Trạm Ánh Sáng EuropaC.13 / 42
Chương 13

Một sợi sáng qua băng

Mùi nhựa thông cháy quyện đặc với hơi cồn tẩy trùng và dung môi bay hơi bốc lên nồng nặc trong không gian ngột ngạt của Xưởng Robot Tanuki. Tiếng rít the the của chùm tia laser cắt gọt sợi carbon cọ xát vào màng nhĩ như một mũi kim sắc. Ren Ishikawa khom lưng trên bàn cơ khí, tấm kính hàn bảo hộ phản chiếu luồng sáng xanh tím chói gắt đang quét qua từng mảng composite mỏng lấy ra từ xác một chiếc drone sửa ống đã hư hại sau trận sập trần áp suất. Những vệt khói mỏng manh vừa cuộn lên từ đường cắt mép sắc lẻm đã lập tức bị miệng hút lọc khí cục bộ kéo giật vào màng lọc than hoạt tính, để lại một vệt khét khô khốc xộc thẳng vào cuống họng.

Khắp mặt bàn thao tác rộng bốn mét vuông, các linh kiện cơ khí nằm rải rác trong một trật tự hỗn loạn có tính toán: những đốt kim loại titan-nhôm gia công rỗng ruột, các vòng bi gốm silicon nitride chịu được nhiệt độ âm sâu mà không cần dầu bôi trơn gốc hydrocacbon, những đoạn cáp dẹt siêu mịn nhiều lõi được bóc tách từ các cánh tay robot thám sát đã bị vắt kiệt công năng sau trận động băng kinh hoàng năm ngày trước. Từng mẩu ốc vít hợp kim berili, từng cuộn dây đồng mạ bạc cỡ micromet đều được nhặt nhạnh, đo đạc và xếp ngay ngắn trên các khay từ tính.

An Khuê đứng tựa một bên vai phải vào khung cửa thép cách ly của xưởng, cánh tay trái ép chặt sát mạn sườn. Cô cố định cẳng tay bằng một dải đai vải mềm nhằm triệt tiêu mọi lực kéo không cần thiết lên chóp xoay vai vừa được tiêm một mũi ketorolac liều cao cách đây hơn hai tiếng. Dù dược chất ức chế thụ thể đau đã phần nào làm dịu đi cảm giác buốt rát như kim châm dưới tầng mô sâu, dư chấn của vết rách bán phần cơ trên gai vẫn âm thầm nhắc nhở cô sau mỗi nhịp thở dốc. Bất kỳ một cử động xoay khớp đột ngột nào cũng đủ sức kích hoạt một luồng xung thần kinh nhói buốt chạy thẳng lên đáy hộp sọ.

Cô đưa mắt nhìn lên bảng hiển thị phụ gắn trên vách ngăn hợp kim của xưởng. Đồng hồ đếm ngược phát sáng bằng ánh dạ quang màu cam xỉn: *21:42:15*.

Hai mươi mốt giờ, bốn mươi hai phút, mười lăm giây.

Khoảng thời gian của bản thỏa hiệp đầy nghiệt ngã mà Amara cấp phát cho cô đang co ngắn lại theo từng tích tắc lạnh lùng. Từng giây trôi qua đều kéo theo áp lực đè nặng lên lồng ngực: nếu không thể thiết lập một đường truyền tín hiệu thụ động xuống đáy giếng Borealis trước khi đồng hồ điểm về số không, những chiếc nêm nổ thermite và van cô lập cơ học sẽ vĩnh viễn đóng kín huyết mạch duy nhất kết nối Trạm Ánh Sáng Europa với thế giới ngầm bên dưới lớp vỏ băng.

Ren gạt tấm kính hàn bảo hộ lên đỉnh đầu, quệt mu bàn tay lem luốc muội than ngang trán để lộ đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ kinh niên nhưng rực lên một sự tập trung gần như cuồng tín. Những ngón tay của anh, dù các khớp đốt vẫn còn sưng tấy và đỏ ửng do đợt nhiễm lạnh âm sâu khi lặn ngụp sửa chữa van hạ áp Kifaru ở hành lang ngoài, vẫn thoăn thoắt kẹp từng cụm motor bước vi mô đặt vào khoang rỗng của các đốt kim loại. Mỗi chuyển động của anh đều chuẩn xác đến từng phần mười milimét, không một động tác thừa, không một nhịp run rẩy.

"Cậu chắc chắn đường kính của nó không vượt quá sáu centimét chứ, Ren?" An Khuê cất tiếng hỏi, giọng cô hơi khàn đặc vì không khí khô khốc trong khoang xưởng. Mắt cô dõi theo khối kim loại thuôn dài đang dần thành hình dưới bàn tay người kỹ sư.

"Chính xác là năm mươi tám milimét ở phần gù lớn nhất, tức là tại khớp chứa cuộn cáp quang thạch anh," Ren đáp mà không ngẩng đầu lên, tay kẹp lấy một đoạn ống lót mỏng bằng hợp kim niken-titan có khả năng ghi nhớ hình dạng. "Nếu tính cả lớp vảy polymer chống mài mòn bọc ngoài cùng thì vừa vặn đúng sáu mươi milimét. Sai số gia công không vượt quá 0,2 milimét. Theo dữ liệu địa chấn và quét sonar quét ngược của Luísa cách đây nửa giờ, đoạn thắt hẹp nhất ở độ sâu 2.014 mét hiện tại còn khoảng bốn mươi tám milimét khẩu độ rỗng. Tuy nhiên, lớp viền bao quanh cổ chai đó không phải là đá nền hay băng gốc nguyên khối, mà chỉ là một hỗn hợp gồm băng mẩu vụn xốp và nước mặn tái đông mới kết tinh sau đợt trượt tầng. Chỉ cần đầu dẫn nhiệt vi mô mở đường, làm mềm cục bộ lớp tinh thể tuyết đó, nó sẽ trườn qua trơn tru như một con lươn bùn."

Anh với tay lấy cụm mũi dẫn hướng đặt trên giá cân bằng ở đầu bàn. Đó là một chóp nón thuôn nhọn làm bằng đồng berili có độ dẫn nhiệt cực cao, bề mặt được mài bóng đến mức soi gương được. Tích hợp bên trong chóp nón này là bốn thanh điện trở gốm vi mô công suất thấp, nối kết song song với một cảm biến xúc giác áp điện nhằm đo đạc áp lực cản của băng theo thời gian thực. Ren cẩn trọng nhấc toàn bộ thân robot lên khỏi giá đỡ hiệu chuẩn, hai tay nâng niu nó như một sinh linh mong manh.

Cấu trúc của cỗ máy hoàn toàn xa lạ với bất kỳ danh mục thiết bị thăm dò chuẩn mực nào của Cơ quan Vũ trụ: nó dài gần một mét hai, bao gồm mười sáu đốt cơ học độc lập chế tác từ hợp kim titan rỗng, liên kết với nhau bằng các khớp cầu đa hướng bọc kín trong lớp cao su fluorosilicone chịu hàn âm sâu. Khác với những robot thám hiểm thông thường dựa vào bánh xích hay chân vịt đẩy nước, toàn bộ chuyển động uốn lượn của cỗ máy này được dẫn động bởi một mạng lưới dây kéo siêu bền bện từ sợi dyneema nối về sáu cụm động cơ servo siêu nhỏ đặt ở khoang đuôi.

"Lươn Băng," Ren khẽ mỉm cười, một nét hóm hỉnh quen thuộc thoáng lướt qua đôi gò má hốc hác dù cơ mặt anh vẫn căng cứng vì mệt mỏi. "Tên chính thức trên hồ sơ thiết bị khẩn cấp là REC-Kim Luồn, nhưng tôi thích gọi nó là Lươn Băng Tanuki hơn. Một thiết kế hoàn toàn dựa trên phỏng sinh học. Nó không có chân vịt để khuấy động các dòng đối lưu ngầm, không có bánh xích nghiến nát vách giếng tạo ra các mảnh vụn băng gây kẹt nghẽn. Nó di chuyển hoàn toàn bằng sóng co bóp nhu động, bắt chước chuyển động của loài giun nhiều tơ đáy biển và lươn rạn san hô. Áp lực tiếp xúc bề mặt được phân tán đều dọc theo mười sáu đốt, không bao giờ vượt quá ngưỡng 0,5 megapascal lên bất kỳ điểm tựa nào trên thành giếng. Vách băng sẽ không phải chịu bất kỳ một xung lực chấn động cục bộ nào."

"Còn cuộn cáp thạch anh?" An Khuê bước lại gần hơn, chống một tay lên mép bàn, mắt găm vào khoang rỗng nằm giữa đốt thứ tám và đốt thứ mười của thân robot. "Hai nghìn mét dây sợi đơn có nằm trọn trong đó không?"

"Ở ngay đây," Ren nhẹ nhàng mở chiếc hộp nhôm kín khí đặt cạnh trạm kiểm tra quang sai.

Bên trong lớp đệm chống sốc là một ống cuộn bằng vật liệu composite sợi carbon siêu nhẹ, trên đó quấn gọn gàng, tinh vi hai nghìn mét sợi quang học thạch anh đơn mode bọc đệm Kevlar. Toàn bộ cuộn sợi chỉ nặng chưa đầy một kilôgam hai, đường kính sợi ngoài vỏ chỉ 0,9 milimét—mỏng manh như một sợi tóc của người khổng lồ nhưng sở hữu độ bền kéo kinh ngạc.

"Một kiệt tác của kỹ thuật thụ động," Ren thì thầm, ngón tay anh chạm nhẹ vào lớp vỏ bọc trơn láng của sợi quang. "Không có lõi đồng, không mang theo dù chỉ một microampe dòng điện tải, nghĩa là Ingrid không thể có bất kỳ lý do gì để phàn nàn về việc chúng ta gây hiện tượng đoản mạch, phóng điện vòm hay phát sinh trường điện từ rò rỉ làm xáo trộn môi trường điện hóa dưới đại dương. Sợi quang này chịu được lực kéo đứt tức thời lên tới tám mươi newton. Quan trọng nhất là cơ chế giải phóng cáp: khi Lươn Băng trườn xuống đáy giếng, cuộn dây sẽ tự nhả từ đuôi theo nguyên lý ống chỉ tĩnh. Nghĩa là sợi cáp sẽ nằm im lìm, bám sát vào thành giếng ngay tại vị trí nó rơi xuống, hoàn toàn không chịu bất kỳ lực ma sát miết hay sức căng kéo trượt nào từ chuyển động uốn éo của thân robot."

Ren lắp cụm pin lithium-ion bốn cell mạ bạc—vốn được anh tháo gỡ một cách tỉ mỉ từ các viên pin dự phòng của drone trinh sát khí quyển hỏng—vào khoang kín ở đốt đuôi. Một tiếng *tách* cơ học khô giòn vang lên trong không gian tĩnh mịch.

Dãy đèn LED chỉ thị trạng thái siêu nhỏ chạy dọc sống lưng cỗ máy lập tức nhấp nháy ba lần màu hổ phách, rồi chuyển sang một dải sáng màu xanh lục dịu mắt. Mười sáu đốt cơ học khẽ rùng mình, các khớp cầu xoay nhẹ phát ra những tiếng vo ve êm ái của động cơ bước. Toàn bộ thân máy dài hơn một mét uốn lượn một vòng nhẹ nhàng trên tấm đệm bọt biển, tựa như một sinh vật biển sâu vừa cựa mình tỉnh giấc sau một giấc ngủ đông kéo dài hàng triệu năm dưới đáy tảng băng vĩnh cửu.

"Mọi cơ phận phản hồi thông số danh định," Ren thở hắt ra một hơi dài, nhưng nụ cười của anh nhanh chóng thu lại khi ánh mắt anh chuyển hướng về phía cánh cửa khoang chuẩn bị vô trùng sinh học. "Giờ thì đến lượt cậu đấy, An Khuê. Đừng để Ingrid bắt bẻ được dù chỉ một hạt bụi hữu cơ. Bà ấy đang đứng ở đó với chiếc kính hiển vi và cái nhìn của một quan tòa dị giáo đấy."

An Khuê khẽ gật đầu. Cô bước tới bệ đỡ, xỏ tay vào đôi găng tay thao tác chân không dài đến khuỷu, nhẹ nhàng nhấc bổng khối kim loại uốn lượn của Lươn Băng đặt vào khay trượt của buồng truyền mẫu kín khí dẫn thẳng sang khoang chuẩn bị vô trùng sinh học Cấp năm.

Bên kia vách kính cách ly kép dày năm centimét, Bác sĩ Ingrid Solberg đã đứng đợi sẵn tự bao giờ. Vị chuyên gia dịch tễ học và an toàn sinh học người Na Uy khoác trên mình bộ đồ bảo hộ áp suất ba lớp màu trắng toát, trùm kín từ đầu đến chân như một phi hành gia chuẩn bị bước ra khoảng không vũ trụ. Trên tay bà là thiết bị quét huỳnh quang ATP cầm tay và một máy định lượng sinh khối quang phổ vi phân. Khuôn mặt Ingrid sau lớp kính mặt nạ phẳng lặng như một tảng băng trôi Bắc Cực, đôi mắt xám tro sắc lạnh quét qua từng đường nét của robot Lươn Băng với sự nghi ngại cố hữu.

"Quy trình vô trùng ba bước theo đúng chuẩn ngặt nghèo nhất của Nghị định thư COSPAR Cấp năm, An Khuê," giọng Ingrid truyền qua màng loa liên lạc nội bộ của buồng cách ly, đều đều, sắc gọn và tuyệt đối không vướng bận một chút cảm xúc cá nhân nào. "Không có ngoại lệ cho tình trạng khẩn cấp. Không có việc rút ngắn chu kỳ bức xạ hay giảm nồng độ dung môi. Nếu đầu đọc quang phổ phát hiện mật độ tế bào sinh vật Trái Đất vượt quá mười bào tử trên một mét vuông diện tích bề mặt, tôi sẽ lập tức kích hoạt van xả nitơ lỏng cô lập và niêm phong vĩnh viễn cổng giếng Borealis. Trạm của chúng ta có thể chết vì kiệt quệ năng lượng, nhưng chúng ta không có quyền làm vấy bẩn đại dương nguyên sinh này bằng rác rưởi hữu cơ từ địa cầu."

"Tôi hiểu rất rõ trách nhiệm đó, Bác sĩ Solberg," An Khuê đáp, giọng bình thản nhưng đanh thép.

Cô kiểm tra lại van áp suất của bộ đồ bảo hộ sinh học mỏng khoác ngoài trang phục thường nhật, kéo khóa niêm phong cổ tay, chụp mũ trùm đầu kín khít rồi bước qua cánh cửa ngăn áp suất để tiến vào buồng trung gian.

Quy trình tiệt trùng bước một bắt đầu ngay khi buồng cách ly kích hoạt máy bơm phản lực phân tử, hạ áp suất không khí xuống mức chân không kỹ thuật 10^-3 pascal trong vòng ba phút. Không gian buồng rít lên một tiếng nghẹn ngào khi không khí bị hút cạn kiệt. An Khuê đứng bên bảng điều khiển phụ, ấn phím kích hoạt dàn đèn chiếu xạ cực tím chân không (VUV) bước sóng kép 185 và 254 nanomét bố trí thành một mạng lưới đồng tâm quanh vách buồng.

Một luồng ánh sáng tím xanh ma quái, lạnh buốt bùng lên trong khoang chân không, nuốt chửng cỗ máy Lươn Băng trong quầng năng lượng photon cực cao. Ánh sáng VUV quét qua từng kẽ rãnh của các đốt titan, xuyên thấu vào từng khe hở giữa các vòng bi gốm và bề mặt cuộn cáp thạch anh. Ở dải bước sóng này, các photon mang năng lượng đủ mạnh để bẻ gãy trực tiếp các liên kết hydro trong chuỗi xoắn kép DNA, phá hủy cấu trúc vòng pyrimidine của RNA và ion hóa triệt để mọi gốc hữu cơ bám dính trên lớp kim loại. An Khuê giữ nguyên chu kỳ chiếu xạ trong đúng mười hai phút ba mươi giây, mắt không rời khỏi biểu đồ thông lượng quang tử đang hiển thị ổn định trên màn hình tinh thể lỏng.

Khi chu kỳ VUV kết thúc, buồng chân không lập tức được bù áp bằng một luồng khí nitơ tinh khiết siêu khô cấp độ bán dẫn. An Khuê không dừng lại một giây, cô chuyển ngay sang bước hai: ngâm rửa bằng dung dịch hydro peroxide bay hơi (VHP).

Một màn sương mù dày đặc gồm các vi giọt H2O2 nồng độ 35% được bơm dưới áp lực cao vào buồng kín, nhanh chóng biến không gian bên trong thành một đám mây trắng đục như sữa. Khí hydro peroxide len lỏi qua từng ngóc ngách siêu vi, luồn sâu vào bên trong khoang chứa cuộn cáp quang, bao bọc lấy các motor bước và đường dẫn nhiệt của mũi robot. Các gốc tự do hydroxyl hoạt tính cao được giải phóng tức thì, tấn công mãnh liệt vào màng lipid, làm đông tụ protein và oxy hóa hoàn toàn mọi mảnh vụn tế bào hay nội độc tố còn sót lại. Trên màn hình máy quét quang phổ huỳnh quang liên kết với buồng mẫu, các cột chỉ thị sinh học màu vàng cam tụt nhanh chóng, cắm đầu xuống mức đáy và chìm hẳn vào dải nhiễu nền của cảm biến.

"Mức độ khử hoạt tính sinh học bề mặt đạt 10^-7," Ingrid cất tiếng sau khi cẩn thận đối chiếu các thông số từ máy phân tích mẫu khí tự động. Đôi lông mày nhíu chặt của bà khẽ giãn ra đôi chút sau lớp kính bảo hộ. "Tốt hơn mức yêu cầu tối thiểu của nghị định thư một bậc độ lớn."

"Và bây giờ là bước cuối cùng," An Khuê nói, vươn tay rút cuộn màng từ khay bảo quản lạnh âm bốn mươi độ đặt bên cạnh.

Đây chính là lớp bảo vệ mà cô đã dành trọn ba tuần lễ trong phòng thí nghiệm để tinh chế trước khi thảm họa xảy ra: màng polymer sinh học phân hủy trơ, được tổng hợp từ các dẫn xuất polysaccharide vi khuẩn chịu lạnh cải tiến. An Khuê cẩn trọng bọc kín toàn bộ thân robot Lươn Băng trong lớp màng trong suốt siêu mỏng chỉ dày hai mươi micromet. Dưới nhiệt độ phòng, lớp màng lập tức co rút lại, ôm khít khao lấy từng đường cong của mười sáu đốt titan như một lớp da thứ hai.

Lớp màng này có đặc tính kỵ nước tuyệt đối, không chứa bất kỳ một ion khoáng tự do hay hợp chất hữu cơ dễ hòa tan nào có thể làm biến đổi hóa học vi mô của môi trường nước ngầm. Khi robot trườn qua giếng, lớp polymer đóng vai trò như một bức tường ngăn cách tuyệt đối, triệt tiêu mọi khả năng rò rỉ hạt kim loại hay bụi bôi trơn từ thân máy vào cấu trúc giếng băng. Và quan trọng hơn cả, nếu cỗ máy hoàn thành nhiệm vụ và nằm lại vĩnh viễn dưới đáy biển, lớp màng này sẽ từ từ trơ hóa hoàn toàn dưới tác động tổng hợp của độ mặn cao và áp suất thủy tĩnh của đại dương Europa, phân rã thành các chuỗi carbon vô hại mà không để lại bất kỳ một dấu vết sinh thái nào.

Ingrid cầm đầu dò huỳnh quang ATP bước lại gần, áp sát đầu quét vào từng khớp nối, từng đốt bụng và phần chóp mũi của Lươn Băng. Thiết bị quét phát ra ba tiếng *bíp... bíp... bíp* khô khốc, sắc lẹm.

Màn hình huỳnh quang hiển thị một con số duy nhất: *0.00 CFU/m2*.

Bà đứng thẳng dậy, nhìn thẳng vào mắt An Khuê qua hai lớp kính bảo hộ dày đặc. Đôi mắt xám của nữ bác sĩ dường như chùng xuống, lộ rõ những nếp nhăn của sự kiệt quệ sau chuỗi ngày gồng mình duy trì sự sống cho toàn trạm.

"Chứng nhận vô trùng tuyệt đối cấp năm được phê chuẩn," Ingrid nói, ấn mạnh ngón tay cái vào bảng ký duyệt điện tử, gửi mã khóa phân quyền về hệ thống máy chủ. "Thiết bị đủ điều kiện tiếp cận Phân khu Ranh Giới. Hãy bảo vệ cái giếng đó, An Khuê. Đó không chỉ là cánh cổng dẫn xuống đại dương, mà còn là ranh giới mong manh cuối cùng giữa chúng ta và sự hủy diệt. Và nhớ để mắt đến nhịp tim của cô. Liều ketorolac đó chỉ đang đánh lừa các sợi thần kinh cảm giác thôi. Sợi cơ của cô vẫn đang bị rách, và nếu cô vận động quá ngưỡng đàn hồi, nó sẽ đứt lìa hoàn toàn."

"Cảm ơn chị, Ingrid," An Khuê nói khẽ, khẽ gật đầu chào rồi kéo khay mẫu trượt về phía cổng xuất áp lực.

Cánh cửa thép nặng nề nối buồng cách ly với Khoang Điều khiển Miệng giếng Borealis trượt mở sang hai bên với một tiếng rít trầm đục của khí nén xả áp. Không khí bên trong khoang giếng lạnh buốt hơn hẳn, nhiệt độ luôn được duy trì ở mức âm mười độ C để ngăn ngừa hiện tượng thăng hoa của vách băng xung quanh cấu trúc nhân tạo.

Luísa Alencar đã ngồi túc trực sẵn ở bàn điều khiển trung tâm, bao quanh bởi ba màn hình cong cỡ lớn đang nhấp nháy ma trận dữ liệu địa chấn thời gian thực từ mạng cảm biến Guará vừa được thiết lập lại. Những đường sóng màu xanh lục và vàng quét ngang màn hình theo nhịp thở nặng nề của tảng băng khổng lồ: cảm biến sợi quang FBG đo biến dạng vi mô kéo nén liên tục vẽ nên những đường cong ứng suất, đan xen với các xung tín hiệu từ đầu dò áp điện PZT cấy sâu vào lớp băng gốc đang ghi nhận từng dao động âm học nhỏ nhất.

Ren đã ngồi vào vị trí điều khiển từ xa, đôi bàn tay gầy gò đặt trọn lên cụm cần lái xúc giác có cơ chế phản hồi lực hai chiều. Phía trước anh, một màn hình hiển thị không gian ba chiều tái hiện lại toàn bộ trục giếng khoan sâu hơn hai nghìn mét—một đường hầm mảnh mai xuyên thủng lớp vỏ băng của thiên thể xa xôi này.

Robot Lươn Băng, sau khi vượt qua chốt gió vô trùng cuối cùng, được hệ thống tay gắp tự động đặt gọn ghẽ vào bên trong ống phóng áp suất gắn trên nắp giếng titan. Khóa cơ khí xoay tròn rồi đóng sập lại bằng một tiếng gầm kim loại nặng nề. Khi áp suất trong ống phóng cân bằng với áp suất khí quyển của giếng khoan, van cách ly đáy từ từ mở ra.

Khoảng không đen ngòm, sâu thẳm hun hút mở ra dưới chân họ, dẫn thẳng xuống tâm thất lạnh giá của Europa.

"Bắt đầu quy trình thả lươn," Ren lẩm bẩm qua micro gắn cổ áo, ngón tay cái của anh gạt nhẹ cần đẩy phụ về phía trước. "Đầu dẫn nhiệt vi mô đặt ở mức công suất danh định ba mươi watt. Tần số xung nhiệt hai hertz. Khởi động hệ thống đo biến dạng cáp."

Trên màn hình mô phỏng, biểu tượng ba chiều của Lươn Băng bắt đầu trượt xuống theo phương thẳng đứng. Tốc độ hạ ban đầu được Ren kiểm soát chặt chẽ ở mức mười lăm centimét mỗi giây. Sợi cáp quang thạch anh mỏng manh như sợi tơ nhện nhả ra đều đặn từ khoang đuôi robot theo từng vòng xoắn tĩnh, nằm im lìm áp sát vào lớp sương giá bám trên thành ống lót kim loại của đoạn giếng nông.

Cả căn phòng điều khiển chìm vào một sự im lặng nghẹt thở. Chỉ còn tiếng vo ve trầm thấp của quạt tản nhiệt máy chủ, tiếng thở nông của ba con người và nhịp gõ điện tử khô khốc dội lên từ hệ thống cảm biến âm học của Luísa.

"Độ sâu năm trăm mét... Bảy trăm mét... Một nghìn mét... Một nghìn năm trăm mét..." Ren đọc to từng mốc độ sâu, mắt không hề chớp, dán chặt vào các chỉ số đo lực cản cơ học và độ căng của sợi quang. "Gia tốc rơi tự do trong môi trường trọng lực 0,134 g của Europa diễn ra hoàn hảo. Độ căng cáp duy trì ở mức 4,2 newton. Không có hiện tượng gián đoạn hay xoắn cục bộ."

"Cẩn thận đấy, Ren," Luísa đột ngột lên tiếng, giọng cô run lên một chút khi ngón tay trỏ chỉ thẳng vào một dải phổ tần số cao vừa bùng lên trên góc màn hình địa chấn. "Chúng ta đang tiến vào đới đứt gãy Cổ Thạch. Đoạn giếng méo vặn bắt đầu từ độ sâu 1.980 mét kéo dài đến tận 2.040 mét. Ứng suất trượt cục bộ tại vách giếng đang dao động ở mức 1,8 megapascal—rất sát với giới hạn biến dạng đàn hồi của băng đa tinh thể. Nếu thân robot tạo ra ma sát trượt quá mạnh hoặc va đập vào các gờ sắc, ứng suất nhiệt kết hợp với chấn động cơ học sẽ lập tức kích hoạt các vết nứt vi mô lan truyền theo phương thẳng đứng dọc theo thành giếng."

"Đã nhận diện đoạn nghẽn trên cảm biến tiệm cận," Ren đáp, quai hàm bạnh ra, các đường gân trên mu bàn tay anh nổi rõ. Anh gạt lẫy chuyển đổi trên bàn điều khiển. "Chuyển từ chế độ rơi tự do sang chế độ nhu động chủ động. Giảm tốc độ xuống hai centimét mỗi giây."

Hình ảnh siêu âm phản xạ từ đầu mũi robot bắt đầu truyền về màn hình trung tâm, vẽ nên một cấu trúc không gian đầy ám ảnh. Đoạn giếng khoan vốn có hình trụ thẳng tắp và nhẵn nhụi trước đợt địa chấn nay đã biến dạng thành một khe nứt xoắn vặn kỳ dị. Lớp vỏ băng dày hàng nghìn mét dưới sức ép kiến tạo kinh hoàng đã ép bẹp lòng giếng, đẩy những gờ băng sắc nhọn như dao cạo chĩa thẳng vào tâm trục.

Tại độ sâu chính xác 2.014 mét, khoảng trống mở chỉ còn là một khe hở hẹp dài ngoằn ngoèo, mép khe đọng đầy những mẩu băng vụn xốp và bùn muối mặn sẫm màu đã tái đông tụ thành những khối thạch nhũ lởm chởm.

"Mũi Lươn Băng đã tiếp xúc với mép nút thắt," Ren thì thầm. Đôi bàn tay anh khẽ run lên khi bộ truyền động xúc giác trên cần lái bắt đầu dội ngược lại những rung chấn phản hồi cơ học từ độ sâu hai cây số dưới lòng đất. "Đầu dẫn nhiệt bắt đầu phát xung. Bốn mươi watt. Xung nhiệt nửa giây."

Chóp nón bằng hợp kim đồng berili ở đầu robot phát sáng một quầng nhiệt hồng ngoại mờ ảo trên màn hình quét nhiệt. Ren không hề làm tan chảy ồ ạt lớp băng—điều có thể gây ra hiện tượng sốc nhiệt cục bộ làm nứt vỡ kết cấu băng xung quanh như Luísa đã cảnh báo. Anh chỉ phát các xung nhiệt cực ngắn, đủ để làm mềm lớp màng băng tái đông bề mặt, biến những tinh thể tuyết sắc nhọn thành một lớp màng lỏng siêu mỏng đóng vai trò như chất bôi trơn tự nhiên.

"Ứng suất vách băng tăng lên 1,92 megapascal!" Luísa cảnh báo dồn dập, mắt nhìn trừng trừng vào biểu đồ biên độ FBG đang nhảy múa điên cuồng. "Góc nghiêng trục uốn của robot đang ép mạnh vào vách phía đông bắc. Giảm tải ngay, Ren! Đừng cố đẩy tới!"

"Tôi không đẩy," Ren cắn chặt môi, mồ hôi rịn ra trên trán anh bắt đầu chảy dài xuống thái dương. "Tôi đang giải phóng hoàn toàn các khớp... để mười sáu đốt cơ học tự lựa theo đường cong tự nhiên của khe nứt. Mở khóa vi sai các cụm servo... Đốt một đã qua... Đốt hai đã qua..."

Trên màn hình mô phỏng phóng đại, thân robot Lươn Băng uốn mình thành một hình chữ S mềm mại đến khó tin. Lớp màng polymer sinh học bọc ngoài trượt êm ru trên bề mặt ẩm ướt của vách giếng băng, không hề phát ra bất kỳ một tiếng ma sát khô khốc nào. Từng đốt titan thuôn tròn đường kính năm mươi tám milimét nhẹ nhàng luồn lách qua khe hẹp bốn mươi tám milimét bằng cách nghiêng nhẹ góc tiếp xúc, trượt qua lớp bùn tuyết mềm dưới tác động của sóng nhu động truyền dọc từ đầu đến đuôi.

"Đốt tám... khoang cáp quang đã vào khe an toàn," giọng Ren trầm hẳn xuống, chỉ còn là một tiếng thì thào nghẹn lại trong cổ họng. "Độ căng cáp vẫn giữ nguyên ở mức 3,8 newton. Sợi quang không bị kẹp. Không có hiện tượng cọ xát vào mép băng sắc nhọn."

"Ứng suất trượt hạ xuống 1,4 megapascal. Sóng nứt vi mô đã triệt tiêu hoàn toàn," Luísa thở hắt ra một hơi dài, hai bàn tay cô buông thõng khỏi mép bàn điều khiển, các khớp ngón tay trắng bệch vì bấu chặt nãy giờ. Cô quay sang nhìn Ren với ánh mắt đầy thán phục. "Một đường cơ tuyệt vời, Ren. Cậu vừa xỏ chỉ qua lỗ kim ở độ sâu hai nghìn mét đấy."

"Đừng vội mừng, chúng ta mới chỉ vượt qua đoạn thắt cơ học thứ nhất," Ren đáp, khóe môi anh khẽ nhếch lên một nụ cười mệt mỏi nhưng ánh mắt vẫn găm chặt vào màn hình. "Độ sâu 2.100 mét... 2.200 mét... Đã hoàn toàn thoát khỏi vùng biến dạng kiến tạo. Chúng ta đang tiến vào tầng bùn băng đáy."

Môi trường xung quanh cỗ máy lúc này thay đổi rõ rệt trên các cảm biến đo lường. Không còn là băng đá cứng giòn hay không khí khô lạnh nữa, xung quanh thân robot giờ là một hỗn hợp sệt quánh gồm các tinh thể đá băng trôi nổi và nước mặn siêu lạnh ở nhiệt độ -1,8°C. Lươn Băng lập tức tăng tần số sóng co bóp nhu động, các vảy polymer ở thân sau khẽ xòe ra tạo lực đẩy, đẩy cỗ máy lao vút xuống dưới như một mũi tên xé toạc màn đêm buốt giá.

"Độ sâu 2.380 mét. Cảm biến tiệm cận bắt được tín hiệu sonar định vị của Phòng Thí nghiệm Ranh Giới," Ren thông báo, giọng anh run lên vì xúc động không thể kìm nén.

Phòng Thí nghiệm Ranh Giới—trạm tiền tiêu vô trùng được khoan đặt sát đáy màng băng Europa từ những năm đầu của sứ mệnh—hiện ra trên màn hình radar khẩu độ tổng hợp. Đó là một khối cầu titan chịu áp lực cực cao, gắn cố định vào vách băng đáy của đại dương, đóng vai trò như một trạm kiểm soát trung gian giữa thế giới giếng khoan của trạm Borealis và lòng đại dương mở bên dưới. Tại đáy của khối cầu này, cổng ghép nối quang học của tàu lặn Nereid vẫn đang neo mình lơ lửng, hướng thẳng xuống vực thẳm nước lỏng sâu hàng trăm kilômét.

"Tôi thấy cổng chuyển tiếp rồi," Ren điều chỉnh cụm camera quang học siêu nhạy gắn ở chóp mũi Lươn Băng.

Hình ảnh đen trắng mờ ảo, chập chờn truyền về qua sợi cáp quang vừa rải: trong làn nước mặn tối tăm đầy những hạt tuyết băng lơ lửng như bụi phù du, cổng kết nối hình nón của Nereid hiện ra lờ mờ dưới ánh đèn định vị khẩn cấp đang nhấp nháy yếu ớt. Đầu cắm quang học cũ của sợi cáp chính đã bị giật đứt lìa trong trận động băng dữ dội năm ngày trước, để lại ổ cắm quang điện tử mở trơ trọi giữa làn nước mặn buốt giá.

"Kích hoạt đầu kẹp vi cơ khí ở mũi robot," An Khuê bước sát lại gần màn hình, tim cô đập thình thịch trong lồng ngực, cơn đau ở vai dường như biến mất hoàn toàn trước sự căng thẳng tột độ. "Cẩn thận với mặt bích ferrule thạch anh, Ren. Chỉ một hạt cặn khoáng hay một tinh thể tuyết lọt vào tâm sợi quang là tín hiệu sẽ bị tán xạ toàn phần, chúng ta sẽ mất trắng toàn bộ công sức."

"Yên tâm, đầu cắm có nắp bảo vệ áp lực tự mở," Ren hạ giọng thì thầm như thể một tiếng động nhỏ ở đây cũng có thể truyền qua hai nghìn mét dây làm rung chuyển cỗ máy bên dưới.

Bằng những thao tác vi chỉnh tinh tế trên cần điều khiển xúc giác, Ren điều khiển mũi Lươn Băng tiến sát từng milimét vào ổ cắm trung tâm của Nereid. Hai ngàm kẹp siêu nhỏ bằng hợp kim titan từ từ bung ra khỏi chóp nón berili, giữ chặt lấy đầu nối sợi quang thạch anh dài vỏn vẹn năm milimét. Dòng nước đối lưu ngầm của đại dương Europa khẽ lay động thân robot, nhưng hệ thống điều khiển con quay hồi chuyển tích hợp đã giữ cho đầu kẹp đứng yên bất động trong không gian ba chiều.

*Cạch.*

Một âm thanh kim loại cực nhỏ dội ngược qua cảm biến xúc giác của cần lái, rung lên dưới lòng bàn tay Ren.

"Khóa ngàm cơ khí đã khớp hoàn toàn!" Ren reo lên khe khẽ, hơi thở dồn dập. "Đầu nối sợi quang đã cắm ngập vào cổng chuyển tiếp quang điện tử của Nereid!"

Đúng khoảnh khắc chốt hãm vừa đóng sập lại, một xung chấn cực vi mô bất ngờ dội qua thành giếng. Màn hình địa chấn Guará của Luísa khẽ nảy lên một vệt sóng nhọn ở tần số 12 hertz. Đồng thời, trên bảng chẩn đoán hệ thống của Nereid vừa được kết nối, một dòng thông số kỹ thuật nhấp nháy màu đỏ cảnh báo: motor khớp cổ xoay trục ba của tàu lặn phản hồi dòng điện trễ 42 mili-giây, nhiệt độ cuộn dây stator tăng vọt thêm 3,4°C so với nhiệt độ môi trường xung quanh.

"Có dị vật kẹt cơ học nhẹ ở motor khớp xoay của Nereid," Ren cau mày, nhanh chóng ghi nhận thông số vào nhật ký kỹ thuật khẩn cấp. "Nhiệt độ khớp đang cao hơn bình thường khi nhận xung kích hoạt. Có thể là do tinh thể muối hoặc băng vụn lọt vào khe bánh răng trong trận động băng. Nhưng không ảnh hưởng đến mạch quang học! Cổng truyền dẫn quang đã thông suốt hoàn toàn!"

"An Khuê, kênh quang học của cô đã mở!" Luísa quay ngoắt người lại, giục giã bằng một giọng nghẹn ngào. "Chạy ngay đi! Băng thông là của cô!"

An Khuê không chần chừ một phần mười giây. Cô xoay người bước vội ra khỏi buồng điều khiển miệng giếng, sải bước nhanh dọc theo hành lang kỹ thuật hướng thẳng về phía Khoang Sinh học Lam. Dù vết rách ở chóp xoay vai trái nhói lên từng cơn buốt rát theo mỗi nhịp chân dồn dập trên sàn lưới thép, cô dường như không còn nhận thức được bất kỳ cảm giác thể xác nào. Toàn bộ tâm trí cô bị hút trọn về căn phòng ở cuối dãy hành lang.

Cánh cửa Khoang Sinh học Lam trượt mở sang hai bên. Không gian quen thuộc ngập tràn ánh sáng tím nhạt từ dàn đèn LED tiết kiệm điện chiếu xuống các khay cải mầm và những bể nấm men đang âm thầm sinh sôi. Giữa phòng, bàn phân tích quang phổ và màn hình chính của phân khu sinh học đang ở trạng thái chờ, hiển thị một dòng chữ đơn độc đang nhấp nháy chậm rãi: *ĐANG TÌM KIẾM TÍN HIỆU QUANG HỌC BOREALIS-NEREID*.

An Khuê ngồi thụp xuống chiếc ghế xoay trước bàn điều khiển, mười đầu ngón tay lướt nhanh trên bàn phím cảm ứng, thiết lập các giao thức tiếp nhận dữ liệu thụ động nhằm bảo đảm tính toàn vẹn tuyệt đối của tín hiệu truyền về.

"Mây, kết nối bộ giải mã quang học với cổng cáp thạch anh số một," cô ra lệnh, giọng run rẩy trong hơi thở gấp.

"Đang đồng bộ pha sóng mang quang học ở bước sóng 1.550 nanomét," giọng nói êm dịu quen thuộc của trí tuệ nhân tạo Mây vang lên từ cụm loa trần khoang. "Băng thông khả dụng đo được qua sợi thạch anh thụ động: 4,8 megabit mỗi giây. Tỷ lệ suy hao tín hiệu quang: 0,18 dB trên một kilômét. Độ trễ truyền dẫn hai chiều đo được: 0,024 giây."

Bốn phẩy tám megabit mỗi giây.

Một con số vô cùng khiêm tốn, một dòng chảy dữ liệu nhỏ giọt đến nghèo nàn nếu so sánh với xa lộ thông tin hàng gigabit trước khi trận động băng tàn phá trạm. Băng thông này chỉ vừa đủ để truyền tải luồng dữ liệu nén thô sơ nhất, không thể áp dụng bất kỳ thuật toán xử lý hậu kỳ hay nâng cao độ phân giải phức tạp nào. Nhưng đối với phi hành đoàn của Trạm Ánh Sáng Europa vào lúc này, bốn phẩy tám megabit ấy chính là một cây cầu thần kỳ bắc qua hai nghìn mét băng giá vĩnh cửu, nối liền thế giới cô độc của họ với lòng đại dương sâu thẳm chưa từng được khám phá.

Trên màn hình chính, khung cửa sổ dữ liệu bắt đầu nhảy múa những dòng mã nhị phân màu xanh ngọc. Các gói dữ liệu hình ảnh thô từ camera trường siêu rộng của Nereid tràn vào bộ đệm nhớ của Mây. Những khối điểm ảnh vỡ vụn, các dải nhiễu hạt xám xịt xuất hiện lộn xộn trong vài giây đầu tiên khi thuật toán giải nén vi sai nỗ lực chắp vá từng khung hình bị trễ pha.

Rồi đột nhiên, toàn bộ nhiễu loạn biến mất. Màn hình quét sạch mọi vệt xước điện tử.

Luồng hình ảnh thời gian thực từ camera của tàu lặn Nereid hiện ra với độ phân giải nguyên bản.

Cả căn phòng sinh học dường như ngừng thở. Không gian chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, đến mức An Khuê có thể nghe thấy tiếng mạch máu đang đập thình thịch bên thái dương mình.

Không gian hiển thị trên màn hình không phải là một màu đen chết chóc, tẻ nhạt của hư vô hay sự trống rỗng lạnh lẽo của đáy biển băng giá. Đó là một vùng nước sâu thẳm, tĩnh lặng và trong vắt đến mức kỳ ảo, trải dài bên dưới lớp vỏ băng dày hàng chục kilômét của Europa. Ánh đèn pha halogen của Nereid đã tắt hoàn toàn để tiết kiệm từng watt điện quý giá, nhưng bóng tối đại dương không hề ngự trị nơi đây.

Từ đáy sâu vô tận của lòng biển, những cấu trúc cột khoáng trầm tích khổng lồ vươn cao sừng sững như những tháp chuông của một thánh đường cổ đại bị chìm dưới làn nước đại dương. Những cột khoáng chất nhiệt dịch ấy liên tục phun ra những làn khói khoáng ấm áp, mờ ảo, tạo nên những dòng đối lưu uốn lượn nhẹ nhàng, lững lờ trôi trong làn nước mặn buốt giá.

Và bao quanh những cột đá ngầm ấy là một cảnh tượng khiến An Khuê phải nín lặng, hai mắt mở to bàng hoàng.

Cánh đồng Gương Sống.

Hàng trăm nghìn, rồi hàng triệu cấu trúc sinh học phát quang bám dày đặc trên bề mặt các vách đá trầm tích và trôi lơ lửng như những chuỗi hạt ngọc giữa các tầng nước đối lưu ngầm. Chúng không hề phát sáng liên tục như những bóng đèn vô tri của con người, mà bừng nở theo từng nhịp điệu luân chuyển kỳ vĩ và trang nghiêm. Một chuỗi ánh sáng màu ngọc lam rực rỡ bùng lên từ chân một cột khoáng phía xa, lan tỏa theo một đường xoắn ốc hoàn hảo lên tận đỉnh cột, rồi truyền dẫn qua các sợi màng sinh học kết nối sang cột đá kế bên.

Màu ngọc lam thuần khiết ở bước sóng đúng 485 nanomét bừng sáng, phản chiếu lấp lánh trên các tinh thể khoáng chất đáy biển, tạo nên những dải sáng gợn sóng nhấp nhô như một tấm gương khổng lồ đang thở dưới đáy sâu hành tinh. Nhịp sáng đập chậm rãi, trang nghiêm và đồng bộ tuyệt đối với chu kỳ 1,2 giây—chính xác như những gì An Khuê từng chứng kiến trong giây phút ngắn ngủi trước khi thảm họa ập xuống năm ngày trước.

Giữa thảm tối vô tận của lòng biển Europa, hàng trăm đốm sáng ngọc lam đồng loạt bừng nở như một bầu trời sao lộn ngược.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn