Trạm Ánh Sáng EuropaC.9 / 42
Chương 9

Khu vườn không thể lớn trong một đêm

An Khuê đứng giữa những luống dâu tây và cà chua lùn đang héo rũ trong Vườn Thủy Canh Bình Minh, ngửi thấy mùi đất ẩm trộn lẫn vị ngai ngái nồng nặc của thảm thực vật bị cắt đứt hoàn toàn quang thông suốt bốn ngày qua.

Không khí trong khoang nông nghiệp đã ấm dần trở lại, nhiệt kế gắn trên vách composite chỉ mức 18,2 độ C nhờ luồng nước tản nhiệt thứ cấp dẫn từ cụm tua-bin của lò phản ứng Kifaru. Thế nhưng sự hồi sinh nhiệt học chậm chạp ấy đã đến quá muộn đối với những chồi non vốn quen được nuông chiều bởi chu kỳ chiếu sáng chuẩn xác của Trái Đất. Dưới ánh đèn khẩn cấp màu vàng xỉn chỉ vừa đủ thắp sáng chỉ dấu lối thoát hiểm và các van chặn áp suất, những chiếc lá dâu tây cuộn tròn lại thành từng phiến quăn queo, giòn vụn như những mảnh giấy da cháy dở, gục rạp xuống lớp giá thể xơ khoáng nhân tạo. Cà chua lùn giống ‘Micro-Tom’ từng là niềm kiêu hãnh thầm kín của cô trong ba tháng đầu tiên phi hành đoàn đóng quân trên mặt trăng băng giá này; từng chùm quả mọng tròn xoe đỏ au khi ấy không chỉ là nguồn cung cấp lycopene tươi cùng các chất chống oxy hóa tự nhiên, mà còn mang theo chút hương vị thanh lành hiếm hoi của quê nhà giữa bốn bề hoang vu chết chóc. Giờ đây, thân của chúng mềm nhũn, ủng nước cục bộ, vỏ quả teo tóp nhăn nheo và lốm đốm những vệt hoại tử màu xám tro — vết tích không thể đảo ngược của đợt sốc nhiệt khi nhiệt độ khoang tụt dốc không phanh xuống 4,8 độ C trong những giờ phút trạm Borealis phải ngắt tải sinh tử để cứu vãn lõi năng lượng.

Cô hít sâu một hơi qua kẽ răng, cảm nhận luồng khí khô lạnh cọ xát vào khí quản, rồi đưa tay điều chỉnh lại đai cổ tay của đôi găng cao su nitrile màu xanh lam. Bàn tay cô siết chặt lấy chiếc kéo tỉa cành bằng thép không gỉ. Lưỡi thép lạnh ngắt phả hơi buốt qua lớp găng mỏng.

Quyết định đã được phê duyệt trong biên bản cuộc họp chỉ huy lúc rạng sáng, có chữ ký điện tử của Amara và sự đồng thuận miễn cưỡng từ tất cả các bộ phận: phương án sinh thái ba tầng mới không có chỗ cho sự xa xỉ. Cây trồng chu kỳ dài, cần lượng photon quang hợp khổng lồ và đòi hỏi tới cả trăm ngày chỉ để cho ra vài trăm gam quả mọng mang tính thưởng thức, buộc phải bị thanh lý không thương tiếc.

“Mây, mở nhật ký canh tác: bắt đầu giai đoạn một của quá trình giải phóng mặt bằng Phân khu Alpha và Bravo,” An Khuê nói vào micrô gắn ở cổ áo bảo hộ.

Giọng nói tổng hợp của trí tuệ nhân tạo vang lên qua loa áp tai, nhẹ nhàng, đều đặn nhưng chuẩn xác đến từng chữ số thập phân, mang cái lạnh lùng vô cảm đặc trưng của máy móc: *“Đã ghi nhận, kỹ sư Hồ. Tổng sinh khối ướt dự kiến dỡ bỏ trên hai luống: mười tám phẩy bốn kilôgam. Nhu cầu hấp thụ carbon của hai luống này hiện âm không phẩy hai gram trên giờ do quá trình phân rã mô hữu cơ và hô hấp tế bào hoại tử. Việc duy trì cấp ẩm và tuần hoàn khí cho chúng đang tiêu tốn dưỡng khí thay vì tạo ra oxy. Tỷ lệ suy hao oxy đo được tại rãnh thoát khí là một phẩy một lít mỗi chu kỳ.”*

“Tôi hiểu.”

An Khuê vươn tay ra phía trước, dứt khoát nắm lấy gốc của bụi dâu tây đầu tiên ở đầu luống Alpha-01.

Dưới trường trọng lực chỉ bằng 0,134 lần Trái Đất của Europa, mọi thao tác cơ học bình thường nhất đều biến thành một trải nghiệm kỳ dị và đòi hỏi sự kiềm chế cao độ: đất mùn tái chế và mạt xơ dừa không rơi thẳng xuống đáy khay theo phương thẳng đứng, mà chầm chậm bung ra, trôi nổi lờ lững thành những đám bụi hữu cơ li ti nếu người thao tác giật tay quá mạnh hoặc chuyển động đột ngột. Cô phải ghìm chặt khớp cổ tay, gập nhẹ các ngón chân trong đôi ủng bảo hộ để giữ thăng bằng trọng tâm trên sàn kim loại dập gân chống trượt, rồi dùng mũi kéo sắc lẹm cắt đứt búi rễ chằng chịt đang bám chặt vào mạng lưới ống mao dẫn tưới ngầm bên dưới.

Búi rễ bị nhấc lên khỏi rãnh nhựa có màu nâu xám xịt, sũng nước và bốc lên một mùi chua nồng của rễ cây bị úng ngập lâu ngày trong dung dịch thiếu oxy hòa tan.

Cô nhổ từng gốc một. Từng bụi dâu tây khẳng khiu, từng gốc cà chua lùn xơ xác bị tước đoạt khỏi các ống khay composite sợi carbon, ném thẳng vào chiếc thùng chứa sinh khối thô đặt bên cạnh. Tiếng rễ cây đứt nghe lách tách, khô khốc và giòn tan như những sợi dây đàn bị bứt gãy quá căng. Mỗi nhát cắt hạ xuống vang lên giữa khoang thủy canh vắng lặng giống như một lời thú nhận thầm lặng về sự thất bại: thất bại trong việc bảo tồn sự bình yên giả tạo mà họ từng dày công dựng lên trước khi các mảng băng kiến tạo dưới đáy trạm rạn vỡ.

Đã có những ngày đầu tiên đầy hy vọng, khi cô cẩn thận mở từng ống nghiệm mang phôi hạt giống cây ăn quả từ Trái Đất sang, mường tượng ra cảnh các đồng đội của mình được nếm vị chua ngọt mọng nước giữa hoang vu lạnh lẽo cách xa hành tinh mẹ hơn sáu trăm triệu cây số. Nhưng hiện thực ở đáy sâu Europa là một bài toán nhiệt động lực học tàn nhẫn, không có chỗ cho hoài niệm: con tàu vận tải tiếp tế Umoja còn cách trạm 425 ngày bay theo quỹ đạo Hohmann chuyển tiếp, và lượng calo thực tế mà những khay quả mọng này mang lại quá đỗi bèo bọt so với số kilowatt-giờ điện quý giá mà hệ thống đèn chiếu sáng ngốn nghiến mỗi ngày đêm.

Mười lăm phút sau, những chiếc khay thủy canh tầng trên đã hoàn toàn trơ trụi. Chúng để lộ ra các rãnh dẫn dung dịch bằng nhựa fluoropolymer màu xám xịt, loang lổ cặn muối khoáng kết tinh màu trắng đục. An Khuê dùng một chiếc bàn chải cán dài sợi cứng cạo sạch lớp màng vi khuẩn nhầy nhụa và những mẩu rễ mục còn sót lại đang bám chặt vào các vách ngăn, sau đó cầm bình xịt thủ công phun khử trùng toàn bộ bề mặt bằng dung dịch hydro peroxide 3%. Những hạt sương khử khuẩn li ti bắn ra, bay lơ lửng trong không khí trọng lực thấp, lấp lánh như bụi kim cương dưới ánh đèn khẩn cấp màu vàng mờ trước khi bị các phiến hút ẩm gắn trên trần khoang chầm chậm gom lại thành dòng nước xám.

Cánh cửa trượt cơ khí dẫn sang hành lang kỹ thuật phía đông khẽ rít lên một tiếng khô khốc. Cánh cửa mở ra được chừng một nửa rồi đột ngột kẹt cứng lại do lớp gioăng cao su silicon đã bị chai cứng và co rút vì lạnh. Một bóng người mảnh khảnh lách nghiêng người qua khe hẹp, hai tay ôm hai chiếc hộp hợp kim nhôm nặng trịch, đi kèm với tiếng lạch cạch quen thuộc của các mối nối kim loại va chạm vào nhau.

“Chào người làm vườn vĩ đại của trạm Borealis,” Ren Ishikawa cất giọng, âm thanh khàn đặc vì thiếu nước và mệt mỏi nhưng cố tình pha chút hoạt náo gượng gạo. Anh cẩn thận đặt hai chiếc hộp xuống sàn thép, tạo nên một tiếng *thịch* trầm đục vang vọng khắp khoang trống. “Hàng đặc chế từ Xưởng Tanuki tới đây. Đảm bảo đạt tiêu chuẩn quân sự nghiêm ngặt, hoặc chí ít cũng là tiêu chuẩn chắp vá cấp ba của một kỹ sư cơ điện đã ba mươi sáu tiếng chưa được chợp mắt.”

An Khuê dừng tay cạo rãnh, lấy mu bàn tay quẹt mồ hôi đang rỉ ra trên trán rồi nhìn xuống đôi bàn tay của Ren. Những ngón tay của anh vẫn còn sưng phù, các khớp ngón đỏ ửng, nứt nẻ và được quấn chằng chịt các lớp băng gạc y tế mỏng — hậu quả của chuyến liều mạng trườn vào khoang máy phụ để siết lại cụm van phân phối natri-kali làm mát lò phản ứng Kifaru trong đợt dư chấn vừa qua.

“Anh phải nghỉ ngơi chứ, Ren. Ingrid đã lệnh cho anh phải nằm yên bốn tiếng trong buồng áp lực ở y xá kia mà?”

“Bác sĩ Solberg đang bận rộn với các mẫu máu và đống hồ sơ sinh trắc học rồi, và nếu tôi cứ nằm dán lưng vào cái nệm bọt biển đó rồi trừng mắt nhìn trần nhà kim loại, các dây thần kinh thị giác của tôi sẽ rỉ sét mất,” Ren nhún vai, quỳ một chân xuống sàn để mở khóa chốt chiếc hộp nhôm thứ nhất. “Với lại, cô bảo cô cần ánh sáng mới trước khi bắt đầu ca gieo hạt tiếp theo. Lệnh của Amara là giảm tải điện chiếu sáng sinh học xuống năm mươi phần trăm trên toàn trạm, nhưng mớ mầm cây tương lai của cô thì không thể ăn bóng tối hay hít thở sự hy vọng suông để lớn được.”

Nắp hộp nhôm bật mở với một tiếng tách sắc gọn. Bên trong là các thanh nhôm định hình tản nhiệt dài nửa mét, trên bề mặt được đính dày đặc các mắt đi-ốt phát quang bán dẫn (LED) trần không có thấu kính hội tụ, được hàn tỉ mỉ vào các bảng mạch in màu xanh lá cây bằng các mối thiếc thủ công. Dây dẫn được bọc cẩn thận bằng màng polyimide Kapton màu hổ phách chống cháy, chắp nối từ nhiều đoạn cáp điều khiển tín hiệu thu hồi từ các cảm biến trinh sát bề mặt và phụ tùng dự phòng của cụm robot thám hiểm REC.

“LED phổ hẹp tự chế,” Ren tự hào đưa tay vuốt nhẹ qua dãy mắt đi-ốt, mắt ánh lên vẻ đắc ý của một người thợ lành nghề vừa tạo ra một kiệt tác từ đống phế liệu. “Tôi đã tháo dỡ toàn bộ cụm đèn rọi quang phổ của robot trinh sát REC-05 và dàn đèn định vị phụ của tàu lặn Nereid nằm đắp chiếu dưới giếng. Không còn ánh sáng trắng toàn phổ lãng phí nữa. Ở đây chỉ có hai bước sóng duy nhất: đỏ sâu sáu trăm sáu mươi nanômét để kích thích trực tiếp hệ thống quang hóa hai của diệp lục tố, và xanh dương bốn trăm năm mươi nanômét để định hướng tăng trưởng thân lá, chống lại hiện tượng vươn dài bất thường do thiếu trọng lực.”

An Khuê nhấc một thanh đèn lên kiểm tra. Bề mặt nhôm tản nhiệt mát lạnh, các mối hàn bằng thiếc bạc sáng bóng, thẳng tắp và vô cùng gọn gàng dù rõ ràng chúng được thực hiện bởi một đôi bàn tay đang bị tê cóng và đau đớn vì bỏng lạnh sâu.

“Công suất tiêu thụ thế nào?” cô hỏi, trong lòng dấy lên niềm cảm phục chân thành đối với sự khéo léo và bền bỉ phi thường của người kỹ sư Nhật Bản.

“Mỗi cụm tiêu thụ đúng bốn mươi lăm watt ở điện áp mười hai vôn một chiều,” Ren đáp, ngón tay gõ nhẹ lên bộ nguồn chuyển đổi nhỏ xíu gắn ở đầu thanh nhôm. “So với dàn đèn Metal Halide và LED toàn phổ cũ ngốn gần một trăm mười watt trên mỗi mét vuông canh tác, hệ thống này cắt giảm chính xác năm mươi hai phần trăm công suất điện tiêu thụ thực tế. Mây đã chạy thử mô phỏng dòng tải trên lưới: lò Kifaru ở ba mươi lăm phần trăm công suất nền sẽ không hề cảm nhận thấy sự dao động khi chúng ta đóng cầu dao dàn đèn này. Mật độ thông lượng photon quang hợp hữu dụng đạt hai trăm mười micromol trên mét vuông mỗi giây — hoàn hảo cho rau mầm ngắn ngày và các thảm vi tảo tầng thấp.”

“Tuyệt vời lắm, Ren. Chúng ta gắn chúng lên khung giàn ngay thôi.”

Hai người lập tức bắt tay vào việc. Ren đứng dưới sàn giữ chân chiếc thang trèo xếp gọn, còn An Khuê dùng chiếc tua-vít điện siết chặt các ngàm kẹp bằng thép đàn hồi vào các thanh giàn chịu lực phía trên các khay canh tác. Trọng lực 0,134 g khiến cơ thể cô nhẹ bẫng, chỉ cần nhún nhẹ cổ chân là cả người đã có thể lơ lửng chạm tới trần khoang cao hai mét rưỡi, nhưng cũng chính vì thế mà phản lực xoay từ chiếc tua-vít điện liên tục làm vặn vẹo cơ thể cô. Cô phải luồn một bàn chân qua thanh giằng kim loại của giàn tầng dưới, móc chặt mũi ủng vào đó để tạo điểm tựa cơ học, vừa giữ thăng bằng vừa cẩn thận siết từng con ốc vít định vị bằng thép titan.

Khi sợi cáp nguồn cuối cùng được bấm khớp vào hộp phân phối điện phụ ở góc khoang, Ren bước lùi lại hai bước, vỗ hai bàn tay bọc băng gạc vào nhau: “Nào, kích hoạt phép thuật quang hợp của thế kỷ hai mươi mốt đi.”

An Khuê đưa tay gạt chiếc công tắc vi sai cách ly.

Một luồng ánh sáng kỳ dị, sắc lạnh bùng lên ngay tức khắc, nhuộm đỏ rực toàn bộ không gian Vườn Thủy Canh Bình Minh. Đó tuyệt nhiên không phải là thứ ánh sáng ấm áp, vàng dịu như nắng ban mai trên những cánh đồng quê hương, mà là một hỗn hợp nhức nhối giữa màu đỏ thẫm như máu tươi và sắc xanh lam thăm thẳm của màn đêm sâu, trộn lẫn vào nhau tạo thành một quầng tím thẫm ma quái bao trùm lên từng ngóc ngách của căn phòng. Mọi vật thể trong phòng — từ những khay composite màu xám tro, lớp áo bảo hộ màu trắng ngà của An Khuê cho đến khuôn mặt hốc hác, râu ria lởm chởm của Ren — đều biến thành những mảng màu siêu thực, sắc lẹm, không hề có vùng chuyển tiếp bóng đổ mềm mại tự nhiên.

“Trông như thể chúng ta vừa biến trạm nghiên cứu Borealis thành một câu lạc bộ đêm tồi tàn dưới đáy rãnh Mariana vậy,” Ren nheo mắt lại, giơ bàn tay lên che ngang trán để làm quen với cường độ ánh sáng mới. “Nhưng ít nhất, các phân tử diệp lục của cô sẽ thích bữa tiệc photon nghèo nàn này.”

“Chúng không chỉ thích, mà chúng bắt buộc phải sống sót nhờ nó,” An Khuê khẽ mỉm cười, bước lại gần đồng hồ đo cường độ quang thông gắn cố định trên vách. Các thông số kỹ thuật nhảy múa liên tục trên màn hình tinh thể lỏng rồi dừng lại ở một đồ thị phẳng lì, ổn định một cách hoàn hảo. “Cảm ơn anh rất nhiều, Ren. Nếu không có dàn đèn chắp vá này của anh, toàn bộ kế hoạch gieo mầm trong tuần tới coi như phá sản từ trong trứng nước.”

Ren cười trừ, toan há miệng nói thêm điều gì đó thì cánh cửa trượt cơ khí lại một lần nữa phát ra tiếng rít ken két. Lần này, sự xuất hiện của người mới khiến bầu không khí trong khoang chùng hẳn xuống.

Bác sĩ Ingrid Solberg bước vào, mang theo chiếc máy tính bảng y tế bọc viền cao su đen dày cộp và một chiếc hộp lấy mẫu vô trùng bằng thép lạnh. Mái tóc vàng nhạt của cô được búi gọn gàng, chặt chẽ phía sau gáy, đôi mắt màu xanh xám ánh lên vẻ mệt mỏi cùng cực nhưng lại sắc sảo và tỉnh táo đến đáng sợ sau những giờ dài theo dõi sinh trắc học căng thẳng trong y xá Svalbard.

“Tôi biết ngay là anh sẽ trốn ở đây mà, Ishikawa,” Ingrid cất giọng lạnh tanh, ánh mắt cô quét nhanh qua căn phòng rồi dừng lại chuẩn xác trên đôi bàn tay đang quấn băng của Ren. “Anh vừa bỏ lỡ cữ chiếu tia hồng ngoại sâu ba mươi phút để điều trị co thắt vi mạch ngoại biên. Nếu các đầu ngón tay đó bắt đầu hoại tử do thiếu máu cục bộ trong môi trường lạnh, đừng có trông mong tôi sẽ dùng máy in sinh học để in cho anh một bàn tay cơ khí mới.”

“Tôi đang tình nguyện hỗ trợ an ninh lương thực cho toàn trạm, thưa bác sĩ,” Ren giơ hai tay lên ngang tai làm bộ dạng của một kẻ đầu hàng vô điều kiện. “Một kỹ sư cơ điện có lòng tự trọng không thể ngồi yên nhìn những hạt mầm tương lai chết chìm trong bóng tối.”

“Và một kỹ sư bị liệt hoàn toàn các đầu ngón tay thì chẳng thể vặn nổi một con ốc nào trong mười bốn tháng tới đâu,” Ingrid đốp chát lại không một chút do dự, giọng điệu khô khốc, dứt khoát đặc trưng của một người sinh ra và lớn lên ở vùng viễn bắc Na Uy. “Về y xá ngay lập tức. Đó không phải là lời khuyên, đó là một mệnh lệnh y khoa có hiệu lực thi hành.”

Ren nháy mắt với An Khuê một cái đầy ngụ ý, khẽ thở dài rồi lủi nhanh ra phía cửa trượt, không dám đôi co thêm nửa lời với người phụ nữ nắm quyền sinh sát tối cao về mặt sức khỏe trên trạm.

Khi cánh cửa khép lại sau lưng Ren, Ingrid quay sang An Khuê. Ánh mắt cô chuyển từ vẻ nghiêm khắc lâm sàng sang chăm chú quan sát quầng sáng tím rực đang trùm lên các dãy khay rỗng. Cô bước chậm rãi lại gần các khay thủy canh vừa được dọn sạch, nhìn chằm chằm vào những vệt rễ mục sẫm màu còn sót lại quanh lỗ thoát dung dịch.

“Cô vừa khai tử toàn bộ vườn dâu tây à?” Ingrid hỏi, tông giọng trầm hẳn xuống.

“Đó là lựa chọn duy nhất có thể chấp nhận được vào lúc này, Ingrid. Chúng ngốn quá nhiều calo điện và cần ít nhất chín mươi ngày nữa mới có thể cho thu hoạch đợt quả tiếp theo. Chúng ta không có chín mươi ngày xa xỉ đó để đánh cược.” An Khuê tháo găng tay cao su, bước lại bàn thao tác sinh học, nơi đặt chiếc máy ly tâm mini và các giá đỡ ống nghiệm chứa dịch nuôi cấy gốc.

Ingrid mở bảng phân tích chuyển hóa dinh dưỡng trên máy tính bảng cá nhân, ngón tay lướt nhanh trên màn hình rồi xoay mặt kính về phía An Khuê. Những biểu đồ cột màu cam và đỏ hiện lên chi chít các chỉ số cảnh báo thiếu hụt nghiêm trọng.

“Tôi vừa chạy lại mô hình chuyển hóa năng lượng của phi hành đoàn dưới điều kiện cắt giảm mười lăm phần trăm khẩu phần calorie tổng thể và duy trì nhiệt độ sinh hoạt ở mức mười tám độ C,” Ingrid nói, đầu ngón tay cô chỉ vào các đường dốc tụt dốc thảm hại trên đồ thị biểu diễn. “Ở mức một nghìn bảy trăm kilocalorie mỗi ngày, cơ thể của năm con người trên trạm sẽ bắt đầu đốt cháy cạn kiệt lượng glycogen dự trữ trong gan và cơ bắp chỉ trong vòng bốn mươi tám giờ đầu tiên. Sau đó, quá trình dị hóa sẽ chuyển sang tấn công mô mỡ và làm tiêu biến các khối cơ vân. Nhưng đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất.”

Cô quẹt ngón tay, chuyển sang một biểu đồ huyết học chi tiết: “Trong môi trường trọng lực một phần sáu của Europa, sự tái phân bố dịch thể hướng tâm khiến thể tích huyết tương tuần hoàn giảm tự nhiên mười phần trăm. Tủy xương lập tức giảm tốc độ sinh hồng cầu do thiếu áp lực cơ học thường trực lên khung xương. Nếu khẩu phần ăn sắp tới của chúng ta chỉ dựa hoàn toàn vào các thanh lương thực ép khô khốc từ kho dự trữ khẩn cấp, chúng ta sẽ phải đối mặt với hội chứng thiếu máu hồng cầu nhỏ chỉ sau sáu tuần lễ. Nghiêm trọng hơn nữa: quá trình tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng — dopamine, serotonin, acetylcholine — sẽ sụt giảm nghiêm trọng nếu hệ thần kinh trung ương thiếu hụt các vitamin nhóm B phức hợp, đặc biệt là B1, B6 và B12.”

An Khuê nhìn vào những con số nhấp nháy màu đỏ rực trên màn hình: “Tôi đã tính toán việc cấy chủng nấm men *Saccharomyces cerevisiae* chịu lạnh vào hai bể nuôi cấy số hai và số ba ở vách sau. Chúng có thể cung cấp tới năm mươi phần trăm lượng protein thô cần thiết cho khẩu phần hằng ngày.”

“Chỉ protein thô thôi là hoàn toàn không đủ, An Khuê,” Ingrid nhấn mạnh, giọng nói mang sức nặng ngàn cân của một nhà lâm sàng đang nhìn thấy trước một thảm họa sinh hóa không thể cứu vãn. “Tôi cần sắt sinh học có độ khả dụng cao và vitamin nhóm B ở nồng độ đậm đặc nhất có thể. Thiếu máu dưới ba cây số băng này không đơn thuần chỉ là cảm giác mệt mỏi hay hoa mắt chóng mặt; nó đồng nghĩa với việc giảm sút nghiêm trọng khả năng vận chuyển oxy lên vỏ não, gây ra hiện tượng sương mù não, làm mất khả năng phán đoán không gian ba chiều và kéo dài thời gian phản xạ cơ bắp khi có biến cố địa chấn bất ngờ xảy ra. Amara đang phải chịu áp lực thần kinh cực độ để giữ cho trạm không tan vỡ; Luísa và Ren thì kiệt sức vì lao động thể chất nặng nhọc trong giá lạnh. Nếu cô không tối ưu hóa các chủng nấm men đó để chúng tích lũy sắt heme và tổng hợp B-complex ngay từ mẻ ươm đầu tiên này, tôi cam đoan với cô rằng chúng ta sẽ có một phi hành đoàn gồm năm kẻ mất trí, suy nhược và hoảng loạn chỉ sau ba tháng nữa.”

An Khuê gật đầu chậm rãi. Từng lời nói của Ingrid không phải là sự chỉ trích gay gắt, mà là một yêu cầu kỹ thuật vô cùng rõ ràng, chuẩn xác và không có chỗ cho bất kỳ sự thỏa hiệp nào.

“Tôi có mang theo chủng nấm men chuyển gene *Saccharomyces cerevisiae* mã hiệu Y-44 trong kho đông sâu nitơ lỏng,” An Khuê kéo một ngăn kéo kim loại bên dưới bàn làm việc sinh học, lấy ra một chiếc khay bảo quản bằng thép có khóa từ tính kín bưng. “Chủng này được thiết kế để biểu hiện quá mức các gene tổng hợp siderophore, cho phép tế bào hấp thu trực tiếp các ion sắt vô cơ từ dung dịch muối khoáng và chuyển hóa chúng thành dạng sắt sinh học phức hợp liên kết chặt chẽ với peptide. Đồng thời, hàm lượng riboflavin và cobalamin trong sinh khối khô của chúng cao gấp bốn lần so với các chủng nấm men làm bánh thông thường trên Trái Đất.”

“Mất bao lâu để đạt được mật độ tế bào đủ cho việc thu hoạch?” Ingrid hỏi, ánh mắt xanh xám dừng lại trên chiếc ống nghiệm chứa những tinh thể đông khô màu vàng nhạt bên trong khay thép.

“Ba mươi sáu giờ cho một mẻ nhân sinh khối trong lò phản ứng dung tích hai mươi lít, với điều kiện tôi phải duy trì được nhiệt độ dịch nuôi cấy ở mức hai mươi hai độ C và cung cấp đủ cơ chất carbon dễ tiêu,” An Khuê đáp. “Tôi dự định sẽ dùng bùn tảo hoại tử thu gom từ vụ sụp đổ bể nuôi cấy tuần trước làm nguồn amino acid nền, sau khi đã cho nó qua quá trình thủy phân nhiệt cục bộ để bẻ gãy hoàn toàn thành tế bào xenluloza cứng.”

Ingrid khẽ thở phào một hơi, bờ vai đang căng cứng của cô hơi chùng xuống đôi chút: “Rất tốt. Hãy ưu tiên nấm men trước khi gieo mầm rau. Tôi thà bắt cả phi hành đoàn phải nuốt thứ bột nấm men nhớp nháp có vị như bìa các-tông ngâm nước nhưng giữ được lượng hemoglobin ổn định trong máu, còn hơn là để họ nhai rau mầm tươi non rồi lăn đùng ra ngất xỉu khi đang vận hành máy bơm áp lực.”

Vị bác sĩ Na Uy nhanh chóng ghi thêm một dòng chú thích ngắn vào hồ sơ bệnh án điện tử của mình, rồi ngẩng đầu liếc nhìn quanh căn phòng tím rực một lần nữa trước khi bước chân về phía cửa: “Nhân tiện nhắc cô, hãy chuẩn bị tinh thần đi. Hệ thống tuần hoàn chất thải trung tâm sắp sửa bắt đầu chu trình xả bùn hữu cơ đấy.”

An Khuê khẽ rùng mình một cái khi nghe câu nói bình thản ấy.

Việc khôi phục một hệ sinh thái nhân tạo khép kín trong không gian giới hạn chưa bao giờ là một bức tranh thơ mộng về những mầm cây xanh mướt mọc lên từ những khay sứ trắng tinh. Về bản chất trần trụi nhất, nó là một cỗ máy xử lý chất thải sinh học tàn bạo, nhầy nhụa, bẩn thỉu và đòi hỏi sự đánh đổi đến tận cùng về mặt trực giác con người.

Để có thể nuôi dưỡng mẻ nấm men giàu vi chất kia và chuẩn bị nền dinh dưỡng cho hàng ngàn hạt mầm sắp sửa được gieo xuống, An Khuê không thể trông chờ vào những chiếc lọ hóa chất tinh khiết trong kho dự trữ — lượng hóa chất đó quá ít ỏi và bắt buộc phải để dành cho các thiết bị phân tích y tế của Ingrid. Nguồn phosphor, nitơ và kali duy nhất mà trạm Borealis đang sở hữu vào lúc này nằm ở chính năm cơ thể sống đang hít thở bầu không khí này.

An Khuê xoay người, bước về góc kỹ thuật phía tây của Vườn Thủy Canh, nơi đặt cụm thiết bị thu hồi dinh dưỡng khép kín — một tổ hợp chằng chịt gồm các bình phản ứng áp suất cao bằng hợp kim titan, cột chưng cất chân không mini và hệ thống màng lọc nano nhiều tầng.

Chất thải rắn sinh hoạt của toàn trạm sau khi đi qua buồng sấy nhiệt phân khô đã được chuyển hóa thành một khối bột hữu cơ màu nâu sẫm, giàu carbon và tro khoáng. Thế nhưng phosphor — mắt xích sống còn mang tính quyết định để cây trồng và vi sinh vật tổng hợp nên các phân tử tích lũy năng lượng ATP và màng tế bào phospholipid — vẫn bị khóa chặt trong các hợp chất canxi phosphate khó tan cùng những cấu trúc cặn hữu cơ phức tạp.

Cô bắt buộc phải thực hiện quy trình thủy phân nhiệt axit cục bộ.

An Khuê với lấy chiếc mặt nạ dưỡng khí phòng độc toàn phần treo trên vách, chụp lên mặt rồi siết chặt các van silicon quanh cằm và mang tai. Cô trút lượng bột chất thải rắn đã được cân định lượng cẩn thận vào buồng phản ứng titan, bơm thêm một lượng dung dịch axit sulfuric loãng thu hồi từ các bình ắc quy chì hỏng ở xưởng cơ khí, rồi ấn nút kích hoạt thanh gia nhiệt điện trở chìm bên trong.

Nhiệt độ trong bình tăng vọt lên 140 độ C, áp suất đồng hồ đẩy lên mức 0,4 MPa. Dưới tác động dữ dội của nhiệt độ và axit, các phản ứng hóa học bắt đầu bẻ gãy các liên kết hữu cơ bền vững, giải phóng các ion orthophosphate tự do vào pha lỏng.

Nhưng cái giá phải trả về mặt môi trường sống lập tức ập đến.

Để bảo toàn tối đa từng watt điện cho lò phản ứng Kifaru theo chỉ thị cắt giảm năng lượng nghiêm ngặt của Amara, quạt hút của hệ thống lọc xúc tác không khí trong Vườn Thủy Canh chỉ được phép hoạt động ở mức ba mươi phần trăm công suất nền. Các phiến lọc than hoạt tính bên trong ống dẫn khí đã bắt đầu bão hòa sau sự cố rung chấn băng của tuần trước.

Chỉ vài phút sau khi van xả áp của bộ chưng cất chân không hé mở để bắt đầu chu trình cô lập phosphor lỏng, một luồng mùi khủng khiếp bắt đầu len lỏi qua các khe gioăng kỹ thuật, bốc lên ngùn ngụt trong không gian khoang kín.

Đó là một thứ mùi hóa chất hủy diệt xộc thẳng vào khứu giác, một hỗn hợp kinh tởm pha trộn giữa mùi trứng thối nồng nặc của hydro sulfide, mùi khai nồng xé toạc cuống họng của khí amoniac đậm đặc, và mùi ngai ngái, tanh tưởi của các hợp chất hữu cơ bay hơi mercaptan bị đun sôi dưới áp suất cao. Dù đã đeo lớp mặt nạ phòng độc có phin lọc than hoạt tính dày cộp, An Khuê vẫn cảm thấy vị chua đắng lợm giọng xộc thẳng vào vòm họng, khiến các cơ dạ dày của cô co thắt lại từng cơn buồn nôn dữ dội.

Cô phải bám chặt hai tay vào tay vịn kim loại gắn trên bàn máy, nhắm nghiền mắt lại và cố gắng điều hòa nhịp thở thật nông, thật ngắn qua đường miệng.

Cánh cửa trượt cơ khí lại một lần nữa mở ra. Luísa Carvalho bước vào, hai tay xách theo một chiếc bình chứa bằng nhựa polyethylene đựng cặn nước xám thu gom từ khu sinh hoạt của phi hành đoàn. Vừa mới đặt một bước chân qua bậu cửa thép, nhà địa chất học người Brazil đã khựng phắt lại. Cô giật bắn người lùi mạnh về phía sau, theo phản xạ đưa ngay cánh tay áo nỉ dày cộp lên bịt chặt lấy mũi dù bản thân cũng đang đeo một chiếc khẩu trang y tế bốn lớp.

“Chúa lòng lành ơi, Khuê!” Luísa thốt lên, giọng cô nghẹt đặc và biến dạng hoàn toàn qua lớp vải. “Cái thứ mùi quái quỷ gì thế này? Trông như thể có ai đó vừa nung chảy một bãi rác công nghiệp khổng lồ kết hợp với một hầm cầu lộ thiên từ thế kỷ trước vậy!”

“Đó chính là mùi của sự sống còn đấy, Luísa,” An Khuê nói qua bộ đàm truyền âm tích hợp trong mặt nạ, giọng cô nghe méo mó, nghẹn lại và ngắt quãng theo từng nhịp thở khó nhọc. “Phosphor không tự nhiên sinh ra từ những tảng băng tinh khiết của Europa. Muốn có rau xanh để nhai trong ba tuần nữa thì chúng ta bắt buộc phải nuốt trôi thứ này thôi.”

Luísa nhăn tít trán lại, gương mặt lộ rõ vẻ đau khổ tột cùng. Cô bước thoăn thoắt tới đặt mạnh chiếc bình chứa xuống cạnh bệ phản ứng rồi lùi xa hết mức có thể, tựa lưng vào vách khoang đối diện: “Tôi thề là tôi tình nguyện bò trườn qua các khe nứt băng âm hai mươi độ ngoài kia còn hơn là phải đứng chôn chân ở cái góc này quá năm phút. Quạt thông gió của trạm lại lăn ra hỏng rồi à?”

“Không hỏng. Nhưng Mây chỉ cấp đúng sáu mươi watt điện cho cụm thông gió của phân khu này thôi,” An Khuê giải thích, ngón tay chỉ lên trần nhà nơi cánh quạt hút đang quay lờ đờ như một kẻ sắp chết đuối. “Chúng ta phải chia nhau túc trực ở đây để theo dõi đồng hồ đo áp suất của bộ chưng cất chân không. Nếu van an toàn bị nghẹt do cặn canxi kết tủa, áp suất tăng vọt sẽ làm nổ tung ống sinh hàn bằng thủy tinh thạch anh.”

Luísa đưa mắt nhìn chiếc đồng hồ áp suất cơ học bằng đồng đang rung rinh bần bật trên thân bình titan, rồi thở dài thườn thượt một tiếng nặng nề. Cô không quay lưng bỏ đi. Dù hai hàng lông mày vẫn nhíu chặt lại vì ghê tởm, cô gái người Brazil vẫn bước lại gần bệ máy, với lấy chiếc cờ-lê định hình bằng thép treo trên móc: “Để tôi canh chừng cái van xả này cho. Cô đi chuẩn bị khay và hạt giống đi. Ở cái chỗ này mà để hai người cùng hít thở thứ không khí độc hại này thì lãng phí oxy lắm, nhưng tôi không thể để cô ngất xỉu một mình giữa đống phân hóa học sôi sùng sục này được đâu.”

An Khuê nhìn Luísa, ánh mắt cô ánh lên sự ấm áp chân thành phía sau lớp kính bảo hộ trong suốt: “Cảm ơn Luísa rất nhiều. Chỉ cần để ý giữ cho kim đồng hồ áp suất luôn nằm dưới vạch đỏ ba mươi kilopascal là an toàn.”

Mùi hóa chất cay nồng tiếp tục tra tấn khoang thủy canh suốt một giờ đồng hồ tiếp theo. Ren sau khi bị Ingrid xua đuổi khỏi y xá cũng quay lại phụ một tay, anh và Luísa thay phiên nhau đứng chôn chân cạnh cụm chưng cất, vừa căng mắt canh chừng chiếc kim áp suất vừa liên tục ho sù sù qua lớp khẩu trang bảo hộ. Đó là một sự chịu đựng thầm lặng, bền bỉ và không hề có tên trong bất kỳ cuốn cẩm nang du hành không gian lộng lẫy nào của Trái Đất — nơi người ta chỉ thích vẽ ra những nhà kính thủy canh xanh mướt lung linh và những phi hành gia tươi cười rạng rỡ hái những quả cà chua đỏ mọng trong môi trường không trọng lực. Thực tế trần trụi của việc bám trụ sự sống dưới ba cây số băng dày là bùn thải, là amoniac đặc quánh, là mùi lưu huỳnh khét lẹt thiêu đốt niêm mạc mũi và sự nhẫn nại đến cùng cực của những con người đang kiên quyết từ chối đầu hàng cái chết lạnh lẽo.

Mãi cho đến khi dòng dịch lỏng màu vàng rơm trong vắt, chứa đầy các ion phosphate hòa tan và muối amoni đậm đặc bắt đầu chảy róc rách qua ống dẫn thủy tinh vào bình chứa thứ cấp, An Khuê mới có thể thở phào nhẹ nhõm. Cô vặn chặt van thủy phân chính, tắt thanh gia nhiệt và kích hoạt chu trình tráng rửa khép kín bằng nước ngưng tụ.

Luísa như được giải thoát, lập tức lách người qua khe cửa trượt hẹp, vừa đi vừa thở dốc từng ngụm lớn để tìm kiếm chút không khí trong lành hơn dọc theo hành lang trung tâm.

An Khuê tháo chốt mặt nạ phòng độc, đưa tay lau sạch những giọt mồ hôi đang đọng lại thành vệt quanh sống mũi và gò má. Mùi hóa chất hữu cơ vẫn còn vương vất nồng nặc trong không gian, bám chặt vào từng thớ thịt và sợi vải của bộ đồ bảo hộ, nhưng nồng độ các chất độc hại trong không khí lúc này đã giảm xuống dưới ngưỡng nguy hiểm theo báo cáo hiển thị trực tiếp của Mây.

Cô bắt đầu dùng nước cất pha loãng dung dịch phosphor vừa thu hồi được, cẩn thận cân chỉnh độ pH của dung dịch về mức lý tưởng 5,8 bằng dung dịch đệm hữu cơ yếu, rồi kích hoạt bơm nhu động để đưa dung dịch dinh dưỡng vào hệ thống mao dẫn của các khay canh tác tầng thấp.

Một tiếng bước chân nhẹ nhàng, chậm rãi dừng lại ngay bên ngoài cửa khoang.

An Khuê ngẩng đầu nhìn lên. Chỉ huy Amara Njoroge đang đứng tựa lưng vào khung cửa trượt bằng thép, hai tay khoanh lại trước ngực. Người phụ nữ Kenya mặc bộ đồ nỉ màu xanh đậm của trạm, khuôn mặt lộ rõ vẻ hốc hác, gầy rộc đi sau những ca trực liên miên không ngủ bên cạnh bảng điều khiển trung tâm để ổn định lò phản ứng Kifaru.

“Tôi nghe thấy Luísa vừa đi dọc hành lang vừa càu nhàu rằng khoang của cô vừa biến thành một cơ sở sản xuất vũ khí hóa học bất hợp pháp,” Amara cất tiếng, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mệt mỏi nhưng hiền hậu.

“Đó là sự thật một trăm phần trăm đấy, thưa Chỉ huy,” An Khuê đáp, chỉ tay về phía chiếc bình chứa dung dịch dinh dưỡng màu vàng nhạt vừa được đồng hóa xong. “Nhưng đổi lại, chúng ta vừa thu hồi thành công một trăm bốn mươi gram phosphor nguyên chất dạng khả dụng. Số lượng này đủ để duy trì ba chu kỳ canh tác mầm hạt ngắn ngày và nuôi cấy ít nhất hai mươi mẻ nấm men giàu vi chất.”

Amara bước vào bên trong phòng, từng bước chân của cô khẽ khàng nhưng vô cùng vững chãi trên mặt sàn thép dập nổi. Ánh sáng tím thẫm rực lên từ dàn đèn LED mới của Ren rọi thẳng xuống làn da nâu sẫm của cô, tạo nên những đường viền sắc nét, đăm chiêu và đầy góc cạnh. Cô đi chầm chậm dọc theo dãy khay composite rỗng không, nơi chỉ mới vài tiếng trước vẫn còn là những luống dâu tây xanh tốt dẫu đang chết dần.

“Nhổ bỏ sạch sẽ hết rồi à?” Amara hỏi, giọng nói trầm xuống, phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng.

“Vâng. Bắt buộc phải giải phóng mặt bằng cho những thứ có thể nuôi sống chúng ta trong chu kỳ ngắn ngày.”

Amara rơi vào im lặng hồi lâu. Cô đưa một bàn tay ra, chạm nhẹ những đầu ngón tay thô ráp vào gờ nhựa của chiếc khay rỗng. An Khuê tinh ý nhận thấy bàn tay phải của người chỉ huy hơi co cứng lại một cách bất thường; ngón tay trỏ khẽ giật một nhịp ngắn đầy bực bội trước khi Amara nhanh chóng cuộn các ngón tay lại thành một nắm đấm chặt, rồi giấu nhẹm bàn tay đó vào sâu trong túi áo nỉ.

“Mười bốn tháng, An Khuê à,” Amara nói khẽ, ánh mắt cô nhìn mông lung vào khoảng không vô định giữa những giàn đèn tím ngắt. “Bốn trăm hai mươi lăm ngày Trái Đất. Đó là một khoảng thời gian dài vô tận khi người ta phải sống dưới một chiếc vung băng khổng lồ dày ba cây số, hít thở thứ không khí đã bị tái chế lần thứ mười nghìn, và biết chắc chắn một điều rằng ngoài kia không có bất kỳ ai có thể đến cứu mình kịp lúc nếu cái lò phản ứng chết tiệt kia ngừng đập.”

Cô quay người sang nhìn thẳng vào mắt An Khuê: “Tôi đã phải liên tục đưa ra những quyết định tàn nhẫn và lạnh lùng nhất trong suốt bốn mươi tám giờ vừa qua. Cắt giảm nguồn điện thiết bị của Luísa, niêm phong xưởng cơ khí của Ren, và ra lệnh đóng băng hoàn toàn giếng khoan Borealis — chôn vùi con tàu Nereid và những tín hiệu ngọc lam bí ẩn kia vào bóng tối vô tận của lòng biển. Luísa giận tôi, Ren thất vọng, và tôi biết thừa rằng cô cũng cảm thấy đau đớn đến thắt lòng khi nhìn những dữ liệu khoa học quý giá đó bị bỏ rơi lại phía sau.”

An Khuê mím chặt môi, không hề buông lời phủ nhận. Hình ảnh gói dữ liệu đệm sót lại với đỉnh quang phổ 485 nanômét nhấp nháy cô độc trên màn hình điều khiển của Mây lúc rạng sáng vẫn còn in đậm trong tâm trí cô như một vết thương chưa kịp khép miệng.

“Tôi hoàn toàn hiểu lý do đằng sau những quyết định đó của chị, Amara,” An Khuê nói một cách chân thành. “Chị đang gánh trên vai sinh mạng của năm con người. Khoa học sẽ chẳng còn bất kỳ ý nghĩa nào nếu như tất cả các nhà khoa học đều bị biến thành những xác ướp đóng băng dưới lớp vỏ này.”

Amara thở ra một hơi dài, ánh mắt cô dừng lại trên những khay xơ dừa ẩm ướt đang nằm im lìm chờ đón những hạt giống mới: “Người ta thường lầm tưởng rằng sinh tồn ngoài không gian chỉ đơn thuần là một bài toán cân bằng năng lượng — là lượng calorie nạp vào, là áp suất riêng phần của oxy trong phổi và lưu lượng tuần hoàn của chất làm mát kim loại lỏng NaK. Nhưng tôi đã từng chứng kiến những phi hành đoàn kỳ cựu nhất gục ngã và phát điên trong các mô phỏng cô lập dài ngày ở sa mạc băng giá vùng cực, chỉ vì một lý do đơn giản: họ quên mất màu sắc của sự sống trông như thế nào.”

Cô đưa tay chỉ vào những chiếc khay thủy canh: “Đó là lý do duy nhất khiến tôi kiên quyết bảo vệ nguồn điện cho Vườn Thủy Canh Bình Minh này đến cùng, ngay cả khi Ingrid đã lớn tiếng yêu cầu tôi phải dồn toàn bộ công suất dự phòng cho các thiết bị sinh tồn trong y xá. Mảng xanh này, An Khuê à, nó không đơn thuần chỉ là thức ăn để lấp đầy dạ dày. Nó là bằng chứng duy nhất chứng minh rằng chúng ta vẫn là những sinh vật sống thuộc về một hành tinh có sự sống trù phú, chứ không phải là những bóng ma cơ khí mục rỗng đang chờ ngày bị chôn vùi dưới đáy băng Europa. Đừng để nó chết.”

Lời chia sẻ hiếm hoi xuất phát từ đáy lòng của Amara khiến An Khuê cảm thấy một làn sóng xúc động dâng trào mạnh mẽ nơi lồng ngực. Dưới lớp vỏ bọc sắt đá, kỷ luật thép và có phần lạnh lùng xa cách của một người chỉ huy, Amara thấu hiểu sự mong manh của tâm lý con người sâu sắc hơn bất kỳ ai trên trạm nghiên cứu này.

“Tôi sẽ không để nó chết,” An Khuê khẳng định bằng một giọng chắc nịch. “Tôi hứa danh dự với chị.”

Amara khẽ gật đầu, vỗ nhẹ bàn tay trái lên vai An Khuê — một cái vỗ vai dứt khoát nhưng chan chứa sự tin cậy tuyệt đối — rồi cô quay người bước ra khỏi khoang, tiếp tục gánh vác trách nhiệm điều hành cả một trạm nghiên cứu đang chao đảo bên bờ vực sụp đổ.

Khi cánh cửa trượt khép lại và chỉ còn lại một mình giữa quầng sáng tím ma quái, An Khuê kéo chiếc hộp kim loại chứa hạt giống dự phòng chiến lược ra đặt ngay ngắn trên bàn làm việc.

Đó là những chiếc túi màng nhôm bảo quản chân không đặc biệt, được niêm phong cẩn thận từ Trung tâm Lưu trữ Hạt giống Toàn cầu Svalbard trước khi con tàu thám hiểm rời bệ phóng ở trung tâm vũ trụ Kourou nhiều năm về trước. Cô dùng một lưỡi dao mổ vô trùng rạch nhẹ miệng túi nhôm đầu tiên: những hạt cải mầm *Brassica rapa* thuộc giống siêu lùn rơi ra, tròn xoe và bóng bẩy như những hạt cườm tí hon; tiếp đó là chiếc túi thứ hai chứa các phôi hạt của giống đậu lùn chỉnh sửa gene mang mã hiệu ‘E-Bean-09’.

Giống đậu lùn này là một trong những thành tựu công nghệ sinh học nông nghiệp vũ trụ đỉnh cao: chúng đã được các nhà di truyền học làm bất hoạt hoàn toàn các gene thụ thể nhạy cảm với chu kỳ quang phổ dài, cho phép cây có thể ra hoa, thụ phấn và đậu quả liên tục dưới chu kỳ chiếu sáng quang phổ hẹp đỏ-xanh suốt hai mươi tư giờ mỗi ngày mà không hề bị rối loạn nhịp sinh học nội sinh. Hơn thế nữa, bộ máy cố định đạm của chúng đã được biến đổi để có thể đồng hóa trực tiếp các ion muối amoni từ dịch thải tái chế mà không cần đến sự hiện diện của các vi khuẩn nốt sần cộng sinh phức tạp trong đất.

An Khuê dùng một chiếc nhíp y tế đầu cong gắp từng phôi đậu một cách cẩn trọng, nhẹ nhàng đặt chúng vào các hốc xơ dừa tái chế đã được tẩm ướt đẫm dung dịch dinh dưỡng giàu phosphor vừa thu hồi.

Dưới trường trọng lực 0,134 g, nước và dịch lỏng không hề thấm hút xuống đáy theo trọng lực tự nhiên như trên mặt đất, mà có xu hướng bám dính lấy nhau và bao bọc lấy bề mặt hạt do lực căng bề mặt chiếm ưu thế tuyệt đối. Cô phải dùng đầu que xốp vi mao dẫn chuyên dụng để nhẹ nhàng dẫn các giọt nước li ti bao bọc xung quanh lớp vỏ hạt, đảm bảo cung cấp đủ độ ẩm mà không làm bít kín các lỗ khí khổng non nớt của phôi mầm.

Từng hạt một. Hai trăm hạt cải mầm được gieo đều đặn trên khay thứ nhất; bốn mươi phôi đậu lùn được bố trí thẳng tắp trên khay thứ hai.

Các ngón tay của cô chuyển động nhịp nhàng, chuẩn xác và đều đặn như một cỗ máy tự động, nhưng trong từng cử chỉ nhỏ nhặt ấy đều chứa đựng sự nâng niu, trân trọng tuyệt đối. Đây chính là mẻ gieo hạt đầu tiên của thời kỳ hậu chấn động — mẻ hạt mang tính chất sống còn sẽ quyết định xem liệu phi hành đoàn có thể tự chủ được nguồn vitamin tươi sau mười lăm ngày nữa hay không.

“Mây,” An Khuê thì thầm vào micrô khi cô đặt phôi đậu cuối cùng vào vị trí, rồi cẩn thận phủ lên trên nó một lớp xơ cellulose mỏng để duy trì độ ẩm bề mặt. “Kích hoạt giao thức giám sát quang học vi mô Macro-Cam-01. Thiết lập chu kỳ quét hình ảnh độ phân giải cao: sáu mươi phút một lần đối với toàn bộ các khay hạt mầm. Theo dõi sát sao độ ẩm bề mặt giá thể, tốc độ hydrat hóa của lớp vỏ hạt và nồng độ khí ethylene sinh học trong không khí vi mô xung quanh luống.”

*“Đã nhận lệnh, kỹ sư Hồ,”* trí tuệ nhân tạo Mây lập tức phản hồi, âm thanh khẽ rung lên qua các vi mạch loa tích hợp chìm trên vách kim loại. *“Lịch trình ghi nhận dữ liệu đã được khóa cố định vào bộ nhớ lõi. Độ ẩm giá thể hiện tại ghi nhận: bảy mươi hai phẩy năm phần trăm. Nhiệt độ vùng rễ: hai mươi mốt phẩy hai độ C. Điều kiện vi khí hậu của phân khu Alpha hoàn toàn đạt chuẩn tối ưu cho sự nảy mầm sinh học.”*

An Khuê cúi sát mặt xuống mặt khay đậu số hai để kiểm tra lần cuối cùng trước khi niêm phong lồng kính bảo vệ.

Dưới ánh sáng tím thẫm rực lên từ dàn đèn LED tự chế của Ren, lớp vỏ hạt màu nâu nhạt của các phôi đậu lùn đang bắt đầu hơi phồng căng lên khi chúng hút đợt nước dinh dưỡng đầu tiên từ lớp xơ dừa ẩm.

Bỗng nhiên, ánh mắt của cô khựng lại.

Ở góc đông bắc của khay số hai, một phôi đậu đột biến mang mã số E-09-Delta dường như đang có phản ứng sinh học với môi trường nhanh một cách hoàn toàn bất thường. Lớp vỏ hạt màu nâu nhạt của nó đã nứt toác ra một vệt mảnh li ti, để lộ ra một mầm rễ cực nhỏ màu trắng muốt như ngọc. Đầu rễ non nớt ấy không hề uốn cong hướng xuống đáy khay theo trọng lực yếu ớt của Europa, mà lại vươn thẳng sang một bên, khẽ cựa quậy rất chậm chạp trong khoảng không xốp rỗng của giá thể xơ dừa — một tốc độ phân chia và trương nở tế bào vượt quá mô hình chuẩn của Mây ít nhất bốn mươi phần trăm trong điều kiện vi trọng lực và chiếu xạ quang phổ hẹp.

An Khuê nín thở, chớp mắt nhìn thật kỹ. Mầm rễ trắng tinh khôi, mỏng manh như một sợi tơ nhện non, nổi bật một cách kỳ lạ giữa nền xơ dừa đen xỉn và thứ ánh sáng tím ma mị đang bao trùm lấy căn phòng.

Đó là một tín hiệu sinh học kỳ lạ, một sự thôi thúc mãnh liệt đến khó tin của sự sống đang muốn vươn lên bất chấp mọi quy luật băng giá khắc nghiệt đang vây bọc trạm Borealis. Nhưng liệu đó là một đột biến thích nghi có lợi, hay chỉ là một sự bộc phát tuyệt vọng của một bộ mã di truyền đã bị xáo trộn dưới tác động tích lũy của các tia bức xạ vũ trụ xuyên qua tầng băng?

Ngắm nhìn những mầm xanh yếu ớt dưới ánh đèn tím ma quái, An Khuê tự hỏi liệu chúng có đủ sức chống chọi qua mười bốn tháng giá lạnh.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn