Tấm bằng đại học cho mẹ
Hoàn tất những thủ tục giấy tờ cuối cùng tại phòng Đào tạo sau buổi lễ bế giảng hôm trước, cầm trên tay tấm bìa đỏ chứng nhận tốt nghiệp còn thơm nồng mùi mực in và keo dán công nghiệp, Đức Anh lập tức rảo bước ra khỏi cổng trường, bắt chuyến xe buýt ngắn để kịp chuyến xe khách sớm nhất rời bến Giáp Bát xuôi về ngoại thành Nam Định.
Bến xe Giáp Bát những ngày giáp Tết dương lịch năm 2010 chìm trong bầu không khí đặc quánh của khói dầu diesel, bụi đường và hơi ẩm của những đợt gió mùa đông bắc tràn về từng chặng. Tiếng loa phóng thanh rè rè thông báo các chuyến xe về Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa xen lẫn tiếng quát tháo của cánh phụ xe giành khách tạo nên một bức tranh hỗn độn, ngột ngạt quen thuộc. Đức Anh lách qua những gánh hàng rong bốc khói nghi ngút ngô nếp luộc, bánh mì pa-tê cay nồng mùi hạt tiêu, leo lên chiếc xe khách 29 chỗ chạy tuyến Giáp Bát về Ý Yên.
Chuyến xe buổi trưa muộn vắng khách hơn lệ thường. Đức Anh chọn một ghế sát ô cửa kính dính bết bụi đất và những vệt nước mưa chưa kịp khô. Anh cẩn thận ôm chặt chiếc cặp da màu nâu sẫm trên đùi. Bên trong chiếc cặp ấy, tấm bằng Cử nhân Kinh tế loại Giỏi mang tên Phạm Đức Anh được anh bọc kỹ trong hai lớp túi nilon chống ẩm trong suốt, phẳng phiu không một nếp gập. Mỗi lần ngón tay chạm vào mép gờ cộm lên của tấm bìa cứng qua lớp vải bạt mỏng, lồng ngực anh lại co thắt từng cơn, một thứ cảm giác bồi hồi đến nghẹt thở như có ai bóp chặt lấy cuống tim.
Chiếc xe gầm rú, rùng mình rồi từ từ lăn bánh, hòa vào dòng xe cộ ken đặc xuôi theo đường Giải Phóng rồi mở tốc độ khi ra đến Quốc lộ 1A cũ. Bên ngoài cửa sổ, cảnh vật mùa đông vùng đồng bằng Bắc Bộ trôi qua êm ả, bảng lảng dưới vòm trời xám đục như một dải lụa bạc phếch. Những cánh đồng trơ gốc rạ xám xịt sau vụ gặt tháng mười, vài cánh cò cô độc chao lượn trên nền đất ướt, những rặng chuối tiêu xơ xác rách tơi bời vì gió bấc, và dòng sông Đáy đỏ quạnh lững lờ chở nặng từng vạt phù sa đỏ thẫm.
Mỗi cột mốc cây số lướt qua ngoài ô kính lại như gõ một nhịp buốt nhói vào tâm khảm Đức Anh. Mười tám năm ròng rã của kiếp trước, tấm bằng này đối với anh là một ảo ảnh hoang đường, một vết thương mưng mủ không bao giờ có cơ hội liền sẹo. Ở kiếp sống lầm lạc cũ, đúng vào những ngày tháng này của năm 2010, anh đã là một kẻ bại hoại nhân cách, một phế nhân tự chôn vùi tương lai trong những tiệm net ngập tràn khói thuốc lá Thăng Long và tiếng chửi thề bạt mạng bên các trận công thành chiến của *Võ Lâm Truyền Kỳ*. Anh nhớ như in cái cảm giác trốn chui trốn lủi khi bị nhà trường gửi giấy báo buộc thôi học về tận chính quyền xã, nhớ ánh mắt tuyệt vọng đến cùng cực của mẹ khi phải oằn lưng gánh từng đồng lãi cắt cổ của đám chủ nợ ngoài chợ huyện, và cay đắng hơn cả là hình ảnh người cha nằm thoi thóp trên chiếc giường tre ọp ẹp, nhắm mắt xuôi tay trong nỗi uất hận tột cùng vì đứa con trai duy nhất không thể thành người.
Những ký ức ấy từng là bóng ma ám ảnh từng đêm ngủ của Đức Anh suốt gần hai thập kỷ lang bạt làm thuê làm mướn, chịu đựng một cuộc hôn nhân đổ vỡ, rồi chết dần chết mòn trong cô độc cho đến tận năm 2026.
Nhưng giờ đây, sức nặng của tấm bìa cứng cộm lên trên đùi anh là có thật. Hơi ấm từ lồng ngực anh truyền qua lớp áo khoác gió mỏng sưởi ấm góc bìa mạ vàng là có thật. Bánh xe định mệnh đã thực sự bị bẻ ngoặt nhờ hai năm ròng rã anh vắt kiệt từng giọt mồ hôi, thức trắng hàng trăm đêm bên ánh đèn bàn học và màn hình máy tính cũ kỹ để làm lại cuộc đời.
Xe chạy qua cầu Đò Quan, rẽ vào con đường liên huyện rồi từ từ giảm tốc, dừng lại bên ngã ba đê quen thuộc của huyện Ý Yên. Đức Anh xốc lại ba lô, ôm chặt chiếc cặp da trước ngực rồi nhảy xuống nền đất ẩm.
Gió từ mặt đê thổi thốc vào mặt anh một luồng khí lạnh buốt nhưng ngọt ngào đến kỳ lạ. Anh hít một hơi thật sâu, đón lấy mùi phù sa ngai ngái, mùi bùn đất ẩm ướt và hương khói rơm rạ đốt đồng còn vương vất trong không gian tĩnh mịch của làng quê. Những thanh âm quen thuộc của chốn thôn dã dội vào thính giác: tiếng gà gáy trưa lẻ loi vẳng lại từ xóm ngoài, tiếng máy tuốt lúa chạy dầu xa xa, tiếng lạch cạch của nan hoa xe đạp trên con đường bê tông nhỏ.
Đức Anh rảo bước thật nhanh, đôi giày thể thao gõ nhịp vội vã men theo bờ mương dẫn vào xóm Cầu. Căn nhà cấp bốn ba gian mái ngói rêu phong nằm nép mình sau rặng dâm bụt đỏ rực quen thuộc hiện ra trước mắt. Trên mái bếp lợp ngói fip-rô xi măng phía sau, một làn khói lam chiều bảng lảng bốc lên, hòa quyện vào tán cây nhãn cổ thụ đầu hồi.
Anh đẩy nhẹ cánh cổng sắt hoen gỉ. Tiếng bản lề rít lên một chuỗi âm thanh ken két khô khốc quen thuộc. Dưới gốc xoài già cạnh bể nước mưa, con mực già lười biếng nhổm dậy, nhận ra hơi người quen liền vẫy đuôi rối rít, phát ra những tiếng ăng ẳng mừng rỡ trong họng.
Bà Lan đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ xoan sát thềm giếng, hí hoáy nhặt rổ rau muống bè cho bữa cơm trưa muộn. Chiếc tạp dề may bằng vải hoa đã bạc màu quấn quanh hông, mái tóc hoa râm búi vội sau gáy để lộ những sợi tóc mai lòa xòa ướt đẫm mồ hôi dù tiết trời đang vào đợt rét ngọt. Nghe tiếng cánh cổng sắt va vào nhau và tiếng bước chân gấp gáp trên nền gạch đỏ rêu phong, bà giật mình ngẩng đầu lên, tay vẫn còn cầm mấy cọng rau xanh mướt ngập nước.
"Đức Anh? Kìa con... mẹ tưởng trên trường còn nhiều thủ tục giấy tờ, phải chiều tối mai con mới về được chứ?" Bà Lan ngơ ngác, toan chống tay vào đầu gối đứng dậy nhưng khớp xương thoái hóa khiến bà khựng lại một nhịp, gương mặt thoáng nét nhăn nhó vì đau.
Đức Anh không trả lời ngay. Nhìn thấy dáng hình còng còng của mẹ, chiếc áo len sờn rách ở cùi chỏ và đôi bàn chân trần nứt nẻ kẹp trong đôi dép tổ ong cũ mòn vẹt gót, sống mũi anh cay xè. Anh bước những bước dài qua khoảnh sân gạch, đi thẳng tới trước mặt mẹ. Không màng đến bùn đất ẩm ướt dưới thềm giếng, Đức Anh quỳ hẳn một bên gối xuống nền gạch lạnh, hai bàn tay run rẩy kéo khóa chiếc cặp da.
Anh cẩn thận rút tấm bìa da màu đỏ thắm, dòng chữ mạ vàng lấp lánh dưới ánh sáng ban trưa mờ đục, rồi dùng cả hai tay nâng niu đặt trọn vào lòng bàn tay ướt nước của mẹ.
"Mẹ... con mang bằng về nhà mình rồi đây. Hôm qua ở trường đông người quá, nay con mang bằng về tận tay mẹ để bố con mình làm lễ tạ ơn tổ tiên."
Giọng anh nghẹn đặc lại, từng âm tiết bật ra từ đáy họng như vỡ vụn trong sự xúc động khôn cùng.
Bà Lan sững lại một thoáng, nhìn trân trân vào tấm bìa đỏ rực vừa đặt vào tay mình. Bất chợt, bà giật mình nhận ra ngón tay mình còn dính đầy bùn đất từ rễ rau muống bè. Bà cuống cuồng, hoảng hốt rụt tay lại, chà mạnh hai bàn tay nứt nẻ, thô ráp vào vạt tạp dề trước bụng cho thật khô ráo, sợ vấy bẩn lên màu đỏ tươi mới của tấm bìa. Xong xuôi, bà mới dám run rẩy đón lấy, đưa những ngón tay gầy guộc chạm vào bề mặt giả da dập nổi dòng chữ thếp vàng: *CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM – BẰNG CỬ NHÂN*.
"Về... về đến nhà mình thật rồi con ơi," giọng bà Lan lạc hẳn đi, run rẩy trong niềm xúc động trào dâng.
Dù hôm trước đã cùng chồng lên tận giảng đường Hà Nội dự lễ bế giảng, nhưng khi đón tấm bằng trở về với mái nhà tranh nghèo nơi thôn dã, bà vẫn run rẩy mở tấm bìa cứng ra để ngắm nhìn lại lần nữa. Bức ảnh thẻ ba-bốn nghiêm trang của con trai đập vào mắt bà: chiếc áo sơ mi trắng tinh, mái tóc cắt ngắn gọn gàng, ánh mắt sáng ngời cương nghị. Phía dưới tên Phạm Đức Anh là dòng chữ in đậm mực đen rõ ràng: "Loại: Giỏi", đóng kèm con dấu tròn đỏ chót của Trường Đại học Thương mại cùng chữ ký tươi của thầy Hiệu trưởng.
Bao nhiêu năm dồn nén, bao nhiêu nhục nhã ê chề khi phải cúi đầu nghe những lời xì xào độc địa của họ hàng làng xóm rằng "thằng Đức Anh trên Hà Nội chơi bời lêu lổng, cờ bạc nợ nần, kiểu gì cũng bị đuổi học về cày ruộng", bao nhiêu đêm thức trắng khóc thầm bên ngọn đèn dầu lo con mình lầm đường lạc lối... Giờ đây, khi tấm bằng đại học đã thực sự theo chân con về tới ngưỡng cửa gia đình, tất cả bỗng vỡ òa thành một tiếng nấc nghẹn ngào từ lồng ngực người mẹ.
Bà Lan buông tấm bằng vào lòng, dang rộng hai cánh tay gầy guộc ôm chầm lấy đầu con trai mà khóc nức nở. Nước mắt người mẹ rơi lã chã xuống vai áo Đức Anh, từng giọt nóng hổi thấm qua lớp vải dù, mặn chát và bỏng rát.
"Trời phật phù hộ... Tổ tiên có linh thiêng phù hộ... Con tôi mang được tấm bằng về rạng danh tổ tông rồi! Đức Anh ơi, con tôi mang bằng cử nhân về đến nhà rồi ông ơi..."
Bà siết chặt con vào lòng, đôi bàn tay chằng chịt những vết chai sần vì sương gió cứ xoa mãi lên lưng, lên gáy anh như muốn nắn bóp từng thớ thịt để tin chắc rằng đây không phải là một giấc mộng hão huyền giữa chuỗi ngày cơ cực. Đức Anh nhắm nghiền mắt, tựa trán vào bờ vai gầy nhom của mẹ, hít hà mùi mồ hôi chua nồng lẫn mùi vôi trầu quen thuộc. Trải qua hai kiếp người dâu bể, anh mới lại được òa khóc như một đứa trẻ thơ trong vòng tay chở che của mẹ, nhưng lần này không phải là những giọt nước mắt sám hối muộn màng bên nấm mồ lạnh lẽo nơi nghĩa trang lạnh ngắt năm nào, mà là niềm hạnh phúc vẹn tròn, thanh thản của một sự tái sinh.
Từ trong gian nhà chính, tiếng bước chân chầm chậm, vững chãi gõ trên nền gạch hoa cũ vang lên. Cánh cửa gỗ lim cọt kẹt mở rộng, ông Thành bước ra hiên nhà.
Sau đợt bạo bệnh viêm phổi tắc nghẽn cấp tính suýt cướp đi tính mạng tại Hà Nội hai năm trước, nhờ Đức Anh kiên quyết đưa vào bệnh viện tuyến trên, có đủ kinh phí thuốc men đặc trị và tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị, chức năng phổi của ông Thành đã hồi phục kỳ diệu. Dù bước đi của ông vẫn giữ vẻ cẩn trọng, chậm rãi để điều hòa nhịp thở theo lời dặn của bác sĩ, nhưng sắc diện của người thợ cơ khí già hôm nay hồng hào lạ thường. Lưng ông đã thẳng lại, đôi vai vuông vức vững chãi, hơi thở sâu và êm ru, không còn những tiếng khò khè rít rống từng hành hạ ông suốt bao năm tháng trong xưởng tiện ngột ngạt khói hàn.
Nhìn thấy cảnh tượng hai mẹ con ôm nhau khóc nghẹn dưới thềm giếng bên rổ rau muống dở dang, ông Thành khựng lại nơi bậc tam cấp. Dù hôm qua ở thủ đô ông đã tận mắt chứng kiến con trai nhận bằng, nhưng khoảnh khắc nhìn thấy con mang tấm bằng về quỳ dưới mái nhà của tổ tiên, ánh mắt vốn nghiêm nghị, khắc khổ cố hữu của một người cả đời quen nắn sắt uốn đồng bỗng chốc mềm nhũn ra. Đáy mắt đục mờ của năm tháng lại ánh lên những tia sáng rạng ngời của niềm kiêu hãnh khôn xiết.
"Bố..." Đức Anh ngẩng đầu lên, khẽ gọi, giọng nghẹn ứ.
Bà Lan vừa quệt vội dòng nước mắt chan hòa trên gò má nhăn nheo vừa lật đật đứng dậy, hai tay nâng niu tấm bằng đỏ như bưng một báu vật thiêng liêng, bước nhanh về phía thềm nhà: "Ông xem này... Thằng Đức Anh nó mang bằng đại học về đến sân nhà mình rồi đây! Bằng đỏ chót của con đây, ông mau lấy khung ra lồng rồi treo lên cho con!"
Ông Thành đón lấy tấm bằng từ tay vợ. Bàn tay to bè thô ráp, những khớp ngón tay bè ra vì cầm cờ-lê, búa tạ suốt mấy chục năm của ông khẽ run rẩy thấy rõ khi ngón tay cái lướt nhẹ qua dòng chữ in tên con trai. Khóe mắt người cha đỏ hoe, quai hàm bạnh ra và lồng ngực phập phồng kịch liệt kìm nén cơn xúc động đang dâng lên. Người đàn ông cả đời kiệm lời, người từng giật phăng kim truyền dịch đe dọa thà chết chứ không để con bỏ học đi làm ăn chụp giật năm nào, lúc này gật đầu thật mạnh ba cái dứt khoát.
"Tốt... Tốt lắm! Bằng về đến đất nhà mình rồi, để bố đích thân lồng khung treo lên giữa nhà tạ ơn tiên tổ!"
Nói đoạn, ông Thành hít một hơi sâu, vội vã quay người đi vào trong nhà, bước chân có phần cập rập khác hẳn ngày thường. Đức Anh và mẹ ngơ ngác nhìn theo bóng lưng của bố. Vài giây sau, họ thấy ông bước ra từ gian buồng tối, trên tay cẩn thận bưng một chiếc khung tranh bằng gỗ gụ đã cũ nhưng nước gỗ còn bóng loáng và mộng gỗ vẫn vô cùng chắc chắn. Đó chính là chiếc khung gỗ quý ông từng cất kỹ dưới đáy rương quần áo, vốn là chiếc khung dùng để lồng tấm ảnh mừng thọ của cụ nội ngày trước, sau khi cụ mất đã được ông giữ gìn cẩn thận suốt mấy mươi năm.
Ông Thành ngồi xuống mép chiếc tràng kỷ, lấy từ trong ngăn kéo ra một mảnh vải bông sạch và một chai cồn y tế. Ông tỉ mỉ tẩm cồn vào vải, cẩn thận lau từng góc cạnh của mặt kính, kỳ cọ từng khe rãnh chạm trổ hoa văn mây lượn trên khung gỗ gụ cho đến khi bề mặt kính sáng trong vắt, không còn vương lại một hạt bụi nhỏ. Từng động tác của ông chậm rãi, kính cẩn và trang nghiêm như đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng nhất trần đời.
"Đưa bằng đây cho bố," ông Thành cất giọng trầm trầm.
Đức Anh cẩn thận tách tấm bằng ra khỏi bìa da, cùng bố nhẹ nhàng lồng tờ giấy chứng nhận vào giữa lớp kính trong suốt và tấm ván ép phía sau. Khi những chiếc nẹp gỗ nhỏ được đóng chặt lại, ông Thành đứng dậy, cầm theo một chiếc búa nhỏ và chiếc đinh mười phân đã được chuẩn bị sẵn.
Ông bước thẳng tới bức tường trung tâm của gian khách, vị trí trang trọng nhất nằm ngay dưới bàn thờ gia tiên và bên cạnh chiếc đồng hồ quả lắc Odo cổ.
*Cắc! Cắc! Cắc!*
Những tiếng gõ búa đanh gọn, dứt khoát vang vọng khắp không gian căn nhà cấp bốn nhỏ bé. Chiếc khung gỗ gụ lồng tấm bằng Cử nhân Kinh tế loại Giỏi mang tên Phạm Đức Anh đã được treo ngay ngắn, cân đối tuyệt đối ngay giữa gian khách. Ánh nắng trưa hanh hao xuyên qua khung cửa sổ chiếu thẳng vào mặt kính, phản chiếu rực rỡ sắc đỏ của quốc huy và dòng chữ thếp vàng lấp lánh.
Ông Thành lùi lại hai bước, ngắm nghía chiếc khung cho thật thẳng hàng, rồi quay sang nhìn con trai. Ông ưỡn ngực, hai vai mở rộng, trên gương mặt sương gió nở một nụ cười rạng rỡ hiếm hoi trong đời:
"Từ hôm nay, bất kể ai bước chân vào cái nhà này, nhìn lên bức tường kia cũng phải thấy con trai dòng họ Phạm đã làm được điều đàng hoàng, danh giá nhất!"
***
Bữa cơm trưa sum họp gia đình diễn ra ấm cúng trên chiếc chiếu hoa trải ngay giữa nền nhà gian khách. Không có sơn hào hải vị đắt tiền, chỉ có những món ăn quê mùa mộc mạc mà Đức Anh từng thèm đến cồn cào trong những năm tháng ăn bờ ngủ bụi, gặm bánh mì khô khốc nơi phòng trọ sinh viên: một đĩa thịt ba chỉ luộc thái mỏng chấm mắm tôm chanh ớt sủi bọt cay nồng, bát canh cua đồng nấu rau đay mồng tơi mướt xanh ăn kèm đĩa cà pháo giòn tan mặn mòi, và một đĩa cá trôi kho tương bần mục cả xương, thơm lừng mùi gừng sẻ và ớt chỉ thiên.
Bà Lan ngồi bên cạnh không ngớt tay gắp thức ăn bỏ đầy vào bát con trai, miệng liên tục giục giã: "Ăn nhiều vào con, dạo này trông gầy quá. Trông cái mặt hốc hác, râu ria lởm chởm thế kia chắc lại thức đêm thức hôm làm việc trên máy tính chứ gì? Ở thành phố ăn uống thất thường, về nhà có bát canh ngọn rau thì phải ăn cho đẫy đà vào."
"Bà cứ để cho nó ăn tự nhiên, gắp đầy ngọn bát thế kia thì nó và cơm kiểu gì," ông Thành cười khà khà, nhưng chính tay ông cũng lặng lẽ dùng đũa gạt phần thịt lườn cá trôi nạc nhất, béo ngậy nhất bỏ sang bát Đức Anh.
Ông Thành rót ra hai chiếc chén hạt mít một chút rượu nếp cái hoa vàng thơm nức do chính tay bà Lan ủ men. Sau khi nhấp một ngụm nhỏ cay nồng, ông đặt chén rượu xuống mâm gỗ, ánh mắt trở nên sâu lắng và trầm ngâm hơn. Ông nhìn thẳng vào con trai mình—người giờ đây đã là một cử nhân kinh tế thực thụ, một thanh niên đĩnh đạc ngoài hai mươi tuổi với dáng dấp chững chạc và ánh mắt trầm tĩnh vượt xa lứa tuổi bạn bè đồng trang lứa.
"Đức Anh này," ông Thành cất giọng trầm ấm, chậm rãi, từng lời nói ra đều mang theo sự đúc kết của một đời lao động nhọc nhằn. "Hôm nay mày cầm được tấm bằng này về nhà, coi như mày đã trả xong món nợ học hành với bố mẹ. Bố mẹ từ nay cất được gánh nặng đè nặng trên lưng suốt mười mấy năm trời, không còn phải bận lòng lo sợ con mình dở dang tương lai nữa."
"Con biết ơn bố mẹ nhiều lắm. Nếu không có bố mẹ hy sinh, con không bao giờ có được ngày hôm nay," Đức Anh cúi đầu, giọng đầy thành kính.
Ông Thành khẽ xua tay, nét mặt nghiêm lại: "Biết ơn thì phải nhớ lấy điều bố sắp dặn đây. Xong cái bằng đại học rồi, con muốn lập nghiệp, muốn cùng con Trang với thằng Hùng mở công ty làm ăn lớn thế nào trên Hà Nội, bố không ngăn cản. Bố là thằng thợ tiện, thợ nguội nhà quê, cả đời chỉ biết que hàn với mỏ lết, không hiểu hết ba cái chuyện mạng mẽo, kinh doanh trực tuyến thời nay của bọn trẻ các con. Nhưng bố biết một điều chắc nịch: máy móc hỏng hóc thì còn thay bu-lông, phụ tùng được, chứ nhân cách mà đã hỏng thì coi như vứt đi, không thợ nào tiện lại được đâu con ạ."
Đức Anh ngồi thẳng lưng, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, chăm chú lắng nghe từng lời của cha như khắc cốt ghi tâm.
"Thương trường nó như chiến trường, nhiều cám dỗ và cạm bẫy lắm con ơi," ông Thành tiếp tục, ánh mắt quắc thước thoáng nét nghiêm nghị từng trải. "Khi con bắt đầu làm ra tiền, con sẽ gặp vô số kẻ dạy con đi đường tắt, dạy con kiếm tiền nhanh bằng cách lừa lọc, mánh khóe hoặc thổi phồng sự thật lên gấp mười lần để trục lợi, hệt như cái thằng Quý dạo nọ định lừa bố con mình vậy. Con phải nhớ kỹ: cái tâm và chữ tín là cái rễ cọc của một con người. Cây mất cành mất lá thì mùa xuân đâm chồi lại được, chứ rễ mà thối thì gió lay nhẹ là đổ vật. Chữ tín một khi đã mất đi thì có dốc cả núi vàng ra cũng không mua lại được. Người ta tin con, người ta mới giao tiền bạc, hàng hóa cho con làm ăn, thì con phải giữ cho trọn vẹn sự tin tưởng ấy, dù có phải chịu phần thiệt thòi về mình đi chăng nữa. Con làm giàu bằng năng lực thật, bằng sự tử tế và mồ hôi nước mắt thì đồng tiền ấy mới bền, gia đình dòng họ mình mới ngẩng cao đầu mà sống được. Nhớ chưa con?"
"Dạ, con xin ghi lòng tạc dạ lời bố dạy," Đức Anh nghẹn ngào đáp, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào cha. "Con hứa với bố mẹ, dù doanh nghiệp sau này có phát triển lớn đến đâu, con tuyệt đối không bao giờ đánh đổi danh dự, đạo đức và sự trung thực lấy bất kỳ món lợi nhuận nào."
Bà Lan ngồi bên cạnh khẽ thở phào nhẹ nhõm, khóe mắt lại rơm rớm nhưng nụ cười đã nở rạng rỡ trên môi. Gian nhà cấp bốn bừng lên một bầu không khí ấm áp, thanh bình đến kỳ lạ, xóa tan đi mọi dư âm lạnh lẽo, nhọc nhằn của những năm tháng gian khó đã lùi sâu vào quá khứ.
***
Ăn xong bữa cơm trưa, phụ mẹ thu dọn mâm bát và nghỉ ngơi chừng một tiếng đồng hồ, Đức Anh thu xếp đồ đạc chuẩn bị trở lại thủ đô ngay trong chiều muộn. Anh biết các cộng sự trên Hà Nội đang nóng lòng chờ đợi mình để họp bàn những bước đi tiếp theo. Bố mẹ tiễn anh ra tận đầu ngõ, bà Lan dúi vào ba lô con trai một bọc ni-lông đựng nửa con gà luộc và mấy cân gạo nếp mới gặt.
Chiếc xe khách liên tỉnh trả Đức Anh xuống bến xe Giáp Bát khi trời đã chập choạng tối. Mưa phùn mùa đông bắt đầu rải rác rơi trên những mái hiên tôn, ánh đèn đường vàng vọt hắt hiu phản chiếu loang loáng trên mặt đường nhựa ướt sũng của Hà Nội những ngày cuối năm 2010. Anh vội vã bắt xe buýt, hướng thẳng về điểm hẹn với nhóm bạn.
Tối hôm đó, cả nhóm khởi nghiệp tổ chức một buổi liên hoan nhỏ chia tay thời sinh viên tại một quán lẩu riêu cua bắp bò bình dân nằm khuất sâu trong con ngõ ven hồ Hoàng Cầu. Không gian quán nhỏ ngập tràn mùi thơm ngào ngạt của nước dùng giấm bỗng chua thanh, gạch cua xào hành phi thơm nức mũi và tiếng cười đùa rộn rã át cả tiếng mưa gió bên ngoài.
Hùng Béo vẫn là tâm điểm của mọi sự ồn ào. Cậu ta mặc một chiếc áo phao đỏ chóe dày cộp, vừa nhanh tay thả từng đĩa thịt bò bắp hoa và sườn sụn vào nồi nước lẩu đang sôi sùng sục, vừa nâng cao cốc bia hơi Hà Nội sủi bọt trắng xóa hô vang:
"Nào nào anh em! Nâng ly chúc mừng hai thủ khoa khóa luận xuất sắc nhất khoa Thương mại điện tử K48 của chúng ta! Từ ngày mai trở đi là chính thức bước chân vào hàng ngũ những người thất nghiệp có bằng cấp loại Giỏi rồi nhé!"
"Cái mồm ông Hùng chỉ được cái gở mồm gở miệng là không ai bằng!" Mai Thu Phương 'Còi' trừng mắt lườm Hùng một cái sắc lẹm, nhưng bàn tay nhỏ nhắn vẫn thoăn thoắt dùng muôi vớt miếng đậu phụ rán phồng vàng ươm bỏ vào bát cho cậu ta. "Người ta điểm khóa luận 9.8 xuất sắc, thầy Minh khen nức nở trước cả hội đồng bảo vệ, lại còn được khoa giữ lại làm tư liệu tham khảo, ai như ông suýt nữa thì trượt môn Kinh tế quốc tế chỉ vì cái tội ngủ quên không đi thi lại!"
Bùi Hoàng Nam ngồi bên cạnh chỉ khẽ cười hiền lành. Cậu ta vừa nhấp một ngụm trà đá loãng vừa nhìn chăm chú vào màn hình chiếc điện thoại Nokia E71 của mình, các ngón tay bấm phím tanh tách: "Tớ vừa kiểm tra lại lượng truy cập blog giải pháp và gian hàng số thử nghiệm của nhóm. Sau khi bài báo tóm tắt đề tài nghiên cứu của Đức Anh và Trang được thầy Minh hỗ trợ gửi đăng trên tập san nghiên cứu ứng dụng kinh tế, lượt khách tiểu thương gọi điện hỏi về giải pháp số hóa quản lý kho bãi và đối soát đơn hàng tăng vọt ba mươi phần trăm đấy. Đây là tín hiệu thị trường cực tốt."
"Ăn uống liên hoan mà ông Nam vẫn không dứt ra nổi mấy cái bảng số liệu khô khan!" Hùng Béo vỗ đùi đánh đét một cái, rồi quay sang nhìn Đức Anh và Kiều Trang đang ngồi cạnh nhau ở phía đối diện. "Này, hai vị lãnh đạo tối cao, tính bao giờ thì chính thức xuống tiền thuê cái mặt bằng văn phòng ở mạn Chùa Bộc để đăng ký thành lập công ty cổ phần đây? Quỹ dự phòng của bà Trang gom góp chắt bóp suốt hai năm qua chắc cũng đủ đóng tiền cọc một năm rồi nhỉ?"
Kiều Trang mỉm cười dịu dàng. Tối nay, cô diện một chiếc áo len cổ lọ màu be trang nhã kết hợp với chiếc áo dạ sẫm màu cắt may gọn gàng. Mái tóc đen dài óng ả xõa tự nhiên ngang lưng làm tôn lên làn da trắng mịn và đôi mắt sáng thông minh, sắc sảo. Cô mở chiếc sổ tay bìa da nhỏ luôn mang theo bên mình, dùng đầu bút bi gõ nhẹ lên từng dòng ghi chép ngay ngắn:
"Tiền thuê văn phòng và chi phí hạ tầng ban đầu tớ đã hạch toán chi tiết đến từng đồng. Nhưng nguyên tắc là nguyên tắc: chúng ta chỉ ký hợp đồng thuê nhà khi Đức Anh chốt xong phương án pháp lý và bản điều lệ phân chia tỷ lệ cổ phần minh bạch cho cả nhóm. Tớ không bao giờ chấp nhận chuyện tiền bạc của công ty lẫn lộn với chi tiêu cá nhân đâu đấy nhé."
Đức Anh ngồi bên cạnh, nhìn góc nghiêng thanh tú của Trang dưới ánh đèn vàng ấm áp của quán ăn, trong lòng dâng lên một niềm cảm phục sâu sắc. Suốt hai năm đồng hành từ những ngày đầu chập chững thu gom từng chiếc chảo chống dính, từng bộ nồi inox từ kho của dì Hòa mang lên mạng bán, chính sự cẩn trọng, thực tế và nguyên tắc thép của Kiều Trang đã không ít lần kéo cả nhóm ra khỏi những quyết định bốc đồng, cứu doanh nghiệp non trẻ thoát khỏi những cái bẫy tài chính chết người.
Buổi liên hoan kéo dài đến hơn chín giờ tối trong niềm hân hoan rạng rỡ của tuổi trẻ. Khi cả nhóm thanh toán tiền và lục tục dắt xe chuẩn bị ra về, Đức Anh bước tới kéo nhẹ tay Hùng Béo, khẽ nói nhỏ bên tai:
"Hùng, cho tao mượn con Wave Alpha của mày một lát nhé."
Hùng Béo nháy mắt tinh quái, đưa mắt liếc nhanh sang Kiều Trang đang đứng quàng lại chiếc khăn len màu ghi ở cửa quán, rồi lập tức dúi chìa khóa xe vào tay bạn: "Cứ tự nhiên đê người anh em! Bình xăng tao vừa đổ đầy tràn trề đấy, cứ dạo cho hết ba vòng hồ Tây rồi hãy về nhé!"
Đức Anh cất chìa khóa vào túi, bước tới bên cạnh Kiều Trang, hít một hơi sâu lấy can đảm: "Trang... tối nay cậu có rảnh không? Tớ chở cậu dạo một vòng quanh hồ Tây nhé. Lâu lắm rồi bọn mình chưa đi dạo cùng nhau mà không phải bận tâm bàn chuyện sổ sách hay đơn từ."
Trang thoáng chút bất ngờ. Đôi mắt trong veo như mặt nước hồ mùa thu của cô nhìn thẳng vào Đức Anh vài giây. Nhận thấy vẻ nghiêm túc pha chút hồi hộp, căng thẳng hiếm thấy ở người bạn đồng hành vốn luôn bình thản, quyết đoán trước mọi sóng gió thương trường, khóe môi cô khẽ cong lên thành một nụ cười kín đáo: "Được chứ. Dù sao tối nay gió cũng rất đẹp."
Chiếc Wave Alpha màu đỏ đã cũ nổ máy giòn giã. Đức Anh cầm lái đưa Trang rời khỏi con phố Hoàng Cầu ồn ào, len lỏi qua dòng người đông đúc trên đường Nguyễn Thái Học, men theo đường Thanh Niên rồi rẽ thẳng vào con đường ven hồ Tây.
Gió đầu đông từ mặt hồ mênh mông thổi thốc vào mặt, lạnh buốt đến tê tái nhưng mang theo một sự khoáng đạt, trong trẻo lạ thường. Mặt nước hồ Tây đêm nay gợn sóng lăn tăn dưới ánh sáng mờ ảo của những ngọn đèn cao áp màu vàng cam rải rác dọc bờ kè đá. Phía xa xa, những rặng sương mù bảng lảng trôi bồng bềnh trên mặt nước, che khuất hoàn toàn bờ bên kia thành phố, tạo nên một không gian tĩnh mịch, tách biệt hẳn với sự xô bồ, hối hả thường nhật của thủ đô.
Đức Anh chạy xe với tốc độ vừa phải, đều đặn. Ngồi ở phía sau, Kiều Trang khẽ kéo vạt áo khoác dạ để cản bớt luồng gió buốt. Ban đầu, cô giữ một khoảng cách chừng mực, hai tay bám hờ vào thanh chắn kim loại sau đuôi xe. Nhưng khi chiếc xe lướt qua một khúc cua lộng gió sát mép nước, hơi lạnh bất ngờ phả mạnh vào người khiến cô khẽ rùng mình. Bất giác, Trang đưa hai tay lên, nắm nhẹ lấy hai bên vạt áo khoác gió dày cộm của Đức Anh.
Cảm nhận được hơi ấm và sự tiếp xúc khẽ khàng từ phía sau lưng, tim Đức Anh bỗng đập lỗi nhịp, từng đợt rộn ràng dâng lên trong lồng ngực. Ký ức về hai kiếp sống lại một lần nữa cuộn trào, dội về như những thước phim quay chậm trong tâm trí anh.
Ở kiếp trước, anh đã bỏ lỡ người con gái này như thế nào?
Anh nhớ lại những ngày tháng tăm tối của năm 2008 trong dòng đời cũ. Khi anh bắt đầu trượt dài vào những tệ nạn, chán nản việc học hành, Kiều Trang đã từng nhiều lần nán lại sau giờ học, từng kiên nhẫn photo tài liệu và mang tận tay cuốn vở ghi chép môn Kinh tế lượng đưa cho anh mượn. Nhưng đáp lại sự quan tâm chân thành ấy của cô là sự cợt nhả, thái độ tự ái hèn mọn và mặc cảm nghèo hèn của một kẻ bất đắc chí. Anh đã xua đuổi cô bằng những lời lẽ cay nghiệt để che giấu sự bất lực của chính mình. Để rồi khi anh bị nhà trường đuổi học, Trang bước tiếp trên con đường sự nghiệp rực rỡ và độc lập của riêng cô, còn anh chìm sâu vào vũng lầy nợ nần, làm thuê bạt mạng, nếm trải một cuộc hôn nhân đổ vỡ trong cay đắng và sống mòn trong nỗi cô độc cho đến tận năm 2026. Bao nhiêu đêm nằm ngủ gục trên bàn làm việc lạnh lẽo ở kiếp trước, hình ảnh Kiều Trang với ánh mắt thất vọng cùng cái lắc đầu buồn bã năm nào luôn là một vết dao cứa sâu hoắm, day dứt khôn nguôi trong tâm can anh.
Còn ở kiếp sống này, suốt hai năm tái sinh vừa qua, anh đã dốc cạn từng tế bào năng lượng để thay đổi số phận. Anh học ngày cày đêm để trả sạch nợ môn, cùng cô thức trắng trên sàn phòng trọ ẩm thấp đối soát từng đồng tiền mặt, kiểm tra từng đơn hàng COD, và cùng cô bảo vệ thành công khóa luận tốt nghiệp với điểm số 9.8 tuyệt đối. Nhưng càng ở gần cô, càng chứng kiến sự thông minh, kiên cường và nhân cách trong sáng của cô, Đức Anh lại càng thấy sợ hãi. Anh sợ rằng thứ tình cảm đang lớn dần trong tim mình chỉ là một sự ích kỷ, một nỗ lực vô thức nhằm bù đắp cho những lỗi lầm và ân hận của kiếp trước. Anh sợ làm vấy bẩn tình bạn, tình đồng đội thiêng liêng mà hai người đã dày công xây đắp. Vì thế, suốt hai năm trời, anh luôn giữ vững ranh giới của một người cộng sự mẫu mực, một người bạn đáng tin cậy.
Nhưng đêm nay, khi tấm bằng đại học loại Giỏi đã được treo trang trọng trên bức tường nhà bố mẹ ở quê, khi gánh nặng sinh tồn và mặc cảm quá khứ đã tạm thời lùi lại phía sau, Đức Anh hiểu rằng mình không thể tiếp tục dối lòng thêm một giây phút nào nữa.
Anh giảm ga, từ từ tấp xe vào một khoảng đất trống yên tĩnh ven hồ, ngay dưới bóng một rặng liễu rủ thướt tha sát mép kè đá.
Đức Anh tắt máy, dựng chân chống giữa vững chãi rồi quay người lại. Mặt hồ Tây trước mắt họ rộng lớn vô cùng, tiếng sóng nước vỗ ì oạp vào bờ đá hoa cương như một nhịp điệu thì thầm êm ả của màn đêm.
Trang bước xuống xe, khẽ đưa tay vuốt lại những lọn tóc đen bị gió thổi bay lòa xòa trước trán. Cô bước tới sát mép lan can đá, tựa hai cánh tay vào gờ bê tông lạnh buốt, phóng tầm mắt ra khoảng không gian mờ ảo xa xăm nơi mặt hồ giao hòa với màn sương đêm, khẽ thốt lên:
"Đẹp quá... Lâu lắm rồi tớ mới lại thấy Hà Nội yên tĩnh và rộng lớn đến nhường này."
Đức Anh bước đến đứng cạnh cô. Gió từ lòng hồ thổi mạnh làm tà áo khoác của cả hai người phần phật bay, mang theo mùi ngai ngái nồng nàn của nước ngọt và hơi lạnh tê tái của mùa đông miền Bắc.
"Trang này," Đức Anh cất tiếng. Giọng anh trầm xuống, không còn sự sắc sảo, đanh thép của một người trưởng nhóm điều hành công việc thường ngày, mà run rẩy bởi những rung động nguyên sơ, chân thật nhất từ đáy lòng.
Trang quay đầu lại nhìn anh, đôi mắt đen láy phản chiếu ánh đèn vàng mờ ảo: "Sao thế Đức Anh?"
Đức Anh nhìn thẳng vào gương mặt thanh tú của người con gái trước mặt. Dưới ánh sáng vàng nhạt của cột đèn cao áp, từng đường nét trên khuôn mặt cô hiện lên thật dịu dàng: bờ môi mỏng hơi mím lại vì lạnh, sống mũi cao thanh thoát và chiếc khăn len màu ghi quàng quanh cổ khẽ lay động theo từng cơn gió buốt.
"Cậu có biết không... suốt hơn hai năm qua, điều may mắn lớn nhất trong cuộc đời tớ không phải là việc kiếm được bao nhiêu tiền từ các dự án kinh doanh," Đức Anh dừng lại một nhịp, hít sâu một hơi không khí lạnh buốt để nén cơn xúc động đang dâng lên nghẹn ứ nơi lồng ngực, "cũng không phải là việc tớ kịp thời kéo bố tớ qua khỏi cơn bạo bệnh nguy kịch, hay việc cầm được tấm bằng cử nhân loại Giỏi trên tay chiều hôm nay."
Trang hơi sững lại. Cô nhận thấy sự khác thường sâu sắc trong từng thanh âm và ánh nhìn của anh. Đôi lông mày thanh tú khẽ nhướng lên, cô im lặng lắng nghe mà không hề ngắt lời.
"Điều may mắn nhất của cuộc đời tớ là mỗi buổi sáng thức dậy, bước chân lên giảng đường hay ngồi trước màn hình máy tính, tớ luôn nhìn thấy cậu ở đó," giọng Đức Anh run lên, mang theo toàn bộ sức nặng của những ký ức day dứt tích tụ qua hai kiếp người. "Nhìn thấy cậu tỉ mỉ ghi chép từng khoản chi tiêu nhỏ nhất, nhìn thấy cậu kiên nhẫn ngồi hàng giờ sửa cho tớ từng dòng số liệu trong khóa luận, và nhìn thấy cậu luôn đặt trọn niềm tin vào tớ ngay cả những lúc tớ hoang mang, mất phương hướng nhất."
Anh tiến thêm một bước nhỏ, khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại trong làn gió đông buốt giá.
"Tớ từng là một thằng tồi tệ, một kẻ bất tài vô dụng chỉ biết trốn tránh thực tại sau những cuộc chơi vô bổ trong quán net," Đức Anh tiếp tục, đôi mắt anh đỏ hoe, phản chiếu một nỗi đau đớn chân thực đến mức xé lòng. "Nếu ngày ấy không có cậu kéo tớ lại từ bờ vực, nếu không có cuốn vở ghi chép Kinh tế lượng của cậu, có lẽ tớ đã vĩnh viễn trượt dài trong một cái hố sâu tăm tối mà cả cuộc đời này tớ không bao giờ có cơ hội tha thứ cho chính mình."
Anh chậm rãi đưa bàn tay mình ra, nhẹ nhàng và run rẩy nắm lấy bàn tay đang đặt trên lan can đá của Kiều Trang. Bàn tay cô nhỏ nhắn, lạnh ngắt vì ngâm trong gió hồ quá lâu, khẽ giật mình rụt lại theo phản xạ tự nhiên rồi mềm đi, run rẩy khi làn da hai người chạm vào nhau.
"Đức Anh..." Trang khẽ gọi tên anh, trong đáy mắt cô thoáng hiện lên một sự xao động mãnh liệt.
"Trang à, tớ không biết phải dùng lời lẽ nào để cậu hiểu hết những gì tớ đang mang trong lòng suốt bao năm tháng qua," Đức Anh nhìn sâu vào đôi mắt trong veo của cô, giọng nói tha thiết đến nghẹn ngào. "Tình cảm này không phải là một sự bốc đồng nhất thời của tuổi trẻ, càng không phải là lòng biết ơn đơn thuần của một người bạn học. Nó đã tích tụ, đã âm ỉ cháy qua từng ngày, từng tháng... dường như từ rất lâu, rất lâu trước cả khi tớ kịp nhận ra sự tồn tại của nó. Tớ muốn được ở bên cạnh che chở cho cậu, chăm sóc cho cậu. Tớ muốn chúng ta không chỉ dừng lại ở vị trí những người đồng đội cùng chung lưng đấu cật gầy dựng công ty, mà tớ muốn cùng cậu... xây dựng một tương lai trọn vẹn của hai đứa mình."
Không gian xung quanh dường như ngưng đọng lại trong khoảnh khắc ấy. Gió hồ Tây vẫn rít qua những cành liễu rủ xác xơ, tiếng sóng vẫn vỗ đều đặn vào chân kè đá, nhưng giữa hai người, một sự im lặng tuyệt đối đang bao trùm.
Đức Anh nín thở chờ đợi. Trái tim trong lồng ngực anh đập dồn dập như muốn nổ tung. Anh nhìn thấy rõ mồn một từng chuyển biến tinh tế trên gương mặt người con gái anh yêu: sự bàng hoàng ban đầu chuyển thành nét xúc động dâng trào trong khóe mắt, đôi môi mỏng hé mở như định nói điều gì đó rồi lại khép lại trong sự lưỡng lự.
Nhưng rồi, điều khiến trái tim Đức Anh bỗng thắt lại là cái nhìn của Trang ngay sau đó. Cô không né tránh, mà nhìn thật sâu, thật lâu vào tận đáy mắt anh. Trong khoảnh khắc đối diện ấy, ánh mắt sắc sảo, nhạy bén của một cô gái luôn tỉnh táo trước thực tế khắc nghiệt đã bắt gặp một điều gì đó vô cùng bất thường: cô thoáng nhận thấy trong ánh nhìn của người thanh niên hai mươi hai tuổi đang đứng trước mặt mình có một nỗi hoài niệm xa xăm, u uẩn và già cỗi đến kỳ lạ—một nỗi đau đớn, ân hận và mặc cảm dường như đã tồn tại từ một kiếp sống nào đó xa xôi, vượt ra ngoài giới hạn tuổi trẻ của cả hai người.
Sự sâu sắc và lý trí bẩm sinh của Trang khiến cô khựng lại ngay trên lằn ranh mỏng manh của cảm xúc.
Gió hồ Tây bỗng thổi thốc lên một cơn buốt giá làm mặt nước nổi sóng dập dồn.
Trang khẽ rút tay lại, nhìn thẳng vào mắt Đức Anh và đưa ra một câu trả lời hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của anh.