Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.20 / 40
Chương 20

Lời Khai Dưới Mái Hiên

Bóng xe ngựa bọc đồng của Tạ Duy vừa khuất hẳn sau khúc quanh khúc khuỷu nơi sườn núi Đoạn Phong, để lại một dải bụi xám hòa lẫn màn sương chiều bảng lảng, thì tiếng nấc nghẹn ngào từ chân cột cái gian chính điện mới vỡ òa ra. Đó là một âm thanh xé lòng, khô khốc và u uất như tiếng một cành cây mục gãy lìa dưới sức nặng của băng tuyết.

Vũ Liên quỳ sụp xuống nền đá xanh nứt nẻ, hai đầu gối dập mạnh vào gờ đá sắc cạnh phát ra tiếng cộc buốt nhói. Đôi bàn tay gầy guộc, ngón tay xương xẩu bám chặt lấy chân cột gỗ lim đã cháy xém một bên sườn, run rẩy đến mức từng thớ thịt trên cánh tay giần giật không ngừng.

Gió núi cuối thu thốc từng cơn hung bạo qua những kẽ ngói vỡ trên mái điện, rít lên từng hồi ghê rợn như tiếng hú của loài thú hoang bị thương, cuốn theo mùi ẩm mốc nồng nặc của vôi vữa non chưa kịp khô, mùi bùn đất phù sa ngai ngái từ lòng sông dềnh lên sau bão, và cả thứ mùi tanh nồng của tro tàn sót lại từ trận hỏa hoạn cũ.

Mấy chục con người vừa mới kề vai sát cánh, dồn hết can trường và chút hơi tàn để chống lại linh áp nặng trĩu tựa ngàn cân của tên Quản sự trận vụ Luyện Khí tầng chín vẫn còn đứng chết lặng giữa khoảng sân gạch mọc đầy rêu xanh.

Đòn khiêng bằng tre cật bóng loáng mồ hôi trên tay Trần Đại bỗng trượt khỏi bàn tay chai sạn, rơi cộp một tiếng khô khốc xuống nền gạch vỡ, rồi lăn tròn mấy vòng trước khi dừng lại bên chân bậc tam cấp. Lê Trọng đứng bên cạnh, hai vai thõng xuống, lồng ngực vạm vỡ của người phu chèo đò kỳ cựu phập phồng dữ dội dưới lớp áo vải nâu vá chằng vá đắp, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm cả mảng lưng áo.

Phạm Sương vịn chặt lấy mép cửa kho lương, một tay ôm ngang ngực trái, hơi thở hãy còn dồn dập, đứt quãng; sắc mặt nàng trắng bệch vì linh áp Luyện Khí hậu kỳ vừa càn quét qua tạng phủ như một luồng gió độc. Đám phụ nữ và mấy đứa trẻ núp sau cánh cửa ván ghép hé mắt nhìn ra, sợ hãi không dám thở mạnh.

Tất cả ánh mắt, từ ánh nhìn nặng trĩu đăm chiêu của những người thợ đá già nua cho đến những đôi mắt hoang mang của đám phu chèo đò thô kệch, từ từ dồn cả về phía góc tối tăm nhất của gian điện, nơi thiếu nữ mười bảy tuổi đang co rúm người lại. Nàng ngồi sụp ở đó, nhỏ bé và tội nghiệp như một con chim sẻ non gãy cánh trúng tên giữa bãi hoang, đầu gối dập xuống nền đá nham nhở đến mức gấu quần gai rách toạc, để lộ ra những vệt máu tươi rỉ ra, hòa cùng bụi vôi trắng xóa.

Bùi Hạ đứng giữa lòng chính điện, lắng nghe tiếng gió rít qua từng khe nẹp tre đang cố định cổ tay phải của mình. Cơn đau nhói buốt từ kinh mạch bị tổn thương truyền dọc từ ngón tay lên bả vai, từng nhịp đập của mạch máu dường như đang va đập chan chát vào lớp vải băng tẩm thuốc thảo mộc. Nàng hít sâu một hơi khí lạnh buốt giá của núi rừng, cố nén lại cơn choáng váng do hao tổn chân khí sau màn đối đầu với Tạ Duy, rồi chầm chậm cất bước về phía chân cột cái.

Từng bước chân của nàng đặt lên nền đá phát ra âm thanh vững chãi, trầm tĩnh. Khi đến gần bóng dáng đang run rẩy của thiếu nữ, Bùi Hạ không hề ngần ngại quỳ một bên gối xuống nền đá lạnh ngắt. Cánh tay phải bị thương nàng áp sát vào mạn sườn để giữ thăng bằng, còn bàn tay trái thô ráp nhưng ấm áp và đầy đặn những vết chai của người thợ chế tác trận pháp khẽ đặt lên bả vai gầy trơ xương của Vũ Liên. Nàng dùng lực nâng nhẹ bả vai thiếu nữ lên, thanh âm cất lên trầm thấp, bình thản nhưng mang một sức mạnh trấn an kỳ lạ:

"Đứng dậy đi Liên. Đừng quỳ ở nền đá lạnh này nữa. Kẻ cầm lệnh đã cút khỏi ngọn Đoạn Phong này rồi. Hắn mang theo khế ước rách nát của hắn cút xuống núi rồi. Ở cái Vọng Đăng Am này, từ trước tới nay chưa từng có ai để mặc cho một đứa trẻ bị người ta kéo đi như con trâu con ngựa cả. Ngươi không cần phải sợ."

"Sư phụ... con... con có tội lớn lắm... con đã lừa dối người... con đã lừa dối cả ba mươi mốt con người trên đạo quán..."

Vũ Liên không chịu đứng lên. Nàng lắc đầu quầy quậy, mái tóc rối bời bết dính vào trán, vùi mặt sâu hơn vào hai bàn tay nhem nhuốc bùn đất và mạt đá xám. Từng tiếng khóc nghẹn ngào từ đáy lồng ngực gầy guộc bật ra, biến thành những cơn co giật bần bật rung chuyển cả bờ vai mỏng manh. Cả thân hình nàng run rẩy dữ dội đến mức hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng tràng dài. Giữa những ngón tay khẳng khiu rớm máu vì cào cấu lên bệ đá nhám ráp, nàng run rẩy luồn sâu vào vạt áo trong đã sờn rách, lần tìm trong lớp lót gai đã ngả màu ố vàng.

Một lát sau, những ngón tay tái nhợt của nàng rút ra một mảnh giấy gấp tư nhỏ bằng bàn tay. Mảnh giấy đã nhàu nát đến cùng cực, mép giấy xơ tước như xơ mướp, bốn góc hoen ố những vệt thâm đen của mồ hôi lưu cữu và nước mưa cũ từ những ngày lang bạt.

Bằng tất cả sự sợ hãi và hổ thẹn tột cùng, Vũ Liên run rẩy mở từng nếp gấp của mảnh giấy ra. Nàng không dám ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Bùi Hạ, chỉ run run đặt mảnh giấy ấy lên phiến đá phẳng ngay trước mũi giày của nàng.

Đó là một mảnh bản thảo dập mờ bằng mực đen rẻ tiền trên loại giấy lệnh thô ráp thường thấy ở các nha môn cấp huyện, loại giấy làm từ vỏ dó thô vụn, mặt giấy gồ ghề đầy những xơ gai chưa được nghiền mịn. Bên góc trên bên phải đóng một dấu triện hình hoa sen ba cánh đã bị nước ngấm làm nhòe nhoẹt nửa phần dưới, chỉ còn trơ lại phần cuống hoa và một góc cánh sen nhọn hoắt. Dù nét mực đã phai nhạt và loang lổ theo thời gian, dòng chữ lớn khắc nghiệt in ở chính giữa vẫn đập thẳng vào mắt người nhìn với từng nét khắc sắc lạnh, tàn nhẫn:

*“Bản bộ dự bị đệ tử — Danh sách nạn dân cứu hộ khẩn cấp Bến Bạch Sa. Đinh nữ: Vũ Liên, mười bảy tuổi. Nguyên quán thôn Đoài Khê. Tình trạng: Đã tiếp nhận về bản sơn an trí.”*

Dưới chân dòng chữ định mệnh ấy là con dấu vuông vắn đỏ lòm của Ty Tuyển Mộ phối hợp cùng Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn, sắc son chu sa đỏ như máu tươi chưa khô, và ngay bên cạnh là một chữ ký tắt hình bán nguyệt sắc lẹm, móc câu ngược lên một nét dài kiêu ngạo — nét ký quen thuộc, sắc lạnh không lẫn vào đâu được của Quản sự Tạ Duy.

Một bóng người cao lớn, hơi còng bước chậm rãi từ ngoài thềm đá vào. Nguyễn Mộc chống cây gậy gỗ bằng lăng, lê từng bước chân nặng nhọc đến bên cạnh Bùi Hạ. Lão thợ đá cúi người xuống, chiếc lưng còng gập lại thành một đường cong nhọc nhằn, bàn tay xương xẩu đầy những vết sẹo do búa đục để lại run run nhặt mảnh giấy lên. Đôi mắt mờ đục vì bụi đá của lão nheo lại dưới ánh sáng lờ nhờ, ảm đạm của buổi chiều tà đang lụi tàn sau vách núi. Đôi mày bạc trắng như cước nhíu chặt lại, từng nếp nhăn trên trán lão xô vào nhau sâu hoắm:

"Ấn triện này... là văn bản tiếp nhận chính thức nộp lên Huyện nha và Trấn Linh Ty để đối chiếu dân tịch cứu trợ đợt đầu. Con bé không nói dối nửa lời. Tên của nó... họ tên, tuổi tác, quê quán của nó đã nằm chết dí trên sổ đinh ngoại môn của Thanh Huyền Môn từ trước khi nó đặt bước chân đầu tiên lên con dốc đá của ngọn núi này."

Vũ Liên từ từ ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên. Hai hốc mắt nàng đỏ hoe, sưng húp, nước mắt hòa cùng bụi đất chảy thành hai vệt dài lem luốc trên đôi gò má hóp sâu vì đói khát lâu ngày. Giọng nói của nàng đứt quãng, nghẹn ngào trong từng cơn nấc tủi nhục xé ruột:

"Ngày con lũ quét kinh hoàng ấy đổ ụp qua xóm Đoài Khê... nước từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về như thác đổ, cuốn phăng cả bờ vùng bờ thửa. Cả nhà con... cha mẹ, hai đứa em nhỏ... đều bị dòng nước lũ đỏ ngầu cuốn sạch trôi về phía hạ lưu trong đêm tối. Con may mắn ôm được một thân cây chuối rừng mục nát dạt vào doi cát Bến Bạch Sa, đói lả ba ngày ba đêm, chỉ biết uống nước sông đục ngầu cầm cự. Đến ngày thứ tư, khi linh thuyền năm tầng của Thanh Huyền Môn ghé bến, người của Ty Tuyển Mộ dựng lều bạt, lập bàn gỗ, gõ chiêng inh ỏi phát thẻ tre và ghi tên tất cả nạn dân vào sổ cứu tế. Họ đứng trên cầu tàu dõng dạc tuyên bố rằng sơn môn mở lượng từ bi vô lượng, phàm là người còn sống sót chạy đến bến đều được ghi danh đưa về bản sơn tránh nạn, cấp phát lương thực và đan dược điều dưỡng..."

Nàng nghẹn lại, lồng ngực phập phồng đau đớn như có một tảng đá tảng ngàn cân đang đè nặng lên từng phế nang:

"Con mừng đến phát điên... con tưởng trời cao còn cho con một con đường sống. Con bò lết qua bãi bùn, quỳ lạy dập đầu đến chảy máu trán dâng họ tên, ngày sinh và gốc tích làng xóm. Người thư lại mặc áo xanh nhúng đẫm bút mực, viết tên con vào cuộn sổ tiếp nhận dày cộp, đóng dấu triện đỏ chót rồi phát cho con mảnh giấy biên nhận này, bảo con đứng dạt sang bên bờ kè phía tây chờ thuyền đón lên núi. Nhưng đến giờ Mùi chiều hôm ấy, khi linh thuyền lớn bằng gỗ lim năm tầng hạ mỏ neo sắt xuống bến, một tên chấp sự mang theo thước đo linh căn bằng ngọc trắng bước ra. Hắn bắt con và hàng trăm người nữa lần lượt đặt tay lên khối linh thạch thử nghiệm. Đến lượt con... linh thạch chỉ le lói phát ra năm vệt sáng tạp nham, mờ mịt và hỗn loạn... Năm vệt sáng ngũ hành tạp căn hạ phẩm..."

Đôi vai gầy guộc của thiếu nữ lại rung lên bần bật, những ngón tay nàng cào cấu xuống mặt đá nham nhở đến mức bật máu tươi:

"Hắn lập tức đổi sắc mặt. Đôi mắt hắn lộ rõ vẻ khinh bỉ tột cùng. Hắn nhổ một bãi nước bọt xuống bùn, bảo rằng đệ tử tạp căn hạ phẩm thì tu cái thớ gì, rước về chỉ tổ tốn cơm tốn gạo, chật chội khoang thuyền của tiên môn. Đúng lúc ấy, từ phía đường cái quan, mấy cỗ xe ngựa phủ gấm hoa chở đầy rương hòm ngọc ngà, lụa là, cùng gia quyến họ hàng của các phú hộ dưới huyện thành An Lưu lũ lượt đổ xô ra bến. Chấp sự kia liền trở mặt như trở bàn tay. Hắn vung chiếc roi mây bọc đồng quất thẳng vào mặt con, rồi sai đám đệ tử tuần tra vung gậy gỗ đẩy con cùng hàng chục người già yếu, trẻ nhỏ ốm đói ngã nhào xuống bãi bùn lầy ngập ngang bụng dưới chân cầu tàu... để lấy chỗ trống chất thêm của cải, vàng bạc và thân quyến nhà giàu lên khoang thuyền..."

Phạm Sương đứng tựa lưng vào khung cửa kho lương, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau ken két, hai bàn tay siết chặt lấy vạt tạp dề vải thô đến trắng bệch các khớp ngón:

"Lũ súc sinh đội lốt tiên môn! Ngoài miệng thì tụng niệm từ bi tế thế, sau lưng thì lừa người ta ghi tên để lấy tiếng thơm cứu nạn, rồi sẵn sàng đạp người ta xuống bùn lầy nước đọng để chở vàng bạc châu báu! Đạo lý tiên môn của chúng nó là thứ đạo lý ăn thịt người không nhả xương!"

"Con tưởng... lúc ấy con ngu dại tưởng rằng..." Vũ Liên lắc đầu trong nỗi cay đắng ngút ngàn, từng giọt nước mắt nóng hổi rỏ ròng ròng xuống nếp gấp hoen ố của mảnh giấy bản. "Con tưởng bị đuổi xuống vũng bùn thì tên con trên cuốn sổ đinh ấy sẽ bị gạch bỏ, xem như con chưa từng tồn tại trên cõi đời này. Nhưng mãi sau này, khi con trôi dạt ven sông, con mới nghe một người phu chèo đò trốn ra từ bến Bạch Sa kể lại... Quản sự Tạ Duy và đám thuộc hạ của Ty Vật Tư không hề gạch bỏ một cái tên nào cả! Chúng giữ nguyên danh sách tiếp nhận ba trăm sáu mico người khốn khổ ấy, nộp thẳng lên công quỹ huyện nha An Lưu và Trấn Linh Ty để làm chứng từ thanh quyết toán! Mỗi một cái tên trên sổ đinh tiếp nhận, Thanh Huyền Môn được huyện phủ cấp phát mỗi tháng nửa bao gạo trắng, hai cân muối hạt và mười lượng bạc trích từ quỹ tái thiết thiên tai của triều đình! Chúng nuốt trọn số lương thực và bạc cứu đói ấy vào túi riêng, rồi báo cáo gian dối với quan trên rằng đã đưa tất cả chúng con về các trang trại hẻo lánh ngoài ngoại môn để phụng dưỡng, cày cấy!"

Tiếng nói của nàng xé toạc ra từng mảnh, run rẩy và bi phẫn tột cùng:

"Tên con trên giấy tờ là người sống đàng hoàng, là đệ tử dự bị được sơn môn nuôi nấng chu cấp, nhưng thân xác con thì phải lê lết khắp các bãi tha ma, mò từng con ốc bươu, bới từng cọng rễ cỏ thối ven chân vách đá Đoạn Phong này để nhét vào bụng qua ngày đoạn tháng! Con sợ... con sợ hãi đến phát điên... Con sợ nếu con nói thật gốc tích khi ký tên vào tờ đơn lập môn Vọng Đăng, Trấn Linh Ty khi đối chiếu sổ sách sẽ tra ra tên con đã có chủ quản, rồi người ta sẽ vin vào cớ ấy mà bảo rằng Bùi sư phụ là kẻ cướp người của tiên môn, bắt giam sư phụ, san phẳng đạo quán... Con sợ bị xua đuổi một lần nữa... Con sợ cái cảm giác bị xô ngã xuống vũng bùn lầy lạnh ngắt ấy... Con thà chết đói, chết rét trên vách đá khô cằn này chứ không bao giờ muốn bị tống ngược về cái bãi bùn nhơ nhớp ngày hôm ấy..."

Không gian dưới mái hiên gian chính điện bỗng chốc chùng hẳn xuống. Một sự im lặng nặng nề, ngột ngạt bao trùm lên khắp gian phòng, chỉ còn lại tiếng thở nặng nhọc, dồn dập của hơn ba mươi con người đang đứng vây quanh.

Những người thợ chèo đò dạn dày sương gió như Lê Trọng, Trần Đại cúi gầm mặt xuống đất. Những bàn tay thô kệch, chai sần vì cầm chèo chống lũ siết chặt lấy nhau đến rạn cả khớp xương. Họ cũng từng từ bến Bạch Sa mà chạy loạn lên đây, họ đã tận mắt chứng kiến những cảnh đời bị vứt bỏ bên mép nước; họ hiểu thấu cái cảm giác bị gạt phắt khỏi bờ bến sống còn cay đắng, nhục nhã và buốt giá đến tận xương tủy như thế nào.

Bùi Hạ quỳ gối trên nền đá, bàn tay trái của nàng nhẹ nhàng vỗ về lưng áo mỏng manh của Vũ Liên. Đôi mắt nàng phẳng lặng như mặt nước giếng Thạch Nhãn sau cơn cuồng phong, nhưng sâu thẳm trong đáy mắt là một ngọn lửa trầm uất đang âm ỉ cháy:

"Không có ai ở ngọn Đoạn Phong này xua đuổi ngươi cả, Liên. Kẻ có tội là kẻ mở miệng nói lời từ bi nhưng lại thọc tay cướp đoạt miếng cơm của kẻ đói rách, chứ không phải là những kẻ bị cướp đoạt như ngươi. Ngươi giấu giếm là vì nỗi sợ hãi cái chết bóp nghẹt tâm can, nhưng một khi đã nói ra được sự thật trước ba mươi mốt con người này, thì nỗi sợ hãi ấy không còn thuộc về ngươi nữa. Nó phải được trả lại cho chính những kẻ đã làm sai."

Chưa kịp dứt lời, bàn tay đang níu chặt lấy chân cột của Vũ Liên bỗng buông thõng ra. Nàng ôm chặt lấy ngực trái của mình, lưng uốn cong lại như một con tôm khô. Sắc mặt nàng trong chớp mắt chuyển từ tái nhợt sang xám ngoét như màu tro bếp. Một hơi thở dốc nghẹn ứ lại nơi cuống họng, hai tròng mắt nàng trợn trừng lên thất thần, toàn thân đổ sụp về phía trước. Nàng ho sặc sụa một tràng dài, rồi trút ra một ngụm bọt mép nhầy nhụa lẫn những vệt đờm nhớt màu hồng nhạt, tanh nồng.

"Kinh khí nghịch hành rồi! Phế lạc bị tổn thương nặng!" Lâm Tự hốt hoảng kêu lên thất thanh, chiếc thước tre giắt bên hông rơi tuột xuống đất, hắn toan bước vội tới đỡ lấy nàng.

"Dừng tay lại, để mặc ta!"

Một giọng nói dứt khoát, sắc lạnh như nhát dao chém vào tảng đá vang lên từ phía sau đám đông. Đỗ Nghi từ ngoài hiên bước xộc tới. Vạt áo chàm của nữ y giả tung bay phần phật theo từng bước chân mau lẹ.

Nàng không hề chần chừ dù chỉ nửa nhịp thở, một tay vươn ra giữ chặt lấy sau gáy Vũ Liên để cố định đốt sống cổ, ngón tay cái của bàn tay kia bấm cực mạnh vào huyệt Nhân Trung dưới cánh mũi thiếu nữ. Cùng lúc đó, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay trái nàng co lại, ngưng tụ một tia kình lực chuẩn xác điểm thẳng vào huyệt Chiên Trung nằm giữa hai bầu ngực thiếu nữ nhằm chặn đứng luồng tà khí đang co rút dữ dội trong khoang ngực.

"Khiêng con bé vào gian thuốc ngay lập tức!" Đỗ Nghi ngẩng đầu quát khẽ, ánh mắt nghiêm nghị và sắc bén quét qua đám người xung quanh, không cho phép bất kỳ ai chậm trễ một giây nào. "Trần Đại, Lê Trọng, mang cáng tre lại đây! Nhanh cái tay lên, chậm một khắc nữa là phế kinh vỡ toạc, thần tiên cũng không nối lại được mạng cho nó đâu!"

Hai người thợ chèo đò như sực tỉnh khỏi cơn mê muội, vội vã luồn hai thanh đòn khiêng dưới tấm cáng tre đan thô, cẩn thận nâng bổng thân hình nhẹ bẫng, gầy gò của Vũ Liên lên rồi rảo bước đưa thẳng sang chái phòng phía tây.

Bùi Hạ gượng đứng dậy, nén cơn đau nơi cổ tay nẹp tre, cùng Lâm Tự bước nhanh bám sát theo sau từng bước chân gấp gáp của Đỗ Nghi.

***

Gian thuốc của Đạo quán Vọng Đăng nằm nép mình khiêm nhường bên chái tây của dãy nhà ngang, nơi có bức tường bằng đá hoa cương dày tới hai thước dựng tựa vào vách núi, ngăn cách trọn vẹn những luồng gió độc và hơi ẩm buốt giá từ sườn đông thốc lại.

Không gian trong phòng thoang thoảng mùi ngải cứu khô treo trên gác xép, mùi thơm the ấm của trần bì sao giòn, và vị đắng chát đặc trưng của những bó hoàng liên rừng phơi sương móc lủng lẳng dưới xà ngang bằng gỗ thông. Trên chiếc bàn con kê sát vách đá gồ ghề, mấy chồng giấy bản gói thuốc màu vàng sẫm xếp ngay ngắn bên cạnh một chiếc cối đá nhỏ dùng để nghiền bột thảo dược, cùng một chiếc ấm đất nung sâu lòng đã đen kịt khói than qua bao mùa đun nấu.

Vũ Liên được đặt nằm ngay ngắn trên chiếc chõng tre lót một lớp rơm nếp khô dày dặn và tấm chiếu cói rách đã được giặt sạch phơi khô. Sắc mặt nàng vẫn trắng bệch không còn một giọt máu, mồ hôi lạnh vã ra như tắm ướt đẫm cả vầng trán dính bết những lọn tóc mai xơ xác. Hai hàm răng nàng vẫn nghiến chặt vào nhau kèn kẹt vì những cơn co thắt buốt nhói nơi lồng ngực; khoảng ngực gầy trơ xương sườn phập phồng yếu ớt, từng nhịp thở ngắt quãng và nông thếch như ngọn đèn cạn dầu trước gió lớn.

Đỗ Nghi kéo chiếc ghế gỗ ba chân ngồi xuống sát mép chõng tre. Nàng xắn cao hai ống tay áo chàm lên quá khuỷu tay, để lộ cẳng tay trắng trẻo nhưng rắn rỏi. Đặt ngón tay thon dài, cứng cáp của mình nhẹ nhàng lên ba đốt thốn, quan, xích nơi cổ tay trái khẳng khiu của Vũ Liên, Đỗ Nghi bắt đầu lắng nghe mạch tượng.

Gian phòng bỗng chốc im phăng phắc. Tiếng nước suối từ ống bương dẫn nước Thạch Nhãn rỉ rả đều đặn ngoài bể lọc ba tầng than củi hòa lẫn với tiếng củi khô nổ lách tách trong chiếc lò than con bằng đất nung đặt ở góc phòng.

Bùi Hạ đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ, ánh mắt chăm chú dõi theo từng nét biến chuyển trên gương mặt thanh tú nhưng lạnh như băng của Đỗ Nghi. Lâm Tự đứng phía sau nàng nửa bước, bàn tay vô thức nắm chặt lấy chiếc thước tre vừa nhặt lại, khớp xương ngón tay trắng bệch vì căng thẳng.

Mày liễu của Đỗ Nghi dần dần nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp. Ba ngón tay của nàng khi thì ấn nhẹ nhàng trên bề mặt da thịt để đón nhận luồng biểu khí lững lờ, khi lại nhấn sâu xuống tận cốt tủy để dò xét nguồn chân nguyên đang khô kiệt. Nàng nhắm nghiền hai mắt, tập trung toàn bộ tâm trí lắng nghe từng nhịp đập hổn hển, tắc nghẽn của dòng huyết dịch đang vật lộn trong kinh mạch thiếu nữ.

Mất trọn vẹn một tuần trà dài đằng đẵng, nữ y giả mới từ từ thu tay về, thở hắt ra một luồng khí đục nặng nề.

"Thế nào rồi Đỗ tỷ?" Bùi Hạ khẽ cất tiếng hỏi, giọng trầm thấp lộ rõ vẻ lo lắng khôn nguôi.

Đỗ Nghi đứng dậy, bước chầm chậm tới bên chậu nước tro sạch đặt trên giá gỗ, rửa sạch đôi bàn tay rồi cẩn thận lau khô từng ngón bằng một mảnh vải gai thô. Nàng quay người lại, nhìn thẳng vào gương mặt nhợt nhạt hãy còn run rẩy vì đau đớn của thiếu nữ trên giường bệnh:

"Mạch tượng huyền khẩn, sáp mà vô lực. Nhịp đập lúc nhanh lúc nghẽn, như dao cạo trên thân tre khô. Chưa chết ngay được, nhưng nếu cứ để cái thói dại dột này tiếp diễn thêm nửa tháng nữa, thì hai lá phổi của con bé sẽ teo tóp lại thành hai miếng xơ mướp khô mục, ho ra máu cục mà chết nghẹn."

Vũ Liên nằm trên chõng tre, đôi mắt ngấn lệ mở to nhìn Đỗ Nghi với vẻ hối lỗi, sợ hãi và van lơn tột cùng.

Đỗ Nghi kéo ghế ngồi trở lại mép giường, giọng nói tuy nghiêm khắc như lệnh truyền của quan nha nhưng bên trong lại không giấu nổi sự xót xa của một người thầy thuốc thấu hiểu nhân tình:

"Cơn đau thắt ngực âm ỉ dai dẳng bấy lâu nay, ngươi đã giấu ta bao nhiêu ngày rồi hả? Có phải từ cái hôm Bùi Hạ liều mạng vận dụng chân khí sơ khai để khai thông linh khiếu cho ngươi ngoài sân, ngươi đã thấy lồng ngực nóng rát như có người dí hòn than đỏ vào cuống họng rồi đúng không?"

Vũ Liên run rẩy khẽ gật đầu, cánh môi khô nứt nẻ mấp máy vài tiếng không thành lời: "Dạ... đúng..."

"Ngươi tưởng nhặt được một mảnh khẩu quyết rách nát của Thanh Huyền Môn rơi rớt ngoài bãi sông là có thể tự mình mò mẫm khai mở kinh mạch được sao?" Đỗ Nghi gằn giọng từng tiếng, ngón tay chỉ thẳng vào vùng ngực gầy guộc của Vũ Liên. "Linh căn của ngươi vốn dĩ là ngũ hành tạp căn hạ phẩm, năm luồng khí hỗn tạp đan xen vào nhau, dòng khí lưu chuyển vốn đã chậm chạp, rời rạc và dễ phân tán. Đã thế, trong lòng ngươi lại chất chứa một khối tâm hỏa uất kết quá lớn! Nỗi uất hận vì bị lừa dối, nỗi nhục nhã vì bị xua đuổi như loài súc vật, nỗi sợ hãi tột cùng bị người ta phát giác rồi tống cổ xuống núi... Tất cả những thứ uất ức, cay đắng đó ngươi nuốt ngược vào trong, nén chặt dưới đáy lòng, lâu ngày biến thành thứ tà hỏa âm ỉ thiêu đốt tâm bào lạc!"

Đỗ Nghi quay sang nhìn Bùi Hạ và Lâm Tự, dùng thứ ngôn từ y lý thực tế và sâu sắc giải thích cặn kẽ:

"Người tu tiên trong các đại tông môn ngày ăn ba bữa gạo linh cốc bồi bổ, uống nước suối linh tuyền, bụng dạ no đủ, huyết dịch dồi dào thì kinh mạch mới trơn láng, mềm mại như dải lụa. Còn con bé này thì có cái gì trong bụng? Bụng đói cồn cào rỗng tuếch, suốt mấy tháng trời chỉ có vài ngụm cháo loãng với củ mài cầm hơi, tỳ vị suy kiệt đến tận cùng, chân khí đào đâu ra nguồn sinh dưỡng từ cốc khí để mà bồi đắp? Đã đói lả, kiệt sức lại còn đêm đêm lén lút ngồi xếp bằng, nén chặt hơi thở, cưỡng ép dẫn luồng khí tạp nham chạy ngược từ trung tiêu vượt qua cự khuyết xông thẳng lên đản trung theo cái khẩu quyết chắp vá kia! Khí mà không có huyết nâng đỡ thì hóa thành nghịch khí cuồng loạn; nghịch khí gặp phải tà hỏa uất kết nghẽn lại nơi lồng ngực liền hóa thành độc hỏa cắn phá kinh lạc của phế phủ! Những cơn co thắt dữ dội ban nãy chính là dấu hiệu cho thấy các nhánh kinh Phế của nó đã khô cháy đến mức sắp rách toạc ra rồi!"

Bùi Hạ siết chặt bàn tay trái thành nắm đấm. Nàng từng trải qua cảm giác kinh mạch toàn thân bị xé rách khi lò thử tải trận pháp nổ tung năm xưa tại Thanh Huyền Môn, nàng thấu hiểu đến tận cùng cái nỗi đau đớn như bị hàng ngàn mũi kim nung đỏ đâm xuyên qua tạng phủ ấy:

"Có cách nào điều dưỡng vãn hồi lại được không Đỗ tỷ? Liệu ta có thể vận một chút mộc linh lực ôn hòa để thẩm thấu vào kinh mạch, nuôi dưỡng lại phế lạc cho con bé được không?"

"Tuyệt đối không được đụng vào!" Đỗ Nghi lập tức giơ bàn tay lên dứt khoát ngăn lại, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo quét qua gương mặt Bùi Hạ. "Cổ tay phải của ngươi nẹp tre còn chưa tháo, kinh Phế của chính ngươi còn đang rỉ máu đen ứ đọng dưới lớp vải băng kia kìa! Huống hồ, bản thân ngươi mang mộc linh căn; mộc sinh hỏa, ngươi mà đưa mộc linh lực vào cơ thể nó lúc này, chẳng khác nào ném thêm một bó củi khô vào đống than hồng đang âm ỉ trong ngực con bé, khiến phế kinh của nó nổ tung ngay tại chỗ! Hơn nữa, linh lực từ bên ngoài ép vào chỉ là giải pháp tạm bợ như chắp vá áo rách; cái gốc rễ của con bé là tạng phủ suy kiệt vì đói khát và tâm bệnh trầm kha, phải dùng dược lực thực tế từ thảo mộc để dưỡng tỳ, giáng khí từ từ."

Nói đoạn, Đỗ Nghi đứng phắt dậy, bước nhanh về phía chiếc tủ thuốc nhiều ngăn làm bằng gỗ táu ghép mộng khéo léo do chính tay Lâm Tự đóng cho nàng dạo trước. Nàng kéo từng ngăn kéo nhỏ ra, cẩn thận bốc từng vị thảo mộc khô ráo đặt lên chiếc cân con bằng đồng có quả cân chì nhỏ xíu:

"Ta kê phương thuốc này: Ba chỉ tử tô đất để giáng khí tiêu đờm, làm dịu những cơn ho nghịch; hai chỉ trần bì sao cháy để lý khí hòa trung, dẫn uất hỏa theo đường tiêu hóa đi xuống; ba chỉ phục linh để kiện tỳ định tâm, giúp an thần dưỡng huyết; thêm hai lát cam thảo nướng để hòa hoãn các vị thuốc dữ, và một nắm rễ cát cánh để khai thông đường thở nơi cổ họng. Tất cả số thảo mộc này phải được nấu bằng nước suối Thạch Nhãn đã qua ba tầng lọc than củi sạch sẽ, đun sôi kỹ bằng than hoa ba lần, sắc cạn từ ba bát nước lớn lấy đúng một bát thuốc đặc."

Nàng quay người lại, nghiêm mặt nhìn xoáy vào đôi mắt đang đẫm lệ của Vũ Liên, từng lời nói ra nặng tựa nghìn cân:

"Từ giờ phút này trở đi, ta nhân danh y giả của Vọng Đăng Am ra lệnh cấm tuyệt đối: Cấm ngồi xếp bằng, cấm nhắm mắt điều tức, cấm dẫn khí hay lẩm nhẩm bất kỳ câu khẩu quyết nào! Dù chỉ là một tia ý niệm dẫn khí manh nha trong đầu cũng không được phép có! Hằng ngày chỉ được phép uống thuốc đúng ba canh giờ một lần, ăn cháo ấm có rắc một chút muối hạt Diêm Trì, đi lại nhẹ nhàng quanh sân tắm nắng sớm và ngủ đủ giấc cho ta. Bao giờ ta bắt mạch thấy phế khí bình hòa, tâm hỏa lắng dịu xuống dưới rốn thì mới được mở miệng xin học lại cách vẽ trận pháp. Ngươi nghe cho rõ chưa?"

Vũ Liên rơm rớm nước mắt, gật đầu lia lịa trên gối rơm: "Dạ... con nghe lời Đỗ tỷ... con thề không dám lén luyện bậy bạ nữa đâu..."

"Biết sợ cái chết là còn cứu được cái mạng." Đỗ Nghi thở dài một hơi, giọng nói dịu đi trông thấy. Nàng nhanh thoăn thoắt gói ghém các vị thuốc vào trong mảnh giấy bản màu vàng sẫm, rồi quay sang đưa cho Lâm Tự: "Lâm huynh, cầm bọc thuốc này ra chái bếp nhóm lửa sắc trước một ấm nước sôi đi. Chốc nữa ta lấy bã thuốc nóng bọc vào vải gai mang vào chườm ngực cho con bé."

Lâm Tự gật đầu thật mạnh, khẽ liếc nhìn Bùi Hạ một ánh mắt đầy ẩn ý sâu xa, rồi cầm bọc thuốc sải bước nhanh ra phía chái bếp.

***

Trong gian chính điện hoang tàn, màn đêm bắt đầu buông xuống nhanh chóng, mang theo cái lạnh thấu xương của núi rừng Đoạn Phong. Không khí trầm mặc, ngột ngạt bao trùm lấy chiếc bàn đá thanh hoa cũ kỹ đặt ngay giữa điện.

Nguyễn Mộc đã thắp lên một ngọn đèn dầu cặn nhỏ xíu đặt trên một chiếc đĩa sành sứt mẻ. Ánh lửa đỏ quạch chỉ to bằng hạt đỗ lay lắt theo từng cơn gió luồn qua khe nứa, hắt bóng ba con người — Bùi Hạ, Nguyễn Mộc và Lâm Tự — in dài ngoằng, méo mó trên vách đá loang lổ những vết rạn nứt sạt lở mé đông. Phạm Sương đứng dựa lưng vào cây cột gỗ bên cạnh, chùm chìa khóa kho lương bằng sắt thô trong tay nàng thỉnh thoảng lại va vào nhau kêu leng keng khẽ khẽ, nét mặt tràn ngập vẻ âu lo, căng thẳng.

Trên mặt bàn đá lạnh ngắt, mảnh bản thảo tiếp nhận nạn dân nhăn nhúm của Vũ Liên được đặt nằm cạnh tờ Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời ba mươi ngày còn thơm mùi mực mới, bên trên có chữ ký ngay ngắn và dấu triện son chói lọi của viên kiểm định Đinh Tuệ.

Hai tờ văn tự bằng giấy thô, hai số phận pháp lý hoàn toàn trái ngược nhau, đang đặt sinh mệnh non trẻ của Đạo quán Vọng Đăng vào một thế cờ hiểm nghèo chưa từng có.

"Cái thằng chó Tạ Duy xảo quyệt ấy... nó không đơn thuần chỉ đến đây để chiêu an hay dọa nạt bằng linh áp," Phạm Sương cất giọng khàn đặc, phá tan bầu không khí im lặng chết chóc. "Cái cách nó ném lại họ tên của con Liên ở cuối buổi gặp mặt... đó là một nhát dao găm giấu trong tay áo. Nó muốn dồn tất cả chúng ta vào tròng sắt của luật pháp."

Bùi Hạ ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp, ánh mắt nàng dừng lại bất động nơi chữ ký tắt hình bán nguyệt sắc lẹm của Tạ Duy trên mảnh giấy bản:

"Tạ Duy là kẻ leo lên được vị trí Quản sự trận vụ ngoại môn không phải nhờ vào tu vi cao cường, mà là nhờ vào sự lọc lõi, ranh ma trong từng đường đi nước bước pháp lý. Khi thấy ba mươi mốt người chúng ta đồng lòng cự tuyệt tờ chiếu thư phục chức của chưởng môn, hắn thừa hiểu rằng không thể dùng vũ lực hay tiền tài để đè bẹp Vọng Đăng giữa ban ngày ban mặt, nhất là khi có tờ biên nhận ba mươi ngày của Trấn Linh Ty treo trên đầu. Nhưng hắn nắm chắc trong tay một con bài pháp lý chết người: Tên của Vũ Liên nằm chết dí trong sổ đinh tiếp nhận chính thức của Thanh Huyền Môn."

Nguyễn Mộc vuốt chòm râu bạc xơ xác, ngón tay gầy guộc gõ nhẹ lên mặt bàn đá, từng tiếng cộc cộc vang lên khô khốc, rợn người:

"Theo Điển chế Vân Hà, một khi đệ tử hoặc môn nhân đã được ghi danh vào sổ tiếp nhận cứu hộ của một sơn môn chính thức, người đó trên danh nghĩa pháp lý hoàn toàn thuộc quyền tài phán nội bộ của sơn môn ấy. Nếu một tông môn sơ lập khác dung nạp, che chở mà không có giấy chuyển tịch chính thức của huyện nha hoặc văn tự phóng thích của bản môn, hành vi đó sẽ bị Trấn Linh Ty khép thẳng vào tội danh 'dung dưỡng môn đồ đào tẩu'. Tội danh này nhẹ thì bị phạt tiền bạc bồi thường gấp mười lần và tước đoạt toàn bộ tài nguyên bảo hộ, nặng thì Trấn Linh Ty có quyền thu hồi ngay lập tức giấy phép bảo hộ sơ lập, huyện nha sẽ phát lệnh cưỡng chế san phẳng ngọn núi, triệt hạ sơn môn chứa chấp."

Lâm Tự khoanh hai cánh tay vạm vỡ trước ngực, đôi lông mày rậm rạp nhíu chặt lại thành một khối:

"Nói cách khác, nếu chúng ta cứ im lặng, giấu giếm con bé ở đây để chờ ngày Trấn Linh Ty lên kiểm định cuối kỳ, Tạ Duy chỉ cần ung dung đệ một lá đơn kiện lên huyện nha An Lưu hoặc Ty sở Phủ. Hắn sẽ đường hoàng tố cáo Vọng Đăng Am bắt cóc, lôi kéo và dung dưỡng đệ tử của Thanh Huyền Môn. Đến lúc đó, viên kiểm định Đinh Tuệ dù có công tâm, dù có muốn bênh vực chúng ta đến đâu cũng không thể làm trái lại điển chế đã ban hành thành văn tự."

"Đúng hệt như vậy," Bùi Hạ gật đầu, ánh mắt nàng ánh lên một tia lạnh lẽo thấu xương. "Khi ấy, tờ biên nhận ba mươi ngày kia sẽ biến thành một trò hề bị xé nát vụn. Chín chữ ký hợp lệ của chúng ta sẽ biến thành chín cái tên của một lũ đào phạm tụ tập làm loạn, chống lại tiên môn và quan phủ. Cả ba mươi hai con người trên ngọn núi này sẽ bị xích sắt giải thẳng xuống công trường Đê Hồi Long làm phu dịch đào đá không công cho đến chết rục xương, còn mạch linh tuyền Thạch Nhãn màu mỡ này sẽ đường hoàng rơi vào tay Thanh Huyền Môn và Thương hội Tam Giang mà chúng không tốn lấy một giọt máu hay một lời thị phi."

Phạm Sương rùng mình một cái, bước xộc lại gần bàn đá, giọng run run: "Vậy thì... vậy thì làm sao bây giờ hỡi Bùi cô nương? Chẳng lẽ... chẳng lẽ chúng ta đành lòng đem con bé trả lại cho chúng nó sao? Con bé vừa mới thoát khỏi miệng cọp, trả về thì khác nào đưa nó vào chỗ chết..."

"Không bao giờ có chuyện đó!" Lâm Tự cất giọng vang rền, dứt khoát như một nhát búa nện xuống đe sắt. Ánh mắt người thợ mộc bùng lên ngọn lửa kiên định dữ dội. "Vọng Đăng Am dựng lên giữa chốn núi hoang này là để che mưa che nắng, giang tay đón lấy những kẻ cùng khổ bị người đời xua đuổi. Nếu chỉ vì sợ hãi một lá đơn vu cáo của một tên quản sự bẩn thỉu mà chúng ta đem ném con bé trở lại vũng bùn bến Bạch Sa, thì cái tông môn này lập ra để làm cái trò hề gì nữa? Thà rằng đêm nay ta cầm rìu dỡ luôn mấy khung cửa gỗ lim đem chẻ làm củi đun cho ấm, rồi ai về nhà nấy mà chờ chết đói còn hơn!"

Bùi Hạ nhìn Lâm Tự, nhìn ngọn lửa bừng cháy trong đáy mắt người thợ mộc chất phác, trong lòng nàng dâng lên một luồng hơi ấm dịu dàng nhưng vững chãi khôn cùng. Nàng khẽ lắc đầu nhìn Phạm Sương:

"Sương tỷ yên tâm đi. Vọng Đăng Am tuyệt đối không bao giờ giao nộp Vũ Liên cho Thanh Huyền Môn. Nhưng chúng ta cũng tuyệt đối không được giấu giếm con bé như một kẻ phạm tội lén lút."

Nguyễn Mộc ngước cặp mắt mờ đục lên nhìn Bùi Hạ, đôi mắt già nua lóe lên một tia sáng thấu suốt sự đời:

"Ý Bùi cô nương là... tiên hạ thủ vi cường?"

"Chính là như vậy," Bùi Hạ kéo nghiên mực đá mài sẵn và một tờ giấy tuyên thô ráp dày dặn lại gần trước mặt. "Đòn hiểm độc nhất của Tạ Duy nằm ở sự mập mờ, giấu giếm. Hắn giấu nhẹm việc bỏ rơi con bé ngoài bãi bùn để ăn chặn khẩu phần lương thực cứu trợ của huyện phủ, đồng thời lại muốn dùng cái danh nghĩa trên giấy tờ mục nát ấy để bóp nghẹt chúng ta. Hắn nắm đằng chuôi vì hắn nắm con dấu của Ty Tuyển Mộ, nhưng hắn sợ nhất điều gì trên đời này? Hắn sợ ánh sáng của sự thật phơi bày ra trước công luận!"

Nàng cầm lấy cây bút lông thỏ bằng bàn tay trái chưa quen việc, nhúng đẫm ngọn bút vào vũng mực đen nhánh:

"Nếu chúng ta im lặng, chúng ta là kẻ chứa chấp đào phạm, rơi vào thế bị động chịu đòn. Nhưng nếu chúng ta chủ động làm đơn giải trình trung thực gửi thẳng cho Trấn Linh Ty huyện An Lưu, gửi đích danh cho Đinh Tuệ thụ lý, toàn bộ cục diện sẽ đảo chiều hoàn toàn."

Nguyễn Mộc vỗ tay đánh bét một cái xuống mặt đùi gầy guộc, giọng nói lộ rõ vẻ phấn chấn, rành rọt:

"Rất đúng! Lão già này hiểu ý cô nương rồi! Chúng ta sẽ làm ngay một tờ 'Biên bản tường trình thực trạng đinh tịch và tố giác sai lệch cứu nạn'. Trong đơn, chúng ta ghi rõ ràng từng chi tiết: Vũ Liên bị xua đuổi khỏi linh thuyền vào ngày nào, giờ nào; ai là người vung roi mây quất vào mặt nó; nhân chứng là những ai — bốn người thợ chèo đò Trần Đại, Lê Trọng, Ngô Bính, Hà Tam từng có mặt tại bến Bạch Sa ngày hôm đó sẽ đứng tên ký, điểm chỉ máu đỏ chót làm chứng sống! Chúng ta kẹp thêm giấy khám nghiệm thương tích và kinh mạch do chính Đỗ Nghi ký tên, chứng minh rõ ràng con bé suýt chết đói và bị tàn phế kinh mạch do bị bỏ mặc trôi dạt suốt ba tháng trời!"

Lão thợ đá cười khẩy một tiếng đầy vẻ mỉa mai, cay độc:

"Đồng thời, chúng ta chính thức yêu cầu Trấn Linh Ty phối hợp với Ty Hộ tịch huyện An Lưu tiến hành đối chiếu sổ sách cứu tế công khai: Nếu Thanh Huyền Môn nhận Vũ Liên làm đệ tử dự bị, vậy số khẩu phần cứu trợ gồm nửa bao gạo trắng, hai cân muối hạt và mười lượng bạc mỗi tháng từ công quỹ huyện cấp phát cho cái tên Vũ Liên đang nằm trong túi của ai? Ai đã ký nhận số lương thực ấy trong khi con bé đang hấp hối vì đói rét trên vách đá Đoạn Phong này?"

Phạm Sương hai mắt sáng rực lên, thở phào một hơi nhẹ nhõm: "Hay quá! Thật là diệu kế! Đưa chuyện này ra ánh sáng, Tạ Duy không những không dám mở mồm gán tội chứa chấp cho chúng ta, mà bản thân hắn còn phải lo sốt vó chạy vạy giải trình với huyện nha về hàng trăm suất cứu trợ khống khác bị hắn nuốt trọn! Đinh Tuệ là người xuất thân từ quan gia, tính tình nghiêm cẩn, trọng quy chuẩn và luật pháp, nàng ta chắc chắn sẽ thụ lý lá đơn này để bảo vệ uy tín và sự trong sạch của Trấn Linh Ty!"

Bùi Hạ đặt ngọn bút lông xuống mặt bàn đá, ngước nhìn ba gương mặt đồng hành trung kiên:

"Viết lá đơn này phải thật cẩn trọng, từng câu từng chữ phải rõ ràng, minh bạch, có lý có tình. Sáng sớm mai, khi sương mù trên đỉnh Đoạn Phong chưa kịp tan, ta và Lâm huynh sẽ xuống núi một chuyến nữa, mang lá đơn này giao tận tay Đinh Tuệ tại dịch trạm huyện An Lưu. Chúng ta không việc gì phải cầu xin sự thương hại của bất kỳ ai; chúng ta sẽ đòi lại sự công bằng và mạng sống bằng chính những điều luật mà chúng dựng ra để bóp nghẹt những kẻ cùng khổ."

Cả ba người đồng loạt gật đầu, ánh mắt ánh lên niềm tin son sắt. Dưới ánh đèn dầu leo lét giữa gian chính điện hoang tàn, ngọn lửa của sự đoàn kết và ý chí quật cường dường như bừng sáng lên, xua tan đi hoàn toàn cái lạnh lẽo, ẩm ướt của đêm tối biên thùy.

***

Đêm dần buông sâu trên đỉnh núi Đoạn Phong hoang vu. Gió núi rít qua từng khe nứa vách đá, mang theo cái lạnh buốt giá thấu tận xương tủy của sương đêm vùng cao.

Trong gian thuốc chái tây, ánh sáng ấm áp từ chiếc đèn dầu hỏa nhỏ đặt trên bậu cửa sổ tỏa ra một vùng vàng dịu dàng, xua đi những góc tối ẩm mốc. Mùi thuốc thảo mộc sắc kỹ lan tỏa khắp gian phòng, thơm nồng vị ngải cứu và trần bì, lấn át hoàn toàn cái mùi tanh nồng của bùn đất và rêu phong ngoài sân.

Vũ Liên vẫn nằm nghiêng trên chiếc chõng tre, đầu tựa vào chiếc gối rơm bọc vải thô dày dặn. Khoang ngực của nàng đã đỡ đau thắt rất nhiều nhờ hai túi muối rang ngải cứu nóng hổi mà Đỗ Nghi vừa cẩn thận chườm cho ban nãy, nhưng nỗi sợ hãi trong lòng thì vẫn như một tảng băng trôi lơ lửng, chực vỡ tan giữa dòng nước lũ cuồn cuộn. Nàng nhìn chằm chằm vào những vết rạn nứt trên vách đá hoa cương, hai hàng nước mắt lại âm thầm ứa ra từ khóe mi, thấm ướt đẫm một góc gối rơm.

Nàng nghĩ đến những lời đe dọa lạnh lùng của Tạ Duy, nghĩ đến thứ quyền lực bao trùm của sơn môn và quan phủ. Nàng sợ sáng mai khi mặt trời ló rạng, người ta sẽ đến bên chõng tre, đặt vào tay nàng một nắm cơm nguội rồi nhẹ nhàng bảo nàng hãy rời khỏi ngọn núi này để tránh làm liên lụy đến sinh mạng của ba mươi mốt con người còn lại. Nàng từng bị vứt bỏ một lần ở Bến Bạch Sa, cái cảm giác bị một bàn tay tàn nhẫn đẩy ngã nhào xuống vũng bùn lầy nhơ nhớp ấy đã ăn sâu vào từng tủy não, biến thành một vết thương rỉ máu không bao giờ khép miệng.

Cọt kẹt.

Cánh cửa gỗ táu khẽ đẩy vào phát ra một tiếng động nhỏ. Một bóng dáng nhỏ nhắn bước qua ngạch cửa, cẩn thận dùng gót chân khép hờ then cửa lại để gió lạnh không lùa vào phòng.

Là Lâm An.

Cô bé mười một tuổi hai tay bưng một chiếc khay gỗ nhỏ đóng bằng những mảnh gỗ tạp vụn. Trên khay đặt một bát cháo kê vàng ươm đang bốc khói nghi ngút, bên cạnh là một chiếc chén gốm da lươn thô ráp đựng thứ nước thuốc thảo mộc màu nâu sẫm hãy còn ấm nóng.

"Chị Liên... chị đã tỉnh táo hẳn chưa?"

Lâm An rón rén bước từng bước nhỏ tới mép chõng tre, cẩn thận đặt chiếc khay gỗ lên chiếc ghế ba chân cạnh đầu giường. Đôi mắt tròn xoe, đen lánh của đứa trẻ nhìn Vũ Liên với vẻ lo lắng, thương cảm và đầy sự ân cần vụng dại.

Vũ Liên giật mình, vội vàng đưa tay áo quẹt nhanh những giọt nước mắt lăn dài trên má, gượng chống khuỷu tay định ngồi dậy: "An... sao em chưa đi ngủ? Khuya khoắt thế này rồi..."

"Chị nằm yên đấy, đừng có ngồi dậy vội! Cô Đỗ Nghi dặn dò kỹ lắm rồi, bảo chị phải nằm thẳng lưng để phế khí được lưu thông, không bị đè nén đấy," Lâm An nhanh nhảu vươn đôi bàn tay nhỏ bé ấn nhẹ bả vai Vũ Liên nằm trở lại gối rơm, rồi tự mình kéo chiếc ghế con ngồi sát mép chõng. "Cháo kê này là bác Sương vừa nhóm bếp nấu riêng cho chị đấy. Bác ấy bảo hạt kê vụn này rất lành, dễ tiêu hóa, lại được ninh nhừ bằng nước suối Thạch Nhãn lọc kỹ ba lần qua than củi, ăn vào ấm bụng và bổ huyết lắm. Còn chén thuốc này là cô Nghi sắc từ chập tối, cô dặn em phải đợi cháo nguội bớt rồi mới mang vào cho chị uống cạn."

Vũ Liên nhìn bát cháo kê vàng óng ánh, bên trên rắc một chút muối hạt Diêm Trì giã mịn và vài cọng lá tía tô thái chỉ mỏng như sợi tơ. Một mùi thơm mộc mạc, ngọt lành và ấm áp xông thẳng vào cánh mũi khô khốc của nàng. Nàng mím chặt đôi môi khô nứt, cố nén lại cơn nghẹn ngào đang trào dâng trong lồng ngực:

"Chị... chị đã làm liên lụy đến tất cả mọi người... Chị mang tội lớn với đạo quán... Sao bác Sương còn nhọc công nấu cháo cho chị làm gì..."

Lâm An ngơ ngác chớp chớp hàng mi dài, rồi cô bé bỗng khẽ mỉm cười, một nụ cười trong trẻo, hồn nhiên như giọt sương mai đọng trên ngọn cỏ Đoạn Phong:

"Chị nói linh tinh cái gì thế? Lúc nãy ở ngoài gian chính điện, cha em, cô Hạ với ông Mộc ngồi bàn chuyện với nhau cả buổi tối. Cha em đập bàn bảo: 'Con Liên là người của Vọng Đăng Am, nó đã đặt bút ký cái tên thứ chín vào tờ đơn lập môn thì cái mạng của nó là do cả ba mươi hai con người chúng ta cùng gánh vác'. Cha em còn bảo, sáng sớm mai cô Hạ với cha em sẽ xuống huyện nộp đơn cãi cho chị, vạch mặt cái lão áo xanh kiêu ngạo ấy ra trước Trấn Linh Ty để đòi lại công bằng cho chị đấy!"

Vũ Liên sững sờ, hai mắt mở to nhìn đứa trẻ mồ côi: "Cha em... cha em thật sự nói thế sao? Mọi người... không ai muốn đuổi chị đi ư?"

"Đuổi đi đâu mà đuổi!" Lâm An bĩu môi một cái thật dài, cầm chiếc muỗng gỗ cẩn thận múc một thìa cháo đầy, đưa lên miệng chu môi thổi nhè nhẹ cho bớt hơi nóng rồi chìa ra trước miệng Vũ Liên. "Chị mau ăn đi kẻo nguội mất ngon. Chị quên mất những điều lệ mà cả đạo quán chúng ta đã bỏ sỏi trắng thông qua hôm trước rồi à? 'Sinh mạng và nghĩa vụ pháp lý của thành viên là trách nhiệm chung của tập thể, không một cá nhân nào được tự ý định đoạt'. Chị có muốn bị đuổi cũng không được đâu, vì cả ba mươi mốt người còn lại có ai thèm bỏ một viên sỏi đen nào đuổi chị đâu mà chị phải sợ hão!"

Vũ Liên nhìn thìa cháo ấm áp đưa tới trước mặt, rồi nhìn sâu vào đôi mắt chân thành, không gợn một tia toan tính hay ghẻ lạnh của đứa trẻ mất mẹ. Nàng hé đôi môi run rẩy, đón lấy thìa cháo nóng.

Vị ngọt bùi, béo ngậy của hạt kê vỡ tan trên đầu lưỡi, hòa quyện với vị mặn mòi đậm đà của hạt muối biển Diêm Trì và hương vị nồng ấm, cay nhẹ của lá tía tô. Một dòng nhiệt lưu êm dịu, ấm áp từ từ trôi qua cuống họng, lăn dài xuống thực quản, xua tan đi cái cảm giác đói khát, lạnh lẽo và nỗi cô đơn bấy lâu nay đang đóng băng trong dạ dày khô héo của nàng.

Nước mắt Vũ Liên lại trào ra giàn giụa, nhưng lần này không phải là những giọt nước mắt của sự sợ hãi hay tủi nhục cay đắng, mà là những giọt nước mắt vỡ òa của một kẻ lưu đày vừa tìm lại được một mái nhà che chở.

Nàng vươn bàn tay gầy guộc run rẩy nắm chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn của Lâm An. Bàn tay của đứa trẻ thô ráp vì quét dọn, còn dính chút mùi mạt gỗ thông từ xưởng cưa của cha, nhưng lại ấm áp lạ lùng:

"An ơi... chị không phải là thứ phế vật bỏ đi... chị thật lòng không muốn làm gánh nặng cho mọi người đâu..."

"Em biết mà," Lâm An dùng bàn tay còn lại nhẹ nhàng xoa mu bàn tay nổi đầy gân xanh của Vũ Liên, giọng nói nhỏ nhẹ, thủ thỉ như tâm sự của hai chị em ruột thịt trong một mái nhà tranh. "Hôm trước lúc kiểm tra bệ đá phong thủy, chị dùng chiếc muỗng sừng rắc bột khoáng ngũ sắc khéo léo thế cơ mà, ngay cả bà quan kiểm định khó tính ở huyện nhìn thấy cũng phải gật đầu khen chị tỉ mỉ. Cha em thường bảo với em, người biết sợ làm hỏng đồ đạc là người biết quý trọng công sức; người biết sợ làm liên lụy đến người khác là người có cái tâm lương thiện. Mẹ em ngày xưa trước khi bị dòng nước lũ cuốn đi cũng hay dặn dò em như thế..."

Cô bé khẽ chớp mắt, khóe mi hơi ươn ướt nhưng nụ cười tươi tắn vẫn nở rạng rỡ trên môi:

"Ở cái Vọng Đăng Am này, không có ai bỏ rơi ai lại phía sau hết đâu chị Liên ạ. Đạo quán của chúng ta nghèo nàn, rách nát thật đấy, ngói thủng lỗ chỗ, gió lùa tứ phía, cháo ăn thì loãng toẹt... nhưng ở đây có cha em, có cô Hạ, có cô Nghi, có bác Sương và ông Mộc. Mọi người cùng nhau nhóm chung một bếp lửa, cùng uống chung một gánh nước suối Thạch Nhãn. Chị cứ yên tâm ăn hết bát cháo này, uống cạn chén thuốc rồi nhắm mắt ngủ một giấc thật sâu đi. Sáng mai khi thức dậy, trời quang mây tạnh, mọi chuyện rồi sẽ ổn cả thôi."

Vũ Liên gật đầu thật mạnh, nàng nuốt trọn từng thìa cháo ấm áp mà đứa trẻ cẩn thận đút cho, rồi ngoan ngoãn bưng lấy chén thuốc thảo mộc uống cạn một hơi dài.

Vị thuốc ban đầu đắng ngắt, chát chúa nơi đầu lưỡi khiến nàng hơi nhăn mặt, nhưng khi ngấm sâu xuống cổ họng lại đọng lại một vị ngọt thanh, mát dịu kỳ lạ, lan tỏa khắp lồng ngực, xoa dịu từng thớ thịt đang căng cứng, buốt nhói.

Khi Lâm An thu dọn chiếc khay gỗ, kéo lại góc chăn rơm ấm áp đắp ngang ngực cho nàng rồi khẽ khàng khép cánh cửa gỗ bước ra ngoài, Vũ Liên nhắm nghiền hai mắt lại. Tiếng gió gầm thét ngoài khe núi dường như không còn đáng sợ nữa. Dưới mái ngói dột nát của Đạo quán Vọng Đăng, lần đầu tiên sau chuỗi ngày dài lang bạt rách rưới giữa dòng đời giông bão, thiếu nữ mười bảy tuổi cảm nhận được hơi ấm thực sự của một bến đỗ bình yên. Một bến đỗ không được dựng xây bằng lầu son gác tía hay những lời giáo điều sáo rỗng của tiên môn, mà được dựng bằng sự đùm bọc thô ráp, kiên cường và bao dung của những con người cùng khổ.

***

Đêm càng về khuya, gió trên đỉnh Đoạn Phong càng gầm thét dữ dội hơn, từng cơn gió xoáy đập thình thình vào vách đá như muốn bứng gốc cả ngọn núi hoang tàn.

Bùi Hạ khoác lên mình chiếc áo tơi kết bằng lá cọ đã rách vài chỗ, một mình bước chầm chậm lên những bậc thang gỗ ọp ẹp dẫn lên gác chuông Đăng Dẫn Lộ. Cánh tay phải được nẹp tre cố định áp sát vào mạn sườn, những đầu ngón tay hơi tê buốt vì gió lạnh. Bàn tay trái của nàng cầm theo một que đóm dài bằng tre già ngâm dầu trẩu, đốm lửa nhỏ le lói trong màn đêm đặc quánh.

Ngọn đèn trận pháp trên đỉnh gác chuông vẫn đang cháy rực rỡ, kiên cường chống chọi với những cơn cuồng phong. Sợi tim đay thô sơ ngâm trong lớp dầu cặn phát ra thứ ánh sáng màu vàng đục, rọi sáng một khoảng bán kính vài trượng quanh chòi canh, đủ để soi rõ những vết nứt địa tầng nguy hiểm đang âm thầm ăn sâu vào nền móng phía đông của đạo quán.

Bùi Hạ đứng dựa lưng vào lan can bằng gỗ táu đã lên nước đen bóng, đưa mắt phóng tầm nhìn xuống màn đêm đen đặc quánh bên dưới chân núi Đoạn Phong. Phía xa xa kia, nơi bến Bạch Sa và dòng sông Vân Hà đang cuộn sóng phù sa gầm gào trong đêm tối, chỉ có một màu đen thăm thẳm của nước lũ mênh mông và những thân cây trôi dạt vô định. Đâu đó dưới huyện thành An Lưu, những đốm lửa le lói từ các điếm canh đê hiện lên mờ nhạt, yếu ớt như những con đom đóm lạc bầy giữa đồng hoang.

Nàng hiểu rất rõ rằng, sáng sớm mai khi nàng và Lâm Tự bước chân xuống ngọn núi này, cuộc chiến pháp lý với Huyện nha và Trấn Linh Ty sẽ chính thức bước vào một giai đoạn khốc liệt mới, không khoan nhượng. Tạ Duy và những kẻ đứng sau lưng hắn sẽ không bao giờ chịu dừng lại. Những kẻ đã quen thói chia chác đất đai, tài nguyên và bòn rút xương tủy của người dân nghèo sau cơn bão lũ kinh hoàng sẽ không bao giờ chấp nhận để cho một ngọn đèn tự lập được thắp sáng rực rỡ ngoài tầm kiểm soát của chúng.

Phành phạch! Phành phạch!

Một tiếng đập cánh gấp gáp, hỗn loạn đột ngột xé toạc màn sương đêm lạnh giá, lao thẳng từ khoảng không tối đen về phía chòi gác chuông.

Bùi Hạ giật mình cảnh giác, bàn tay trái lập tức buông que đóm, nhanh như cắt rút thanh dùi sắt giắt bên hông thủ thế trước ngực, chân khí sơ khai trong đan điền khẽ rục rịch.

Nhưng đó không phải là yêu thú săn đêm hay ám khí của kẻ thù. Một bóng chim bồ câu đưa thư lông xám ướt sũng nước mưa, lông cánh tả tơi vì kiệt sức sau một chuyến bay dài vượt bão, lảo đảo đâm sầm vào thành lan can gỗ ngay cạnh bàn chân nàng. Con chim nằm rạp xuống sàn gỗ, thở dốc từng hồi ngắt quãng, hai cánh run lẩy bẩy vì lạnh giá. Dưới chân trái khẳng khiu của nó buộc chặt một ống tre nhỏ chỉ bằng ngón tay út, đầu ống được niêm phong kỹ càng bằng một lớp sáp ong màu xanh lục nhạt.

Bùi Hạ khom người xuống, nhẹ nhàng vươn bàn tay trái ấm áp nâng niu thân hình con chim đưa thư đang lả đi vì kiệt sức. Nàng đặt nó vào một góc khuất gió bên cạnh bầu dầu của ngọn đèn, rồi dùng móng tay cẩn thận cậy nhẹ lớp niêm phong sáp ong màu xanh lục.

Bên trong ống tre nhỏ nhắn, một mảnh giấy hoa tiên mỏng manh cuốn tròn từ từ trượt ra lòng bàn tay nàng.

Dưới ánh sáng vàng vọt, ấm áp của ngọn Đăng Dẫn Lộ đang cháy bập bùng trong gió núi, Bùi Hạ mở rộng mảnh giấy ra. Trên nền giấy hoa tiên màu ngà ẩm ướt vì hơi sương, những dòng chữ thanh mảnh, sắc sảo nhưng vô cùng vội vã hiện lên rõ mồn một — những nét chữ thân thuộc mà nàng có thể nhận ra ngay lập tức dù ở bất kỳ nơi đâu:

*“Hạ, cẩn thận! Tạ Duy đã cho người phong tỏa kho hồ sơ tại Bến Bạch Sa để tiêu hủy bản lưu đinh tịch. Nhưng ta đã kịp chép lại một nửa... Đợt nước thượng nguồn sẽ đổ về trong ba ngày tới, hãy giữ lấy ngọn đèn!”*

Phía dưới dòng chữ viết vội ấy là ký hiệu một nhánh cỏ chi ba lá quen thuộc, sắc sảo như một nét kiếm.

Lê Chi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn