Tờ phiếu khám và lời xin lỗi muộn
Sáng sớm hôm sau, sương mù giăng kín con đường đất dẫn ra chợ huyện, tiếng gà gáy lẫn trong tiếng lục đục dọn hàng quen thuộc của người dân quê nghèo.
Cơn mưa rào đêm trước đã dứt hẳn, nhưng hơi nước ẩm ướt vẫn đọng lại thành từng giọt trĩu nặng trên những tán lá chuối ngả nghiêng ven bờ mương. Mặt đường đất đỏ dẫn từ xóm ngoài ra đến cổng chợ huyện Ý Yên lầy lội những vũng nước đục ngầu, in hằn vệt bánh xe thồ và dấu chân trần lấm lem của những người buôn gánh bán bưng dậy từ lúc bốn giờ sáng. Gió đầu hạ thổi qua cánh đồng rải rác những đợt rét ngọt muộn màng, mang theo mùi ngai ngái của rơm rạ mục, mùi bùn non ngấm nước và mùi khói bếp củi nồng đượm len lỏi qua từng rặng tre. Không gian ẩm lạnh quấn chặt lấy da thịt, khiến hơi thở phả ra thành từng làn khói trắng mỏng tang, chìm dần vào bóng tối nhá nhem chưa kịp tan của buổi rạng ngày.
Đức Anh mặc chiếc áo sơ mi cộc tay đã ngả màu cháo lòng của bố Thành, hai bên vai áo sờn rách được vá khéo bằng những đường chỉ chìm. Anh xắn gấu tay áo lên tận bắp, đôi chân xỏ vào đôi dép rọ nhựa màu xanh bộ đội đã mòn vẹt gót, những ngón chân bấm chặt xuống lớp đất nhão quánh để giữ thăng bằng. Anh đi ngay sát bên cạnh mẹ Lan, hai bàn tay rắn rỏi nắm chặt lấy cặp càng chiếc xe cút kít bằng gỗ keo thô mộc. Trên thùng xe, những bao tải dứa căng phồng chằng buộc chằng chịt bằng dây cao su cắt từ săm ô tô hỏng, nặng trịch những mặt hàng tạp hóa thiết yếu. Bánh xe gỗ bọc sắt lăn trên mặt đường gồ ghề, phát ra những tiếng cọt kẹt khô khốc, đè nghiến lên sỏi đá và bì bõm lội qua từng rãnh bùn trơn trượt.
"Đức Anh này, để mẹ đẩy cho một đoạn. Tay chân con trước giờ chỉ quen cầm bút với gõ bàn phím, đẩy xe nặng thế này rộp hết cả da tay ra bây giờ," bà Lan vừa đi vừa ngước nhìn con trai, ánh mắt đầy vẻ xót xa, bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết nứt nẻ do ngâm nước giếng lạnh cứ chực vươn ra giành lấy càng xe. "Lên thủ đô học hành, người ta nhìn vào thấy bàn tay thô ráp, chai sần lại cười cho. Ở nhà có mấy bước chân ngắn củn, mẹ chở một loáng là tới, mẹ quen cái sức nặng này từ bao nhiêu năm nay rồi."
Đức Anh lắc đầu, ghì chặt đôi bàn tay rám nắng xuống thanh gỗ bóng loáng mồ hôi của chiếc xe thồ:
"Mẹ cứ để con. Mấy chục cân hàng này thấm tháp gì so với việc mẹ phải gánh gồng cả gia đình bao nhiêu năm qua. Con trai hai mươi tuổi đầu, sức dài vai rộng, để mẹ đẩy xe rồi mình đi tay không lững thững bên cạnh thì con còn mặt mũi nào nữa. Mẹ cứ cầm cái đèn bão soi đường cho con là được."
Bà Lan sững lại một nhịp, nhìn bờ vai rộng và tấm lưng thẳng tắp của đứa con trai đang cắm cúi đẩy xe qua một rãnh nước sâu. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão cầm tay, bóng Đức Anh đổ dài trên mặt đường đất ướt, vững chãi như một thân cây lim cắm rễ sâu vào lòng đất mẹ. Trong lòng bà dấy lên một cảm giác bùi ngùi khó tả xen lẫn nỗi an tâm kỳ lạ. Đứa con trai mà chỉ mới hai hôm trước bà còn nơm nớp lo sợ nó trốn học đi chơi game thâu đêm suốt sáng, sợ nó hư hỏng dọa xé cả phiếu báo thi lại, giờ đây đang vững chãi bước đi trước mặt bà, đôi chân đạp chắc nịch trên bùn lầy quê nhà, không một lời than vãn hay thở than mệt nhọc. Từng bước đi của anh dứt khoát, điềm đạm, mang dáng dấp của một trụ cột gia đình thực thụ chứ không còn là một cậu học trò bốc đồng, nông nổi.
Khu chợ huyện Ý Yên vào khoảng năm giờ ba mươi sáng đã bắt đầu nhộn nhịp, nhưng cái không khí buôn bán năm 2008 này nhuốm màu ảm đạm hơn hẳn ký ức xa xôi của anh. Dưới những mái lợp tôn fibro-xi măng thấp lè tè và những mảnh bạt ni lông rách vá chằng vá đụp, tiếng người mua kẻ bán đan xen vào nhau, không phải là tiếng cười nói xôn xao rộn rã của một phiên chợ sung túc, mà là những tiếng thở dài sườn sượt, những ánh mắt âu lo và những màn mặc cả gay gắt từng năm trăm, một nghìn đồng. Bão giá lạm phát đang quét qua từng ngóc ngách của nền kinh tế, len lỏi vào từng mâm cơm đạm bạc của người dân thôn quê, và nơi hứng chịu nhát búa đầu tiên, nặng nề nhất chính là những khu chợ dân sinh nghèo nàn như thế này. Giá xăng dầu thế giới liên tục lập đỉnh mới, kéo theo giá cước vận tải tăng vọt; phân bón, cám cò, sắt thép đều leo thang từng ngày khiến người nông dân vừa trải qua vụ lúa chiêm thất bát càng thêm túng quẫn, thắt lưng buộc bụng đến mức tối đa.
Đức Anh khéo léo lách chiếc xe cút kít qua con ngõ hẹp ngập rác rau úa và vũng nước tanh tưởi, tiến vào khoảng trống nhỏ trước sạp tạp hóa của mẹ. Sạp hàng của bà Lan nằm nép mình ở một góc dãy nhà lồng cũ kỹ, chỉ là một phản gỗ tạp ghép từ những tấm ván bìa xẻ thô kê tạm trên bốn trụ gạch ba banh rêu phong, bên trên căng một tấm bạt dứa ba màu đã bạc phếch vì dãi dầu mưa nắng. Xung quanh, những vách nứa che chắn đã xiêu vẹo, ám khói dầu hỏa và mùi ẩm mốc đặc trưng của những góc chợ quê lâu năm không được tu sửa.
Không đợi mẹ nhắc nhở một câu, anh thoăn thoắt ghì càng xe, hạ chân chống gỗ xuống đất rồi bắt tay vào dỡ từng kiện hàng nặng trịch. Những bao tải muối hột ba mươi cân ướt rượt hơi sương, những thùng dầu hỏa bằng sắt tây nặng trĩu, can dầu ăn loại hai mươi lít sóng sánh, rồi những thùng xà phòng giặt, nước mắm cá cơm bốc mùi nồng nặc... từng kiện hàng nặng được anh nhấc bổng bằng sức mạnh của một thanh niên đang độ sung mãn, đặt gọn gàng vào mép sạp mà không hề phát ra một tiếng va đập thô bạo làm nứt vỡ hay đổ vỡ bất cứ thứ gì. Hơi thở Đức Anh dồn dập hơn đôi chút, lồng ngực phập phồng sau làn áo mỏng, những giọt mồ hôi bắt đầu rỉ ra trên trán, chảy dài dọc sống mũi rồi rơi xuống mặt đất bùn dưới chân, nhưng ánh mắt anh lại vô cùng sáng rõ, bình thản và tỉnh táo đến lạ lùng.
Khi thấy mẹ Lan chuẩn bị với tay bê bừa các món hàng bày lên phản gỗ như thói quen buôn bán tự phát suốt mấy chục năm qua, Đức Anh liền nhẹ nhàng đưa tay giữ lấy cổ tay gầy của bà lại:
"Mẹ chờ con một chút. Đừng bày lộn xộn đè chồng lên nhau như mọi khi nữa mẹ ạ."
Bà Lan ngẩng phắt lên, đưa mu bàn tay quệt vội vệt mồ hôi đang rịn ra trên gò má hóp sâu xám xịt: "Kịp phiên chợ sớm người ta đi làm đồng qua mua con ơi. Không bày nhanh ra đấy, người ta đi ngang qua tưởng mình chưa mở hàng, người ta kéo nhau sang sạp cái Tươi đầu chợ mua hết thì mất toi mối quen. Chậm một bước là đói đấy con."
"Không mất được đâu mẹ, mẹ cứ tin con," Đức Anh mỉm cười trấn an, ánh mắt chứa đựng sự đĩnh đạc khiến người đối diện vô thức cảm thấy tin cậy. Anh với tay kéo chiếc hòm gỗ đựng đồ nghề lỉnh kỉnh của mẹ ra làm ghế, bắt đầu sắp xếp lại vị trí các kiện hàng theo một trật tự hoàn toàn khác biệt.
Với tư duy của một người từng kinh qua các vị trí quản trị chuỗi cung ứng, thấu hiểu tường tận tâm lý học hành vi người tiêu dùng và chiến lược bán lẻ thời khủng hoảng ở tuổi ba mươi tám, Đức Anh nhìn ra ngay những điểm yếu chí mạng đang bóp nghẹt sạp hàng của mẹ: hàng hóa bày biện theo kiểu bạ đâu đặt đấy, manh mún và hỗn tạp; những món đồ thiết yếu dùng hàng ngày lại bị chèn lấp bởi những kiện hàng cồng kềnh, đắt tiền nhưng chậm luân chuyển; khách hàng đi ngang qua chỉ thấy một mớ ngổn ngang tăm tối khiến họ nảy sinh tâm lý e dè, phòng thủ, sợ bị tiểu thương chém giá hoặc nói thách trong thời buổi đồng tiền đang mất giá từng ngày.
"Mẹ nhìn này," Đức Anh vừa nói vừa thoăn thoắt phân loại các món hàng thành ba nhóm rõ rệt, động tác dứt khoát như một người thợ lành nghề đang sắp đặt bàn cờ chiến lược. "Nhóm thứ nhất là hàng thiết yếu, những thứ người ta không thể nào thiếu được trong bữa ăn và sinh hoạt mỗi ngày: muối trắng, mắm tôm, mì chính hạt nhỏ, dầu ăn chai năm trăm mi-li-lít và nến thắp sáng đề phòng mất điện luân phiên. Thời buổi bão giá khắc nghiệt thế này, gạo từ tám nghìn đã vọt lên mười một nghìn một cân, người ta đi chợ sẽ đắn đo từng hào, thắt chặt chi tiêu tối đa, nhưng muối ăn hay chai dầu rán thì bắt buộc nhà nào cũng phải mua. Mẹ bày hết nhóm này ra sát mép ngoài cùng của phản gỗ, ngay đúng tầm mắt và tầm với thuận tiện nhất của các bà, các cô đi chợ. Con sẽ cắt một tấm bìa các-tông nhỏ, dùng mẩu than củi ghi rõ giá bán từng món một cách công khai, bán sát với giá nhập gốc một chút để kéo khách ghé sạp."
Bà Lan trố mắt nhìn con trai thoăn thoắt xếp những chai dầu ăn thẳng tắp ngay ngắn, những gói muối trắng vuông vức được dựng thành từng hình tháp nhỏ vững chãi, bắt mắt: "Ghi giá to tướng ra thế người ta nhìn vào có chê bai rồi không thèm mặc cả nữa không con? Đã thế lại còn bán sát giá nhập thì lấy đâu ra đồng lãi mà trang trải tiền chợ, tiền đóng thuế chỗ hả Đức Anh?"
"Mục đích cốt lõi của nhóm hàng này không phải là để kiếm lãi nhiều, mà là tạo ra dòng tiền mặt quay vòng liên tục mỗi ngày và giữ chân khách quen ghé lại sạp của mình," Đức Anh kiên nhẫn giải thích bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhất để mẹ dễ dàng tiếp thu. "Người mua quê mình đi chợ thời bão giá này sợ nhất là bị mua đắt, bị nói thách rồi phải đứng cò kè bực bội. Khi người ta đi ngang qua, thấy sạp của mẹ niêm yết giá rõ ràng, minh bạch, giá muối mắm lại rẻ hơn sạp khác vài ba trăm đồng, tâm lý tự nhiên sẽ thấy sạp này buôn bán thật thà, tử tế và họ sẽ ghé vào mua đầu tiên mà không ngần ngại. Và một khi họ đã mở túi tiền, bước chân dừng lại ở sạp mình rồi, người ta sẽ tự nhiên đưa mắt nhìn sâu vào nhóm hàng thứ hai bên trong."
Đức Anh đưa tay chỉ vào dãy hộp xà phòng giặt, kem đánh răng, dầu gội đầu dạng dây đóng gói và chai thuốc tẩy đặt ngay ngắn ở tầng kệ giữa, nơi có ánh sáng rọi vào rõ nét nhất:
"Đây chính là nhóm hàng tiêu dùng định kỳ. Những thứ này người ta không mua hàng ngày nhưng cứ hết là phải mua để dùng trong gia đình. Nhóm này mẹ giữ nguyên giá chuẩn của thị trường, không giảm một xu nào, vì đó mới là nơi tạo ra phần lợi nhuận thực tế để bù đắp cho phần chi phí và lượng hàng thiết yếu bán sát giá ngoài mép sạp."
Nói xong, Đức Anh khom lưng lôi từ trong đáy bao tải dứa cũ kỹ ra một đống hàng hóa bám đầy bụi bặm và mạng nhện: mấy chục bộ ấm chén bằng sứ tráng men thô ráp màu xanh xám, những cuộn dây cước ni lông loại to chuyên dùng để giăng lưới đánh cá ngoài sông lớn, và cả một lô pin đèn pin con thỏ loại đại bọc giấy bạc đã nằm lưu kho ẩm thấp từ mùa đông năm ngoái.
"Còn nhóm thứ ba này chính là hàng tồn kho chậm luân chuyển, gánh nặng ngầm đang chôn chặt đồng vốn của mẹ," Đức Anh nhấc một quả pin lên, chỉ cho mẹ thấy lớp vỏ thiếc đã có dấu hiệu rỉ sét nhẹ do hơi ẩm. "Mẹ nhìn xem, chỗ pin đèn này mà để qua mùa nồm tháng ba là chảy nước axit hỏng sạch, vứt đi trắng tay. Dây cước để lâu trong góc ẩm sẽ bị giòn sợi, dễ đứt gãy, còn những bộ ấm chén sứ thô thế này, thời buổi người ta lo ăn từng bữa thì ai thừa tiền mà mua về thay mới? Càng tiếc rẻ giữ lại thì đồng vốn của mẹ càng bị chôn chặt dưới đáy bao tải, mà giá cả thị trường thì leo thang từng tuần, tiền cầm trong tay hôm nay đến tháng sau đã mất giá mười, mười lăm phần trăm rồi. Ngay sáng nay, mẹ gom hết toàn bộ chỗ này lại, xếp riêng vào một góc phản có cắm biển thanh lý giảm giá mười lăm đến hai mươi phần trăm so với giá cũ. Bán xả lỗ một chút nhưng thu hồi được đồng vốn tươi về tay ngay lập tức. Cầm được đồng tiền mặt đó, mẹ đừng cất đi mà lập tức dùng nó nhập thêm dầu ăn nhỏ với bột canh về bán quay vòng tiếp."
Bà Lan đứng chết lặng bên mép sạp hàng ọp ẹp. Đôi mắt trũng sâu, thâm quầng vì những đêm mất ngủ của người đàn bà cả đời chỉ biết buôn thúng bán mẹt, tính toán lời lỗ bằng cách đếm từng tờ tiền lẻ nhàu nhĩ rồi vuốt phẳng nhét chặt vào cạp quần, giờ đây mở to đầy kinh ngạc nhìn đứa con trai dứt ruột đẻ ra.
Từng lời Đức Anh nói ra rành rọt, khúc chiết, mạch lạc như dòng nước chảy qua khe đá. Nó không hề giống với những mớ lý thuyết sách vở cao siêu, xa vời mà bà từng nghe loáng thoáng trên đài phát thanh huyện, mà nó đâm thẳng vào đúng nỗi đau nhức nhối nhất mà bà đang phải cắn răng gánh chịu suốt hai tháng trời qua: vốn liếng cứ cụt dần từng ngày, hàng hóa ế ẩm chất đống mốc meo trong góc buồng, trong khi tiền nợ các đại lý trên tỉnh thì cứ thúc bách réo rắt sau lưng như lửa đốt râu.
"Trời đất ơi... Đức Anh..." Giọng bà Lan run rẩy, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau trước ngực, môi mấp máy không thốt nên lời trọn vẹn. "Sao... sao con lại biết tường tận những đường đi nước bước này? Thầy giáo trên trường đại học dạy con buôn bán kinh doanh rành rẽ thế này thật đấy à?"
Đức Anh khẽ cười, kéo mẹ ngồi xuống chiếc hòm gỗ đã được anh lau sạch bụi bằng manh bao tải rách, rồi rút từ trong túi áo ra chiếc khăn tay sạch sẽ mà anh mang từ ký túc xá Hà Nội về đưa cho bà:
"Thầy giáo trên giảng đường dạy con một phần nguyên lý, nhưng phần lớn là con nhìn từ chính sự vất vả, nhọc nhằn của mẹ bao năm qua mà tự chiêm nghiệm ra đấy thôi. Mẹ cứ nghe con, sắp xếp lại sạp hàng một lần cho thật quy củ, gọn gàng. Kinh doanh buôn bán dù là sạp chợ quê hay doanh nghiệp lớn trên thành phố thì dòng tiền mặt cũng giống hệt như mạch máu trong cơ thể vậy mẹ ạ. Máu phải chảy liên tục, tiền phải quay vòng đều đặn mỗi ngày thì sạp hàng mới sống sót và sinh sôi được. Giữ một đống hàng ế ẩm chết dí trong xó nhà chỉ làm cho mình ngột ngạt, nghẹt thở mà chết dần chết mòn thôi mẹ."
Bà Lan lặng người nhìn sạp hàng nhỏ bé vừa được Đức Anh sắp xếp lại một cách tài tình. Mọi thứ trở nên ngăn nắp, sáng sủa, sạch sẽ lạ thường, từng món hàng nổi bật lên dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu le lói và ánh bình minh đang dần rạng rỡ phía chân trời xa. Những người tiểu thương ở các sạp bên cạnh, vốn đang lục đục mở bao dọn hàng, cũng không khỏi tò mò liếc mắt nhìn sang, xì xào to nhỏ đầy ngạc nhiên trước vẻ chững chạc, tháo vát và tác phong dứt khoát lạ thường của cậu sinh viên con nhà thợ cơ khí xóm chợ.
Đúng lúc đó, từ phía dãy hàng gia dụng đối diện con đường lầy lội, một người phụ nữ trạc tuổi bà Lan, dáng người đậm đà, phốp pháp nhưng khuôn mặt sạm đen vì sương gió đang thở ngắn than dài trong khi hì hục bê những chồng xoong nhôm sáng choang đặt huỳnh huỵch xuống nền đất. Đó là bà Hòa – dì ruột của Kiều Trang, người đàn bà nổi tiếng là buôn bán sắc sảo, tính toán chi li và chua ngoa nhất nhì cái chợ huyện Ý Yên này.
Thấy bà Lan đang lúi húi bên sạp, bà Hòa ngẩng đầu lên, lấy góc khăn mùi soa quệt vội giọt mồ hôi đọng trên trán, cất giọng the thé nhưng phảng phất vẻ ủ dột, chán chường:
"Chị Lan đấy à? Dọn sạp sớm thế! Khiếp thật, thằng Đức Anh hôm nay chịu khó về phụ mẹ cơ đấy, hiếu thảo gớm nhỉ! Chả bù cho con Trang nhà tôi, suốt ngày bận bịu dạy gia sư kèm cặp học sinh với học thêm học nếm gì tít trên Hà Nội, cả tháng trời chả thấy mặt mũi đâu, có thèm đoái hoài gì đến cái chợ quê nhớp nháp này nữa đâu."
Nói đoạn, bà Hòa lại thở hắt ra một hơi sườn sượt, đưa tay chỉ vào đống hàng hóa kim khí ngổn ngang, bóng lộn đang nằm chỏng chơ bên sạp của mình:
"Đấy, chị nhìn sang bên tôi mà xem, tôi đến chết mất thôi chị Lan ơi! Tháng trước nghe lời đường mật của thằng cha mối lái đánh hàng từ trên móng Cái về dỗ ngon dỗ ngọt, tôi cắm cả đôi hoa tai vàng hồi môn của mẹ đẻ rồi vay nóng thêm chục triệu bạc lãi ngày để ôm một lô chảo chống dính với nồi áp suất đa năng mẫu mới toanh này về. Nó bảo hàng này hàng cao cấp của liên doanh, dân tình giờ chuộng lối sống hiện đại lắm, bán một lãi ba là chuyện thường tình. Ai mà ngờ đâu vừa nhập hàng về kho xong thì đùng một cái giá xăng dầu tăng vọt đỉnh điểm, sắt thép xi măng leo thang vùn vụt, dân quê nhà mình giờ đến lạng thịt mỡ hay con cá diếc còn đắn đo nâng lên đặt xuống mãi không dám mua, thì lấy đâu ra tiền triệu mà rước mấy cái nồi áp suất bóng bẩy này về ngắm! Đống hàng gia dụng này giờ nằm chết dí ở đây cả tháng trời không bán nổi một cái vung nồi, trong khi mối hàng trên tỉnh thì ba ngày một trận, năm ngày một tiết cho người xuống tận nhà đòi tiền gốc. Tôi mất ăn mất ngủ mấy tuần nay rồi, đầu óc lúc nào cũng ong ong như có đàn ong vò vẽ, khéo có khi phải dẹp sạp trốn nợ sang mạn Nam Trực mất thôi chị ạ!"
Nghe bà Hòa dốc bầu tâm sự đầy cay đắng, bà Lan chỉ biết thở dài ái ngại, trong lòng dấy lên niềm đồng cảm sâu sắc của những kiếp người buôn thúng bán bưng giữa thời bão táp:
"Thời buổi này ai cũng khốn đốn cô Hòa ơi. Người làm ruộng thì mất mùa đói kém, người buôn bán thì vắng hoe vắng hoắt như chùa bà Đanh. Nhà tôi cũng vừa suýt nữa thì..." Bà Lan ngập ngừng nhìn sang Đức Anh, nuốt ngược câu chuyện ông Thành định đem cắm cuốn sổ đỏ căn nhà vào trong cổ họng, rồi quay sang nhìn con trai bằng ánh mắt đong đầy sự cảm kích và nhẹ nhõm. "May mà có thằng Đức Anh nó kịp về hôm qua, đỡ đần cho bố mẹ bao nhiêu việc, chứ không thì cái nhà tôi cũng tan cửa nát nhà, chẳng biết dắt díu nhau đi đâu rồi."
Đức Anh lặng lẽ đưa mắt quan sát toàn bộ sạp hàng của dì Hòa. Những chiếc chảo chống dính phủ sơn tĩnh điện đen nhánh bắt mắt và những chiếc nồi áp suất bằng inox sáng loáng – những món đồ gia dụng tiện nghi vốn đã rất phổ biến trong các căn bếp của tầng lớp trung lưu Hà Nội hay các đô thị lớn, nhưng lại trở thành thứ xa xỉ phẩm lạc lõng đến tội nghiệp đối với bà con nông dân lam lũ vùng đồng bằng Bắc Bộ giữa năm 2008 này. Người dân ở đây vẫn đun bếp củi, nấu cám lợn bằng rơm rạ mục, dùng chảo gang dày cộp thì làm sao dám bỏ ra nửa tháng tiền công cấy lúa để mua một chiếc chảo chống dính mỏng manh về sợ cạo rách men? Một ý nghĩ kinh doanh sắc bén lóe lên trong đầu anh, liên kết chặt chẽ với những mô hình chuỗi cung ứng, thương mại điện tử kết nối thị trường nông thôn và thành thị mà anh từng ấp ủ xây dựng lại từ ký ức của tương lai. Tuy nhiên, Đức Anh nhanh chóng kìm nén suy nghĩ đó lại; lúc này chưa phải là thời điểm thích hợp để ra tay hay đưa ra những lời khuyên vượt tầm hiểu biết của họ. Việc cấp bách nhất trước mắt là anh phải dập tắt từng mồi lửa nợ nần đang thiêu đốt sự bình yên của gia đình mình trước đã.
Hai mẹ con ngồi bên sạp hàng một lúc lâu khi trời đã sáng rõ mặt người. Sương mù tan dần, để lộ bầu trời màu chì xám xịt của một ngày đầu hạ oi bức. Những người khách đầu tiên bắt đầu lục tục kéo vào chợ. Đúng như những gì Đức Anh đã tính toán, tấm biển các-tông ghi giá bán muối, mắm rõ ràng, minh bạch đặt ngay ngắn trước tháp muối trắng tinh tươm đã lập tức thu hút ánh nhìn của các bà, các mẹ đi chợ sớm. Một vài người phụ nữ dừng xe đạp lại, tò mò nhìn bảng giá niêm yết rẻ hơn các sạp khác vài trăm đồng rồi vui vẻ rút tiền ra mua ngay một chai dầu năm trăm mi-li-lít và hai gói muối mà không hề có một lời mặc cả khó chịu nào.
Nhìn thấy những đồng tiền lẻ đầu tiên được khách hàng tự giác rút ra trao vào tay mình, tiếng tiền giấy sột soạt hòa cùng nụ cười nhẹ nhõm của người mua, khuôn mặt khắc khổ, nhăn nheo của bà Lan giãn ra đôi chút, ánh mắt bà lấp lánh một niềm tin mới mẻ mà đã lâu lắm rồi bà không cảm nhận được.
Bà kéo Đức Anh lại góc khuất sau tấm bạt dứa che mưa gió, cẩn thận lấy từ trong túi áo bà ba ra một củ khoai lang luộc còn bốc hơi ấm ấm được gói kỹ trong mảnh lá chuối tươi, dúi mạnh vào tay con trai. Giọng bà hạ thấp xuống, run run đầy vẻ ngập ngừng và áy náy:
"Đức Anh này... lát nữa con ra bến bắt xe khách lên lại trường học, mẹ... mẹ chẳng có nhiều tiền để cho con dằn túi cầm đi. Tối hôm qua thấy con đưa cái phiếu thi lại cho bố xem, mẹ mừng đến mức rớt cả nước mắt, cả đêm cứ trằn trọc không sao chợp mắt nổi vì biết con mình đã chịu chí thú học hành. Nhưng mà... trong nhà mình dạo này túng bấn kiệt quệ quá con ơi. Mẹ chỉ lo con lên trên thủ đô đắt đỏ ấy, không có tiền rồi lại phải nhịn ăn nhịn tiêu, bữa đói bữa no thì làm sao mà có sức mà dùi mài kinh sử..."
"Mẹ đừng lo cho con, con tự lo liệu được hết mà mẹ," Đức Anh đón lấy củ khoai, cắn một miếng nhỏ bùi bùi, vị ngọt ấm áp, chân chất của củ khoai đồng đất quê nhà lan tỏa nơi đầu lưỡi, xua tan đi cái lạnh ẩm ướt của buổi sớm. "Con tự làm việc kiếm ra tiền được rồi. Khoản thù lao viết bài công nghệ đợt trước con vẫn còn giữ cẩn thận, đủ cho con trang trải tiền ăn ở ký túc xá với tiền mua giáo trình trên trường mà không thiếu thốn gì đâu."
Bà Lan nghe con nói vậy thì ngùi ngùi, hai khóe mắt kèm nhèm bỗng rưng rưng ngấn lệ:
"Con hiểu chuyện và ngoan ngoãn thế này là mẹ mừng đến thắt cả ruột gan rồi. Nhưng mà ở nhà... mẹ với bố con vẫn còn một mối lo thắt thẻo chưa thể dứt ra được. Bố con tính khí vốn hay tự ái, lòng tự trọng của người thợ cơ khí cao lắm, có chuyện gì cay đắng cũng cắn răng chịu đựng một mình trong xưởng, chẳng bao giờ chịu mở mồm than thở hay ngửa tay xin xỏ ai nửa lời. Tháng trước, xưởng cơ khí của bố hết sạch phụ tùng thay thế cho khách, bố buộc phải muối mặt sang đại lý phụ tùng xe máy Toàn Thắng của chú Toàn ở đầu xóm lấy chịu xích líp, săm lốp với đống vòng bi hết hơn một triệu đồng để sửa xe cho bà con chòm xóm. Khổ nỗi, dân làng mình làm đồng xong mang xe đến sửa, vụ mùa năm nay thất bát, lúa lép hạt, giá cả phân gio lại đắt đỏ, người ta toàn xin khất tiền công lẫn tiền phụ tùng đến tận vụ gặt tháng mười mới trả. Bố con nể tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau, không nỡ ép người ta vào đường cùng, thành ra món nợ phụ tùng bên chú Toàn cứ treo lơ lửng mãi ở đấy không có tiền bù vào."
Bà Lan khẽ thở dài, đưa tay áo quẹt giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi:
"Hôm qua, thằng phụ việc bên cửa hàng chú Toàn nó lại sang tận xưởng dằn dỗi nhắc khéo, bảo chú Toàn dạo này cũng bị các tổng kho trên Nam Định siết nợ gắt gao từng ngày, nếu tuần này bố con không gom đủ tiền trả dứt điểm thì chú ấy dứt khoát không cho lấy chịu đồ nghề nữa, mà còn đòi bắt đầu tính lãi ngày theo giá cắt cổ ngoài chợ đen. Bố con tối qua cứ ngồi ôm ngực ho rũ rượi bên bàn trà, một phần vì bệnh phổi tái phát do hít phải bụi sắt, nhưng phần lớn là vì bế tắc, uất ức cái món nợ hơn một triệu bạc ấy đấy con ạ..."
Hơn một triệu đồng nợ phụ tùng.
Con số ấy ở thời điểm mười tám năm sau, vào năm 2026, có lẽ chỉ tương đương với một bữa ăn trưa tiếp khách bình thường ở một nhà hàng tầm trung chốn đô hội, nhưng giữa tâm bão giá khốc liệt của năm 2008 ở vùng quê nghèo xác xơ này, nó lại là một tảng đá ngàn cân đè nặng lên buồng phổi vốn đã thương tổn nặng nề của bố Thành. Đức Anh biết quá rõ, chính từ những món nợ lặt vặt nhưng dai dẳng như chiếc dằm cắm sâu vào da thịt thế này, tích tụ ngày qua ngày, bị người đời nhìn bằng ánh mắt coi thường, đã từng bước đẩy người thợ cơ khí trung thực, tự trọng ấy vào bước đường cùng quẫn. Chính nỗi uất ức vì bị dồn ép đến chân tường đã khiến ông mù quáng đặt niềm tin vào những dự án liên doanh đổi đời hão huyền của đám lừa đảo sau này, để rồi trượt dài vào bi kịch khuynh gia bại sản.
Đức Anh không hề do dự dù chỉ trong một phần mười giây. Anh thò tay vào sâu trong túi chiếc quần bò bạc màu, rút ra một xấp tiền mặt phẳng phiu mà anh đã cẩn thận đếm và chuẩn bị sẵn từ tối hôm qua, trước khi chợp mắt.
Đó là số tiền hai trăm nghìn đồng thù lao viết bài công nghệ từ cửa hàng máy tính phố Lê Thanh Nghị mà anh vừa nhận, cộng với số tiền bán tài khoản game đợt trước còn lại sau khi đã thanh toán tiền trọ cho bà Năm và mua sách vở, cùng với khoản tiền mặt dự phòng khẩn cấp mà anh đã chắt chiu từng nghìn đồng một trong suốt chuỗi ngày vừa qua. Toàn bộ gom lại, vừa vặn tròn một triệu hai trăm nghìn đồng.
Anh tách riêng số tiền ra, những tờ tiền giấy polymer và tiền cotton lẫn lộn nhưng được anh vuốt phẳng phiu từng góc nếp gấp, nắm chặt trong lòng bàn tay ấm nóng rồi ngẩng đầu nhìn mẹ:
"Mẹ, đại lý phụ tùng của chú Toàn thường mở cửa từ mấy giờ sáng?"
Bà Lan giật mình hoảng hốt nhìn xấp tiền dày dặn trong tay con trai, đôi môi thâm run rẩy lắp bắp:
"Mở... mở cửa từ sáu giờ sáng rồi con. Nhưng mà... Đức Anh ơi, tiền ở đâu ra mà nhiều thế này hả con? Con... con đừng bảo với mẹ là con dại dột đi vay mượn ai trên Hà Nội đấy nhé! Vay lãi ngày trên đấy là chết đấy con ơi!"
"Mẹ nhìn thẳng vào mắt con này," Đức Anh đưa bàn tay còn lại nắm chặt lấy bàn tay thô ráp, nứt nẻ của mẹ, ánh mắt anh kiên định, sáng rõ và trong trẻo tuyệt đối, không một gợn vẩn đục. "Đây hoàn toàn là tiền thù lao con thức trắng nhiều đêm trên máy tính để viết bài giới thiệu linh kiện, tư vấn công nghệ cho các đại lý máy tính lớn trên Hà Nội. Đây là đồng tiền mồ hôi nước mắt được làm ra từ chính chất xám và năng lực của con, không có lấy một đồng nào phi pháp, cũng tuyệt đối không vay mượn hay quỵt nợ của bất kỳ ai một xu nào. Con đã hai mươi tuổi rồi mẹ ạ, con đã là một người đàn ông trưởng thành. Con không thể nào để bố vì hơn một triệu bạc phụ tùng này mà phải cúi đầu, cắn răng chịu nhục trước mặt người ta, lại càng không thể để bố vì uất ức nợ nần mà bệnh tình ngày một nặng thêm. Mẹ cứ yên tâm ngồi đây trông sạp hàng, con ra đại lý chú Toàn thanh toán dứt điểm toàn bộ món nợ này ngay bây giờ."
Nói xong, không để mẹ kịp định thần hay nói thêm bất cứ lời can ngăn nào, Đức Anh quay người, sải những bước chân dài, vững chãi đi ngược con đường đất đỏ hướng ra phía đầu xóm.
Đại lý phụ tùng xe máy và cơ khí Toàn Thắng tọa lạc ngay ngã ba đường liên xã, vị trí đắc địa nhất của cả khu vực xóm chợ. Đó là một căn nhà mái bằng kiên cố, khang trang hơn hẳn những nếp nhà ngói ba gian xung quanh, phía trước hiên nhà bày la liệt đủ các loại lốp xe máy Sao Vàng mới tinh nồng nặc mùi cao su, những bình ắc quy Đồng Nai xếp chồng lên nhau và những sợi dây xích cam ngâm trong dầu mỡ đen nhánh treo lủng lẳng trên xà nhà. Mùi dầu luyn, mùi kim khí và mùi axit ắc quy bốc lên nồng nặc trong không khí ẩm ướt của buổi sớm.
Chủ quán là ông Toàn, một người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, thân hình vạm vỡ, khuôn mặt vuông vức mang vẻ bặm trợn của một kẻ buôn bán sành sỏi chốn thôn quê. Ông ta đang ngồi vắt chân chữ ngũ trên chiếc ghế mây cũ, tay cầm chiếc điếu bát bằng gốm da chuối rít sòng sọc một hơi thuốc lào Tiên Lãng thật sâu, rồi ngửa cổ phà ra một luồng khói xanh đặc quánh qua làn sương mờ ảo bên ấm chè xanh vừa hãm sôi sùng sục.
Nghe tiếng bước chân bước vào hiên nhà, ông Toàn nheo mắt nhìn qua làn khói thuốc lá mờ ảo, nhận ra người bước tới liền nhướng đôi mày rậm lên vẻ khó chịu:
"Ủa, thằng Đức Anh đấy à? Mới mò về quê hôm qua hả cháu? Bố mày mấy hôm trước sang đây lấy đồ cứ khoe mày học Đại học Thương mại bận rộn bù đầu cơ mà? Sao, sáng sớm tinh mơ thế này đã sang đây, bố mày lại sai mày sang đây để khất nợ nữa có đúng không? Tao nói thẳng thật lòng với mày luôn nhé, nể tình hàng xóm láng giềng xóm trong xóm ngoài bao nhiêu năm tao mới cho xưởng nhà mày nợ gối đầu cả tháng trời như thế. Chứ thời buổi bão giá lạm phát đè đầu cưỡi cổ này, tiền mặt là vua, đại lý tổng trên Nam Định nó siết cổ tao từng ngày từng giờ, tao lấy đâu ra tiền túi mà bù lỗ cho cái xưởng cơ khí ọp ẹp nhà mày mãi được!"
Trước thái độ gay gắt và giọng điệu phủ đầu đầy vẻ trịch thượng của người chủ nợ nổi tiếng khó tính, Đức Anh không hề tỏ ra một chút lúng túng, bối rối hay né tránh ánh nhìn như những thanh niên cùng trang lứa nơi thôn dã. Anh đĩnh đạc bước thẳng đến trước chiếc bàn trà bằng gỗ kính, kéo chiếc ghế đẩu đối diện ngồi xuống một cách đàng hoàng, hai mắt nhìn thẳng vào ông Toàn. Phong thái điềm đạm, tự tin và toát lên một uy lực ngầm kỳ lạ của anh khiến người đàn ông sành sỏi chợ đời cũng phải bất giác ngừng tay, ngạc nhiên gác chiếc điếu bát sang một bên mép bàn.
"Cháu chào chú Toàn. Sáng nay cháu sang đây hoàn toàn không phải để xin khất nợ cho bố cháu," giọng Đức Anh vang lên trầm ấm, dứt khoát và rõ ràng từng âm sắc, làm tan biến cái không khí căng thẳng trong gian phòng. "Cháu sang đây là để thay mặt bố cháu, thanh toán dứt điểm toàn bộ tiền phụ tùng cơ khí mà bố cháu còn nợ bên chú suốt thời gian qua."
Ông Toàn ngẩn người ra mất vài giây đồng hồ, bàn tay đang cầm que đóm bỗng khựng lại giữa không trung, dường như lỗ tai ông ta vừa nghe nhầm một điều gì đó vô cùng phi lý:
"Thanh toán? Toàn bộ á? Mày có biết bố mày nợ bao nhiêu không? Cả xích líp, săm xe máy, dầu nhớt với đống vòng bi hôm nọ là đúng một triệu
một trăm tám mươi nghìn đấy!"
"Cháu biết."
Không một thoáng ngập ngừng, Đức Anh thọc tay vào túi trong của chiếc áo khoác gió đã sờn mép, rút ra xấp tiền xếp phẳng phiu. Anh không vội vã ném toẹt xuống bàn theo thói ngỗ ngược của lớp thanh niên mới lớn, cũng chẳng hề lấm lét dè dặt. Đôi bàn tay thon dài, sạch sẽ của người có học lướt nhẹ trên từng nếp gấp, rút ra những tờ polyme ánh xanh và đỏ gạch còn thơm mùi giấy mới. Anh đặt từng tờ, từng tờ một xuống mặt kính chiếc bàn trà đã hoen ố những vòng tròn cặn chè đen sì. Từng tờ tiền được miết phẳng mép, xếp so le ngay ngắn, tiếng góc tiền miết trên mặt kính kêu lên lách tách khô giòn giữa khoảng không gian vừa mới đây còn sặc sùi mùi thuốc lào và sự đay nghiến.
"Đây là đúng một triệu hai trăm nghìn đồng tiền mặt." Đức Anh hơi rướn người, đẩy xấp tiền sang sát mép bàn phía ông Toàn, giọng nói trầm ấm nhưng có sức nặng tựa hồ từng giọt chì rơi xuống đe: "Chú kiểm tra lại giúp cháu. Một triệu một trăm tám mươi nghìn là tiền gốc phụ tùng cơ khí bố cháu nợ gối đầu suốt hai tháng qua. Hai mươi nghìn tiền lẻ còn lại, cháu gửi chú coi như chút tiền nước chè thuốc đóm sáng nay làm phiền chú. Bây giờ, phiền chú lật cuốn sổ nợ cái ra, gạch tên bố cháu đi, và xé cho cháu cuống hóa đơn biên nhận đã thanh toán sòng phẳng."
Ông Toàn giương đôi mắt ti hí kèm nhèm tàn thuốc nhìn chằm chằm vào xấp tiền polyme thẳng thớm nằm chình ình trước mặt, rồi lại ngước lên soi mói chàng thanh niên đối diện. Bàn tay khẳng khiu như cành củi khô của ông ta khẽ run, que đóm cháy dở bén sát vào kẽ móng tay ố vàng khói thuốc làm ông ta giật mình đánh rơi xuống gạt tàn.
Mấy chục năm mở đại lý phụ tùng, sắt thép kim khí ở cái đất Ý Yên này, hạng người nào ông ta chưa từng đụng qua? Kẻ bặm trợn cù nhầy chửi đổng, kẻ mặt dày mày dạn quỳ lạy khất lần, kẻ lấm lét trốn nợ qua bờ đê ngõ tắt... ông ta đều đã nhẵn mặt. Nhưng chưa bao giờ ông ta thấy một đứa trẻ mới tròn đôi mươi, con của một lão thợ tiện nghèo rớt mồng tơi quanh năm khạc ra đờm đen, lại có được cái phong thái chững chạc, lạnh lùng và đĩnh đạc đến rợn ngợp thế này. Cái nhìn sâu thẳm, tĩnh lặng như giếng ngọc đáy đá của Đức Anh làm ông Toàn chột dạ, cảm giác như người đang ngồi trước mặt mình không phải đứa cháu con nhà hàng xóm, mà là một tay quản lý sành sỏi trên phố huyện về đòi thanh lý hợp đồng.
Nuốt đánh ực một ngụm nước bọt nhớp nháp xuống cổ họng khô khốc, ông Toàn chìa những ngón tay gầy guộc chộp lấy xấp tiền. Ông ta tẩm nước miếng lên ngón trỏ, sột soạt đếm đi đếm lại tới hai lần. Mười hai tờ. Không thiếu một đồng, không rách một góc.
Sắc mặt xám xịt, cau có ban nãy của chủ nợ bỗng chốc giãn ra, cái nếp nhăn nheo nơi khóe mắt xô lại thành nụ cười gượng gạo, trơn tuột:
"À... ừ... chuẩn rồi. Đúng một triệu một trăm tám mươi nghìn, không thừa không thiếu một cắc." Ông Toàn rút tờ hai mươi nghìn màu xanh thẫm đẩy ngược về phía Đức Anh, xua xua tay: "Thôi, hai mươi nghìn này tao không lấy đâu. Chỗ láng giềng xóm trong xóm ngoài, ai nỡ tính toán mấy chén nước chè hạt bí làm gì cho nó cạn tình cạn nghĩa. Mày cầm lại mà dằn túi đi đường."
Vừa nói, ông Toàn vừa với tay lấy cuốn sổ cái khổ lớn bọc da đen sì nhem nhuốc vết mỡ bò từ chiếc hộc bàn gỗ ọp ẹp. Lần giở từng trang giấy kẻ ô chằng chịt những tên tuổi, số tiền và dấu gạch chéo đỏ lòm, ngón tay ông ta dừng lại ở dòng chữ *“Thành thợ tiện – Nợ lũy kế xích líp, săm lốp, dầu máy, bạc đạn: 1.180.000đ”*. Ông Toàn bấm chiếc bút bi Thiên Long, gạch một vệt mực đậm nét xóa ngang dòng chữ nợ, rồi lôi trong kẹp sắt ra tờ biên lai thu tiền đã ố vàng, xé toạc mép giấy vò viên ném thẳng vào chiếc sọt rác nan tre dưới chân bàn. Kế đó, ông ta xé một mảnh giấy trắng từ cuốn sổ tay con, ngoáy nguệch ngoạc mấy chữ: *“Đã nhận đủ 1.180.000đ từ anh Thành thợ tiện, hết nợ ngày...”* rồi ký roẹt một chữ ký loằng ngoằng.
Đưa mảnh giấy còn thơm mùi mực mới cho Đức Anh, ánh mắt ông Toàn không giấu nổi sự tò mò xen lẫn vị nể:
"Mày... độ này đi làm thêm trên Hà Nội kiếm ăn được thật đấy à Đức Anh? Tao nghe đâu sinh viên năm thứ hai Đại học Thương mại bận học túi bụi từ sáng tới đêm cơ mà?" Giọng lão hạ xuống, ngọt nhạt hẳn: "Thế mà mấy hôm trước, mấy bà ngoài cổng chợ huyện kháo nhau ầm ĩ, bảo mày trên thủ đô đua đòi chúng bạn, dính vào ba cái trò cày game quán nét thâu đêm suốt sáng, nợ môn sắp bị nhà trường đuổi học đến nơi. Bố mày ở nhà lo sốt vó, mặt mày hốc hác như mất hồn. Đúng là cái miệng lưỡi thế gian đơm đặt, rách việc! Bố mày chuyến này có đứa con trai biết lo toan, đỡ đần thế này thì mát mày mát mặt, nở mày nở mặt với cả làng rồi!"
Đức Anh đón lấy mảnh giấy xác nhận, cẩn thận kiểm tra lại nét chữ, chữ ký và ngày tháng rồi gấp làm tư, nhét sâu vào ngăn trong túi ngực áo sơ mi. Nét mặt anh vẫn phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng, không kiêu ngạo vì được tâng bốc, cũng chẳng hề lộ vẻ bực tức trước những lời đơm đặt độc địa của thói đời xóm bãi:
"Dạ, cháu cảm ơn chú đã thông cảm cho hoàn cảnh gia đình cháu suốt thời gian qua." Đức Anh đứng thẳng dậy, phong thái đĩnh đạc: "Từ nay về sau, nếu bố cháu có sang bên này cất phụ tùng, mong chú cứ chiếu theo giá thị trường mà tính toán sòng phẳng, thiếu đủ bao nhiêu chú cứ nhắn trực tiếp với cháu qua số điện thoại này."
Nói đoạn, anh cầm chiếc bút bi trên bàn, viết một dãy số máy bàn rõ ràng lên mép gỗ góc bàn trà của ông Toàn: *“04.3852xxxx – Phòng 3 trọ Khương Thượng”*. Xong xuôi, anh hơi cúi đầu chào rồi dứt khoát xoay người rảo bước ra khỏi cánh cổng sắt hoen gỉ, để lại sau lưng ánh nhìn ngơ ngác, thảng thốt của người chủ nợ sành sỏi.
***
Đức Anh quay trở lại chợ huyện khi nắng sớm bắt đầu xuyên qua những tấm bạt che rách nát, rọi xuống nền đất lầy lội mùi tôm cá, rau muống ế và nước thải rãnh chợ bốc lên tanh nồng.
Từ xa, bóng dáng mẹ anh – bà Lan – vẫn đứng trơ trọi bên cạnh góc sạp hàng xén nhỏ bé của mình. Hai bàn tay gầy guộc đầy những vết chai nứt nẻ vì ngâm nước phù sa cứ xoắn chặt lấy mép vạt áo bà ba bạc màu. Đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ đăm đăm nhìn ra lối đường cái liên huyện, chiếc nón lá cũ rách vành che không nổi những sợi tóc mai hoa râm bết dính vào vầng trán nhăn nheo đẫm mồ hôi. Mỗi khi có bóng người dong xe hay cuốc bộ ngang qua, đôi vai gầy ấy lại khẽ giật thót, ánh mắt vừa le lói hy vọng lại vừa run rẩy lo âu.
Bước chân Đức Anh chậm lại một nhịp. Trái tim anh nhói buốt. Kiếp trước, anh đã bỏ mặc người phụ nữ này quằn quại giữa những âu lo thường nhật, để rồi đến khi bà ngã quỵ bên sạp hàng vì bạo bệnh và lao lực, anh mới nhận ra mình đã tước đoạt của mẹ bao nhiêu năm tháng bình yên.
"Mẹ." Đức Anh bước đến gần, khẽ cất tiếng gọi.
Bà Lan giật mình quay phắt lại. Thấy con trai đi về bình an vô sự, khóe môi khẽ nở một nụ cười hiền hậu, lồng ngực bà phập phồng như vừa trút được tảng đá ngàn cân: "Đức Anh... Thế nào rồi con? Lão Toàn... lão ấy có làm khó làm dễ gì con không? Lão có nặng lời đuổi mắng gì không con?"
Không trả lời bằng lời nói, Đức Anh nhẹ nhàng rút mảnh giấy biên nhận nợ có chữ ký còn tươi mực của ông Toàn từ trong túi ngực ra, mở rộng đặt vào đôi bàn tay run rẩy của mẹ.
Ánh mắt kèm nhèm của bà Lan quét nhanh qua từng dòng chữ nắn nót: *“Đã thanh toán đủ toàn bộ nợ... Gạch sổ...”* Đôi mắt đùng đục của người mẹ nghèo mở to bàng hoàng. Những ngón tay thô ráp của bà run lên bần bật, sờ đi sờ lại trên tờ giấy mỏng manh như thể sợ rằng đó chỉ là một ảo ảnh do cơn mộng mị ban mai tạo ra.
"Hết rồi... Hết nợ thật rồi sao con..."
Bà Lan nghẹn ngào, giọng nói vỡ vụn nơi cuống họng. Bà vội quay ngoắt mặt vào góc vách bạt tối tăm của sạp hàng, chiếc lưng còng gập xuống, kéo vạt áo nâu bạc màu lên lau vội hai hàng nước mắt đang trào ra lã chã trên đôi gò má sạm đen đồi mồi. Đó không phải là những giọt nước mắt tủi hờn của kiếp mưu sinh khốn khó, mà là dòng nước mắt giải tỏa sau chuỗi ngày dài đằng đẵng sống trong sự đè nén, khinh miệt của xóm làng.
Suốt bao tháng ngày qua, mỗi lần đi chợ ngang qua ngõ nhà ông Toàn, bà đều phải cúi gằm mặt bước vội vì sợ tiếng gọi với giật giọng đòi nợ; mỗi bữa cơm trưa đạm bạc chỉ có đĩa rau muống luộc dầm tương với vài con cá khô mặn chát, bà nuốt không trôi vì canh cánh nỗi lo xưởng cơ khí của chồng bị siết đồ nghề. Vậy mà sáng nay, đứa con trai vừa bước sang tuổi hai mươi của bà – đứa con mà người ta dè bỉu là gánh nặng học hành, là kẻ chỉ biết ngửa tay xin tiền – đã tự mình cầm tiền đi xóa sạch mối nhục nhã ấy một cách đường hoàng, đĩnh đạc nhất.
Đức Anh bước tới, đặt bàn tay ấm áp của mình lên đôi bờ vai đang run rẩy của mẹ:
"Hết nợ rồi mẹ ạ. Từ nay không ai dám sang nhà mình lớn tiếng đòi nợ hay coi thường bố mẹ nữa đâu. Con về nhà với bố đây. Trưa nay con phải bắt chuyến xe đò sớm lên Hà Nội để kịp buổi học sáng mai trên giảng đường. Mẹ ở chợ bán hết mớ hàng này rồi về sớm nghỉ ngơi, đừng tiếc mấy nghìn bạc mà trưa nào cũng nhịn đói ăn cơm nguội với muối vừng nữa. Cuối tuần sau được nghỉ, con lại bắt xe về với mẹ."
Bà Lan sụt sịt quay lại, nắm chặt lấy bàn tay con trai, gật đầu lia lịa trong tiếng nấc:
"Ừ... ừ... con về nhà đi... Bố con từ sáng sớm tới giờ chưa chịu hớp một ngụm nước nào đâu. Về xem bố thế nào... Nhớ bảo bố... bảo bố nghỉ tay vào nhà mà ăn bát cháo hành nóng mẹ để trong nồi ủ rơm ở góc bếp... Khổ thân ông ấy, đêm qua ho rũ rượi suốt sáng..."
***
Rời khỏi khu chợ huyện ồn ã mùi bùn đất và tiếng trả giá eo sèo, Đức Anh rảo bước thật nhanh trên con đường đê ven sông Đáy.
Gió đầu hè thổi lồng lộng qua những bãi ngô xanh mướt trải dài tít tắp dưới chân đê, mang theo hơi nước ngai ngái nồng nàn của đất bãi phù sa. Nhưng lòng Đức Anh thì nặng trĩu. Càng tiến gần về phía xóm nhỏ, bước chân anh càng trở nên dồn dập.
Ngôi nhà cấp bốn lợp mái ngói âm dương xám xịt, rêu phong hiện ra sau lũy tre ngà đẫm sương sớm. Cảnh vật nơi đây qua bao năm tháng vẫn nghèo nàn, cằn cỗi như chính số phận của những con người bám rễ vào nó. Nhưng điều khiến lồng ngực Đức Anh thắt lại ngay khi vừa bước chân qua chiếc cổng gạch nứt nẻ không phải là gian nhà chính quạnh quẽ, mà là gian xưởng cơ khí xiêu vẹo nằm nép mình bên mé hiên tây.
Mùi khói hàn xì nồng nặc, khét lẹt xộc thẳng vào cánh mũi anh, cay sè và đắng ngắt. Hòa lẫn trong đó là tiếng động cơ máy nổ xập xình rung bần bật cả bờ tường vôi lở loét, và tiếng búa tạ nện chan chát, chát chúa lên những phiến sắt dày. Từng luồng tia lửa điện màu xanh tím ma quái rực lên từng chặp, hắt những vệt sáng chói lòa lên nền xưởng lổn nhổn phoi sắt vụn, soi rõ một bóng lưng còng rạp, gầy guộc đang cắm cúi gập người trên chiếc bàn thợ bằng thép đặc.
Bố Thành đang làm việc.
Một cảm giác xót xa buốt nhói dâng lên tận đỉnh đầu Đức Anh. Đêm hôm qua, người đàn ông ấy vừa trải qua một cơn ho ra máu xé rách lồng ngực, vừa phải đối mặt với một trận cuồng phong tinh thần suýt nữa đánh mất trắng mảnh đất hương hỏa cha ông để lại vì mưu hèn kế bẩn của gã họ hàng giả nhân giả nghĩa. Thân xác rệu rã, tinh thần suy sụp đến bờ vực thẳm, vậy mà khi trời vừa hửng sáng, khi vết máu khô nơi khóe miệng có lẽ còn chưa kịp phai vị tanh tưởi, ông đã lại lao mình vào cái địa ngục khói bụi kim loại này.
Chiếc áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân đã bạc phếch, sờn rách ở hai bên bả vai ướt đẫm mồ hôi, dính chặt vào từng dẻ xương sườn nhô lên gồ ghề của ông. Đôi cánh tay khẳng khiu chằng chịt những vết sẹo bỏng mạt sắt qua hàng chục năm cầm mỏ hàn đang gồng lên run rẩy để ghì chặt một thanh sắt chữ V vào hàm ê-tô.
*Khụ... khụ... khẹc!*
Một cơn ho dữ dội bất thần dội lên từ sâu thẳm cuống họng người thợ tiện già. Cơn ho dữ dội đến mức bàn tay cầm chiếc mỏ hàn xì của ông Thành run bắn lên, tia lửa điện chệch hướng quét qua mép bàn, làm bùng cháy một góc giẻ lau máy cáu bẩn dầu nhớt.
Ông vội vàng buông rơi chiếc mỏ hàn xuống bệ sắt, một tay ôm chặt lấy ngực trái, cả thân người gập rạp xuống mặt bàn máy cơ khí. Toàn bộ khung xương lồng ngực ông giật giật từng cơn thắt nghẹn, từng tiếng rít khò khè nghẹt thở tống ra ngoài qua kẽ răng cắn chặt. Cơn đau buồng phổi quái ác dường như đang xé toạc từng thớ thịt bên trong thân thể hao mòn ấy.
Thế nhưng, chỉ trong chớp mắt, dường như sợ hãi tiếng rên rỉ của mình lọt ra ngoài sân cho người khác nghe thấy, ông Thành nghiến răng trét vội một búng đờm nhớp nhúa xuống nền đất bụi bặm, rồi vội vã chộp lấy chiếc búa tạ bên cạnh.
*Keng! Keng! Chát!*
Ông vung búa nện điên cuồng vào một tấm thép vụn đặt trên đe sắt. Từng nhát búa giáng xuống như sấm sét, âm thanh kim loại chát chúa đinh tai nhức óc vang rền khắp gian xưởng, tàn nhẫn đè bẹp đi những tiếng ho rũ rượi, nghẹn ngào của chính bản thân mình. Ông dùng tiếng búa để che giấu sự bất lực của thể xác, dùng sự cuồng bạo của sắt thép để ngụy trang cho căn bệnh nan y đang từng ngày gặm nhấm sự sống.
Đức Anh đứng sững lại nơi bậu cửa xưởng, đôi bàn tay siết chặt lại đến mức những đốt ngón tay trắng bệch, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng mà không hề hay biết.
Cảnh tượng này... âm thanh búa đập xé lòng này...
Ở kiếp trước, anh đã từng đứng nhìn nó bao nhiêu lần? Hàng chục lần? Hay hàng trăm lần? Khi ấy, một kẻ nông cạn, vị kỷ và chìm đắm trong thế giới ảo như anh chỉ cảm thấy tiếng búa đập ấy sao mà inh tai, nhức óc, làm phiền giấc ngủ nướng trưa hè sau những đêm dài dán mắt vào màn hình máy tính tiệm net. Anh chỉ thấy người cha lấm lem dầu mỡ, cả người nồng nặc mùi mồ hôi chua loét và khói hàn ấy sao mà cộc cằn, thô lỗ, quê mùa, chẳng giống những ông bố tri thức bóng bẩy của bạn bè cùng lớp trên thủ đô.
Đến tận ngày người cha nằm xuống trong căn phòng lạnh lẽo của bệnh viện, anh mới bàng hoàng thấu hiểu: từng nhát búa nện xuống mặt đe là một lần bố phải cắn nát bờ môi để nén lại cơn đau thấu tận tâm can; từng vệt dầu mỡ, muội than bám đen trên làn da nứt nẻ của bố là một giọt mồ hôi mặn chát đánh đổi lấy từng nghìn đồng lẻ gửi lên thành phố, chắp cánh cho giấc mơ phù hoa của một đứa con bất hiếu.
Cổ họng nghẹn đắng, Đức Anh hít một hơi thật sâu để nuốt ngược giọt nước mắt chua xót vào lòng. Anh cất bước đi vào bên trong gian xưởng tối tăm.
Tiếng đế giày vải giẫm lên lớp phoi sắt xoăn tít trên nền xi măng lạo xạo. Nghe tiếng động lạ, nhát búa trên tay ông Thành bỗng khựng lại giữa không trung. Người thợ cơ khí già giật mình quay ngoắt lại.
Bắt gặp ánh mắt của Đức Anh đang nhìn mình đăm đăm, gương mặt hốc hác của ông Thành thoáng qua một tia bối rối và hoảng hốt cực độ. Theo phản xạ tự nhiên của một con thú bị thương cố che giấu vết tích trước bầy đàn, ông Thành vội vàng đưa mu bàn tay chai sạn quệt ngang qua khóe miệng – nơi vừa rỉ ra một vệt đờm đặc sẫm màu tanh nồng. Rất nhanh, ông kéo phắt chiếc kính bảo hộ đen ngòm đầy vết xước lên trán, để lộ ra đôi mắt đỏ ngầu những tia máu, thâm quầng và trũng sâu hoắm trong hốc mắt.
Ngay lập tức, nét mặt ông Thành đanh lại, cứng đờ như một phiến đá hoa cương. Ông dựng lên bức tường phòng thủ lạnh lùng, cộc cằn muôn thuở để bọc lấy lòng tự trọng mong manh của mình:
"Mày lại thò mặt vào đây làm cái gì?" Giọng ông khàn đặc, gắt gỏng như xé vải, từng âm thanh dội ra khỏi lồng ngực đều nghe rõ tiếng thở dốc nặng nề: "Mặt trời lên tận ngọn tre rồi, không lo thu dọn quần áo sách vở mà đón xe ca lên trường đi! Lảng vảng ở cái xưởng này làm gì cho mạt sắt nó bắn đui mắt ra bây giờ! Biến lên nhà!"
Lời nói vẫn mang giọng điệu quát nạt, xua đuổi quen thuộc, nhưng lần này, trong đó không còn cái vẻ uy quyền thịnh nộ như đêm qua nữa. Sâu thẳm trong đôi mắt đùng đục của người cha là sự né tránh yếu ớt, là nỗi mặc cảm ê chề của một trụ cột gia đình vừa bị con trai vạch trần sự ngây thơ suýt đẩy vợ con vào cảnh màn trời chiếu đất, và hơn hết... là nỗi kinh hoàng tột cùng khi linh cảm thấy đứa con đã nhận ra căn bệnh quái ác đang tàn phá lồng ngực mình.
Đức Anh không lùi bước, cũng không quay lưng bỏ đi như những lần hai cha con xung đột trước đây. Anh đĩnh đạc bước từng bước chậm rãi đến sát chiếc bàn thợ cơ khí bừa bộn những bánh răng, cờ-lê, kìm búa và những can dầu nhớt thải đen ngòm.
Thò tay vào túi ngực áo khoác, Đức Anh rút ra một tờ giấy A4 màu trắng tinh khôi được gấp làm tư một cách tỉ mỉ, cùng với ba tờ tiền polyme mệnh giá một trăm nghìn đồng còn phẳng phiu, thơm mùi mực in.
Anh nhẹ nhàng đặt tờ giấy trắng và số tiền ba trăm nghìn ấy lên khoảng trống duy nhất còn sạch sẽ trên mặt bàn sắt, ngay cạnh chiếc mỏ hàn xì đang tỏa ra hơi nóng rẫy và làn khói xám mỏng manh.
Ông Thành trừng mắt nhìn tờ giấy trắng tinh và ba tờ tiền nằm chơ vơ giữa đống sắt thép gỉ sét. Đôi chân mày rậm rạp, bạc thếch vì bụi than của ông nhíu chặt lại, nét mặt từ phòng thủ chuyển sang cảnh giác cao độ:
"Cái của nợ gì đây? Mày lại giở trò gì nữa đấy hả Đức Anh? Tiền này ở đâu ra? Mày tưởng vài ba cái đồng bạc làm thêm vớ vẩn trên Hà Nội là to à?"
Đức Anh ngước mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu, mỏi mệt của bố. Giọng anh cất lên trầm tĩnh, rõ ràng và mạch lạc đến từng âm tiết:
"Thưa bố, đây là tờ hướng dẫn chi tiết các bước khám tầm soát chức năng hô hấp, quy trình chụp phim X-quang tim phổi lồng ngực và các xét nghiệm đờm chuyên sâu tại Bệnh viện Bạch Mai trên Hà Nội. Con đã nhờ một người quen có chuyên môn y tế trên đó hỏi cặn kẽ từng phòng khám, từng bác sĩ chuyên khoa giỏi nhất của khoa Hô hấp. Còn ba trăm nghìn này là tiền cọc viện phí ban đầu và tiền vé xe đò khứ hồi từ bến xe Ý Yên lên Giáp Bát mà con đã chuẩn bị sẵn cho bố."
Từng câu, từng chữ của Đức Anh như những mũi kim châm thẳng vào vết thương sâu kín nhất trong lòng người thợ già. Gương mặt xám ngoét của ông Thành co giật kịch liệt. Ngọn lửa tự ái của một người đàn ông cả đời chỉ biết gánh vác, chưa từng ngửa tay xin xỏ ai một đồng bỗng chốc bùng lên dữ dội:
"Mày... mày điên rồi à Đức Anh?" Ông Thành quát lên, ngực phập phồng dữ dội: "Tao đã nói với mẹ con mày bao nhiêu lần rồi, tao chỉ bị cảm gió, viêm họng giao mùa mấy hôm là tự khỏi! Bố mày còn khỏe như vâm, ngày vác cả tạ sắt thép, có làm sao đâu mà Bạch với chả Mai! Mày thừa tiền hay mày tưởng mày bước chân vào cổng trường Đại học Thương mại vài tháng là cái đầu mày khôn hơn bố mẹ ở cái nhà này? Cầm ngay cái đống giấy lộn với tiền của mày đi! Tao không cần! Tiền ăn, tiền học của mày còn lo chưa xong, ở đấy mà vẽ chuyện tốn kém, rách việc!"
Vừa gầm lên, ông Thành vừa vung bàn tay thô ráp, chai sạn như vỏ cây xà cừ định gạt phắt tờ giấy trắng và xấp tiền xuống nền xưởng đầy bụi bặm.
Nhưng bàn tay gân guốc ấy bỗng khựng lại giữa thinh không. Cả người ông run rẩy sững sờ.
Bởi vì Đức Anh không hề né tránh, không hề cãi lại một câu, cũng không có vẻ gì là giận dữ.
Trước mặt người cha già đang thở hồng hộc vì kích động, chàng trai trẻ hai mươi tuổi bất ngờ lùi lại nửa bước. Rồi dưới ánh mắt bàng hoàng của ông Thành, hai đầu gối của Đức Anh từ từ hạ xuống, quỳ sụp trên nền xưởng lổn nhổn những mảnh phoi sắt sắc nhọn.
Đầu anh cúi gập xuống, hai bàn tay buông thõng siết chặt lấy mép quần bò, bả vai khẽ rung lên bần bật.
Một sự tĩnh lặng tuyệt đối, ngột ngạt và đau đớn bao trùm lấy toàn bộ không gian gian xưởng cơ khí tồi tàn. Tiếng máy nổ ngoài sân dường như biến mất, tiếng búa đập của xóm bên cũng im bặt, chỉ còn lại tiếng nước rỉ rả từ mái tôn mục nát và tiếng gió rít qua khe nứa sau nhà.
"Bố..."
Tiếng gọi thốt ra từ cuống họng Đức Anh run rẩy, khàn đặc, vỡ vụn ra thành từng mảnh. Đó là tiếng gọi mang sức nặng của cả một kiếp người lưu lạc, mang theo nỗi đớn đau, ân hận và day dứt tột cùng của mười tám năm trời sống trong dằn vặt của một linh hồn trùng sinh:
"Con... con lạy bố... Con xin lỗi bố..."
Chiếc búa tạ trên tay ông Thành rơi tuột xuống đất, nện một tiếng *thùng* nặng nề lên nền xi măng. Đôi bàn tay lấm lem dầu mỡ đang giơ lên giữa chừng bỗng chốc cứng đờ, trơ trọi giữa không trung.
"Hai mươi năm qua... con sống khốn nạn và ích kỷ quá bố ơi..." Từng giọt nước mắt nóng hổi, kìm nén suốt từ ngày trở về quá khứ, giờ đây vỡ òa tuôn rơi lã chã xuống nền xưởng bám đầy muội sắt xám xịt, thấm ướt mũi giày của Đức Anh. "Con lên thủ đô học hành, con chỉ biết ngửa tay đòi tiền bố mẹ. Hết tiền đóng học phí đầu kỳ, con gọi điện về đòi. Tiền mua máy tính học lập trình, con đòi. Tiền ăn tiêu, tụ tập với bạn bè nơi phố xá, con đòi... Nhưng chưa một lần nào... chưa một lần nào con tự hỏi xem ở quê nhà, bố mẹ phải đổ bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu máu mới gom góp được từng đồng tiền ấy gửi lên cho con..."
Tiếng khóc nghẹn ngào của chàng trai trẻ xé toạc bầu không khí u ám của gian xưởng:
"Con chưa từng biết bố phải đứng chôn chân bên cái bàn tiện sắt này từ năm giờ sáng tinh mơ cho đến tận đêm khuya khoắt. Con chưa từng biết bố phải hít vào phổi bao nhiêu luồng khói hàn xì độc hại, bao nhiêu bụi mạt sắt xé nát buồng gan buồng phổi. Con vô tâm đến mức không hề biết bố đau đớn đến mức nào... đến mức phải lén giấu những vỉ thuốc giảm đau cực mạnh Tramadol dưới chân bàn máy... phải cắn răng nuốt ngược từng ngụm máu tươi vào trong ruột để tiếp tục cầm búa kiếm tiền nuôi con ăn học..."
Đức Anh ngẩng đầu lên. Khuôn mặt chàng thanh niên trẻ măng đầm đìa nước mắt, đôi mắt đỏ hoe nhưng ánh nhìn hướng về người cha lại rực cháy một ngọn lửa yêu thương, xót xa và quyết liệt đến tận cùng tâm can:
"Bố ơi... con biết bố muốn giữ thể diện của một người đàn ông trụ cột gia đình. Bố sợ tốn kém, bố sợ người ngoài nhìn vào bảo bố là gánh nặng cho vợ con. Nhưng bố có biết không... nếu bố có mệnh hệ nào... nếu bố ngã xuống... thì tấm bằng cử nhân Thương mại của con, cái sự nghiệp tương lai xán lạn trên thủ đô kia, cả cuộc đời sau này của con... còn có ý nghĩa gì nữa hả bố? Con cần một tấm bằng danh giá làm gì khi về nhà không còn ai ngồi đợi cơm con nữa? Con không cần một người bố hoàn hảo kiếm được tiền rừng bạc biển! Con chỉ cần bố sống! Bố phải sống khỏe mạnh bên mẹ và bên con thôi, bố ơi!"
Từng lời, từng chữ thốt ra từ đáy lòng sâu thẳm của Đức Anh như những nhát búa vạn cân giáng thẳng vào tâm can, phá nát lớp vỏ bọc thô ráp, chai sạn của người thợ cơ khí nghèo.
Ông Thành đứng chết lặng giữa gian xưởng tăm tối. Đôi chân ông run rẩy như không còn đủ sức chống đỡ trọng lượng của chính thân xác mình. Đôi mắt đỏ ngầu mở to trừng trừng, nhìn đứa con trai duy nhất đang quỳ dưới chân mình – đứa con vừa mới hôm qua ông còn xem là non nớt, bồng bột, vậy mà giờ đây lại đang khóc lóc, đang van xin ông bằng những lời lẽ gan ruột, thấu suốt cõi đời như một người đàn ông từng trải qua muôn vàn giông bão của kiếp nhân sinh.
Làm sao nó biết? Làm sao một đứa trẻ quanh năm chỉ biết sách vở trên Hà Nội lại biết đến những vỉ thuốc Tramadol giấu kín nơi xó bàn máy? Làm sao nó biết ông đã từng cắn răng nuốt những ngụm đờm lẫn máu tươi vào lòng để khỏi làm kinh động đến giấc ngủ của hai mẹ con nó?
Những lời cay nghiệt, cộc cằn muôn thuở nghẹn ứ lại nơi cuống họng ông Thành, tan biến hoàn toàn vào thinh không.
Bàn tay thô ráp, nứt nẻ của ông Thành khẽ run rẩy đưa lên. Ánh mắt ông trượt xuống tờ giấy A4 màu trắng nằm trên bàn thợ. Dưới ánh sáng lờ mờ của bóng đèn tròn bám đầy mạng nhện, từng dòng chữ viết tay bằng mực xanh nắn nót, cẩn thận hiện lên rõ mồn một:
*“Khoa Khám bệnh Hô hấp – Tầng 3 nhà Việt Nhật, Bệnh viện Bạch Mai, số 78 Giải Phóng. Bác sĩ trưởng khoa thường khám vào các buổi sáng thứ Tư và thứ Sáu hàng tuần. Chi phí chụp X-quang tim phổi thẳng: 80.000đ. Xét nghiệm tế bào đờm: 50.000đ. Lưu ý quan trọng: Nhớ nhắc bố nhịn ăn sáng hoàn toàn từ đêm hôm trước để làm xét nghiệm sinh hóa máu cho kết quả chính xác nhất...”*
Từng dòng chữ, từng dấu chấm phẩy nắn nót ấy... không phải là sự thương hại trịch thượng, không phải là sự xốc nổi của tuổi trẻ, mà là kết tinh của tất cả sự tỉ mỉ, lo lắng, chu đáo và tấm lòng hiếu thảo thiêng liêng nhất mà một đứa con có thể gom góp lại cho người cha của mình.
Một giọt nước mắt đục ngầu, nặng trĩu lăn dài trên gò má xám xịt vì bụi than của người thợ cơ khí già. Nó lăn qua những nếp nhăn nheo hằn sâu nỗi nhọc nhằn của năm tháng, rơi trúng vào mu bàn tay đầy những vết sẹo bỏng mạt sắt của ông.
Ông Thành vội vã quay ngoắt mặt đi chỗ khác. Ông hướng ánh nhìn đục ngầu ra phía rặng tre ngà mờ ảo trong sương sớm ngoài vườn, hai hàm răng cắn chặt vào nhau để ngăn lại một tiếng nấc nghẹn ngào đang chực bùng nổ trong lồng ngực. Đôi vai gầy guộc của ông rung lên bần bật dưới lớp áo bảo hộ sờn rách.
Đã bao nhiêu năm rồi? Kể từ cái đêm mùa đông giá rét hai mươi năm trước, khi ông một mình bế đứa con trai đỏ hỏn sốt cao co giật chạy bộ mười cây số trong đêm mưa phùn tìm đến trạm xá huyện, ông chưa từng rơi thêm một giọt nước mắt nào. Ông đã thề với lòng mình sẽ là bức tường đá kiên cố nhất để che chở cho mái ấm này, dù thân xác có mục ruỗng thành tro bụi cũng không bao giờ tỏ ra yếu mềm. Nhưng hôm nay, bức tường đá ấy đã hoàn toàn sụp đổ trước dòng nước mắt và tấm lòng của đứa con trai.
Một khoảng im lặng kéo dài như vô tận trôi qua giữa hai cha con.
Gió ngoài sông thổi về xao xác qua kẽ lá, mang theo mùi hoa bưởi thanh khiết thoang thoảng, xua tan đi phần nào cái không khí ngột ngạt, khét lẹt của gian xưởng cơ khí.
Cuối cùng, đôi bờ vai của ông Thành ngừng rung rẩy. Người thợ cơ khí già chậm rãi xoay người lại.
Gương mặt ông vẫn còn vương những vệt nước mắt làm nhòe đi lớp bụi than, đôi mắt vẫn đỏ hoe, nhưng sự cay nghiệt, đề phòng ban nãy đã hoàn toàn biến mất. Ông không nói một lời trách móc, cũng chưa mở miệng nhận lời sẽ đi Hà Nội ngay.
Thế nhưng, với một cử chỉ vô cùng chậm rãi, nâng niu và run rẩy, ông Thành đưa bàn tay lấm lem dầu mỡ nhặt tờ giấy hẹn khám bệnh trên mặt bàn sắt lên. Ông lật vạt áo bảo hộ bên trong còn sạch sẽ, cẩn thận lau đi một hạt bụi kim loại vừa vô tình rơi trên mặt giấy trắng, rồi gấp nó lại làm tư một cách ngay ngắn, phẳng phiu nhất.
Trước ánh mắt vẫn còn đẫm lệ của Đức Anh, ông Thành lặng lẽ mở chiếc cúc áo bảo hộ sờn chỉ ở bên ngực trái. Ông nhét thật sâu tờ giấy khám bệnh ấy vào chiếc túi áo nằm ngay trên trái tim mình – nơi giấu kín những cơn đau thể xác giằng xé bấy lâu nay, và giờ đây, nơi ấy vừa được thắp lên một tia hy vọng sống mong manh nhưng mãnh liệt.
Kế đó, ông cầm ba tờ tiền một trăm nghìn đồng lên, bước tới đỡ lấy hai bả vai Đức Anh, kéo con trai đứng dậy. Bàn tay thô ráp của ông Thành vỗ nhè nhẹ lên vai con, rồi nhét xấp tiền ấy ngược lại vào ngăn ngoài chiếc ba lô con cóc của anh.
Giọng ông trầm xuống, khàn đặc, nghẹn ngào nhưng ấm áp lạ thường:
"Mày đứng dậy đi... Tiền này... mày cầm lên thủ đô mà lo đóng tiền ăn với tiền sách vở cho tử tế. Chớ có nhịn đói nhịn khát mà sinh bệnh ra đấy. Giấy này... tao giữ. Khi nào thu xếp xong mấy mối hàng tiện với việc đồng áng ngoài bãi... tao sẽ lên."
Chỉ một câu nói mộc mạc, ngắn ngủi và vụng về ấy thôi, nhưng đối với Đức Anh, nó có sức nặng tựa ngàn vàng.
Anh biết, tính cách bố Thành cả đời bảo thủ, tự trọng ngút trời, việc ông chịu nhận tờ giấy hướng dẫn khám bệnh và cất vào túi áo ngực đã là một sự nhượng bộ vĩ đại nhất, một bước ngoặt sinh tử mà ở kiếp trước anh có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được. Bức tường ngăn cách thế hệ đã vỡ vụn. Bố Thành đã chấp nhận mở ra một cánh cửa hy vọng cho sự sống của chính mình.
***
Mười một giờ ba mươi phút trưa, chiếc xe khách 24 chỗ cũ kỹ, hoen gỉ tuyến Ý Yên – Giáp Bát gầm rú nhả từng làn khói đen kịt mù mịt, từ từ lăn bánh rời khỏi bến xe thị trấn huyện nghèo nàn.
Đức Anh ngồi ở hàng ghế sát cửa sổ, hai tay ôm chặt chiếc ba lô con cóc đã bạc màu trước ngực. Bên trong túi áo khoác của anh, ngoài mẩu vỏ thiếc thuốc giảm đau Tramadol 50mg thu nhặt được từ đêm qua, giờ đây còn có thêm một bọc xôi nếp lá chuối nóng hổi thơm mùi hành phi và hai củ khoai lang luộc ngọt lịm mà mẹ Lan đã hớt hải chạy theo xe, dúi vội vào tay anh qua khung cửa sổ khi xe vừa nổ máy.
Áp trán vào tấm kính xe bám đầy bụi đường vàng óng, Đức Anh dõi mắt nhìn ra bên ngoài.
Nơi mép đường cái rợp bóng bạch đàn, bóng dáng gầy guộc của mẹ Lan đứng tựa bên chiếc cột mốc bê tông, chiếc nón lá rách vành vẫy lia lịa cho đến khi chiếc xe khuất dần sau khúc quanh. Và xa hơn một chút, ngay tại ngã ba đường đê dẫn vào con ngõ nhỏ của gia đình, dưới bóng mát của rặng xà cừ cổ thụ, có một bóng người đàn ông mặc chiếc áo bảo hộ màu xanh bạc phếch đang đứng lặng lẽ bên chiếc xe đạp thồ gỉ sét. Người đàn ông ấy không vẫy tay, chỉ đứng im lìm như một pho tượng đá, lặng lẽ dõi theo chiếc xe khách đang chở đứa con trai rời quê hương tiến về phía thủ đô hoa lệ.
Lòng Đức Anh chùng xuống trong một nỗi bồi hồi khôn tả, nhưng tuyệt nhiên không còn là cảm giác bi thương, bế tắc và tuyệt vọng cùng cực như trong ký ức của kiếp sống trước.
Một ngọn lửa ý chí kiên định và mạnh mẽ bùng cháy hừng hực trong lồng ngực anh.
Chỉ trong chưa đầy ba mươi sáu tiếng đồng hồ ngắn ngủi trở về quê nhà, anh đã làm được những điều mà kiếp trước cả đời anh không làm nổi: đập tan âm mưu lừa đảo chiếm đoạt đất đai của ông Quý, xóa sạch món nợ nhục nhã cho cha mẹ, vạch ra hướng đi thoát nghèo cho sạp hàng chợ huyện của mẹ, và trên hết, anh đã gieo được hạt mầm hy vọng sống vào buồng phổi đang lâm bệnh của bố Thành.
Thế nhưng, Đức Anh hiểu rất rõ: cuộc chiến thực sự để xoay chuyển bánh xe số phận nghiệt ngã chỉ mới vừa mới bắt đầu.
Để đưa bố lên Hà Nội nằm viện điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, để có thể chi trả cho những đợt hóa trị, xạ trị hay phẫu thuật tiêu tốn hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng sắp tới, anh không thể chỉ dựa vào mấy đồng tiền lẻ từ việc viết bài PR thuê lặt vặt kiếm mười lăm, hai mươi nghìn đồng trên mạng xã hội. Anh cần tiền. Rất nhiều tiền.
Anh phải nhanh chóng xây dựng một cỗ máy kiếm tiền thực thụ, một doanh nghiệp nội dung số và dịch vụ truyền thông trực tuyến đón đầu làn sóng bùng nổ của mạng xã hội và thương mại điện tử tại Việt Nam. Bằng chính trí tuệ, kinh nghiệm của một người mang ký ức tương lai mười mấy năm sau trở về, anh phải tạo ra một bước nhảy vọt tài chính ngay trong giai đoạn này.
Chiếc xe khách dằn xóc liên hồi qua những đoạn đường Quốc lộ 1A đang trong quá trình nâng cấp, bụi bay mù mịt suốt dọc dải đất Ninh Bình, Hà Nam.
Gần bốn giờ chiều, chuyến xe đường dài ngập ngụa mùi mồ hôi và khói dầu cuối cùng cũng cập bến xe Giáp Bát.
Đức Anh xốc lại chiếc ba lô trên vai, nhanh chóng chen qua dòng người xuôi ngược tấp nập nơi cửa bến, bước nhanh ra trạm xe buýt quen thuộc đón tuyến xe số 32 quay trở về khu vực Ngã Tư Sở.
Không khí Hà Nội đầu hè oi ả, hầm hập hơi nóng bốc lên từ mặt đường nhựa đặc quánh. Tiếng còi xe máy inh ỏi gầm rú, tiếng rao hàng rong lẫn trong nhịp sống hối hả, sục sôi của một đô thị đang chuyển mình dữ dội giữa thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin.
Xuống xe tại điểm dừng đường Trường Chinh, Đức Anh thoăn thoắt rảo bước qua những con ngõ ngoằn ngoèo, chật hẹp của làng Khương Thượng. Mùi ẩm mốc của những khu nhà trọ sinh viên cấp bốn san sát nhau, mùi thức ăn xào nấu thơm lừng từ các căn bếp tạm bốc lên ngột ngạt. Bụi đường đường trường vẫn còn bám một lớp mỏng trắng mờ trên đôi dép rọ nhựa và viền gấu chiếc quần bò đã sờn chỉ của anh.
*Cạch.*
Đức Anh đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ dán ọp ẹp đã tróc sơn của phòng trọ số 3.
Căn phòng nhỏ vỏn vẹn mười hai mét vuông vẫn ngổn ngang sách vở giáo trình, những cuộn dây mạng lòng thòng và mùi mì tôm chua cay quen thuộc. Chiếc quạt tai voi vỏ nhựa màu xanh cũ kỹ đặt trên nóc tủ lạnh mini đang quay tít mù, phả ra những luồng gió nóng ran không đủ xua đi cái oi bức đầu hè.
Bên chiếc bàn máy tính kê sát vách tường ẩm mốc loang lổ, Nguyễn Mạnh Hùng đang ngồi còng lưng, đôi bàn tay mập mạp gõ bàn phím lạch cạch liên hồi như gõ mõ. Vừa nghe thấy tiếng cọt kẹt của chốt cửa, Hùng Béo liền giật bắn mình quay ngoắt lại.
Nhìn thấy bóng dáng Đức Anh bụi bặm bước vào phòng, đôi mắt hí sau cặp kính cận dày cộp của cậu ta bỗng chốc sáng rực lên. Khuôn mặt tròn xoe, bóng nhẫy mồ hôi tràn ngập một vẻ hớt hải xen lẫn phấn khích tột độ.
Cậu ta bật dậy nhanh đến mức làm chiếc ghế gấp bằng gỗ suýt nữa đổ nhào ra phía sau sàn gạch, lao thẳng tới chụp lấy hai bả vai áo còn bám đầy bụi đất của Đức Anh, miệng thở hổn hển, lắp bắp:
"Mày về rồi đấy à Đức Anh? May quá, trời phật ơi, tao ngồi ở phòng ôm cái máy tính từ trưa đến giờ mà sốt hết cả ruột gan! Có biến lớn rồi mày ơi! Biến cực kỳ lớn luôn!"
Đức Anh bình thản đặt chiếc ba lô con cóc xuống mép chiếu cói, rút chiếc khăn mặt vắt trên dây thép lau mồ hôi bết dính trên trán, điềm đạm hỏi:
"Biến gì mà mày cuống cuồng lên thế? Môn Kinh tế lượng chiều mai có lịch thi đột xuất à?"
"Không! Không phải chuyện học hành thi cử trên khoa!" Hùng Béo lắc đầu lia lịa, hai bầu má núng nính mỡ rung rinh vì kích động. Cậu ta nuốt nước bọt đánh ực, vội vàng kéo Đức Anh ngồi xuống mép giường, rồi hạ thấp giọng xuống đầy vẻ bí mật nhưng trong từng hơi thở đều không giấu nổi sự thèm thuồng và căng thẳng: "Vừa nãy, khoảng hơn một tiếng trước thôi, thằng Hoàng Nam 'tech88' bên diễn đàn Tinh Tế gọi điện gấp sang chiếc máy bàn bốt bưu điện đầu ngõ tìm mày! Nó bảo bên mạn Hà Đông có một ông chủ xưởng may gia công thời trang tư nhân, không biết nghe ai mách nước mà đang ôm một lô hàng áo thun mùa hè tồn kho cả mấy nghìn chiếc! Lão ấy đang sốt xình xịch, muốn tìm một đội sinh viên thạo IT dựng gấp một trang web bán hàng đơn giản và bao trọn gói mảng viết bài quảng cáo seeding trên mạng! Thằng Nam bảo bên đấy sẵn sàng chi đậm tiền tươi thóc thật nếu mình làm nhanh và cam kết đẩy ra được đơn hàng thực tế mày ạ!"