Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.8 / 40
Chương 8

Tờ Biên Nhận Ba Mươi Ngày

Không khí trong căn phòng đóng kín của phân sở Trấn Linh Ty như đông đặc lại dưới ánh đèn lưu ly mờ đục, thứ ánh sáng lạnh lẽo hắt lên khuôn mặt không chút biểu cảm của viên kiểm định Đinh Tuệ.

Mùi giấy dó ẩm mốc quyện chặt lấy mùi dầu trẩu chống thấm bốc ra từ chiếc bọc da đặt trên kỷ trà. Bức tường bằng đá hoa cương dày tới hai thước của phân sở tựa như một con đê ngầm kiên cố, ngăn biệt hoàn toàn những âm thanh hỗn loạn ngoài kia: tiếng hò hét lùng sục bắt phu của đám sai nha, tiếng xích sắt va vào nhau loảng xoảng qua từng con ngõ lầy lội, cùng tiếng khóc than xé ruột của dân tị nạn dạt về cổng nam huyện thành An Lưu. Trong bốn bức tường đá lạnh ngắt này, chỉ còn lại tiếng giọt nước rỉ đều đặn, khô khốc từ chiếc đồng hồ cát bằng đồng đặt nơi góc án thư. Mỗi giọt nước buông xuống tựa như một nhát búa gõ nhẹ vào màng nhĩ, nhắc nhở về sự trôi đi tàn nhẫn của thời gian.

Ánh mắt Đinh Tuệ sắc lạnh như hai lưỡi dao mỏng, quét qua ba con người đang đứng trước mặt, rồi dừng lại ở câu hỏi nàng vừa buông xuống:

"Bằng cớ nào chứng minh chín người này tự nguyện theo ngươi, chứ không phải bị gom lại để trốn phu?"

Lâm Tự đứng lùi nửa bước sau lưng Bùi Hạ, hai bàn tay thô ráp chai sần đan chặt vào nhau giấu dưới vạt áo chàm ướt sũng. Tấm trát bắt phu của nha môn huyện An Lưu giấu kỹ trong lớp áo lót áp sát lồng ngực anh lúc này chẳng khác nào một thanh sắt nung đỏ, từng nhịp thở đều bỏng rát và nghẹt thở. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán người thợ mộc, hòa cùng nước mưa bết dính mớ tóc mai xơ xác. Anh hiểu quá rõ sự nghiệt ngã của luật lệ: chỉ cần một câu trả lời lỡ lời, một thoáng ngập ngừng hay một ánh mắt chột dạ, không những bản thân anh sẽ bị tra tay vào gông gỗ giải thẳng ra công trường Đê Hồi Long làm mồi cho sóng dữ, mà toàn bộ hồ sơ của ba mươi mốt con người còn lại trên đỉnh Đoạn Phong cũng sẽ bị Trấn Linh Ty xé nát ngay tại chỗ như mớ giấy lộn.

Bùi Hạ khẽ mím môi, toan bước lên mở lời thì một bàn tay nhăn nheo, gầy guộc và nổi đầy những vết sẹo đá cọ xát đã nhẹ nhàng giơ ngang tầm ngực, ngăn nàng lại.

Nguyễn Mộc từ tốn bước lên nửa bước. Dáng người ông còng rạp xuống vì gánh nặng tuổi tác và cơn lạnh thấu xương sau sáu dặm đường dốc trơn trượt, bùn non còn bám dày từ gấu quần lên tận mép áo rách. Thế nhưng, đôi mắt mờ đục sau cặp chân mày bạc phơ lại ánh lên vẻ điềm đạm, lắng sâu của một người đã dành hơn nửa đời cặm cụi với bia đá, mực nho và những trang điển lệ hành chính lưu vực Vân Hà.

"Bẩm Đinh đại nhân," giọng Nguyễn Mộc khàn đục vì ngấm lạnh nhưng rành rọt, âm vang chắc nịch từng chữ một giữa không gian tĩnh mịch, "Chuyện tự nguyện hay cưỡng ép, luật pháp tiền triều cũng như điển chế đương thời của Trấn Linh Ty vốn không nghe theo lời miệng khai của kẻ sơ lập, mà căn cứ vào sự kế thừa công năng của địa đồ và quy chế sở hữu đã được khắc định trên đá."

Nói đoạn, ông lão từ tốn tháo nút thắt bằng dây gai của chiếc bọc da dầu. Những ngón tay run rẩy vì giá buốt bỗng trở nên vững vàng kỳ lạ khi chạm vào thớ giấy rơm dày dặn bên trong. Ông trải phẳng bản dập rập nét bia đá sa thạch lên mặt bàn gỗ mun bóng loáng của phòng Khảo Bộ. Tấm giấy dập mực đen tuyền, loang lổ những khoảng trắng do đá nứt vỡ theo năm tháng, lập tức hiện rõ từng hàng chữ cổ khắc theo lối triện lệ thời trung kỳ Vân Hà, trầm mặc và uy nghiêm.

Nguyễn Mộc lần ngón tay trỏ có phần móng nứt nẻ men theo một đường nứt dài chạy xiên ở góc trên bên trái của bản dập:

"Xin đại nhân nhìn kỹ dòng thứ ba từ trên xuống, đoạn văn khắc ghi ranh giới địa phận Thạch Nhãn Am, nay gọi là Đạo quán Vọng Đăng. Chữ này là chữ *'Tễ'*, chữ tiếp theo là *'Nạn'*, nối liền với bốn chữ *'Thế đại tị thủy chi sở'* — nơi tránh lũ đời đời của lê dân ven sông. Dù niên hiệu phía trên đã bị nha môn phủ huyện đục sửa từ bốn mươi năm trước hòng biến sơn am thành đất hoang vô chủ để thu hồi vào sổ công ích bỏ ngỏ, nhưng theo *Hành Chính Điển Lệ Lưu Vực Vân Hà*, thiên thứ hai về Công Trình Cứu Trợ Ngoại Viễn, phàm những nơi được tiền triều định danh là am trạm tị nạn công ích thì quyền năng cư trú cứu hộ nạn dân thuộc về tập thể những người đang nương náu tại thực địa."

Đinh Tuệ khẽ nhướng một bên mày thanh mảnh. Ngón tay nàng thon dài, móng tay cắt tỉa gọn gàng, gõ nhịp nhẹ nhàng lên mặt bàn gỗ mun phát ra những tiếng *cốc, cốc* khô khốc, nhưng nàng không hề ngắt lời ông lão thợ đá.

Nguyễn Mộc hít một hơi sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng, ngữ điệu vẫn không nhanh không chậm, đanh thép như tiếng đục thép gõ vào đá tảng ngàn năm:

"Điều mười tám của Điển lệ ghi rõ: khi đê lớn vỡ, lũ dữ vượt quá mức tam đẳng, dân chúng lưu lạc tụ tập tại các trạm tị nạn công ích được phép đồng tâm hợp ý cử người dẫn dắt để tự vệ và bảo tồn nguồn nước. Huyện phủ chỉ có quyền trưng phu trên dân đinh tại bản quán cư trú hoặc người vô tịch lang bạt không chốn dung thân; huyện phủ tuyệt đối không có thẩm quyền giải tỏa, cưỡng chế hay xóa bỏ quyền năng cư trú cứu hộ của một am trạm đã có văn bia công ích, trừ phi có phê chuẩn mang ấn tỉ của Trấn Linh Ty trung xu. Chín chữ ký và điểm chỉ máu này, thưa đại nhân, không phải là gom người trốn phu. Đó là chín gia đình nạn dân đang thực thi quyền cứu sinh được ghi trên bia đá sa thạch mà triều đình đã thừa nhận từ một trăm hai mươi năm trước."

Căn phòng chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối. Từng lời, từng dẫn chứng của Nguyễn Mộc như một bức tường thành pháp lý cổ xưa được dựng thẳng đứng lên giữa bàn Khảo Bộ. Bức tường ấy vững chãi, khít khao đến mức khiến cho những trát đòi của Huyện thừa Hoàng Cẩn hay đòn roi của đám sai nha Công tào ngoài phố bỗng chốc trở nên kệch cỡm, vượt quyền và hoàn toàn vô hiệu trước ánh sáng của điển lệ nguyên bản.

Đinh Tuệ cúi đầu, ánh mắt lạnh lùng lướt qua từng nét chữ dập rập trên nền giấy bản thô ráp. Ngón tay nàng dừng lại ở cụm chữ *'Thế đại tị thủy'*. Nét đục sâu ba phân, chân chữ nở rộng khoáng đạt, phong cách khắc đá đặc trưng của các tượng nhân vùng thượng lưu thời trước. Thủ pháp này, đám lại dịch nha môn hay bọn đầu cơ đất đai thời nay dù có tài ba đến đâu cũng không thể nào làm giả trong một sớm một chiều.

Nàng ngẩng lên, chậm rãi chuyển ánh mắt từ ông lão thợ đá sang Bùi Hạ. Sự nghi ngờ về tính pháp lý tạm thời lắng xuống, nhưng nét khắt khe, săm soi của một viên kiểm định kỹ thuật Luyện Khí tầng năm lập tức trỗi dậy, mang theo áp lực linh lực nhàn nhạt bao trùm cả căn phòng.

"Pháp lý cứu nạn tiền triều cho các ngươi quyền được cắm rễ ở đó," Đinh Tuệ chậm rãi cất tiếng, ngón tay lật sang tập bản vẽ do Bùi Hạ tự tay phác thảo bằng mực muội đèn, "Thế nhưng, Luật Vân Hà về Tông Môn Sơ Lập không cấp quyền bảo hộ cho một nấm mồ tập thể. Một tông môn sơ lập muốn được Trấn Linh Ty thụ lý hồ sơ bắt buộc phải có một công trình phòng hộ thực tế có khả năng bảo trì và vận hành liên tục. Bản kiểm tra lưu trữ của phân sở ta ghi nhận rất rõ: Đạo quán Vọng Đăng vốn có hộ sơn trận Bắc Đẩu thất tinh. Nhưng hiện tại, mắt Thiên Xu và Thiên Tuyền đã vỡ vụn, mắt Dao Quang lệch khỏi trục địa chấn do sạt lở sườn đông từ trận lũ năm ngoái. Ngươi vốn là thợ sửa trận Luyện Khí tầng ba bị Thanh Huyền Môn bãi miễn vì làm nổ bàn trận thử tải, nay lại dám vác một bản đồ trận pháp chỉ còn bốn mắt hoạt động chập chờn để xin bảo hộ cho ba mươi hai sinh mạng? Trận này của ngươi, tải nổi một đợt sóng linh sa hay một trận đất chuồi từ đỉnh núi xuống không?"

Từng lời chất vấn của Đinh Tuệ như mũi kim châm thẳng vào vết thương sâu kín nhất trong sự nghiệp tu hành của Bùi Hạ. Thanh Huyền Môn, tiếng nổ xé tai của bàn trận thử tải quá áp, những lời mắng nhiếc thậm tệ, và cánh tay phải tàn phế buông thõng—tất cả như một bóng ma nhơ nhuốc chực chờ trỗi dậy để dìm nàng xuống vũng bùn ô nhục.

Thế nhưng, Bùi Hạ không hề chớp mắt. Nàng đứng thẳng lưng, ánh mắt bình thản như mặt nước giếng sâu không gợn sóng. Bước lên một bước, nàng dùng cánh tay trái lành lặn rút ra một bản vẽ bóc tách chi tiết khác, đặt đè lên bản đồ tổng thể trên bàn Khảo Bộ. Cánh tay phải quấn chặt nẹp tre bên trong tay áo chàm rộng thùng thình vẫn buông thõng bên sườn, kiên định và bất động.

"Đinh kiểm định nói không sai một chữ," Bùi Hạ mở lời, thanh âm khô khốc nhưng vững chãi như đá hộc chôn dưới chân đê. "Trận Bắc Đẩu cũ đã chết ba mắt. Nếu cố chấp dùng linh thạch phẩm cấp thấp để cưỡng ép kích hoạt toàn bộ bảy mắt như nguyên bản, không những không ngăn được sạt lở mà còn bòn rút quá tải linh tuyền Thạch Nhãn, làm nứt toác toàn bộ mạch đá ngầm sườn đông trong vòng chưa đầy ba ngày."

Nàng dùng ngón tay trỏ trái miết theo một đường mực đỏ đậm trên sơ đồ bóc tách tầng móng:

"Ta không xin cấp phép cho một đại trận hộ sơn toàn diện bao trùm cả ngọn núi. Bản vẽ này là phương án thu hẹp phòng tuyến, thiết lập vùng đệm sinh tồn lõi. Ba mắt trận hỏng hóc đã bị ta cô lập hoàn toàn bằng các khóa linh bằng đồng vụn, triệt tiêu dòng phản hồi tiêu cực. Chúng ta chỉ vận hành bốn mắt trận còn lại để che chở duy nhất cho hai gian kiến trúc trọng yếu: chính điện và gian kho tây."

Đinh Tuệ nheo mắt nhìn vào các đường phân nhánh màu son:

"Vách tây chính điện đang chịu áp lực đất chuồi hàng vạn cân từ sườn dốc phía trên đổ xuống. Mắt trận số ba nằm ngay dưới chân tường đó. Linh lực hệ mộc của một tu sĩ tàn phế như ngươi làm sao chịu nổi sức nặng ngần ấy mà không sập bệ đá trận pháp?"

"Bằng sức gỗ, không phải bằng linh lực," Bùi Hạ đáp dứt khoát. Nàng nghiêng người sang một bên, để lộ Lâm Tự đang đứng phía sau. "Người đứng sau ta là Lâm Tự, thợ mộc của xóm thợ bờ nam An Lưu. Anh ấy đã dùng mộng mang cá và hệ giằng chéo chữ X kép bằng thân gỗ táu già, truyền toàn bộ tải trọng trượt lở của sườn dốc sang khối đá mẹ nguyên khối phía bắc. Nhờ kết cấu mộc truyền lực này, bệ đá của mắt trận số ba hoàn toàn không phải gánh một cân áp lực cơ học nào từ đất đá trôi dạt."

Bùi Hạ không dừng lại ở đó, nàng lật tiếp một trang giấy ghi chép dày đặc những con số đo đạc thủy văn:

"Linh tuyền Thạch Nhãn hiện rỉ ra tối đa hai mươi tư gánh nước mỗi ngày đêm. Chúng ta đã nạo vét sạch cặn mạt sa khoáng và đắp gờ đá chia dòng theo tỷ lệ nghiêm ngặt: bảy phần mười lưu lượng—tương đương mười sáu gánh—được dẫn qua hệ thống lọc than củi ba tầng để phục vụ nước uống sinh hoạt an toàn tuyệt đối cho ba mươi hai con người. Ba phần mười còn lại—khoảng bảy gánh—được tích trữ vào đài thanh hoa để bồi đắp linh lực cho bốn mắt trận thu hẹp và duy trì tim đèn dẫn đường trên gác chuông. Lượng tiêu hao này hoàn toàn nằm dưới ngưỡng tự phục hồi của mạch ngầm. Nó bảo đảm một vùng đệm sinh tồn an toàn tuyệt đối cho chín thành viên nhập tịch đứng tên và những người phụ thuộc, không bòn rút kiệt quệ linh tuyền, không gây sụp đổ địa chất."

Bùi Hạ ngẩng cao đầu, nhìn thẳng vào đôi đồng tử màu hổ phách của Đinh Tuệ:

"Đây không phải là một công trình vẽ ra trên giấy để đối phó với Trấn Linh Ty. Nó đã được dựng bằng gỗ thật, đá thật và mồ hôi thật. Bốn mắt trận đã chạy suốt hai ngày đêm qua giữa mưa lũ mà không hề quá tải một khắc nào."

Căn phòng một lần nữa chìm vào yên lặng. Đinh Tuệ cúi sát người xuống bản vẽ, ánh mắt nghiêm nghị chuyển từ vẻ hoài nghi sang sự tập trung cao độ. Nàng với tay lấy chiếc kính phóng đại bằng thạch anh gắn gọng đồng từ trên giá sách, tỉ mỉ soi từng đường nét nối giữa thanh giằng gỗ táu và bệ đá của mắt trận số ba.

Là một viên kiểm định đã kinh qua hàng trăm hồ sơ tông môn lớn nhỏ, Đinh Tuệ thừa hiểu sự tinh diệu đến tàn nhẫn của phương án này: thay vì đổ hàng trăm viên linh thạch đắt đỏ hay bắt tu sĩ hao tổn tu vi để chống chọi với sức nặng cơ học tự nhiên—điều mà các tông môn lớn vẫn thường làm một cách phung phí—người thợ sửa trận phế phẩm này đã dùng kết cấu mộc thô sơ của thợ phàm trần để giải phóng hoàn toàn gánh nặng cho trận pháp. Đó là một giải pháp chắp vá cùng cực của những kẻ bần hàn không tấc sắt cắm dùi, nhưng xét về mặt cơ học ứng lực và cân bằng linh lưu, nó chính xác, chặt chẽ đến mức đáng kinh ngạc.

Đinh Tuệ buông chiếc kính phóng đại xuống mặt bàn. Nàng tựa lưng vào chiếc ghế bành bọc da thú, hai bàn tay đan vào nhau đặt trước bụng, khẽ thở dài một hơi. Làn sương lạnh từ hơi thở nàng tan biến vào không khí.

"Một bản dập rập bia đá công ích không thể chối cãi. Một phương án kỹ thuật thu hẹp vừa vặn với thực địa." Đinh Tuệ cất tiếng, giọng điệu đã bớt đi vẻ sắc nhọn ban đầu, nhưng vẫn giữ nguyên sự xa cách của một công chức hành chính Trấn Linh Ty, "Các ngươi chuẩn bị kỹ hơn ta tưởng rất nhiều. Bùi Hạ, tài nghệ vá víu của ngươi đúng là không hề mai một sau khi rời khỏi Thanh Huyền Môn."

Bùi Hạ im lặng, không nhận lời khen ngợi mang đầy ẩn ý cay đắng ấy. Nàng chỉ đứng đó, chờ đợi phán quyết cuối cùng.

Đinh Tuệ với tay kéo cuốn sổ bộ dày cộp bọc da trâu xám từ góc bàn, lật giở từng trang giấy vàng óng đến phần đăng ký sơ lập của vùng hạ lưu Đoạn Phong. Nàng cầm cây bút lông cán trúc, nhúng đẫm mực đen tuyền, nắn nót ghi từng dòng chữ thẳng thớm:

*Đạo quán Vọng Đăng — Núi Đoạn Phong — Đại diện pháp lý: Bùi Hạ (Luyện Khí tầng ba) — Số lượng đinh khẩu nhập tịch: Chín người.*

Viết xong, nàng ngẩng lên nhìn ba người, ánh mắt sắc bén như nhắc nhở từng ranh giới sinh tử:

"Theo quy định tại Điều mười hai Luật Vân Hà, hồ sơ của các ngươi đủ điều kiện thụ lý sơ bộ. Ta cấp cho các ngươi một tờ Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời có thời hạn đúng ba mươi ngày kể từ hôm nay."

Đinh Tuệ kéo hộc bàn gỗ mun, lấy ra một chiếc hộp chạm trổ bằng gỗ đàn hương, mở nắp để lộ con dấu vuông vức bằng đồng thau nặng trịch, trên thân khắc hình mây cuốn và phù văn trấn linh phức tạp. Nàng cầm con ấn, ấn mạnh vào hộp mực chu sa đỏ tươi như máu tươi mới trích, rồi dằn mạnh xuống góc dưới của tờ giấy biên nhận dày dặn.

*Cộp!*

Một tiếng vang dứt khoát, nặng nề điểm xuống mặt giấy. Dấu triện đỏ rực hiện lên sắc nét, tỏa ra một làn linh khí mỏng manh nhưng đầy uy quyền của cơ quan quản lý linh mạch triều đình. Mực chu sa ngấm sâu vào từng thớ giấy, tựa như một khế ước sống được ký kết giữa ranh giới sống chết.

Đinh Tuệ đẩy tờ giấy về phía Bùi Hạ, ngón tay đè chặt lên mặt giấy, nhấn mạnh từng lời:

"Nghe cho rõ đây. Tờ biên nhận này kích hoạt quyền bảo hộ tạm thời trong ba mươi ngày. Trong thời hạn này, huyện phủ An Lưu hay bất kỳ công trường nào cũng không có quyền phát lệnh trưng phu mới đối với chín cái tên có chữ ký và điểm chỉ trong danh sách này."

Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt liếc xéo qua Lâm Tự khiến sống lưng người thợ mộc lạnh buốt như có dòng nước đá chảy qua:

"Nhưng hãy nhớ lấy hai điều sống còn. Thứ nhất: bảo hộ tạm thời chỉ ngăn chặn các lệnh trưng phu mới phát sinh sau thời điểm đóng dấu. Nếu bất kỳ ai trong chín người các ngươi đã có lệnh trưng phu hợp lệ do huyện phủ ban hành từ trước ngày hôm nay, tờ giấy này không tự động xóa bỏ nghĩa vụ cũ. Thứ hai: tờ giấy này chỉ bảo vệ chín người đứng tên hợp lệ trong sổ bộ. Hai mươi ba nạn dân còn lại đang nương náu tại đạo quán của các ngươi vẫn hoàn toàn nằm ngoài vòng bảo hộ. Nếu nha môn huyện càn quét ngoài ranh giới đăng bộ, Trấn Linh Ty sẽ không can thiệp dù chỉ nửa lời. Hết ba mươi ngày, ta sẽ đích thân lên đỉnh Đoạn Phong khảo sát thực địa. Nếu trận hộ sơn sụp, hoặc linh tuyền cạn kiệt, hoặc có dấu hiệu man khai danh tính, biên nhận này sẽ bị hủy bỏ ngay tức khắc, và các ngươi sẽ bị giải giao cho huyện nha trị tội khi quân lừa dối."

"Đã rõ," Bùi Hạ cúi đầu. Nàng dùng bàn tay trái đỡ lấy cổ tay phải đang nẹp tre, cẩn trọng nâng hai tay đón nhận tờ giấy biên nhận còn thơm nồng mùi mực son và linh khí chu sa.

"Cầm lấy rồi đi ngay đi," Đinh Tuệ phẩy tay áo, mắt đã cúi xuống đống hồ sơ ngổn ngang tiếp theo, "Trời sắp tối rồi. Cổng nam sắp đóng, và nha sai ngoài kia sẽ không để các ngươi thong thả dạo phố đâu."

***

Khi cánh cổng gỗ lim nặng nề của phân sở Trấn Linh Ty khép lại sau lưng ba người, một làn gió lạnh thấu xương lập tức tạt thẳng vào mặt họ. Ráng chiều màu chì đã buông đặc quánh xuống huyện thành An Lưu, biến cả khu phố thành một bức tranh u ám, ẩm ướt.

Mưa phùn bắt đầu rơi nặng hạt hơn, hòa lẫn với thứ gió bấc mang theo mùi tanh nồng của bùn lầy từ Đê Hồi Long và mùi hôi thối của xác súc vật trôi dạt lâu ngày. Khắp các ngõ phố lát đá hộc trơn trượt, cảnh tượng hỗn loạn đang diễn ra dữ dội. Những toán nha sai Công tào mặc áo nẹp da màu nâu đất, tay cầm đuốc tẩm nhựa thông đỏ rực cháy bập bùng giữa màn mưa, tay lăm lăm xích sắt và gậy gộc. Họ sục sạo từng xó xỉnh, đập cửa rầm rầm vào các căn nhà trọ tị nạn tồi tàn, lôi xềnh xệch những người đàn ông gầy gò, đói lả ra đường.

Tiếng đàn bà khóc lóc van xin, tiếng trẻ thơ gào thét lạc giọng lẫn trong tiếng chửi mắng thô bạo của đám sai nha và tiếng roi mây quất vun vút xé toạc màn đêm. Mỗi tiếng roi giáng xuống da thịt đều kéo theo một tiếng rú đau đớn, xé nát chút tôn nghiêm cuối cùng của kiếp nạn dân.

"Đi lối ngách phía tây," Lâm Tự thì thầm qua kẽ răng, vội vã kéo sụp chiếc nón mê rách che kín nửa khuôn mặt xám ngắt. Anh giấu hai bàn tay run rẩy sâu vào trong bọc áo, nơi lồng ngực vẫn đang đập loạn xạ từng hồi vì câu cảnh báo sắc lạnh của Đinh Tuệ ban nãy. Tấm trát bắt phu của huyện nha vẫn nằm im lìm trong ngực áo anh, như một bản án tử hình bị treo lơ lửng, chỉ chực chờ rơi xuống bất cứ lúc nào nếu thân phận thợ mộc trốn việc của anh bị vạch trần.

Bùi Hạ cẩn thận cuộn tròn tờ biên nhận bảo hộ, bọc kín trong ba lớp vải dầu chống thấm rồi nhét sâu vào trong ngực áo, áp chặt vào da thịt mình. Hơi ấm từ cơ thể nàng truyền sang tờ giấy mỏng, nhưng sự ấm áp ấy không thể xua đi nỗi âu lo trĩu nặng trong lòng.

Chín cái tên. Tờ giấy này chỉ che chở được cho chín sinh mạng—trong đó có nàng, Lâm Tự, Nguyễn Mộc, Đỗ Nghi, Phạm Sương và bốn người thợ chèo đò khỏe mạnh. Còn hai mươi ba con người khác trên đỉnh Đoạn Phong—bao gồm cả bé Lâm An con gái Lâm Tự, những người già yếu như Trịnh thị, và cả đứa trẻ sơ sinh vừa thoát khỏi cơn sốt rét—vẫn đang đứng chênh vênh bên bờ vực bị săn đuổi. Họ không có tên trên sổ bộ của Trấn Linh Ty. Họ chỉ là những cái bóng vô hình, có thể bị xích sắt lôi đi bất cứ lúc nào nếu quan quân huyện mò lên núi.

Cả ba men theo những bờ tường đất ẩm ướt, né tránh các trục đường chính nơi ánh đuốc của nha sai đang rực sáng như ma trơi. Họ cúi gằm mặt, lầm lũi bước nhanh qua khu phố buôn bán đã đóng cửa im ỉm bằng những tấm ván gỗ dày cộp cài then sắt.

Khi đi ngang qua khúc quanh dẫn ra bến sông cũ, Bùi Hạ khẽ ngẩng đầu nhìn lên.

Cách đó không xa, sừng sững giữa màn sương mù và bóng tối là tòa lầu ba tầng đồ sộ của Thương hội Tam Giang. Trái ngược hoàn toàn với cảnh điêu tàn, lầy lội của huyện thành, tòa lầu nguy nga sáng rực dưới ánh sáng của hàng chục chiếc lồng đèn lụa đỏ thắm chống nước treo dưới mái ngói uốn cong. Những chiếc đèn hắt ánh sáng ấm áp, vương giả xuống khoảng sân riêng trải sỏi trắng tinh tươm, nơi nước lũ dường như không dám bén mảng tới.

Trên tầng cao nhất của tòa lầu, bên khung cửa sổ mở hé nhìn thẳng ra trục đường độc đạo rời thành, một bóng người vận áo gấm màu nguyệt bạch đang đứng lặng lẽ.

Đó là Tống Khải, chủ sự quyền uy của thương hội. Tay ông ta thong thả nâng một chén trà bằng sứ men ngọc bốc khói nghi ngút, hương trà thượng hạng thoang thoảng bay xa trong gió lạnh. Dưới ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn lầu, đôi mắt thâm trầm, sắc sảo của người thương nhân lão luyện dõi theo ba bóng người lếch thếch, áo quần bết bùn đang hối hả bước đi trong bóng tối bên dưới.

Tống Khải không lên tiếng gọi, không vẫy tay, thậm chí không có lấy một cử chỉ thừa thãi. Ông ta chỉ chậm rãi nhấp một ngụm trà nhỏ, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười vô cảm, lạnh lùng đến rợn người. Ánh mắt ấy như một tấm lưới vô hình buông xuống lưng Bùi Hạ—lạnh lẽo, kiên nhẫn và tự tin như một kẻ đi săn thượng thặng đã giăng sẵn cạm bẫy trong rừng sâu, chỉ việc ngồi trong lầu ấm uống trà và chờ đợi con mồi cùng đường kiệt sức tự bò vào bẫy.

Bùi Hạ siết chặt nắm tay trái đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng. Nàng dằn lòng không quay đầu lại nhìn, hạ thấp giọng thúc giục hai người bạn đồng hành rảo bước nhanh hơn:

"Đi mau, đừng nhìn lên."

Họ lách qua cánh cửa ngách chật hẹp của cổng thành nam ngay trước khi những thanh gỗ chắn bọc sắt cuối cùng được đám lính canh nặng nề hạ xuống theo hiệu lệnh giới nghiêm. Vừa bước chân ra khỏi ranh giới huyện thành, bóng tối thăm thẳm của đồng bằng ngập lụt lập tức nuốt chửng lấy họ.

Sáu dặm đường dốc quay trở lại đỉnh Đoạn Phong trong đêm tối mịt mùng thực sự là một cơn ác mộng kinh hoàng của bùn lầy, đá hộc và sự kiệt sức. Cơn mưa rào ban chiều đã biến những con đường mòn vốn đã hiểm trở thành những rãnh bùn nhão nhoét, trơn như bôi mỡ trâu. Gió từ lòng sông thốc lên từng cơn rít gào, quất những giọt nước lạnh buốt vào mặt, vào mắt rát bỏng.

Nhiều đoạn dốc đứng bị sạt lở nham nhở, Lâm Tự phải đi trước, dùng chiếc thuổng sắt mang theo khoét từng bậc thang thô sơ vào vách đất sét để Nguyễn Mộc bám vào mà trèo lên. Ông lão thở dốc từng cơn nặng nhọc, đôi chân run lẩy bẩy dường như không còn tuân theo ý chí. Cánh tay phải tàn phế của Bùi Hạ buốt nhói từng cơn theo từng nhịp tim đập; mỗi bước trượt chân trên đá dăm làm chấn động bả vai đều khiến nàng cắn chặt môi đến bật máu, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm cả lớp áo lót bên trong.

Thế nhưng, giữa cơn đau đớn và giá lạnh ấy, tờ giấy biên nhận có con dấu triện đỏ rực của Trấn Linh Ty ép sát lồng ngực nàng như một hòn than ấm âm ỉ cháy.

Ba mươi ngày.

Họ đã đổi lấy được ba mươi ngày bình yên quý giá trước xích sắt và gậy gộc của quan nha. Ba mươi ngày để sửa sang đạo quán, để củng cố hệ thống giằng gỗ, để nạo vét linh tuyền và gia cố bốn mắt trận còn sót lại. Ba mươi ngày để biến nơi nương náu chông chênh này thành một tông môn thực thụ được luật pháp bảo hộ, nơi không một kẻ nào có thể tùy tiện xông vào xua đuổi hay bắt bớ người của họ.

Gần nửa đêm, sau hàng giờ vật lộn với dốc trượt và bóng tối, bóng dáng đen thẫm, sừng sững của vách núi Đoạn Phong rốt cuộc cũng hiện ra trước mắt.

Trên đỉnh núi cao vút nhô lên khỏi biển sương mù, ngọn Đăng Dẫn Lộ le lói tỏa ra một quầng sáng màu vàng nhạt mờ ảo. Ánh sáng ấy yếu ớt, chập chờn như một chấm đom đóm trong đêm bão, tựa hồ có thể bị một cơn gió giật thổi tắt bất cứ lúc nào. Thế nhưng, giữa biển bùn đen ngòm mênh mông, giữa bóng tối vây hãm của hạ lưu Vân Hà, chấm sáng vàng vọt ấy là điểm tựa duy nhất mách bảo những kẻ cùng đường rằng: nhà ở kia, hy vọng ở kia.

***

Cánh cửa gỗ táu nặng nề của chính điện Đạo quán Vọng Đăng rên lên một tiếng *két* dài rồi khép chặt lại sau lưng ba người, then cài bằng gỗ lim lập tức được sập xuống. Một luồng hơi ấm mỏng manh từ đống củi than le lói giữa điện phả vào mặt họ, xua đi phần nào cái lạnh buốt xương của đêm mưa.

Gian chính điện chật ních người. Ba mươi hai con người dường như không một ai chợp mắt nổi trong suốt buổi chiều và đêm nay. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên bệ thờ cũ, mấy chục cặp mắt trũng sâu vì đói khát, kiệt sức và sợ hãi đồng loạt ngước lên nhìn về phía cửa. Không khí trong điện nén lại như một sợi dây đàn căng hết mức.

Từ góc cột phía đông, bóng một đứa trẻ nhỏ thó lao bổ ra.

"Cha!"

Lâm An lao đến, ôm chầm lấy đùi Lâm Tự, vùi khuôn mặt nhỏ nhắn lem luốc vào vạt áo chàm ướt sũng đầy bùn đất của cha. Bờ vai gầy guộc của cô bé run lên bần bật, hai bàn tay nhỏ xíu bám chặt lấy lớp vải thô như sợ rằng chỉ cần buông tay ra là cha mình sẽ biến mất vào bóng tối mãi mãi.

Lâm Tự khuỵu hai gối xuống nền đá lạnh, vòng cánh tay thô ráp ôm chặt lấy con gái. Bàn tay đầy bùn đất của người thợ mộc nhẹ nhàng xoa lên mái tóc xơ xác của đứa trẻ, bờ mi anh đỏ hoe, khẽ thở hắt ra một hơi dài như vừa trút bỏ được cả quả núi đè nặng trên vai suốt cả ngày qua.

Nguyễn Mộc run rẩy tháo bọc da dầu chống thấm. Ông bước lên bệ đá cao hơn một bậc, trân trọng giơ cao tờ giấy biên nhận dày dặn lên trước mặt tất cả mọi người. Dưới ánh lửa bập bùng, con dấu triện vuông vức màu chu sa đỏ tươi của Trấn Linh Ty ánh lên rực rỡ, uy nghiêm và chói lọi.

"Được rồi... Mọi người ơi, được rồi!" Giọng Nguyễn Mộc nghẹn ngào, run rẩy rồi vỡ òa ra vì xúc động khôn xiết, "Trấn Linh Ty đã chính thức thụ lý hồ sơ của chúng ta! Họ đã đóng dấu triện bảo hộ! Chúng ta có ba mươi ngày bảo hộ tạm thời theo Luật Vân Hà! Quan nha huyện An Lưu không được phép lên núi Đoạn Phong bắt người đi phu nữa!"

Một làn sóng xì xào kinh ngạc rồi vỡ òa thành những tiếng reo vui nghẹn ngào khắp gian chính điện.

Mấy người thợ chèo đò vốn dĩ lầm lì, chai sạn bỗng thở phào một hơi dài, ngồi bệt xuống đất rồi đưa tay vỗ bôm bốp vào đùi nhau, nụ cười rạng rỡ hiện rõ trên những khuôn mặt khắc khổ. Mẹ con Trịnh thị ôm chầm lấy nhau ứa nước mắt, người mẹ liên tục lẩm bẩm những lời tạ ơn trời phật. Ở góc vách đá phía tây, Vũ Liên—người vừa trải qua cơn nghịch khí thập tử nhất sinh hai hôm trước, sắc mặt vẫn còn trắng bệch như tờ giấy—cũng khẽ hé môi mỉm cười, ánh mắt nàng ánh lên những tia hy vọng mong manh về một ngày mai tươi sáng hơn.

Bùi Hạ đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ dày, ngực phập phồng theo từng nhịp thở dốc. Nàng nhìn ngắm khung cảnh ấy, cảm nhận hơi ấm của sự sống đang nhen nhóm trở lại trong gian điện hoang phế, lạnh lẽo này. Nàng toan bước lên bệ đá để cùng Nguyễn Mộc giải thích rõ hơn về quy chế ba mươi ngày cho mọi người, thì bất chợt, một bàn tay mảnh khảnh nhưng rắn rỏi túm chặt lấy vạt áo chàm của nàng, giật mạnh về phía sau.

Bùi Hạ giật mình quay lại.

Đứng trong góc tối của bức vách ngăn bằng gỗ là Phạm Sương.

Người đàn bà giữ kho đứng lặng lẽ trong bóng tối, khuôn mặt gầy guộc đanh lại như tạc bằng đá hoa cương. Đôi môi mỏng của nàng mím chặt thành một đường thẳng tắp, không hề có lấy một tia rạng rỡ hay nhẹ nhõm như những người khác ngoài kia. Ánh mắt sắc sảo của người từng quản lý sổ sách cho thương thuyền lớn không hề liếc nhìn tờ giấy có dấu triện đỏ rực trên tay Nguyễn Mộc dù chỉ một lần. Nàng chỉ nhìn chằm chằm vào Bùi Hạ, một cái nhìn sâu hoắm, u uất và trĩu nặng sự tuyệt vọng đến rợn người.

"Hạ, theo ta vào đây," Phạm Sương hạ giọng thì thầm. Thanh âm của nàng lạnh tanh, khô khốc như tiếng lá khô cọ vào đá tảng.

Không đợi Bùi Hạ kịp mở lời, Phạm Sương dứt khoát quay người, bước nhanh qua khe cửa hẹp dẫn xuống gian kho tây nằm sâu trong lòng vách đá.

Bùi Hạ khẽ nhíu mày, tim nàng thắt lại bởi một linh cảm chẳng lành. Nàng khẽ ra hiệu bằng mắt cho Lâm Tự ở lại trông chừng đứa trẻ và trấn an mọi người, rồi lặng lẽ bước theo sau bóng lưng gầy guộc của người chưởng quỹ.

***

Gian kho tây tối tăm và ẩm thấp hơn chính điện rất nhiều. Vừa bước chân qua ngạch cửa, một mùi ẩm mốc nồng nặc của bao tải gai ướt nước quyện với mùi chua loét của ngũ cốc lên men lập tức xộc thẳng vào mũi, khiến cổ họng Bùi Hạ nghẹn ứ lại.

Ngọn đèn dầu hạt cải nhỏ xíu đặt trên một chiếc hòm gỗ mục chỉ đủ hắt ra một quầng sáng vàng vọt, tù mù, soi rõ từng mảng rêu xanh bám trên vách đá ướt rượt nước ngầm.

Trên nền đá lạnh ngắt của gian kho, sáu chiếc bao tải rỗng không nằm bẹp dí thành một đống bùi nhùi nhớp nháp bên góc tường. Cạnh đó, trên một chiếc nong tre lớn đan bằng nứa rừng, người ta rải ra một lớp ngũ cốc mỏng manh. Thế nhưng, thứ đang nằm trên mặt nong không phải là những hạt kê vàng óng hay những hạt ngô mẩy căng bóng.

Đó là một đống bột đen kịt, vón cục lại thành từng mảng dính nhớp, đang bốc lên thứ mùi thối rữa kinh tởm của nấm mốc ngậm nước lũ lâu ngày.

Phạm Sương bước đến bên chiếc hòm gỗ mục, cầm lên một cuốn sổ tre mỏng được buộc sơ sài bằng sợi dây gai thô. Nàng không nói một lời nào, chỉ lẳng lặng chìa cuốn sổ ra trước mặt Bùi Hạ, ngón tay trỏ run rẩy chỉ thẳng vào những hàng chữ số mới toanh vừa được gạch xóa chằng chịt bằng mẩu than củi đen đúa.

"Chiều nay, sau khi ba người các ngươi xuống núi sang huyện thành An Lưu, ta cùng Đỗ Nghi đã quyết định mở toàn bộ mười bốn bao lương thực dự trữ ra để sàng sảy và phân loại lại," giọng Phạm Sương trầm xuống, nghẹn lại nơi cuống họng, nghe như tiếng hai hòn đá cuội đang nghiến vào nhau dưới đáy một cái giếng cạn trơ đáy. "Không thể giấu được nữa rồi, Hạ ạ."

Bùi Hạ nín thở nhìn xuống từng trang sổ tre. Những con số khô khốc, trần trụi hiện lên dưới ánh đèn dầu le lói như những vết chém chí mạng.

"Hai bao thóc nảy mầm mà chúng ta vớt được từ thuyền trôi dạt hôm trước... chiều nay mầm đã mọc dài cả tấc," ngón tay Phạm Sương run bần bật men theo từng nét chữ than củi, "Nhưng kinh khủng hơn là bên trong ruột hạt thóc đã hoàn toàn thối rữa, biến thành một bọc nước đục ngầu, chua loét. Đỗ Nghi đã nếm thử một hạt và bảo thứ đó chứa đầy độc thanh hủ do linh sa ngấm nước lũ phân hủy sinh ra. Súc vật ăn vào còn thủng ruột mà chết trong đau đớn, huống chi là người. Ta buộc phải cắn răng cho người đem đổ bỏ toàn bộ hai bao đó xuống hố rác sâu phía sườn đông để tránh lây lan nấm mốc."

Nàng hít một hơi thật sâu, ngực áo phập phồng dữ dội:

"Năm bao ngô hạt mà chúng ta ngỡ là còn khô ráo nhất vì được kê trên giàn nứa... hóa ra nước lũ ngậm bùn linh sa đã ngấm từ đáy bao ngấm ngược lên từ bao giờ mà không ai hay biết. Ba bao rưỡi ở tầng dưới đã nhũn nát thành bùn đen kịt, mốc trắng ăn luồn vào tận lõi phôi của từng hạt ngô. Chiều nay, ta cùng mấy đứa nhỏ trong xóm thợ đã phải dùng dần sàng, cào từng vốc một, thức trắng mấy canh giờ để nhặt nhạnh từng hạt còn lành lặn..."

Phạm Sương ngẩng đầu lên. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, đôi mắt nàng đỏ hoe, viền mắt sưng húp nhưng tuyệt nhiên không có lấy một giọt nước mắt nào lăn xuống. Đó là ánh mắt của một người đàn bà đã chứng kiến quá nhiều cái chết và sự mất mát, một ánh mắt đã nhìn thấu tận đáy sâu cùng của sự tuyệt vọng trần trụi:

"Sau khi sàng bỏ toàn bộ phần ngũ cốc hư thối, biến chất và nhiễm độc sa khoáng... số lương thực sạch thực sự còn lại trong cái kho này, Hạ nhìn xem: một bao kê khô nguyên vẹn chưa dính nước, nửa bao ngô hạt còn lành lặn nhặt nhạnh lại, và khoảng nửa thúng cám vụn."

Nàng dừng lại một nhịp dài đến nghẹt thở. Từng chữ tiếp theo thốt ra từ đôi môi khô khốc của người chưởng quỹ chẳng khác nào từng nhát búa tạ nện thẳng vào lồng ngực Bùi Hạ:

"Tính theo định mức cháo loãng cầm hơi hiện tại—mỗi người một bát con mỗi bữa, mỗi ngày chỉ ăn đúng hai bữa để duy trì sự sống—toàn bộ số lương thực này, chia đều cho ba mươi hai miệng ăn trên ngọn núi này... chỉ đủ cầm cự đúng ba ngày nữa."

Bùi Hạ đứng chết lặng giữa gian kho lạnh ngắt.

Gió luồn qua khe đá rít lên từng hồi u uất. Bàn tay trái của nàng vô thức đưa lên, bóp chặt lấy thanh nẹp tre đang cố định cánh tay phải tàn phế. Cơn đau nhức nhối từ những đường kinh mạch nứt toác dường như biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một cảm giác lạnh toát, tê dại chạy dọc từ đỉnh đầu xuống tận gót chân, lan tỏa khắp lục phủ ngũ tạng.

Ba ngày.

Chỉ vẻn vẹn có ba ngày sống sót.

Họ vừa mới trải qua một buổi chiều sinh tử, vượt qua sáu dặm bùn lầy trơn trượt, đối mặt với ánh mắt dò xét của viên kiểm định Trấn Linh Ty, né tránh những chiếc xích sắt và đòn roi tàn nhẫn của đám nha sai huyện An Lưu. Họ đã dùng từng chữ cổ khắc trên bia đá sa thạch trăm năm, dùng từng mối mộng mang cá của người thợ mộc và từng phép tính thủy văn tinh vi để tranh đấu, giành giật lấy một tờ giấy biên nhận có con dấu triện đỏ rực—một tờ giấy mang lại cho họ ba mươi ngày bình yên trước pháp luật triều đình.

Thế nhưng, cái giá của ba mươi ngày bình yên trên giấy tờ ấy là gì, khi mà cái chết vì đói khát đã gõ cửa ngay sau lưng họ chỉ trong vòng ba ngày tới?

Ba mươi ngày bảo hộ tạm thời.

Ba ngày lương thực cầm hơi.

Khoảng cách hai mươi bảy ngày còn lại là một vực thẳm đen ngòm của sự diệt vong, một hố sâu không đáy mà không một thứ pháp lý hay điển lệ cổ xưa nào có thể lấp đầy được. Trấn Linh Ty bảo đảm rằng huyện phủ sẽ không bắt phu họ trong ba mươi ngày, nhưng Trấn Linh Ty không phát cho họ một hạt gạo nào để nhét vào những cái dạ dày đang teo tóp lại vì đói.

Bên ngoài gian kho, tiếng cười nói khe khẽ của đám nạn dân trong chính điện vẫn văng vẳng vọng qua khe cửa gỗ.

Tiếng con bé Lâm An đang ríu rít khoe với cha về chuyện em tìm được một khe đá khô ráo khuất gió để hong khô vạt áo ướt. Tiếng mấy người thợ chèo đò đang bàn nhau ngày mai sẽ phụ giúp Lâm Tự đẵn thêm mấy cây gỗ táu để gia cố lại mái hiên. Và tiếng ông lão Nguyễn Mộc đang trang trọng, cẩn cẩn dực dực dùng chút hồ nếp ít ỏi phết lên bốn góc của tờ giấy biên nhận mang dấu triện đỏ tươi, rồi dán nó lên vị trí cao nhất, trang trọng nhất trên vách đá của chính điện để toàn thể ba mươi hai con người cùng nhìn thấy mà yên tâm nương náu.

Tờ giấy có dấu triện đỏ chót của Trấn Linh Ty vừa được dán phẳng phiu lên vách đá chính điện, ánh mực chu sa còn chưa kịp khô hẳn, thì từ khắp các góc tối của gian điện hoang phế, tiếng sôi bụng ùng ục của ba mươi hai con người đói lả đồng loạt vang lên, nối tiếp nhau, kéo dài trong sự im lặng đặc quánh của đêm đông.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn