này, vẫn còn nằm im lìm trong thư viện ảnh lưu trữ trên chiếc điện thoại trong túi áo Linh — như một vết nhơ chưa từng được gột rửa, một lời nhắc nhở cay đắng về sự nông nổi và hèn nhát của chính mình.

Linh quẹo xe qua cổng phụ Đại học Nam Khê, lầm lũi dắt xe vào nhà xe khu B vắng vẻ. Khóa xe xong xuôi, cô đứng lại dưới bóng cây bàng vài phút, đưa tay quẹt vội những giọt nước mắt còn sót lại trên má, hít sâu vài hơi để điều hòa nhịp thở rồi bước nhanh về phía dãy nhà sinh hoạt chung hai tầng nằm khuất sau hội trường lớn.

Khu nhà sinh hoạt chung cuối chiều vẫn rộn rã âm thanh của các câu lạc bộ: tiếng đàn guitar mộc bập bùng từ phòng âm nhạc tầng một, tiếng hô khẩu hiệu luyện tập của đội kịch và tiếng cười đùa của các nhóm sinh viên thảo luận bài tập lớn.

Linh bước chầm chậm lên cầu thang bê tông dẫn lên tầng hai, tiếng bước chân cô vang lên đều đặn, khô khốc trên nền xi măng. Cô dừng lại trước cánh cửa gỗ sơn màu nâu sẫm, nơi có dán một biển hiệu mica nhỏ màu xanh lam: *Phòng Bản tin sinh viên Góc Sân*.

Linh đứng lại trước cửa, đưa tay vuốt phẳng lại nếp áo sơ mi trắng đã nhăn nhúm sau chuyến đạp xe vội vã. Cô khẽ hắng giọng, giơ tay gõ nhẹ lên mặt gỗ hai tiếng.

Cốc. Cốc.

“Vào đi, cửa không khóa đâu,” một giọng nữ trong trẻo, dứt khoát và mang âm lượng vừa đủ vọng ra từ bên trong.

Linh vặn nắm đấm cửa, khẽ đẩy bước vào.

Căn phòng rộng chừng hai mươi mét vuông, thoang thoảng mùi mực in mới, mùi giấy báo cũ và hương cà phê đen đậm đặc. Ở góc phòng gần cửa sổ, chiếc máy in đa năng khổ lớn — tài sản dùng chung giữa Góc Sân và câu lạc bộ Nhiếp ảnh — đang sáng đèn chờ, thỉnh thoảng lại phát ra tiếng rít cơ học khe khẽ.

Không gian căn phòng ngổn ngang nhưng toát lên một trật tự kỷ luật đáng kinh ngạc. Trên bức tường sơn trắng đối diện cửa ra vào là một tấm bảng foamex lớn rộng gần hai mét, ghim kín các sơ đồ cây phân nhánh, lịch xuất bản theo tuần và một bảng theo dõi dữ kiện bốn cột được kẻ ngay ngắn bằng bút dạ đen: *Sự kiện / Nguồn dữ liệu / Đối chiếu độc lập / Trạng thái xác minh*.

Chiếc bàn làm việc dài được ghép lại từ ba chiếc bàn học sinh bằng gỗ ép kê ngay giữa phòng. Trên mặt bàn ngổn ngang những tập bản thảo in một mặt với chi chít vết bút đỏ sửa lỗi chính tả và cấu trúc câu, vài cuốn sổ tay khổ A5 bìa đen kẹp bút bi, và ba chiếc cốc cà phê giấy đã cạn đáy xếp thẳng hàng cạnh một chồng sách chuyên ngành báo chí.

Ngồi ở vị trí đầu bàn là Mai An.

Mai An hai mươi mốt tuổi, sinh viên năm ba ngành Báo chí, hiện là trưởng nhóm biên tập kiêm người chịu trách nhiệm xuất bản của bản tin Góc Sân. An mặc một chiếc áo phông màu xám trơn đơn giản, vạt áo sơ vin gọn gàng trong chiếc quần tây ống đứng màu đen. Mái tóc cắt ngắn ngang vai ôm lấy gương mặt thanh tú nhưng sắc sảo. Sau tròng kính kim loại gọng bạc sáng loáng, đôi mắt Mai An chăm chú dán chặt vào màn hình chiếc máy tính xách tay ThinkPad màu đen cũ kỹ dán đầy tem hội thảo học thuật, các ngón tay cô lướt thoăn thoắt trên bàn phím phát ra tiếng lách cách giòn giã.

Nghe tiếng bước chân của Linh, An dừng tay gõ phím, ngẩng đầu lên và đưa một ngón tay đẩy nhẹ gọng kính lên sống mũi.

“Khánh Linh đúng không? Ngồi đi.” An chỉ tay về phía chiếc ghế gấp bằng khung sắt bọc nhựa xanh đặt đối diện bàn làm việc của mình.

“Dạ, em chào chị Mai An,” Linh kéo chiếc ghế ra, khẽ khàng ngồi xuống. Cô đặt chiếc ba lô vải lên đùi, hai tay ôm chặt lấy quai đeo, cố giữ cho giọng nói của mình giữ được vẻ bình tĩnh cần thiết.

Mai An không nói những lời xã giao dài dòng. Cô với tay lấy một tập tài liệu mỏng được ghim góc cẩn thận đặt ở mép bàn, lật giở vài trang giấy in mực đen sắc nét rồi đặt nó nằm ngay ngắn trước mặt Linh. Đó là bản thông báo tiếp nhận cộng tác viên thử việc của Bản tin Góc Sân, bên dưới đã có sẵn chữ ký dứt khoát bằng mực xanh của Mai An.

“Hồ sơ ứng tuyển và bài viết thử nghiệm của em về đời sống sinh viên ngoại tỉnh ở khu ký túc xá viết khá trôi chảy. Câu từ gãy gọn, văn phong có duyên kể chuyện, nhịp dẫn dắt tốt, bắt được những chi tiết đời thường khá sinh động,” An nhận xét. Giọng điệu của cô khách quan, chừng mực, không tâng bốc khen ngợi quá đà nhưng cũng không hề có chút định kiến hay làm khó người mới.

Linh vừa thở phào nhẹ nhõm một chút thì Mai An đã đổi giọng, nghiêm nghị hơn:

“Nhưng Góc Sân không phải là trang blog cá nhân, càng không phải là một kênh sáng tạo nội dung văn nghệ hay trang tin lá cải câu lượt tương tác. Bọn chị là bản tin độc lập của sinh viên Trường Đại học Nam Khê. Dù không có ngân sách lớn từ nhà trường, nhưng mọi thứ xuất bản dưới danh nghĩa Góc Sân đều gắn liền với uy tín, danh dự và trách nhiệm trực tiếp đối với bạn đọc trong toàn trường.”

Linh gật đầu chăm chú lắng nghe: “Dạ, em hiểu ạ.”

“Chưa chắc em đã hiểu hết đâu,” Mai An ngắt lời, ánh mắt xuyên qua tròng kính trong suốt nhìn thẳng vào mắt Linh, sắc bén và lạnh lùng như một lưỡi dao giải phẫu. “Sinh viên ngành truyền thông năm hai các em thường mắc phải một tật xấu kinh niên: quá tin vào ấn tượng đầu tiên của bản thân. Các em hay nhầm lẫn cảm xúc cá nhân, ấn tượng thị giác nhất thời hoặc một câu chuyện nghe có vẻ mùi mẫn, hợp lý với dữ kiện thực tế có thể kiểm chứng được. Một bức ảnh chụp ở góc khuất, một lời kể xúc động của người trong cuộc hay một tiêu đề giật gân rất dễ khiến các em vội vàng nhảy ngay tới kết luận chủ quan.”

Tim Linh giật thót một cái trong lồng ngực. Từng mạch máu nơi thái dương cô đập thình thình. Cô bất giác nhớ đến lời cô Hòa vừa mắng cô cách đây chưa đầy ba mươi phút: *“Cháu biến sự quen biết thành chứng thực cho một điều cháu chưa từng tận mắt kiểm chứng.”*

Liệu Mai An có biết chuyện bài đăng tai hại về tiệm bánh Mẻ Sớm ba tháng trước không? Liệu chị ấy có đang ngầm ám chỉ sai lầm nhục nhã đó của cô? Linh không dám hé răng hỏi, hai bàn tay giấu dưới gáy ba lô càng siết chặt lại đến mức móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay.

Mai An gõ nhẹ đầu ngón tay trỏ xuống mặt giấy của bản thông báo tiếp nhận thử việc, âm thanh khô khốc vang lên trên mặt bàn gỗ ép:

“Thời gian thử việc của em tại Góc Sân là đúng bốn tuần. Trong bốn tuần này, em sẽ làm việc dưới sự hướng dẫn và giám sát trực tiếp của chị. Và đây là ba nguyên tắc làm việc bắt buộc, mang tính kỷ luật thép, không có bất kỳ ngoại lệ nào dành cho em cũng như cho bất kỳ ai khác ở căn phòng này:

Thứ nhất, mọi tin bài do em viết ra đều phải trải qua quy trình kiểm tra độc lập. Người viết tuyệt đối không được tự ý duyệt bài hay tự ý quyết định bài viết đã đủ chuẩn xuất bản hay chưa. Em viết xong bản thảo đầu tiên, Đức Huy hoặc chị sẽ là người trực tiếp cầm bản thảo đó, gọi điện đối chiếu từng con số, kiểm tra chéo từng dòng trích dẫn và từng mốc thời gian. Nếu có một chi tiết sai lệch, toàn bộ bài viết sẽ bị đình chỉ vô thời hạn.

Thứ hai, mọi thông tin đưa vào bài viết phải có nguồn gốc rõ ràng, kiểm chứng được từ tài liệu hợp lệ, biên bản có chữ ký, hoặc các cuộc phỏng vấn trực tiếp có ghi chép và có sự đồng thuận rõ ràng của nhân vật. Góc Sân tuyệt đối không sử dụng nguồn tin ‘nghe nói’, không dùng ‘người quen trong ban tổ chức xác nhận’, càng không chấp nhận các ảnh chụp màn hình trôi nổi không rõ nguồn gốc để thay thế cho chứng từ pháp lý.

Và thứ ba, tuyệt đối không được phép đưa cảm xúc cá nhân, phán đoán chủ quan hay bất kỳ sự suy diễn đạo đức nào vào phần dữ kiện của bài viết. Sự thật là những gì kiểm chứng được qua tài liệu và đối chiếu thực tế, không phải những gì em *cảm thấy* là đúng, càng không phải những gì số đông trên mạng *muốn tin* là đúng. Em đã nắm rõ ba điều này chưa?”

“Dạ, em rõ rồi ạ. Em cam đoan sẽ tuân thủ nghiêm túc,” Linh đáp, giọng cô cất lên dõng dạc và chắc chắn hơn lúc mới bước vào.

Sự khắt khe, lạnh lùng và kỷ luật của Mai An không hề khiến Linh nản lòng hay tự ái; ngược lại, cảm giác được đứng trong một khuôn khổ làm việc có quy trình chặt chẽ để tựa vào bỗng khiến cô thấy an tâm hơn bao giờ hết. Sau cú vấp ngã nhớ đời ở tiệm bánh Mẻ Sớm, sau những tháng ngày sống trong dằn vặt và sợ hãi vì sự bồng bột của bản thân, Linh hiểu rõ hơn ai hết cái giá khủng khiếp phải trả khi để ngón tay gõ phím chạy trước lý trí và sự kiểm chứng.

Mai An khẽ gật đầu, nét mặt nghiêm nghị trên gương mặt sắc sảo giãn ra đôi chút. Cô với tay xoay nhẹ thân chiếc máy tính xách tay ThinkPad trên bàn một góc chín mươi độ, hướng màn hình về phía Linh.

“Tốt. Thái độ tiếp nhận thế là được. Bây giờ chúng ta bắt đầu công việc đầu tiên của em luôn, không lãng phí thời gian nữa. Góc Sân đang theo dõi sát sao chuỗi hoạt động chuẩn bị cho ngày hội hướng nghiệp và học bổng thường niên sắp tới diễn ra trong toàn trường. Em xem qua bài này đi.”

Linh hơi chồm người tới phía trước, tập trung ánh nhìn vào màn hình máy tính.

Trên giao diện mạng xã hội Bảng Phố — diễn đàn sinh viên trực tuyến lớn nhất và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất của Trường Đại học Nam Khê — một bài đăng quảng bá sự kiện quy mô lớn vừa được đẩy lên cách đây đúng hai giờ đồng hồ từ tài khoản chính thức của Ban tổ chức Ngày hội Sinh viên.

Tấm áp phích đồ họa được thiết kế vô cùng rực rỡ, bắt mắt với tông màu xanh dương phối cam tươi sáng, hiệu ứng ánh sáng nổi bật. Nằm ngay chính giữa tấm áp phích là dòng tiêu đề in hoa đậm nét, cỡ chữ lớn đầy tính khiêu khích sự chú ý:

*“HỘI CHỢ CẦU NỐI: 120 SUẤT HỌC BỔNG TOÀN PHẦN CHỜ ĐÓN SINH VIÊN VƯỢT KHÓ NAM KHÊ!”*

Chỉ sau hai giờ đăng tải, bài đăng đã thu hút hơn tám trăm lượt chia sẻ, gần hai ngàn lượt thả tim và hàng trăm bình luận đầy phấn khởi, ngợi ca từ các bạn sinh viên trong trường. Ai nấy đều háo hức bàn tán về cơ hội nhận được khoản hỗ trợ học phí quý giá trong bối cảnh học kỳ mới sắp bắt đầu.

Nhưng khi ánh mắt của Linh lướt xuống bức ảnh chụp văn bản thông báo xét duyệt học bổng đính kèm ở góc dưới cùng bài đăng — một bản quét tài liệu hành chính đóng dấu đỏ thu nhỏ — hàng lông mày của cô khẽ nhíu lại trước một dòng số liệu nhỏ li ti in bằng mực đen nằm lọt thỏm giữa trang giấy.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn