Trạm Ánh Sáng EuropaC.22 / 42
Chương 22

Tin nhắn ba mươi bảy byte

Âm thanh tích tắc của tần số dẫn đường vọng đều đặn trong Trung tâm Điều hành Mây, nơi cả năm thành viên vây quanh bảng điều khiển truyền thông, dõi mắt theo dòng lệnh nén dữ liệu của Mây.

Tiếng nhịp xung 1 Hz khô khốc phát ra từ bộ tạo dao động tinh thể thạch anh của đài bề mặt Kepler, truyền qua ba kilômét cáp đồng trục dọc theo trục nâng, gõ từng nhịp buốt giá vào màng nhĩ mọi người. Không gian phòng điều khiển ngập tràn thứ ánh sáng xanh lam dịu mát từ các màn hình tinh thể lỏng tỏa nhiệt thấp. Mùi không khí nhân tạo ngai ngái mùi ozone sau sự cố điện, pha lẫn hơi ẩm lạnh lẽo thoát ra từ những khối băng gia cố xung quanh vách hợp kim duralumin, tạo thành một bầu khí quyển ngột ngạt đến đông cứng. Từng chu kỳ thở ra của năm con người hóa thành những làn sương mỏng manh, lơ lửng rồi tan biến trước những tấm tản nhiệt bằng đồng xốp đang khẽ run rẩy.

Amara Njoroge đứng tựa một bên hông vào mép bàn điều khiển chính. Bộ đồ lót giữ nhiệt bằng sợi aramid sẫm màu ôm sát thân hình gầy gò của cô vẫn còn vương những vệt xám mờ của bụi băng bề mặt chưa kịp lau sạch sau chuyến đi bộ ngoài không gian sinh tử. Bàn tay phải của cô gập chặt, tì các khớp ngón tay lên mặt bàn kim loại bóng loáng nhằm đè nén cơn co thắt vi mạch tiền đình đang chực chờ bùng phát. Cạnh cô, Ren Ishikawa ngồi sụp trên chiếc ghế xoay kỹ thuật, hai bả vai rũ xuống vì kiệt sức. Lớp da quanh gò má và mũi của anh vẫn còn ửng đỏ sau hàng chục phút chịu đựng cái lạnh âm một trăm sáu mươi độ C trên bề mặt giàn Kepler. Bác sĩ Ingrid Solberg đứng ngay sau lưng họ, chiếc máy đo điện tim cầm tay gắn đầu dò quang học trên cổ tay Amara nhấp nháy đèn cam liên tục, phát ra cảnh báo thầm lặng về liều bức xạ tích lũy 24,6 mili-Sievert.

"Tuyến truyền dẫn phụ Kepler đã ổn định ở tần số vi ba mười hai gigahertz," giọng nói của Mây cất lên từ cụm loa vòm, trong trẻo và chuẩn xác bằng tiếng Việt, không hề gợn chút dao động cơ học nào. "Tốc độ truyền dữ liệu thô bị khóa cứng ở mức chín mươi sáu kilobit mỗi giây. Tuy nhiên, mật độ nhiễu bức xạ từ đai plasma Sao Mộc trên bề mặt hiện tương đương bốn mươi decibel. Để đảm bảo xác suất thu nhận không lỗi qua ăng-ten bảy mươi mét của Mạng lưới Không gian Sâu tại Trái Đất mà không cần phiên truyền lặp gây suy kiệt pin Kepler, dung lượng gói tin tải lên tối đa được giới hạn nghiêm ngặt."

An Khuê bước lên nửa bước, ánh mắt dừng lại ở khung cửa sổ dòng lệnh đang nhấp nháy con trỏ màu hổ phách. Chìa khóa vonfram điều phối năng lượng Cấp 1-B treo bên hông va nhẹ vào mép thắt lưng dệt bằng sợi tổng hợp, phát ra một tiếng *lách cách* nhỏ bé. Cảm giác kim loại lạnh ngắt truyền qua lớp găng tay mỏng nhắc cô nhớ về trọng trách nặng nề đang đè nặng lên từng vi mạch dự phòng của trạm.

"Mây, trạng thái cô đọng hiện tại thế nào?" An Khuê hỏi, ngón tay cô lướt trên bảng phím cảm ứng để kiểm tra đường truyền nội bộ giữa Khoang Sinh học Lam và hệ thống viễn thông.

"Tôi đang thực hiện thuật toán nén cấu trúc cây Huffman kết hợp mã sửa sai Golay bậc ba," Mây đáp. "Toàn bộ hiện trạng của Trạm Ánh Sáng Europa — bao gồm tọa độ chấn tâm địa chấn 7,8 độ Richter tại đới Cổ Thạch, mức công suất nền ba mươi lăm phần trăm của lò phản ứng Kifaru với một nhánh làm mát đơn, tình trạng sống sót của năm nhân sự, mức tổn thất tài nguyên sinh học và yêu cầu đồng bộ hóa vector tiếp cận cho tàu vận tải Umoja — đã được phân rã thành các trường nhị phân nguyên thủy."

Trên màn hình trung tâm, một chuỗi ký tự thập lục phân xuất hiện, ngắn ngủi đến mức khó tin:

`5E A1 05 23 4E 8F 01 27 00 00 1F 7B C2 09 4A 12 00 E4 88 1C 00 03 5A 7D F1 99 2A 00 14 0B CE D4 1A 8F 9C 02 E7`

"Ba mươi bảy byte," Luísa Carvalho lẩm bẩm, hai cánh tay khoanh chặt trước ngực, đôi mắt đen sâu thẳm quét qua từng cụm số. Ánh sáng lân tinh từ màn hình phản chiếu trong mắt cô như hai đốm lửa cô độc giữa đêm trường địa cực. "Gói trọn mạng sống của chúng ta, thảm họa địa chất tồi tệ nhất lịch sử thám hiểm ngoài Hệ Sao Mộc, và cơ hội duy nhất để không bị bỏ rơi giữa khoảng không... chỉ bằng ba mươi bảy byte?"

"Chính xác là hai trăm chín mươi sáu bit nhị phân, Luísa," Ren khẽ cười khẩy, giọng anh khàn đặc vì dây thanh quản bị khô khốc sau chuyến EVA. Anh đưa tay quệt vệt dầu mỡ còn sót lại nơi cằm, mắt không rời khỏi chuỗi hex. "Một bức ảnh chụp nụ cười của cô ở độ phân giải thấp nhất trên Trái Đất cũng đã tốn gấp trăm ngàn lần ngần ấy. Nhưng cơ học quỹ đạo và bức xạ điện từ không quan tâm đến pixel. Ba mươi bảy byte này là thứ duy nhất có thể chui lọt qua bức tường bão từ của gã khổng lồ Sao Mộc mà không bị biến thành một mớ rác ngẫu nhiên."

An Khuê nhìn vào cấu trúc phân rã bit mà Mây vừa mở rộng dưới dạng biểu đồ khối: - Byte 0–3: Mã nhận dạng trạm trắc viễn khẩn cấp `BOREALIS-01` và mã thời gian Epoch đồng bộ. - Byte 4–7: Báo cáo chấn động kiến tạo đới Cổ Thạch (độ lớn Mw 7.8, độ dịch trượt sâu, sập khoang sinh học chính). - Byte 8–11: Trạng thái nguồn năng lượng: Lò Kifaru hoạt động ở mức 35% công suất nền (24,5 kWe điện, 70 kWt nhiệt qua CO2 siêu tới hạn), vòng làm mát NaK số một hoạt động, vòng số hai bị cô lập vĩnh viễn, ắc quy dự phòng Tầng B còn 410 kWh. - Byte 12–15: Nhân sự và trạng thái hỗ trợ sự sống: Bitmask `00011111` — cả 5 thành viên còn sống, tổn thất 15% hạn ngạch calorie, chủng men Y-44 và vườn ươm Bình Minh duy trì chu trình khép kín tối thiểu. - Byte 16–23: Cảm biến giếng Borealis và tàu ngầm Nereid: Đứt cáp chính ở độ sâu 2.014 mét, cầu nối quang học thụ động đơn mode 4,8 Mbps duy trì, xung quang học ngọc lam 485 nm ghi nhận liên tục tại Cánh đồng Gương Sống. - Byte 24–31: Vector trạng thái quỹ đạo yêu cầu: Dữ liệu hồi quy lịch thiên văn trắc viễn của Europa quanh Sao Mộc, đề nghị Trung tâm Kiểm soát Darmstadt tái tính toán góc vào quỹ đạo hạ cánh cho Umoja. - Byte 32–36: Mã kiểm tra dư thừa chu kỳ CRC-32 và bit đồng bộ kết thúc gói tin.

"Độ toàn vẹn logic của các trường thế nào, Khuê?" Amara lên tiếng. Giọng vị chỉ huy Kenya trầm và phẳng lặng như mặt hồ không gió, nhưng đôi mắt cô vẫn ghim chặt vào An Khuê, đòi hỏi sự chuẩn xác lạnh lùng tuyệt đối của một sĩ quan điều phối kỹ thuật dự phòng. Dù nhịp tim hiển thị trên máy đo của Ingrid vẫn đang dao động quanh ngưỡng một trăm lẻ năm nhịp mỗi phút, nét mặt Amara không hề lộ ra một phân ly yếu mềm.

An Khuê kéo bàn phím cơ quang học về phía mình. Những phím bấm bằng nhựa PEEK phát ra âm thanh lách tách đanh gọn dưới ngón tay cô. "Tôi và Ren sẽ thực hiện kiểm tra chéo thủ công hai lớp. Không thể để xảy ra bất kỳ sai lệch một bit nào trong mặt nạ nhân sự hay trạng thái lò phản ứng."

Ren gật đầu, kéo chiếc kính bảo hộ gắn kính phóng đại kỹ thuật số trượt xuống mắt. Hai người bắt đầu đọc từng chuỗi bit theo quy trình kiểm tra mù đôi, một giao thức nghiêm ngặt được thiết lập từ thời kỳ đầu của các sứ mệnh Apollo nhưng vẫn là bức tường lửa cuối cùng chống lại sai sót con người nơi vực thẳm không gian.

"Khối trạng thái nhân sự: Byte 10, phân đoạn bốn bit thấp," An Khuê đọc to, ngón tay trỏ rà trên thanh hiển thị quang học. "Giá trị nhị phân: `0-0-0-1-1-1-1-1`. Năm bit một đại diện cho Njoroge, Solberg, Carvalho, Ishikawa, Hồ. Bit tử vong: toàn bộ bằng không."

"Khớp với dữ liệu y xá," Ingrid lên tiếng từ phía sau, giọng dứt khoát. Bà liếc nhìn màn hình sinh trắc học tổng hợp đang hiển thị năm đường sóng điện tâm đồ dập dờn song song. "Không ai trong chúng ta là bóng ma cả. Darmstadt cần phải biết rõ họ vẫn còn năm miệng ăn cần nuôi dưỡng."

"Khối năng lượng Kifaru: Byte 6 và 7," Ren tiếp tục, các ngón tay thô ráp lướt nhanh trên các thanh công tắc logic dự phòng. "Mã `0x0127`. Tương đương 24,5 kilowatt điện nền, nhiệt độ tâm lò bảy trăm hai mươi Kelvin. Cờ báo cô lập van 02-B đã bật. Trở kháng mạch đo áp điện ngoài vỏ van số ba ghi nhận áp lực nén ba mươi tám phẩy bốn megapascal từ khối băng chèn. Không có báo động rò rỉ kim loại lỏng. Khớp."

"Khối quỹ đạo Umoja: Byte 28 đến 31," An Khuê nhấn phím đối soát bảng lịch thiên văn vi sai mà Luísa vừa trích xuất từ dữ liệu định vị thiên văn Kepler. "Góc bù pha quỹ đạo Europa: ba mươi tư phẩy hai độ. Yêu cầu tính toán lại điểm đốt động cơ hãm liên hành tinh Delta-V cho tàu tiếp tế. Không có lỗi tràn số."

"Tổng kiểm tra CRC-32," Mây thông báo sau ba chu kỳ đồng hồ nano-giây. "Giá trị băm khớp hoàn toàn với đa thức chuẩn quốc tế IEEE 802.3. Độ tin cậy toán học đạt một trăm phần trăm. Không phát hiện xung đột bit."

Cả phòng điều khiển rơi vào một khoảng lặng ngắn. Tiếng rù rì trầm thấp của máy nén khí CO2 siêu tới hạn từ sâu trong lòng đất vọng lên qua lớp sàn thép, rung nhẹ dưới đế giày từ tính của năm con người. Sợi dây cáp đồng trục dẫn lên mặt băng như đang căng ra dưới áp lực của sự chờ đợi. Mọi ánh mắt dần chuyển dịch từ các màn hình dữ liệu về phía Amara.

Amara hít một hơi sâu. Lồng ngực cô phập phồng chậm rãi dưới lớp vải aramid. Từng thớ cơ trên gương mặt cô thắt lại trong một thoáng quyết định. Cô bước thẳng đến trước bảng phát lệnh tối cao, nơi một nắp che an toàn bằng mica màu đỏ đã được mở sẵn, để lộ phím kích hoạt cơ học màu đen mạ crôm. Đó là cơ chế ngắt mạch vật lý duy nhất không đi qua bất kỳ cổng logic bán dẫn nào của Mây, trao quyền định đoạt số phận của cả trạm vào ngón tay của người chỉ huy.

"Đây là tiếng nói đầu tiên của chúng ta gửi về nhà kể từ khi mặt đất này nứt toác," Amara nói, ánh mắt lướt qua từng gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì thiếu ánh sáng tự nhiên của các đồng đội. "Nhân loại tưởng rằng chúng ta đã bị chôn vùi trong lòng băng. Hãy cho họ biết: Trạm Ánh Sáng Europa vẫn đang thở."

Bàn tay phải của Amara giơ lên, những ngón tay siết chặt lại một khoảnh khắc để triệt tiêu cơn rung giật cơ cục bộ do phơi nhiễm bức xạ, rồi dứt khoát hạ xuống.

*Tách.*

Phím lệnh chìm sâu vào ổ tiếp điểm mạ vàng.

"Lệnh truyền phát đã kích hoạt," Mây cất tiếng. "Bộ điều chế pha vi ba trên đài Kepler đang bơm công suất bốn mươi lăm watt vào ống dẫn sóng. Tần số mười hai gigahertz. Góc tà ba mươi tư độ, phương vị một trăm bốn mươi hai độ Bắc Đông Bắc."

Dưới lớp vỏ băng dày ba cây số, không ai có thể nhìn thấy tia bức xạ vô hình ấy. Nhưng trong tâm trí An Khuê, hình ảnh chiếc đĩa ăng-ten Kepler trơ trọi giữa hoang mạc băng lạnh lẽo âm một trăm sáu mươi độ, kiêu hãnh đối mặt với quả cầu Sao Mộc khổng lồ đầy giông bão, hiện lên sắc nét như khắc vào võng mạc. Từ lòng chiếc đĩa kim loại mạ berili vừa được sửa chữa bằng máu và mồ hôi của Amara và Ren, một chùm sóng điện từ cực hẹp mang gói dữ liệu ba mươi bảy byte xé toạc màn chân không tối đen, lao vút vào không gian liên hành tinh với vận tốc ba trăm ngàn kilômét mỗi giây.

Mũi tên thông tin ấy nhắm thẳng vào một chấm xanh lam mờ nhạt lơ lửng cách đó hơn bảy trăm triệu kilômét.

Trên màn hình trắc viễn, đồng hồ đếm ngược trễ không gian hai chiều tự động kích hoạt:

`THỜI GIAN TRỄ ƯỚC TÍNH: 52 PHÚT 14 GIÂY`

"Gói tin đã rời khỏi hệ thống," Ren thở dài một hơi, thả lỏng toàn bộ cơ thể dựa ngửa vào lưng ghế, hai tay đan sau gáy. Những khớp ngón tay anh kêu răng rắc. "Giờ thì... bóng đã sang chân Darmstadt."

***

Năm mươi hai phút.

Đó không phải là một khoảng thời gian dài trong một ca trực bình thường ở phòng thí nghiệm sinh học, nơi An Khuê thường dành hàng giờ đồng hồ để quan sát chuyển động của các túi vận chuyển màng dưới kính hiển vi điện tử. Trong một chu kỳ nuôi cấy mô thông thường, năm mươi hai phút chỉ đủ để một thế hệ nấm men hoàn tất một nửa chu kỳ phân bào. Nhưng trong Trung tâm Điều hành ngầm này, năm mươi hai phút biến thành một khối băng thời gian quánh đặc, đè nặng lên từng nhịp thở của phi hành đoàn.

Đó là quãng thời gian mà ánh sáng — thứ chuyển động nhanh nhất trong vũ trụ — phải mất hai mươi sáu phút lẻ bảy giây để vượt qua vực thẳm đen ngòm ngăn cách giữa quỹ đạo Sao Mộc và Trái Đất, lướt qua vành đai tiểu hành tinh hoang vu, chạm vào chảo thu khổng lồ của đài thiên văn DSN tại ngoại ô Madrid, trước khi các kỹ sư tại Trung tâm Điều hành Nhiệm vụ ESA ở Darmstadt có thể nhận ra tín hiệu, giải mã và bấm nút phản hồi thêm một hành trình hai mươi sáu phút nữa quay trở lại đáy băng Europa.

Không ai rời khỏi phòng điều khiển. Không một ai muốn quay trở về buồng ngủ chật chội hay các góc làm việc riêng lẻ, nơi sự cô quạnh có thể bóp nghẹt tâm trí họ. Năm con người ngồi lại bên nhau, chia sẻ từng tiếng thở dài, từng ánh nhìn lo âu hướng về dải số đếm ngược đang lùi dần từng giây một cách tàn nhẫn.

Ingrid kéo chiếc ghế gấp y tế lại gần Amara, ép vị chỉ huy ngồi xuống và bắt đầu quấn băng nén đàn hồi quanh cẳng tay trái của cô — nơi lớp vải áp suất bị cứa rách trong chuyến đi bộ ngoài không gian vẫn còn hằn lên da thịt một vết bầm tím kéo dài. Mùi thuốc sát trùng hữu cơ thoang thoảng bốc lên, át đi mùi kim loại cháy khét.

"Huyết áp của cô đã hạ xuống một trăm ba mươi trên tám mươi lăm," Ingrid nói khẽ, giọng bà khô khốc nhưng ẩn chứa sự kiên quyết không thể lay chuyển của một bác sĩ đã chứng kiến quá nhiều sự hủy hoại sinh học nơi biên cương vũ trụ. "Nhưng mức độ bức xạ tích lũy đòi hỏi cô phải uống thêm một liều chất chống oxy hóa và bắt buộc nghỉ ngơi trong buồng ngủ sau phiên trực này. Nếu cô còn định giấu tôi về các cơn thiếu máu thoáng qua, tôi sẽ không ngần ngại sử dụng Điều 42 để tước quyền chỉ huy đâu, Amara."

Amara không phản đối. Cô khẽ gật đầu, ánh mắt hướng về phía trần phòng điều khiển bọc lưới thép, nơi những giọt nước ngưng tụ đang bám chặt lấy bề mặt kim loại mạ kẽm. "Tôi biết giới hạn của mình, Ingrid. Khi nào Darmstadt xác nhận nhận được tín hiệu... tôi sẽ ngủ mười tiếng liên tục. Đó là lời hứa."

Ở góc bàn đối diện, Luísa đang chăm chú theo dõi các đồ thị sóng từ mạng cảnh báo lai ghép FBG/PZT vừa thiết lập. Những đường sóng địa chấn lăn tăn chạy ngang màn hình như nhịp tim của một thực thể khổng lồ đang ngủ say bên dưới lớp vỏ băng. Mỗi đường cong biểu diễn một xung lực cơ học, một sự trượt vỡ tế vi trong cấu trúc tinh thể đá vôi và băng nén của đới Cổ Thạch.

"Ứng suất tại đới Cổ Thạch đang giảm dần," Luísa phá vỡ sự im lặng, chỉ tay vào đỉnh sóng phụ đang hạ thấp dần biên độ. "Hiện tượng trễ pha đàn nhớt sau cơn triều dâng đã qua đi. Lớp băng đang tạm thời tự hàn gắn bằng nhiệt ma sát nội tại. Chúng ta có ít nhất một trăm hai mươi giờ ổn định trước khi chu kỳ cộng hưởng quỹ đạo Laplace tiếp theo kéo căng bề mặt."

"Điều đó có nghĩa là giếng Borealis sẽ không bị bẻ vặn thêm trong vài ngày tới chứ?" An Khuê hỏi, tay cô vô thức chạm vào một ống nghiệm nhỏ chứa mẫu nấm men Saccharomyces cerevisiae Y-44 mà cô mang theo từ Vườn Bình Minh. Ống nghiệm ấm nóng dưới lòng bàn tay cô, một sự đối nghịch mãnh liệt với thế giới băng giá xung quanh.

"Ít nhất là ở đoạn trên hai ngàn mét," Luísa trả lời, giọng thoáng nét trầm tư. Cô phóng to hình ảnh quét cắt lớp âm học của trục giếng. "Nhưng ở đáy giếng... nơi tiếp giáp với đại dương ngầm, áp lực thủy tĩnh không bao giờ đứng yên. Các dòng đối lưu nhiệt dịch đang mạnh lên. Nereid vẫn đang phải vật lộn với những dòng xoáy ngầm để giữ vị trí trôi dạt."

Ren quay chiếc ghế xoay lại, cầm một mẩu bu-lông gãy mà anh nhặt được từ sàn kỹ thuật, xoay tròn nó giữa những ngón tay dính đầy dầu mỡ công nghiệp. Mảnh kim loại gãy sắc nhọn phản chiếu ánh sáng xanh lạnh lùng. "Này An Khuê, nếu Darmstadt nhận được tin nhắn và biết chúng ta vẫn sống sót nhờ ăn nấm men pha bùn tảo và uống nước tái chế từ nước tiểu của chính mình, cô nghĩ dòng tít đầu tiên trên mạng tin tức Trái Đất sẽ là gì?"

An Khuê mỉm cười mệt mỏi, lắc đầu: "'Năm kẻ cứng đầu nhất Hệ Mặt Trời từ chối biến thành hóa thạch băng', có lẽ thế."

"Tôi thì cá là họ sẽ đăng ảnh lò phản ứng Kifaru kèm lời ca ngợi kỳ tích kỹ thuật của tôi," Ren nháy mắt, dù quầng thâm dưới mắt anh sâu hoắm và khóe môi nứt nẻ vì mất nước. "Sau đó các tập đoàn năng lượng sẽ tranh nhau mua bản quyền sáng chế miếng đệm nanocellulose vi khuẩn của cô với giá hàng triệu euro. Và chúng ta sẽ trở về như những triệu phú... giả sử chúng ta còn răng để ăn bít-tết sau mười bốn tháng nữa."

Một tiếng cười khẽ hiếm hoi vang lên giữa căn phòng, xua bớt phần nào cái lạnh buốt giá đang len lỏi qua các khe vách. Tiếng cười ấy ngắn ngủi, mỏng manh như một tia nắng mùa đông rọi qua lớp mây mù, nhưng đủ để kéo căng lại những sợi dây thần kinh đang rệu rã. Nhưng nụ cười nhanh chóng tắt lịm khi mọi ánh mắt lại đồng loạt hướng về đồng hồ đếm ngược trên màn hình chính:

`THỜI GIAN CÒN LẠI: 14 PHÚT 08 GIÂY`

Không gian lại chìm vào sự tĩnh lặng đặc quánh. Mười bốn phút cuối cùng trôi qua chậm như một dòng sông băng đang bò trườn trên đá tảng.

Trong lúc chờ đợi, Mây đột ngột đưa ra một dòng thông báo ngắn trên màn hình phụ của An Khuê:

`[GHI NHẬN NỘI BỘ: HIỆU SUẤT TRAO ĐỔI NHIỆT VÒNG CO2 SIÊU TỚI HẠN KIFARU XUẤT HIỆN DAO ĐỘNG BIÊN ĐỘ 0,42% THEO CHU KỲ NHẬT TRIỀU EUROPA. NGUYÊN NHÂN: BIẾN BIÊN ĐỘ ÉP BĂNG NGOÀI HỐ LÒ. HỆ SỐ AN TOÀN DUY TRÌ TRÊN 1,35.]`

An Khuê nheo mắt nhìn dòng dữ liệu. Khối nêm băng trần đè lên van 02-B đang thở theo nhịp triều của Sao Mộc. Sự cân bằng mong manh này không phải là vĩnh cửu; nó chỉ là một hiệp ước tạm thời giữa công trình nhân tạo và thiên nhiên băng giá khắc nghiệt. Khối băng co giãn từng micromet theo lực hấp dẫn khổng lồ của hành tinh mẹ, truyền từng rung chấn tinh vi vào hệ thống đường ống kim loại lỏng. Cô lưu lại bản ghi vào bộ nhớ tạm thời của quyền 1-B mà không lên tiếng làm xao động bầu không khí căng thẳng lúc này. Mọi người đã gánh chịu quá đủ áp lực.

Đồng hồ đếm ngược tiếp tục rơi xuống những vạch mốc cuối cùng.

`03 PHÚT 00 GIÂY`

Không ai nói một lời nào. Ingrid ngừng thao tác băng bó, bàn tay bà đặt hờ lên vai áo Amara.

`02 PHÚT 00 GIÂY`

Ren ngồi thẳng lưng dậy, hai bàn tay thô ráp đặt chặt lên đầu gối, các khớp xương trắng bệch vì gồng lực. Luísa dán chặt mắt vào thanh trạng thái thu của ăng-ten Kepler, không chớp mắt lấy một lần.

`01 PHÚT 00 GIÂY`

Cả năm thành viên nín thở. Tiếng nhịp đập của máy đo điện tim bỗng trở nên to rõ một cách bất thường trong không gian kín mít.

`00 PHÚT 10 GIÂY`

`00 PHÚT 05 GIÂY`

`00 PHÚT 00 GIÂY`

Đồng hồ chạm mốc số không.

Không có gì xảy ra.

Màn hình trắc viễn vẫn chỉ là một dải tuyết nhiễu xám xịt của phông bức xạ tự nhiên. Đường quét ngang phẳng lì, chỉ có những gợn sóng lởm chởm vô nghĩa của nhiễu điện từ từ đai bức xạ Sao Mộc dội vào.

Một giây... năm giây... mười giây trôi qua trong sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến mức người ta có thể nghe thấy tiếng giọt nước ngưng tụ tí tách rơi từ đường ống thông gió xuống sàn kim loại.

Hai mươi giây. Vẫn là màn tuyết nhiễu trắng xóa chết chóc.

Liệu góc tà ba mươi tư độ có bị sai lệch khi bão từ quét qua? Liệu chốt molypden có bị trượt dưới lực giật của lớp băng co ngót? Hay ăng-ten khổng lồ của DSN tại Madrid đang hướng về một góc trời khác do lịch điều phối của Trái Đất chưa kịp cập nhật sau thảm họa? Hay khủng khiếp hơn... Trái Đất đã từ bỏ việc lắng nghe một trạm nghiên cứu mà họ đinh ninh đã bị nghiền nát dưới trận động đất 7,8 độ Richter?

Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng An Khuê. Bàn chân cô tê dại. Nếu Darmstadt không bắt được tín hiệu, toàn bộ trạm Borealis sẽ chính thức trở thành một ngôi mộ vô danh bị lãng quên dưới tầng băng dày ba ngàn mét. Tàu Umoja, theo quy trình bay an toàn tự động, sẽ thực hiện một cú đốt động cơ chuyển tiếp quỹ đạo để quay trở lại hoặc đi vào quỹ đạo dừng vĩnh viễn quanh Sao Mộc mà không bao giờ thực hiện thao tác hạ cánh rủi ro xuống một tiền đồn được coi là đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Họ sẽ cạn kiệt năng lượng, cạn kiệt thức ăn, và chết dần chết mòn trong bóng tối lạnh giá này mà không ai hay biết.

Đúng lúc đó, vào giây thứ ba mươi mốt sau thời gian dự tính, dải sóng mang trên giao diện Kepler đột ngột nhảy vọt lên khỏi đường đáy nhiễu.

*Tít.*

Một âm thanh đơn sắc sắc nhọn vang lên từ loa trung tâm. Âm thanh ấy ngắn ngủi, khô khốc, nhưng xé toạc bầu không khí nghẹt thở như một tia chớp giữa trời đêm.

Một vệt sáng màu xanh lục bảo quét ngang màn hình điều khiển, làm mờ đi mọi thông số kỹ thuật khô khốc:

`[TÍN HIỆU PHÁT HIỆN: TẦN SỐ 8,445 GHz - BĂNG X - MẠNG LƯỚI KHÔNG GIAN SÂU DSN MADRID]` `[KHÓA PHA THÀNH CÔNG: CƯỜNG ĐỘ TÍN HIỆU -132 dBm]` `[GIẢI MÃ XUNG XÁC NHẬN: ACK-STATION-BOREALIS-01-CONFIRMED]`

"Bắt được rồi!" Ren đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn điều khiển, hét lên một tiếng nghẹn ngào, toàn thân anh run lên bần bật. Tiếng va chạm kim loại vang dội khắp căn phòng. "Họ đã nghe thấy chúng ta! Họ đã bắt được tần số!"

Luísa đưa hai tay ôm lấy mặt, lồng ngực cô rung lên trong một tiếng thở hắt dài đầy kinh ngạc, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu rốt cuộc cũng trào ra qua kẽ tay. Ingrid nắm chặt lấy bờ vai cứng đờ của Amara, ngón tay bấu sâu vào lớp vải aramid. Vị chỉ huy người Kenya không reo hò; cô nhắm nghiền hai mắt lại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, một giọt mồ hôi lăn dài từ thái dương xuống gò má gầy guộc, mang theo bao nỗi nhọc nhằn và gánh nặng sinh tử của cả đoàn tàu. Nhưng khi cô mở mắt ra, ánh nhìn đã lấy lại vẻ thép nguội quen thuộc, kiên định và sắc sảo.

"Mây, tiến hành thu nhận và giải nén gói tin phản hồi ngay lập tức," Amara ra lệnh, giọng cô run rẩy một thoáng trước khi vững vàng trở lại.

"Đang nhận luồng dữ liệu truyền xuống," Mây đáp. "Băng thông hạn chế từ Trái Đất gửi qua Kepler: một trăm hai mươi tám kilobit mỗi giây. Gói tin định dạng nén mật độ cao ESOC-Darmstadt. Thời gian tải xuống: mười bốn giây."

Thanh tiến trình màu xanh lục chạy vun vút trên màn hình chính: `10%... 45%... 80%... 100%. TẢI XUỐNG HOÀN TẤT.`

Một bản tin văn bản kèm bảng thông số ma trận không gian lập tức bung ra trên giao diện điều phối của toàn trạm.

Dòng đầu tiên của bản tin là thông điệp thô được ký tên bởi Giám đốc Điều hành Sứ mệnh tại Darmstadt:

`GỬI PHI HÀNH ĐOÀN TRẠM BOREALIS: NHÂN LOẠI CHÀO CÁC BẠN. CHÚNG TÔI ĐÃ XÁC NHẬN SỰ SỐNG CỦA CẢ NĂM THÀNH VIÊN. CẢ THẾ GIỚI ĐANG DÕI THEO TỪNG NHỊP THỞ CỦA CÁC BẠN. CÁC BẠN KHÔNG BỊ BỎ RƠI.`

Những dòng chữ ngắn ngủi ấy dường như tỏa ra một luồng hơi ấm kỳ lạ, xuyên qua ba ngàn mét băng dày, xuyên qua khoảng không gian lạnh lẽo hàng trăm triệu cây số để chạm thẳng vào trái tim của năm con người đang cô độc nơi tận cùng Hệ Mặt Trời. An Khuê thấy mắt mình cay xè. Trạng thái "mất tích vô tuyến" — cái danh xưng nghiệt ngã đã bao trùm lên trạm kể từ khi đới Cổ Thạch trượt gãy — chính thức bị xóa bỏ. Họ không còn là những bóng ma trôi dạt trong quên lãng. Họ đã trở lại với bản đồ của nền văn minh loài người. Ở một nơi xa xôi trên Trái Đất, trong những căn phòng điều hành ấm áp tại Đức hay Tây Ban Nha, hàng trăm con người đang vỗ tay, đang ôm lấy nhau, và đang hướng mắt về một đốm sáng nhỏ bé mang tên Sao Mộc.

Tuy nhiên, niềm xúc động nghẹn ngào chỉ kéo dài được vài giây ngắn ngủi trước khi phần thứ hai của bản tin — phần dữ liệu kỹ thuật quỹ đạo — hiện ra với toàn bộ sự tàn nhẫn không thể lay chuyển của các định luật vật lý thiên văn.

Luísa là người đầu tiên lướt mắt qua bảng thông số vector quỹ đạo của tàu tiếp tế Umoja. Nụ cười vừa hé nở trên môi cô lập tức đông cứng lại. Ánh mắt cô tối sầm, bờ môi khẽ run lên.

"Nhìn các vector gia tốc này đi..." Luísa thì thầm, giọng cô nghẹn lại ở cổ họng, nhỏ dần như một hơi thở tàn. "Họ đã chạy mô phỏng đường bay trên siêu máy tính ở Darmstadt."

An Khuê bước sát lại, nhìn theo ngón tay run rẩy của Luísa trên màn hình hiển thị quỹ đạo: - Tàu tiếp tế Umoja: Hiện đang bay trên quỹ đạo elip chuyển tiếp Hohmann hướng về Sao Mộc, vận tốc nhật tâm 28,4 km/s. - Nhiên liệu đẩy khả dụng: 4.200 kg hỗn hợp Hydro lỏng/Oxy lỏng (LH2/LOX). - Đề xuất tăng tốc bằng xung lực cực đại (burn-time acceleration) để rút ngắn hành trình: **BÁC BỎ**. - Lý do kỹ thuật: Nếu Umoja đốt nhiên liệu để tăng tốc đến sớm hơn, khối lượng nhiên liệu còn lại sẽ hoàn toàn không đủ để thực hiện thao tác hãm bắt vào quỹ đạo Europa (Delta-V hãm yêu cầu vượt quá 3,8 km/s). Con tàu sẽ bay sượt qua Sao Mộc và vĩnh viễn trôi dạt vào không gian sâu ngoài Hệ Sao Thổ. - Cửa sổ hạ cánh khả thi sớm nhất: **BỐN TRĂM MƯỜI CHÍN NGÀY NỮA** (tương đương 13 tháng 29 ngày).

"Không có phép màu nào cả," Ren nói, giọng anh trầm xuống, sự hài hước thường ngày hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự trần trụi của một kỹ sư cơ khí hiểu rõ giới hạn của máy móc và vật liệu. Anh nhìn chằm chằm vào con số 419 ngày như nhìn vào một bản án treo lơ lửng. "Định luật bảo toàn động lượng của Newton không chấp nhận thương lượng. Con tàu tiếp tế không thể đến sớm hơn dù chỉ một tuần. Mười bốn tháng... chúng ta vẫn phải tự sinh tồn trọn vẹn mười bốn tháng dưới nấm mồ băng này."

Căn phòng chìm vào một sự im lặng nặng nề khác. Sự phấn khích ban đầu khi nghe thấy tiếng nói của đồng loại nhanh chóng nhường chỗ cho nhận thức lạnh lùng về thực tế. Trái Đất đã biết họ còn sống, nhưng Trái Đất không thể vươn cánh tay bay qua không gian để kéo họ ra khỏi đây ngay lúc này. Chiếc phao cứu sinh đã được thả xuống dòng nước, nhưng dòng hải lưu cơ học thiên thể bắt nó phải mất hơn bốn trăm ngày nữa mới trôi đến đích. Mười bốn tháng trong bóng tối, với nguồn năng lượng 35% từ một lò phản ứng què quặt, với những bữa ăn đạm nấm men nghèo nàn và một đại dương ngầm luôn chực chờ nuốt chửng mọi thứ.

Trong lúc An Khuê đang nhìn chằm chằm vào con số 419 ngày, Mây đột ngột mở một cửa sổ mã hóa riêng biệt ở góc dưới bên phải màn hình của cô và Amara. Một đoạn mã phân cấp an ninh Cấp 1-A hiện lên với viền đỏ cảnh báo:

`[TẬP TIN ĐÍNH KÈM MẬT: CHỈ THỊ HỘI ĐỒNG NHIỆM VỤ QUỐC TẾ - GIẢI MÃ CỤC BỘ]` `[NỘI DUNG: ƯU TIÊN BẢO TOÀN DỮ LIỆU ĐẠI DƯƠNG EUROPA BẰNG MỌI GIÁ. MỌI BẰNG CHỨNG QUANG HỌC VÀ ĐỐI CHỨNG VẬT LÝ TỪ CÁNH ĐỒNG GƯƠNG SỐNG PHẢI ĐƯỢC SAO LƯU VÀO BA PHÂN VÙNG ĐỘC LẬP. NHIỆM VỤ THU THẬP BẰNG CHỨNG SỰ SỐNG KHÔNG ĐƯỢC BỊ HỦY BỎ NGAY CẢ KHI PHẢI CHUYỂN TRẠM SANG CHẾ ĐỘ TIÊU THỤ CẦM CỰ TỐI THIỂU.]`

An Khuê liếc nhìn Amara. Vị chỉ huy khẽ đưa mắt ra hiệu, một cái nhìn sắc lẹm đầy cảnh giác. Chỉ thị mật của Hội đồng quốc tế nhắc nhở họ rằng ngay cả trong thảm họa, trạm Borealis không chỉ là một cuộc đấu tranh sinh tồn thuần túy của năm con người; nó còn là tâm điểm của một cuộc đánh cược lịch sử về vị thế của nhân loại trong vũ trụ. Trái Đất muốn họ sống sót, nhưng Trái Đất cũng đòi hỏi bằng chứng về dạng sống dưới đáy đại dương kia không được phép biến mất vào bóng tối. Những xung quang học 485 nm từ Cánh đồng Gương Sống không đơn thuần là dữ liệu khoa học; chúng là lý do hàng tỷ đô-la và sinh mạng của họ được đặt cược tại nơi này.

Amara bước lên một bước, đứng đối diện với bốn người đồng đội. Dù đôi vai cô lộ rõ sự mệt mỏi và kiệt sức sau chuyến đi bộ nguy hiểm ngoài không gian, ánh mắt cô vẫn toát lên một uy quyền điềm tĩnh đến kỳ lạ. Cô gạt đi sự yếu đuối, dựng dậy tinh thần thép của người đứng đầu tiền đồn xa xôi nhất của loài người.

"Các bạn đã nghe và đã thấy," Amara cất tiếng, từng lời nói rành rọt, vang vọng trong không gian tĩnh lặng của Trung tâm Điều hành Mây. "Darmstadt đã nhận được bức điện ba mươi bảy byte của chúng ta. Nhân loại đã biết chúng ta còn nguyên vẹn. Đó là một chiến thắng to lớn mà Ren và tất cả các bạn đã đánh đổi bằng mồ hôi và cả máu để giành lấy ngày hôm nay."

Cô dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt từng người: từ ánh mắt đăm chiêu của Luísa, vẻ mặt trầm ngâm của Ingrid, nụ cười gượng gạo của Ren cho đến sự kiên định của An Khuê.

"Nhưng chiến thắng đó không làm thay đổi các định luật cơ học quỹ đạo," Amara tiếp tục, giọng cô đanh lại, vững chãi như khối đá cổ thạch chưa từng bị rạn nứt. "Tàu Umoja sẽ không đến sớm hơn ngày thứ bốn trăm mười chín. Sẽ không có một con tàu cứu hộ thần kỳ nào xuất hiện từ bầu trời Sao Mộc để bốc chúng ta về Trái Đất vào tháng sau. Từ nay cho đến giây phút con tàu tiếp tế chạm chân xuống bề mặt băng kia, số phận của chúng ta vẫn nằm hoàn toàn trong tay chính chúng ta."

Cô chỉ tay về phía màn hình hiển thị sơ đồ tuần hoàn của trạm: "Sự sống sót của chúng ta không phụ thuộc vào những lời chúc tốt đẹp từ Darmstadt. Nó phụ thuộc vào việc từng milligram phosphor được An Khuê thu hồi từ chất thải; nó phụ thuộc vào từng kilowatt điện mà Ren và Luísa chắt chiu từ lò phản ứng Kifaru; nó phụ thuộc vào từng giờ ngủ bắt buộc mà Ingrid áp đặt lên chúng ta; và nó phụ thuộc vào việc chúng ta tuân thủ kỷ luật nội bộ nghiêm ngặt đến mức nào. Trái Đất đã nghe thấy chúng ta. Giờ là lúc chúng ta chứng minh cho họ thấy: chúng ta đủ mạnh mẽ để chờ đợi họ."

Một luồng không khí mới mẻ, vững chãi dường như vừa tràn ngập căn phòng. Cảm giác tuyệt vọng vì sự cô lập hoàn toàn đã tan biến. Nỗi sợ hãi vô hình bị thay thế bằng một mục tiêu cụ thể, một cột mốc thời gian rõ ràng: bốn trăm mười chín ngày. Họ biết chặng đường phía trước dài dằng dặc và đầy cạm bẫy, nhưng giờ đây, mỗi bước đi của họ đều có một đích đến, và mỗi nhịp thở của họ đều được neo giữ vào một sợi dây liên lạc vô hình xuyên qua không gian sâu.

Ren khẽ thở dài, nụ cười hài hước quen thuộc dần trở lại trên gương mặt lấm lem bụi băng và dầu mỡ: "Được rồi, thưa Chỉ huy. Mười bốn tháng nấm men và nước ngọt tái chế. Tôi đoán là tôi sẽ phải lập trình lại cho mấy con robot Tanuki biết cách kể chuyện cười mới để chúng ta không phát điên lên trước khi Umoja tới."

"Việc đầu tiên của anh là quay về Y xá và nằm yên trong máy ly tâm cho tôi," Ingrid nghiêm giọng ngắt lời, dù khóe mắt bà đã dịu đi rất nhiều, ẩn chứa sự quan tâm sâu sắc của một người mẹ đối với đàn con bướng bỉnh. "Cả anh và Amara. Ba mươi ngày cấm túc y tế bắt đầu từ ngay bây giờ."

Luísa mỉm cười, bắt đầu lưu các thông số quỹ đạo mới vào máy tính địa chấn để tính toán lại tải trọng rung động của các chu kỳ nhật triều tiếp theo. An Khuê chạm tay vào mặt bàn điều khiển, cảm nhận độ rung nhịp nhàng, bền bỉ của lò phản ứng Kifaru đang truyền qua từng thớ kim loại. Tiếng máy nén siêu tới hạn vẫn rù rì bên dưới sàn nhà, như một trái tim thép kiên cường đang bơm sự sống vào từng ngóc ngách của tiền đồn băng giá.

Chuyến đi bộ ngoài không gian đã thành công. Bức điện đã tới nơi. Cánh cửa thông tin đã mở. Nhưng dưới chân họ, đại dương Europa vẫn đang cuộn sóng trong bóng tối vĩnh cửu, và cuộc chiến giành giật sự sống chỉ mới vừa bước qua khúc dạo đầu.

Mây bắt đầu thực hiện lệnh tắt kênh phát công suất cao trên đài Kepler để chuyển sang chế độ ngủ đông tiết kiệm năng lượng, chờ đợi phiên liên lạc theo lịch trình tiếp theo sau bốn mươi tám giờ nữa.

Tiếng bíp đơn điệu của gói tin 37 byte tắt lịm, trả lại căn phòng điều khiển cho sự im lặng vĩnh cửu của không gian sâu.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn