Chuyến xe khách về miền ký ức
Mưa xối xả đập vào cửa kính mờ đục của chiếc xe khách tuyến Giáp Bát – Nam Định cũ kỹ, nồng nặc mùi xăng xe, khói thuốc lá và tiếng cãi cọ giá cước giữa nhà xe với hành khách thời bão giá.
Chiếc xe ba mươi chỗ đã rệu rã mang biển kiểm soát Hà Nam Ninh cũ kỹ gầm rú như một con thú già nua đang thở dốc trên Quốc lộ 1A. Mặt đường lồi lõm đầy ổ gà ngập nước, mỗi lần bánh xe sụp xuống hố sâu là cả khoang xe lại chao đảo, lắc lư dữ dội khiến những khớp xương của Đức Anh va đập ê ẩm vào thành ghế kim loại bong tróc lớp nệm mút. Những thanh giằng trần xe run lên bần bật, rên rỉ từng hồi kim loại cọ sát khô khốc, át cả tiếng cần gạt nước bằng cao su đã chai cứng đang quẹt qua quẹt lại những vệt nước nhờ nhờ trên tấm kính chắn gió phía trước.
Không khí bên trong khoang xe đặc quánh, bức bối đến nghẹt thở. Mùi điều hòa mốc meo ngưng tụ qua hàng chục năm trời hòa lẫn mùi nôn ọe chua loét từ chiếc túi ni lông của một người phụ nữ ngồi hàng ghế trước; mùi thuốc lá Thăng Long khét lẹt phả ra từ điếu thuốc cháy dở trên môi gã phụ xe trán dô; và nồng nặc hơn cả là mùi ẩm ướt của hàng chục con người ướt sũng đang chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp. Giữa lối đi hẹp té chỉ vừa một thân người lách qua, nhà xe chèn thêm những chiếc ghế nhựa tròn màu đỏ, nơi hai người đàn ông lam lũ đang ngồi co ro bên cạnh mấy bao tải khoai tây ướt sũng và lồng gà nan tre nhốt dăm con gà mái lông lá xơ xác, run rẩy rỉa cánh.
“Này anh lái! Vừa tuần trước đi từ bến về đến Phủ Lý có hai mươi nhăm nghìn, sao hôm nay lại xé vé ba mươi lăm nghìn? Các anh chém vừa vừa phai phải thôi chứ, bão giá thì bão giá, nông dân chúng tôi đào đâu ra tiền mà tăng một lúc mười nghìn!” Một bác nông dân trạc tuổi bố Thành, mặc chiếc áo mưa rách vai dán băng dính đen, lớn tiếng cự nự khi gã phụ xe thô bạo chìa tập vé nhăn nhúm ra trước mặt.
Gã phụ xe nhổ toẹt một bãi nước bọt qua khe cửa kính hé mở, gắt gỏng:
“Bác không nghe đài báo gì à? Xăng dầu vừa vọt lên mười chín nghìn một lít rồi! Cây xăng bên đường người ta còn xếp hàng tràn cả ra quốc lộ kìa! Vé ba nhăm nghìn là chúng tôi chạy bù lỗ tiền dầu đấy, không đi thì bước xuống giữa đường mà lội mưa về!”
Người nông dân già nghẹn họng, bàn tay gầy gò thọc sâu vào túi áo cánh màu cỏ úa, lần giở từng tờ tiền lẻ nhàu nhĩ vuốt phẳng phiu lại mép gấp rồi run rẩy chìa ra. Những tiếng thở dài thườn thượt, tiếng làu bàu khe khẽ lại rộ lên khắp xe rồi nhanh chóng chìm lỉm vào tiếng máy nổ đục ngầu và tiếng bánh xe cày xới trên mặt đường nhựa bong tróc. Giữa năm 2008, bóng ma lạm phát không chừa một ai. Từ cọng hành, mớ rau ngoài chợ cho đến bát phở, lít xăng, mọi thứ đều như bị cuốn vào một cơn cuồng phong giá cả, đè nặng lên vai những kiếp người nghèo khó.
Đức Anh ngồi ép mình sát khung cửa sổ mờ hơi nước, hai tay ôm chặt chiếc ba lô bạc màu trước ngực. Bên trong ba lô, tờ phiếu dự thi lại môn Kinh tế lượng có chữ ký mực xanh còn tươi của Tiến sĩ Đỗ Quang Minh được anh cẩn thận bọc kín trong chiếc túi ni lông trong suốt, phẳng phiu không một nếp gấp. Nhưng tâm trí anh lúc này hoàn toàn không còn chỗ cho niềm vui vừa thoát khỏi án đình chỉ học tập.
Lòng anh cồn cào như có ai cầm dao cứa từng khúc ruột.
Ký ức của ba mươi tám năm cuộc đời ở kiếp trước ùa về dữ dội, lạnh lẽo và tàn nhẫn hơn cả những giọt mưa giông đang đập chan chát ngoài cửa kính.
Đúng vào thời điểm này của năm 2008, giữa lúc đất nước chao đảo vì lạm phát phi mã, giá nông sản trồi sụt thất thường, bố Thành – người thợ cơ khí cả đời chỉ quen với cờ lê, mỏ lết và những bánh răng gỉ sét – đã bị cuốn vào một cơn ảo vọng làm ăn mù quáng. Bố nghe theo lời rủ rê của một người họ hàng xa tên Quý, người vừa trở về từ một tỉnh biên giới phía Bắc với chiếc áo vest bóng bẩy, điếu thuốc ba số kẹp trên tay và chiếc xe máy Honda Dylan bóng lộn. Quý vẽ ra viễn cảnh về một xưởng xay xát và chế biến gạo công nghiệp quy mô lớn đặt tại ngã ba huyện, hứa hẹn gom lúa giá rẻ của nông dân trong vùng rồi bán thẳng cho các đầu mối xuất khẩu với mức lợi nhuận lên đến năm mươi phần trăm.
Khi ấy, để có đủ ba trăm triệu đồng tiền mặt góp vốn theo tỷ lệ liên doanh, bố Thành đã làm một việc mà cả đời một người đàn ông nguyên tắc, tiết kiệm như ông chưa từng dám nghĩ tới: phá hòm gỗ gia bảo lấy cuốn sổ đỏ của căn nhà cấp bốn đem cắm cho một chủ tiệm cầm đồ kiêm tín dụng đen khét tiếng ngoài phố huyện để vay hai trăm triệu với lãi suất năm phần trăm một tháng; một trăm triệu còn lại, ông cắn răng muối mặt đi gõ cửa từng nhà họ hàng, người quen trong làng để vay mượn danh nghĩa sửa xưởng.
Đức Anh nhắm chặt mắt lại, những ngón tay siết mạnh vào quai ba lô đến mức đốt ngón tay trắng bệch.
Ở kiếp trước, chính vào cái buổi chiều định mệnh này, trong khi bố đang chạy vạy khắp nơi dồn tiền vào canh bạc tử thần ấy, thì Đức Anh hai mươi tuổi lại đang cắm mặt thâu đêm suốt sáng tại quán net Sao Đêm, ngập chìm trong những trận công thành chiến của thế giới ảo. Anh đã tiêu sạch số tiền một triệu tám trăm nghìn mẹ gửi, rồi thậm chí còn trơ trẽn gọi điện về xin thêm tiền sinh hoạt phí với lý do "nộp tiền giáo trình học kỳ mới".
Hậu quả của kiếp trước là gì?
Chỉ vỏn vẹn ba tuần sau khi nhận đủ tiền góp vốn của bố Thành và hàng chục hộ dân nhẹ dạ trong huyện, gã họ hàng tên Quý cùng toàn bộ ban bệ "dự án liên doanh" bỗng nhiên biến mất tăm không một dấu vết. Công an huyện vào cuộc thì phát hiện toàn bộ giấy tờ ủy ban, hợp đồng mua máy xay xát công nghiệp của Nhật Bản đều là con dấu giả mạo.
Cú sốc đó đã bẻ gãy hoàn toàn sống lưng của người đàn ông tự trọng như bố Thành.
Bọn đòi nợ thuê vác dao kiếm, sơn đỏ đến bao vây ngôi nhà cấp bốn, ném chất bẩn vào sạp hàng của mẹ Lan ngoài chợ. Để giữ lại mái nhà cho con trai có chỗ chui ra chui vào khi về quê, bố Thành đã phải cắn răng nhận hết mọi khoản nợ về mình. Ông bán sạch máy tiện, máy hàn trong xưởng, rồi bỏ trốn lên Hà Nội làm thuê chui lủi trong các xưởng cơ khí bãi sông Hồng, hít khói hàn độc hại ròng rã suốt mười năm trời để kiếm từng đồng còm cõi trả lãi. Để rồi khi những cơn ho ra máu biến thành bản án ung thư phổi giai đoạn cuối di căn vào xương, bố nằm quắp queo trên giường bệnh Bạch Mai mà trong túi không có nổi một trăm nghìn mua thuốc giảm đau loại tốt.
“Không... Tuyệt đối không thể để điều đó lặp lại một lần nữa!” Đức Anh lẩm bẩm trong miệng, ánh mắt lóe lên ngọn lửa kiên định đến thấu tận tâm can.
Chiếc xe khách rùng mình phanh một cú dúi dụi. Bánh xe trượt dài trên nền đường trơn trượt rồi tấp vào một khoảng đất trống sũng nước ven ngã ba huyện Ý Yên.
“Ý Yên! Ai xuống Ý Yên thì nhanh chân lên! Trời mưa to lắm, xe không dừng lâu đâu!” Tiếng gã phụ xe gào tướng lên át cả tiếng mưa gió.
Đức Anh xốc lại ba lô, lách qua những bao tải hàng hóa chật chội, bước xuống bậc cửa xe. Đôi giày vải Thượng Đình mòn vẹt của anh vừa chạm xuống mặt đất đã lập tức lún sâu vào lớp bùn nhão nhoét lạnh ngắt.
Trời đã chập choạng tối. Màn sương chiều nhập nhoạng hòa cùng cơn mưa rào đầu hạ giăng mắc một tấm màn mờ mịt bao trùm lấy thị trấn huyện nghèo nàn. Những cột đèn đường quả lê vàng vọt, leo lét cách nhau cả trăm mét chỉ đủ hắt ra những quầng sáng yếu ớt soi rõ những vũng nước đục ngầu loang lổ váng dầu.
Bến xe huyện vắng ngắt, chỉ có vài chiếc xe lôi, xe ba gác đậu nép dưới mái hiên rỉ sét của dãy ki-ốt đóng cửa im ỉm. Đức Anh không gọi xe ôm. Anh kéo sụp chiếc mũ lưỡi trai xuống trán, cắm đầu đi bộ nhanh về phía khu chợ huyện cách đó chừng tám trăm mét.
Nước mưa nhanh chóng ngấm qua lớp áo sơ mi mỏng dính, dán chặt vào da thịt lạnh buốt, nhưng Đức Anh dường như không cảm nhận thấy cái lạnh. Bước chân anh mỗi lúc một dồn dập, giẫm bì bõm qua những vũng nước ngập đến mắt cá chân.
Khu chợ huyện Ý Yên vào giờ tan tầm thời bão giá hiện ra trước mắt anh như một bức tranh ảm đạm, xơ xác.
Đó là một bãi đất rộng lầy lội, ngập ngụa bùn đất và rác rưởi trôi nổi sau cơn mưa: những cọng rau muống úa vàng, vỏ trấu, túi ni lông rách nát dạt vào hai bên rãnh thoát nước lộ thiên bốc mùi xú uế. Mấy tấm bạt dứa xanh đỏ che tạm bợ trên các sạp hàng bị gió giật rách tơi tả, nước mưa đọng thành từng bọc lớn trên mái bạt chốc chốc lại trĩu nặng rồi đổ ụp xuống lối đi một tiếng xoạt lạnh lùng. Hầu hết các quầy bán thịt, cá, rau củ đã dọn sạch từ lâu, chỉ còn lại những phản gỗ trống trơn, ẩm mốc.
Đức Anh bước chậm lại, tim anh như thắt lại từng cơn khi nhìn về phía góc tối nhất của dãy sạp hàng tạp hóa khô nằm sát bức tường bao loang lổ rêu xanh của ban quản lý chợ.
Dưới ánh sáng leo lét của một bóng đèn dây tóc hai mươi lăm oát mờ đục, chao đảo theo từng cơn gió lùa, sạp hàng tạp hóa nhỏ bé của mẹ anh hiện ra cô quạnh đến nhói lòng.
Sạp hàng chỉ rộng chừng bốn mét vuông, được dựng bằng mấy thanh gỗ tạp và lợp mái tôn xi măng fibro cũ kỹ thủng lỗ chỗ. Bên trong, những kệ gỗ ọp ẹp bày lèo tèo vài can dầu ăn loại hai lít, mấy túi bột giặt Vì Dân, dăm chai nước mắm Nam Ngư bám đầy bụi than và những phong kẹo lạc đã chảy nước bì cốt. Giữa tâm bão giá, sức mua của người dân nông thôn cạn kiệt, sạp hàng tạp hóa ế ẩm trơ trọi như một ốc đảo bị bỏ quên.
Và ở giữa góc quầy ẩm thấp ấy, một bóng người phụ nữ nhỏ thó, gầy gò đang ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu bằng nhựa vỡ góc.
Mẹ Lan của anh.
Bà mặc chiếc áo khoác gió màu mận chín đã sờn rách ở cùi chỏ, chiếc nón lá rách vành dựng tạm bên cạnh để hứng dòng nước mưa đang rỉ rả dột từ mép trần tôn xi măng xuống. Đôi bàn tay gầy guộc, nổi đầy những đường gân xanh tím và chằng chịt những vết nứt nẻ vì ngâm nước phù thũng đang run rẩy kẹp chặt một cây bút bi Thiên Long gần cạn mực.
Mẹ đang cắm cúi, đôi mắt cận thị kèm nhèm dí sát vào một cuốn sổ tay bìa cứng kẻ ngang đã ố vàng, quăn mép. Dưới ánh đèn vàng vọt, Đức Anh nhìn thấy rõ những dòng chữ nguệch ngoạc ghi tên từng người trong làng xóm:
*“Bà Tám xóm Ba: 2 lít dầu ăn, 1 cân đường trắng – nợ từ tháng Ba.”* *“Chú Bảy: nửa yến gạo Khang Dân, 3 gói mì tôm – hẹn sau vụ gặt.”* *“Chị Hoa thợ may: 2 gói bột canh, 1 chai mắm – mua chịu...”*
Mẹ Lan vừa dùng đầu ngón tay cái nhấp chút nước bọt để lật giở từng trang sổ nợ, vừa lẩm bẩm tính toán điều gì đó rồi lại thở dài thườn thượt. Chiếc bút bi trên tay bà run rẩy gạch xóa một con số, rồi lại ngập ngừng viết đè lên một con số khác. Cơn bão giá ập đến, các đại lý bán buôn trên tỉnh siết chặt công nợ, bắt mẹ phải thanh toán tiền mặt ngay khi giao hàng, trong khi bà con lối xóm quanh năm trông vào hạt lúa củ khoai lại chẳng có tiền mua, toàn bộ sinh hoạt hằng ngày đều dồn vào cuốn sổ nợ gối đầu của mẹ. Mỗi một trang sổ lật qua là một món nợ không biết bao giờ mới thu hồi được, nhưng mẹ lại chẳng nỡ từ chối bán chịu khi thấy đứa trẻ nhà hàng xóm cầm chiếc bát sứt sang xin đong chịu nửa bò gạo ăn bữa tối.
Nhìn dáng mẹ ngồi co ro, bờ vai gầy rung lên theo từng cơn gió lạnh luồn qua khe bạt, hai mắt Đức Anh nóng bừng, cay xè. Một cục nghẹn ứ ứ nghẽn lại nơi cổ họng khiến anh suýt nữa không thở nổi.
Mười tám năm qua, anh đã từng nghĩ mình bất hạnh, từng đổ lỗi cho số phận, cho hoàn cảnh gia đình nghèo khó khiến mình trượt ngã. Nhưng anh chưa từng một lần đứng từ xa để nhìn cho thật rõ người mẹ tảo tần này đã phải oằn mình gánh vác những gì để chắt chiu từng tờ tiền lẻ năm nghìn, mười nghìn gửi lên thủ đô cho một đứa con bất hiếu tiêu xài hoang phí vào thế giới ảo!
Đức Anh cố nén tiếng nấc nghẹn ngào, anh đưa tay quệt vội giọt nước mắt hòa lẫn nước mưa trên gò má, hít một hơi thật sâu rồi cất bước đi vào dưới mái bạt.
“Mẹ...”
Tiếng gọi khẽ khàng của anh lọt thỏm giữa tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn.
Mẹ Lan giật bắn người, đôi bàn tay gầy gò theo phản xạ tự nhiên lập tức khép vội cuốn sổ nợ lại, nhét vội xuống dưới chiếc làn nhựa đựng tiền lẻ. Cùng lúc đó, bà luống cuống quay người, dùng thân mình che chắn góc quầy hàng bên trong, bàn tay vội vã đẩy một chiếc bát sứ sứt miệng giấu tít vào góc khuất sau những thùng các tông mì tôm Hảo Hảo rách mép.
Nhưng động tác ấy không thể qua mắt được Đức Anh.
Dưới ánh đèn leo lét, anh nhìn thấy rất rõ trong chiếc bát sứt ấy chỉ có một phần cơm nguội khô khốc ngả màu vàng ố, bên trên rắc lèo tèo vài hạt muối vừng và hai khúc cá mắm kho mặn chát quắt queo, lạnh ngắt từ trưa. Giữa trời mưa rét mướt, người mẹ của anh thậm chí không dám bỏ ra năm nghìn đồng mua một gói xôi nóng ngoài cổng chợ, bà nhịn đói nhịn khát ăn cơm nguội để dành dụm từng đồng bạc lẻ gửi cho con trai ăn học!
“Đức... Đức Anh! Con... con về thật đấy à?!” Mẹ Lan ngẩng phắt đầu lên, dụi dụi đôi mắt kèm nhèm đỏ hoe, giọng bà run lên bần bật giữa tiếng mưa gió.
Bà lật đật buông rơi chiếc bút bi xuống cuốn sổ nợ, chiếc ghế nhựa vỡ góc kêu một tiếng két chói tai. Nhìn thấy con trai bằng xương bằng thịt đứng lù lù trước mặt, người ướt sũng như chuột lột, ống quần bò bám đầy bùn đất đỏ quạch, mẹ Lan vừa mừng vừa hoảng loạn, khuôn mặt gầy guộc lập tức tái mét đi vì lo sợ:
“Trời đất ơi! Mưa gió bão bùng ngập lụt thế này mà con lao về thật đấy à?! Lúc nãy nghe con gắt trong bốt điện thoại dọa xé phiếu thi rồi bỏ học, mẹ rụng rời hết cả chân tay, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra ngoài! Mẹ với chú Ba vừa kéo được bố con từ ngoài ủy ban xã cũ về nhà... Bố con hậm hực không chịu nói nửa lời, vừa về đến sân là giam mình trong xưởng. Mẹ để bố ở nhà rồi mới vội chạy ra chợ kéo lại tấm bạt cho sạp hàng, vừa thu dọn vừa ngóng xe khách của con... Mà sao người ngợm lại ướt hết thế này? Con... con không xé phiếu thi thật đấy chứ? Trường lớp trên Hà Nội không có chuyện gì bậy bạ chứ con?!”
Bao nhiêu năm qua, Đức Anh chỉ biết trốn tránh trách nhiệm, mỗi lần gọi điện hay đột ngột về quê giữa tuần đều chỉ mang theo nợ nần, xin tiền hoặc gây ra chuyện tày đình ở trường lớp. Nỗi ám ảnh về sự lông bông, bốc đồng của đứa con trai cả đã ăn sâu vào tiềm thức của người mẹ đến mức dù biết con tức tốc về vì chuyện của bố, phản xạ đầu tiên của bà vẫn là sự thắt thỏm âu lo, sợ anh vì kích động mà bồng bột làm hỏng cả tương lai đại học của chính mình.
Nhìn ánh mắt hốt hoảng, vừa mừng rỡ vừa sợ hãi đến run rẩy của mẹ, trái tim Đức Anh như bị bóp nghẹt, cay đắng đến vỡ vụn. Anh bước tới một bước, bất chấp nước mưa và bùn đất bắn tung tóe, dang hai cánh tay ôm chặt lấy bờ vai gầy guộc, ướt lạnh của mẹ.
“Không sao đâu mẹ... Con không xé phiếu thi, cũng không bị đuổi học đâu.” Giọng Đức Anh nghẹn ngào, rung lên từng chặp bên tai mẹ, hai mắt cay xè. “Tiểu luận của con xong xuôi cả rồi, thầy trưởng bộ môn chấm chín phẩy không và ký giấy đặc cách cho con thi lại đàng hoàng. Mẹ với chú Ba can được bố về nhà an toàn là tốt rồi... Con về để cùng mẹ lo liệu, con không để bố làm liều đâu mẹ ơi.”
Mẹ Lan sững sờ. Đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ chằng chịt vết chai của bà buông thõng giữa không trung một thoáng, rồi chầm chậm, rụt rè đặt lên lưng con trai. Cảm nhận được hơi ấm và nhịp tim đập dồn dập, vững chãi của đứa con cả, sống mũi bà cay xè, một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực. Nhưng rồi sự nhạy cảm của người mẹ lại khiến bà nhận ra chiếc áo sơ mi của Đức Anh đã ngấm nước mưa lạnh ngắt.
Bà vội vã đẩy nhẹ con trai ra, quệt vội giọt nước nơi khóe mắt, giọng trách móc nhưng chứa chan sự xót xa:
“Cái thằng này... Lớn tướng rồi mà vẫn như trẻ con! Mưa gió thế này không biết mua cái áo mưa giấy mà mặc vào! Ướt hết thế này tí nữa về cảm lạnh thì làm sao? Nào, cởi cái ba lô ra, để mẹ lấy cái bao tải sạch che tạm lên đầu!”
“Con không sao đâu mẹ, con trai thanh niên khỏe như trâu, mưa gió tí bõ bèn gì.” Đức Anh cười, nụ cười rạng rỡ nhất từ sau khi trọng sinh, nhưng khóe mắt anh thì đỏ hoe.
Anh nhanh nhẹn tháo ba lô treo lên chiếc đinh sắt khô ráo trên cột gỗ, rồi xắn tay áo lên quá khuỷu tay:
“Trời tối hẳn rồi, chợ cũng tan hết, mẹ để con dọn nốt sạp hàng giúp mẹ. Nay dọn nhanh rồi hai mẹ con mình về nhà thôi mẹ, kẻo để bố ở nhà một mình lại sinh chuyện.”
“Ơ... ơ, để mẹ làm cho, tay con tay chữ tay nghĩa, dính bùn dính dầu bẩn hết...” Mẹ Lan lúng túng can ngăn, nhưng Đức Anh đã thoăn thoắt bê từng thùng hàng xếp gọn vào góc.
Anh nhấc những thùng các tông nặng trịch một cách dễ dàng, cẩn thận kéo tấm bạt nilon dày phủ kín các kệ hàng để tránh nước mưa hắt vào ban đêm, rồi dùng dây thừng buộc chặt lại. Từng động tác của anh thuần thục, nhanh nhẹn và đầy trách nhiệm, hoàn toàn không còn dáng vẻ của một cậu ấm lười nhác, ích kỷ kiếp trước chỉ biết đứng chống nạnh chê sạp hàng của mẹ bẩn thỉu hôi hám.
Nhìn con trai thoăn thoắt dọn dẹp, ánh mắt mẹ Lan ngập tràn sự kinh ngạc xen lẫn một niềm an ủi vô bờ. Bà lặng lẽ kéo góc áo lau đi những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, rồi cúi xuống nhét vội chiếc bát sứt ăn dở cơm nguội vào chiếc làn nhựa, khéo léo lấy chiếc khăn mặt che kín lại như sợ con trai nhìn thấy sẽ đau lòng.
Hai mẹ con cùng nhau đẩy chiếc xe cút kít chở những bao hàng khô nặng nhất về hướng xóm trại ven ngoại thành.
Cơn mưa giông đã bắt đầu ngớt, chỉ còn lại những hạt mưa phùn li ti giăng mắc trong không khí lạnh ẩm. Đường làng ngoại thành Ý Yên những năm 2008 chưa được đổ bê tông, toàn là đường đất thịt trộn sỏi đá. Sau trận mưa lớn, mặt đường biến thành một bãi lầy nhão nhoét, trơn như đổ mỡ. Đức Anh đi trước, hai tay gồng lên giữ chặt càng xe cút kít, đôi chân bám chặt vào mặt đất gồ ghề, từng bước kéo chiếc xe vượt qua những con dốc trơn trượt. Mẹ Lan đi bên cạnh, một tay cầm chiếc đèn pin con thỏ ánh sáng lờ mờ soi đường cho con, một tay thỉnh thoảng lại vươn ra đẩy phụ vào thành xe, miệng không ngừng dặn dò:
“Đi từ từ thôi con, cẩn thận trượt ngã đấy... Đoạn này nhiều ổ gà lắm...”
Đi bộ hơn hai cây số trong bóng đêm lầy lội, cuối cùng rặng tre đầu ngõ nhà anh cũng hiện ra mờ ảo trong sương đêm.
Ngôi nhà cấp bốn mái ngói ta rêu phong của gia đình Đức Anh nằm lọt thỏm giữa một khu vườn tạp nhỏ ở ven thị trấn. Ngôi nhà này do chính tay bố Thành và ông nội xây dựng từ những năm chín mươi, tường vôi quét màu vàng đã tróc từng mảng lớn để lộ ra những hàng gạch chỉ đỏ sẫm. Mái ngói xô lệch sau bao mùa mưa bão, nơi mép bờ hiên rêu xanh phủ kín một lớp dày ẩm ướt.
Dưới ánh đèn hiên vàng vọt mờ ảo, chiếc xe máy Simson màu đỏ sẫm tróc sơn cũ kỹ của bố Thành đang dựng chỏng chơ bên góc sân gạch. Chiếc xe này bố mua lại từ hồi đi làm thợ cơ khí bên Đức về, tuổi đời của nó có khi còn nhiều hơn cả tuổi của Đức Anh. Khắp nan hoa và lốc máy chiếc Simson bám đầy bùn đất đỏ quạch, chứng tỏ bố vừa mới đi một quãng đường rất xa về.
Bên cạnh hiên nhà là xưởng cơ khí nhỏ của bố – thực chất chỉ là một khoảng sân được lợp mái tôn xi măng tạm bợ.
Một mùi hương quen thuộc đến nhói lòng xộc thẳng vào cánh mũi Đức Anh: mùi ngai ngái của dầu luyn cặn, mùi khét nồng đặc trưng của xỉ hàn sắt, và mùi kim loại ẩm mốc. Xưởng cơ khí bừa bộn ngổn ngang những chiếc máy bơm nước nông nghiệp hiệu Bảo Long tháo dở ruột gan, những chiếc máy tuốt lúa liên hoàn han gỉ nằm chỏng chơ chờ linh kiện thay thế. Giữa tâm bão giá, giá sắt thép và phụ tùng tăng vọt gấp rưỡi, người nông dân quanh vùng gặt lúa xong không có tiền trả công sửa chữa, đành để máy móc nằm đắp chiếu rải rác khắp góc sân; còn bố Thành thì không có vốn để nhập sẵn phụ tùng mới về thay thế.
“Bố mày về từ lúc chập tối rồi đấy, vừa về đến nơi là lại chui vào xưởng cắm cúi gõ đục đến tận bây giờ...” Mẹ Lan khẽ thở dài, hạ giọng nói nhỏ với Đức Anh, trong mắt ánh lên nỗi âu lo trĩu nặng.
Đức Anh dừng chiếc xe cút kít bên hiên, đưa mắt nhìn vào gian xưởng tối om.
Chiếc bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng trên bàn thợ đung đưa nhè nhẹ. Đức Anh bước lại gần bàn thợ cơ khí bằng gỗ lim dày cộp đã đen bóng vì dầu mỡ. Trên mặt bàn bừa bộn những mỏ lết, kìm bấm, cờ lê và những con ốc vít rỉ sét nằm rải rác. Khi đưa tay với lấy chiếc giẻ lau khô treo trên vách để lau bùn đất trên người, mắt anh vô tình va vào ngăn kéo bàn thợ đang hé mở một nửa.
Bên trong góc ngăn kéo tối tăm, bên cạnh cuốn sổ ghi chép kích thước trục máy tiện, là ba vỉ thuốc giảm đau hạ sốt loại mạnh màu đỏ vàng đã bị bóc dở hơn nửa, nằm lăn lóc bên cạnh một chiếc khăn mùi xoa màu cháo lòng vò nát.
Đức Anh khẽ nín thở, run rẩy đưa tay nhấc chiếc khăn mùi xoa lên.
Ở mép chiếc khăn bông sờn rách, một vệt đờm sẫm màu đã khô quắt lại, để lại một vệt ố màu nâu đỏ tanh nồng của máu tươi!
Trái tim Đức Anh như bị bóp nghẹt, máu trong người anh như đông cứng lại thành băng.
Đúng là nó rồi! Bản án tử thần của kiếp trước! Những cơn ho khan âm ỉ do bụi sắt và khói hàn tích tụ trong phổi suốt mấy chục năm qua đã bắt đầu phát tác dữ dội. Bố đã bắt đầu ho ra máu tươi, nhưng vì tiếc tiền, vì sợ tốn kém viện phí, và hơn hết là vì muốn dồn từng đồng còm cõi cho con trai ăn học và gom vốn làm ăn, người đàn ông ấy đã cắn răng chịu đựng những cơn đau xé ngực, lén lút mua những viên thuốc giảm đau rẻ tiền ngoài hiệu thuốc huyện về uống cầm chừng để tiếp tục lao động!
Đức Anh nắm chặt chiếc khăn trong lòng bàn tay, các khớp ngón tay run lên bần bật. Một cảm giác cay đắng tột cùng và nỗi căm ghét chính bản thân mình ở kiếp trước trào dâng nghẹn ứ nơi lồng ngực.
“Về rồi đấy à?”
Một giọng nói trầm đục, khô khốc và cộc cằn bất thần vang lên từ phía cửa bếp, cắt ngang dòng suy nghĩ của anh.
Đức Anh giật mình quay lại, nhanh tay nhét chiếc khăn và vỉ thuốc trở lại ngăn kéo, khép chặt lại.
Bố Thành đang đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ bức bàn. Ông mặc chiếc áo bay bộ đội bạc phếch đã sờn rách ở cổ áo, chiếc quần âu màu cỏ úa xắn cao đến tận đầu gối để lộ đôi bắp chân gầy guộc nhưng săn chắc, chằng chịt những vết sẹo bỏng do xỉ hàn bắn vào qua năm tháng. Đôi bàn tay của ông to bản, thô ráp, những kẽ móng tay cáu bẩn một màu đen kịt của dầu máy dù đã được kỳ cọ bằng xà phòng bột. Khuôn mặt người thợ năm mươi mốt tuổi hằn sâu những nếp nhăn khắc khổ, đôi gò má nhô cao hốc hác, và đôi mắt sâu hoắm ánh lên vẻ nghiêm nghị, sắt đá của một người đàn ông cả đời gánh vác gia đình trên vai nhưng chưa bao giờ biết nói một lời dịu dàng.
“Bố...” Đức Anh khẽ cất tiếng gọi.
Bố Thành không đáp lại lời chào của con trai. Ông nhìn chằm chằm vào đôi giày vải ướt sũng bùn đất của Đức Anh, rồi quét ánh mắt sắc như dao cạo qua chiếc ba lô căng phồng treo bên cột hiên. Lông mày ông nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán.
“Rửa ráy chân tay rồi vào ăn cơm. Cả nhà đang chờ.” Bố buông thõng một câu cộc lốc rồi quay lưng bước thẳng vào trong gian nhà chính.
Bữa cơm tối đạm bạc được dọn ra trên chiếc mâm nhôm sứt viền đặt giữa tấm phản gỗ xoan đào đã ngả màu đen bóng.
Ngọn đèn tuýp neon sáu mươi phân trên tường chớp nháy mấy cái rồi tỏa ra thứ ánh sáng trắng nhờ nhợ, lạnh lẽo soi rõ mâm cơm thời bão giá của gia đình: một đĩa rau muống luộc ngả màu vàng úa vì hái vội ngoài vườn sau mưa, một bát nước luộc rau trong veo vắt nửa quả chanh leo lét vài giọt mỡ, một đĩa đậu phụ rán bốn bìa bị cắt nhỏ teo tóp, và một bát mắm tép tép chua chưng với mỡ lợn cay nồng sặc mùi ớt hiểm.
Không gian trong gian nhà cấp bốn im lặng như tờ, chỉ có tiếng mưa phùn rả rích ngoài hiên và tiếng quạt cóc con kêu rè rè trên chiếc chõng tre góc nhà. Không khí gượng gạo, ngột ngạt đến mức nghe rõ cả tiếng nuốt nước bọt của mẹ Lan.
Đức Anh ngồi xếp bằng trên chiếu cói rách mép, bưng bát cơm trắng nóng hổi trên tay mà lòng nặng trĩu.
Bố Thành ngồi đối diện anh, lưng thẳng tắp như một người lính già. Bàn tay chai sạn cầm đôi đũa tre so đi so lại mấy lần trên miệng bát. Ông không nhìn thẳng vào mặt Đức Anh, nhưng bàn tay gầy guộc ấy lại bất ngờ vươn ra giữa mâm, gắp miếng đậu phụ rán to nhất, vàng đều nhất trong đĩa thả gọn ghẽ vào trong bát cơm của con trai.
Hành động ấm áp ấy diễn ra trong chớp mắt, nhưng ngay sau đó, giọng nói của bố lại cất lên, cộc cằn, gay gắt và đầy vẻ nghi kỵ:
“Đang giữa tuần, trường lớp không học mà lại mò mặt về quê làm cái gì? Đừng có bảo với tao là lại tiêu sạch tiền ăn với tiền trọ của tháng này rồi đấy nhé?”
Đức Anh sững người, ngước mắt nhìn bố.
Bố Thành và một miếng cơm trắng vào miệng, nhai trệu trạo rồi tiếp tục dằn từng tiếng, giọng nói thô ráp như hai thanh kim loại ma sát vào nhau:
“Tao nói cho anh biết trước: Nhà này bây giờ không có tiền cho anh đốt vào mấy cái quán trò chơi điện tử hay bao bạn bè ăn nhậu đâu! Giá gạo ngoài chợ đã vọt lên mười mấy nghìn một cân, tiền điện tiền nước tháng nào cũng tăng. Mẹ anh ngày nào cũng phải dầm mưa dãi nắng ngoài chợ huyện từ bốn giờ sáng kiếm từng đồng bạc lẻ, còn tao thì cày mặt ngoài xưởng đến mười một giờ đêm! Nếu anh không học được cho tử tế, không chịu thương chịu khó lấy cái bằng đại học để sau này thoát cái kiếp làm thợ cơ khí chân lấm tay bùn này, thì ngày mai cuốn gói ra khỏi nhà đi làm phụ hồ kiếm cơm, đừng có về đây làm khổ bố mẹ nữa!”
Từng lời nói của bố như những nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ. Nếu là Đức Anh của kiếp trước, với cái tính bốc đồng, tự ái và nông nổi của một gã thanh niên hai mươi tuổi hư hỏng, anh nhất định sẽ lập tức buông đũa, đứng bật dậy cãi tay đôi với bố, trách móc bố độc đoán, bảo thủ, không bao giờ chịu hiểu cho con cái, rồi hậm hực bỏ bữa ra ngoài đường.
Nhưng lúc này, người đang ngồi trước mâm cơm là một Đức Anh mang linh hồn của người đàn ông ba mươi tám tuổi từng trải qua biết bao cay đắng, nợ nần và đổ vỡ của cuộc đời.
Anh nhìn thấy rõ đằng sau vẻ cộc cằn, thô lỗ ấy là một sự bất an tột cùng của một người chủ gia đình đang cảm thấy bất lực trước vòng xoáy nghiệt ngã của cơm áo gạo tiền. Anh nhìn thấy khóe mắt bố trũng sâu vì mất ngủ, nhìn thấy ngực bố thỉnh thoảng lại khẽ giật lên vì cố nén một cơn ho dữ dội đang chực trào lên cuống họng. Bố nghi ngờ anh, bố mắng mỏ anh, nhưng miếng thức ăn ngon nhất trong mâm cơm đạm bạc này, bố vẫn dành trọn vẹn cho anh.
Mẹ Lan ngồi bên cạnh hoảng hốt, sợ hai bố con lại bùng nổ cãi vã như mọi bận, vội vã đặt bát cơm xuống xua tay can ngăn:
“Kìa ông! Con nó vừa mới chân ướt chân ráo đi xe khách từ Hà Nội về, đói lả cả người ra đấy, ông chưa gì đã tra khảo, mắng mỏ nó thế! Thằng Đức Anh nó bảo đợt này nó làm bài tiểu luận tốt lắm, được thầy giáo khen...”
“Tiểu luận với chẳng tiểu lèo!” Bố Thành gắt lên, cắt ngang lời vợ, nhưng ánh mắt lén liếc nhìn con trai một cái rồi nhanh chóng dời đi chỗ khác. “Thầy giáo khen mà phải trốn về quê giữa chiều mưa gió thế này à? Tao còn lạ gì cái tính lông bông của nó!”
Đức Anh không thanh minh một lời nào. Anh cẩn thận đặt đôi đũa xuống mép mâm, rồi kéo chiếc ba lô lại gần. Đôi bàn tay anh nhẹ nhàng kéo khóa ba lô, lấy ra chiếc túi ni lông trong suốt, rút ra tờ phiếu dự thi lại có dấu đỏ tươi cùng chữ ký mực xanh ngay ngắn của Tiến sĩ Đỗ Quang Minh, cung kính đặt lên mặt mâm nhôm trước mặt bố Thành.
“Bố, mẹ... Con về hôm nay không phải để xin tiền, cũng không phải vì bị đuổi học hay nợ nần.” Đức Anh điềm đạm nói, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt thâm quầng của bố, giọng nói trầm ấm và kiên định đến lạ kỳ. “Đây là phiếu dự thi lại chính thức của con. Con đã nộp đủ học phí kỳ hai, đã hoàn thành bài khảo sát thực địa mười trang viết tay về lạm phát giá cả và được thầy trưởng bộ môn chấm điểm chín phẩy không. Con được đặc cách thi lại, và con cam kết với bố mẹ, con sẽ thi đỗ toàn bộ các môn còn nợ bằng chính năng lực thật của mình!”
Bố Thành sững sờ. Đôi đũa tre trên tay ông khẽ run lên.
Ông chầm chậm cúi đầu xuống, đôi bàn tay thô ráp, nhem nhuốc dầu luyn ngập ngừng đưa ra, cẩn thận nâng tờ phiếu dự thi lên dưới ánh đèn tuýp. Đôi mắt kèm nhèm của người thợ già quét chầm chậm qua từng dòng chữ in hoa, dừng lại thật lâu ở con dấu mộc đỏ chót của trường Đại học Thương mại và chữ ký dứt khoát của vị tiến sĩ kinh tế.
Đức Anh nhìn thấy yết hầu của bố chuyển động lên xuống liên tục, khóe môi thâm xì của ông khẽ giật giật. Cả đời ông Thành chưa từng học đại học, chữ nghĩa chỉ đủ để đọc bản vẽ cơ khí và viết giấy biên nhận sửa máy, nhưng ông tôn sùng sự học hơn bất cứ thứ gì trên đời. Con dấu đỏ của trường đại học đối với ông thiêng liêng và quý giá hơn ngàn vạn lời thề thốt.
Một sự im lặng ngỡ ngàng bao trùm lên gian nhà. Mẹ Lan xúc động đưa vạt áo lên chấm nước mắt, miệng không ngừng lẩm bẩm: “Tốt quá rồi... Đội ơn trời phật, tổ tiên phù hộ...”
Bố Thành đặt tờ phiếu dự thi xuống mặt mâm một cách vô cùng cẩn trọng, như sợ làm rách lớp giấy mỏng manh. Ông hắng giọng một tiếng thật mạnh để che giấu sự xúc động đang cuộn trào trong đáy mắt, nhưng khuôn mặt vẫn cố giữ vẻ sắt đá:
“Biết đường lo học hành cho đàng hoàng là tốt. Đừng có tưởng được một điểm chín mà đã vội vểnh râu lên kiêu ngạo! Chừng nào cầm được cái bằng tốt nghiệp loại khá trở lên về đây thì hẵng to mồm!”
Nói đoạn, ông lại gắp thêm một miếng đậu phụ nữa vào bát Đức Anh, cộc cằn quát khẽ:
“Ăn nhanh đi cho nóng! Cơm canh nguội ngắt hết cả rồi kìa!”
Đức Anh khẽ mỉm cười, bưng bát cơm lên và miếng cơm trắng ngòn ngọt vào miệng. Chưa bao giờ anh cảm thấy một bát cơm đạm bạc chỉ có rau muống luộc và đậu phụ lại ngon và ấm áp đến nhường này.
Đúng lúc bầu không khí gia đình vừa mới chớm hé mở một tia ấm áp hiếm hoi sau bao năm tháng đóng băng, thì ngoài đầu ngõ bỗng vang lên tiếng nổ bành bạnh, chói tai của một chiếc xe máy phân khối lớn.
Tiếng máy xe gầm rú xé toang màn đêm tĩnh mịch của làng quê, rồi tiếng phanh xe rít lên ken két ngoài cổng sắt. Ánh đèn pha xe máy cực sáng quét qua khung cửa sổ gian nhà chính, rọi thẳng vào mâm cơm đang ăn dở.
Ngay sau đó là tiếng bước chân thình thịch xéo qua vũng bùn lầy ngoài sân gạch, kèm theo tiếng gọi giục giã, the thé của một người đàn ông trung niên xộc thẳng vào trong hiên:
“Anh Thành ơi! Anh Thành có nhà không đấy?! Mau ra đây em bảo cái này gấp lắm! Tiện thể mang luôn cuốn sổ đỏ với tập tiền hôm nọ ra đây ký giấy nợ họ hàng cho kịp chuyến xe đêm lên tỉnh nào!”