Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.13 / 40
Chương 13

Mảnh Trận Từ Đê Hồi Long

Gió sông tạt hơi nước lạnh buốt vào mặt Bùi Hạ khi bóng chiếc thuyền nan của Hà Thu xé rách màn sương đục, lướt qua bãi cọc nhọn Bến Bạch Sa rồi cập sát bờ đá ngầm trong bóng tối dày đặc của giờ tý.

Mặt sông Vân Hà về đêm đen thẫm như mực đặc đổ tràn ra bình nguyên, chỉ có những quầng bọt nước cuộn xoáy quanh chân các thân cọc gỗ lim phát ra tiếng ùng ục trầm đục, rợn người. Con thuyền nan chắp vá của Hội Đồng Châu dạt vào mép đá lởm chởm, mạn thuyền bọc vỏ tre va vào gờ đá nghe một tiếng cộp khô khốc, vang dội giữa không gian hoang vắng của bờ sông lúc nửa đêm. Hà Thu không cắm sào buông neo như mọi bận. Hai ống tay áo vải thô của nàng ướt đẫm nước sông, bết chặt vào cẳng tay gầy guộc chằng chịt vết xước. Mái tóc rối bết dính nước mưa phùn lẫn bùn non rủ xuống trán. Nàng đứng thở dốc trên mũi thuyền chông chênh, ngực phập phồng dữ dội sau chặng đường dài chèo ngược dòng nước xiết từ phía hạ lưu trở về, đôi mắt thâm quầng vì kiệt sức nhưng ánh lên vẻ kinh hãi tột cùng.

Dưới chân triền dốc Đoạn Phong, ánh đèn bão leo lét hắt ra từ hốc đá sau lưng Bùi Hạ, chỉ đủ soi sáng một khoảng đất lổn nhổn sỏi cuội. Cùng đi xuống bến với nàng không chỉ có Lâm Tự tay lăm lăm cây xà bén bằng sắt nguội để đề phòng mọi biến cố bất trắc, mà còn có Đỗ Nghi. Suốt từ lúc nhận được tiếng gào cấp báo xé toạc sương sớm của người chèo đò ngoài bến ban ngày, Đỗ Nghi đã đứng ngồi không yên nơi góc bếp đạo quán, hai bàn tay vo chặt vạt áo đến mức nhàu nhĩ. Giờ đây, khi bóng đêm buông xuống che mắt những toán tuần tra của nha môn dọc bờ sông, nàng mới có thể lén cùng hai người mò xuống bến nước đón chuyến thuyền hẹn ngầm.

"Hà Thu! Dưới đó thế nào rồi? Em tôi ra sao?" Đỗ Nghi run giọng hỏi dồn dập, hai bàn tay siết chặt tà áo thô đến mức đầu ngón tay trắng bệch, không còn một giọt máu. Nàng không đợi thuyền cột chặt dây đay vào cọc tiêu đã bước vội xuống doi cát ướt sũng, bùn lầy ngập qua mũi hài thêu cũ kỹ.

Hà Thu nhảy ào xuống bãi bùn ngập ngang bắp chân. Đôi ủng rách của nàng phát ra tiếng bì bõm nặng nề giữa bãi bùn nhớp nhúa. Nàng đưa mắt đảo quanh bờ dốc hoang vắng, xác nhận không có ánh đuốc tuần tra của quân nha An Lưu bám theo trên con đường thiên lý chạy dọc bờ đê, rồi thò tay vào trong vạt áo tơi tết bằng lá cọ rách bươm.

"Đỗ cô nương, cầm lấy cái này trước đã!" Giọng Hà Thu khản đặc như bị cọ xát bởi cát sỏi, hơi thở phả ra làn khói trắng run rẩy giữa cái rét căm căm của đêm cuối thu. "Thằng Tín... nó không cách nào trốn ra ngoài được đâu. Rào chông tre ba lớp và rãnh hào sâu cắm cọc vạt nhọn đã quây kín bốn phía lán trại Đê Hồi Long rồi. Lính canh của huyện cùng lũ tay sai hộ vệ hung hãn của nhà thầu chẹn cứng từng chòi canh, ban đêm cứ mười thước lại có một đuốc lửa. Đây là thứ bạn phu cùng tổ đắp đất với nó liều mạng nhét qua khe rào cống ngầm lúc xẩm tối, dặn tôi bằng mọi giá phải đưa tận tay cho cô!"

Đó là một bọc vải gai thô dính bùn đen kịt, ẩm ướt và lạnh ngắt, bên ngoài quấn chặt bằng nhiều vòng dây cói khô thắt nút chết. Mùi bùn sình thối rữa của đáy lòng sông quyện lẫn mùi tanh nồng của kim khí và máu khô xộc thẳng vào cánh mũi buốt giá. Đỗ Nghi đón lấy gói đồ bằng đôi tay run rẩy bần bật. Trọng lượng của bọc vải trĩu nặng bất thường trên lòng bàn tay thanh mảnh vốn chỉ quen bốc thuốc cứu người của nàng.

Lâm Tự lập tức tiến lên một bước, kéo cao cổ áo tơi, giơ chiếc nón lá rách che chắn luồng gió sông đang chực thổi bạt ngọn đèn leo lét trong tay Bùi Hạ. Cổ tay phải của Bùi Hạ vẫn còn nẹp thanh tre cố định dưới lớp băng gạc dính thuốc màu nâu sẫm, nàng chỉ có thể dùng bàn tay trái nâng cao chụp đèn bằng kính mờ, soi rọi vào khoảng đất khô ráo dưới vòm đá hõm sâu vào sườn núi.

"Lên đây, đừng đứng dưới mép nước." Bùi Hạ trầm giọng bảo, ánh mắt cảnh giác quét qua mặt sông đen ngòm như mực tàu. "Mặt nước trông phẳng lặng nhưng dòng ngầm cuộn rất dữ, lại thêm đêm hôm thanh vắng, chỉ một tiếng động lạ hay bóng lửa hắt ra mặt nước cũng có thể kinh động lính tuần tra cách đây vài dặm."

Cả nhóm lùi sâu vào hốc đá ráo nước. Đỗ Nghi quỳ thụp xuống nền sỏi, đầu gối dập mạnh xuống đất đá sắc nhọn nhưng nàng chẳng màng để ý đến cơn đau buốt. Nàng dùng đầu ngón tay run rẩy cởi từng mối nút dây cói bết đất sình. Đốt ngón tay nàng trầy xước, tứa máu hòa cùng bùn đen. Lớp vải gai thô cứng bên ngoài dần mở ra từng nếp gấp, để lộ những thứ được bọc giấu cẩn mật bên trong.

Rơi ra đầu tiên trên nền vải là một mảnh giấy bản màu vàng sẫm, mép giấy nhăn nhúm, rách nát và loang lổ những vệt nước mắt đã khô cứng lại thành từng mảng ố vàng giòn rụm. Kèm theo đó là một mẩu đá góc cạnh to bằng nắm tay người lớn, bề mặt thô ráp, xỉn màu, và một tờ phiếu xuất kho vật tư nhàu nát dính bết những giọt máu thâm đen đã đóng vảy tự bao giờ.

Đỗ Nghi run rẩy mở mảnh giấy bản. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão được Lâm Tự che chắn, từng nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy của Đỗ Tín hiện ra trước mắt nàng. Thằng bé không có nghiên bút đàng hoàng, nó phải viết vội bằng mẩu than củi nhặt được bên lò nấu cơm phu dịch, nhiều chỗ nét chữ bị nhòe đi vì mồ hôi và nước mắt mặn chát:

*“Tỷ tỷ! Đừng tìm cách xuống bến đón đệ, cũng đừng để lộ cho huyện nha biết nơi trú của tỷ. Đê Hồi Long không phải là công trường sửa đê... đây là một cái lò giết người! Bọn nhà thầu Tam Giang và quan viên Công tào không coi phu dịch là người. Mười ngày nay, bọn chúng bắt chúng đệ làm ca ba thâu đêm suốt sáng, chân ngâm dưới nước lũ buốt thấu xương, bùn ngập đến thắt lưng. Ai ngã xuống vì kiệt sức liền bị roi gân bò quất rách da thịt bắt đứng dậy vác đá tiếp.*

*Khẩu phần phát ra toàn là cám mốc trộn vỏ trấu, ăn vào bụng sôi cồn cào rồi phát chứng thổ tả. Đệ đã phải ký vào giấy vay gạo giá cắt cổ của thương hội — ba lượng bạc một đấu kê mốc! Không ký thì chúng cắt khẩu phần, bỏ đói chết rấp trong lán. Nhưng tỷ ơi, đê này không thể giữ nổi đâu! Đá kè bọn chúng phát xuống để xếp chân đê là thứ đá gì kỳ quái lắm, vác lên nhẹ bẫng nhưng thả xuống nước lũ là tự nứt toác, nổ lép bép dưới lòng sông. Bạn đò cùng lán với đệ bị một khối đá vỡ bung mảnh cứa đứt cuống họng chết tươi chiều qua. Đệ lén đập lấy một mẩu đá vỡ cùng tờ phiếu giao nhận vật tư nhặt được dưới chân chòi canh gửi về cho tỷ. Tỷ ơi, cứu đệ với, đệ không trụ nổi qua đợt nước tới...”*

Đọc đến những dòng chữ xiêu vẹo cuối cùng, hai hàng nước mắt ấm nóng tuôn trào trên gò má tái nhợt của Đỗ Nghi. Bàn tay nàng bóp chặt mép giấy thư nhàu nát đến mức khớp ngón tay kêu răng rắc, ngực nghẹn ứ không thở nổi.

"Nó... nó bị ép làm ca ba... bị ép vay gạo khống..." Giọng Đỗ Nghi nghẹn ngào trong lồng ngực, những tiếng nấc xé lòng bị nàng cắn chặt môi kìm nén lại đến rớm máu. "Tôi đã từng ký giấy chứng nhận sức khỏe cho nó... Tôi tưởng nó chỉ đi làm phu tạp dịch quét dọn lán trại kiếm miếng ăn qua ngày lũ... Chính tay tôi đã đẩy em mình vào chỗ chết!"

"Đỗ cô nương, bình tĩnh lại đã. Chuyện chưa đến mức tuyệt vọng đâu." Lâm Tự trầm giọng an ủi. Anh ngồi xổm xuống bên cạnh, bàn tay thô ráp của người thợ mộc đầy những vết chai sần đặt hờ lên vai nàng như một điểm tựa vững chãi giữa đêm lạnh. Anh ngước nhìn Bùi Hạ, ánh mắt trĩu nặng âu lo: "Hạ cô nương, nhìn mẩu đá này xem. Lời thằng bé nói đá nứt toác dưới nước lũ... liệu có phải bọn chúng dùng đá non hay đá vôi xốp không?"

Bùi Hạ không đáp ngay. Ánh mắt nàng đã bị mẩu đá xám xịt rơi ra từ bọc vải gai thu hút hoàn toàn kể từ giây phút lớp vải mở toang. Nàng hạ thấp ngọn đèn bão, tay trái cẩn thận nhấc khối đá lên ngang tầm mắt. Cánh tay phải bị thương giật thót từng cơn đau âm ỉ theo nhịp tim đập.

Khối đá nặng chưa đầy ba cân, mặt ngoài gồ ghề lởm chởm, sắc cạnh như vừa bị một lực nội sinh cực lớn xé toạc ra từ một khối lớn hơn chứ không phải do búa tạ ghè đẽo tự nhiên. Bề mặt đá không có độ trơn láng và sắc xanh đặc trưng của huyền thạch hay thanh sa thạch tự nhiên vốn dùng để kè đê trấn thủy qua bao đời nay. Thay vào đó, nó mang một màu xám đục xỉn màu, lấm tấm những hạt xốp li ti như tổ ong rỗng ruột.

Bùi Hạ kẹp khối đá vào giữa hai đầu ngón tay trái, ghé sát mắt quan sát một góc gãy nham nhở dưới ánh đèn vàng vọt. Đột nhiên, đồng tử nàng co rút lại dữ dội. Trái tim trong lồng ngực nàng như hẫng đi một nhịp, máu trong người dồn hết lên màng tang.

Ở một góc vát còn sót lại của khối đá, dưới lớp bùn sông đã khô kết thành mảng xám xịt, lộ ra một vết khắc chìm bằng đục sắt ba cạnh sâu chừng nửa phân. Vết khắc tạo thành một ký hiệu hình cánh hoa sen cách điệu nhưng bị gạch chéo một đường dứt khoát ở phần cuống, bên dưới khắc một dãy chữ số nhỏ xíu, sắc sảo: *“Tam-Bính-Hỏa-Tạp-09”*.

Hơi thở của Bùi Hạ nghẹn lại nơi cuống họng. Lồng ngực nàng thắt chặt lại như có một tảng đá ngàn cân đè nặng.

Ký hiệu này... nét khắc ba cạnh góc nghiêng ba mươi độ chuẩn xác này... Nàng làm sao có thể quên được? Dù có chết đi hóa thành tro bụi, nàng cũng không thể nào quên được vết đục định mệnh này!

Đó là ký hiệu phân loại lô đá cấp ba pha tạp xỉ than của Ty Vật Tư thuộc Thanh Huyền Môn. Loại đá nhân tạo thiêu kết từ bột phế thạch và tro xỉ khoáng hỏa luyện, bề ngoài giả dạng đá trận tự nhiên để qua mắt những kẻ ngoại đạo, nhưng bên trong rỗng xốp, các mạch khoáng dẫn truyền linh lưu hoàn toàn đứt gãy, không thể nào chịu nổi áp lực linh động biến thiên liên tục.

Hai năm trước, chính tại gian phòng thẩm định ngột ngạt mùi khoáng thạch của sơn môn, Bùi Hạ khi ấy còn là thợ sửa trận bậc ba đầy nhiệt huyết đã cầm trên tay bản thử tải của chính lô đá này. Nàng đã phát hiện ra cấu trúc tinh thể giả tạo của chúng: khi gặp dòng nước lũ mang linh mạch âm hàn tràn qua, nhiệt lượng tiềm ẩn trong các hạt tro xỉ hỏa luyện bên trong sẽ xung đột dữ dội với hàn khí, sinh ra nội áp cực lớn khiến đá tự rạn nứt từ tâm và phát nổ thành từng mảnh sắc như dao cạo. Nàng đã kiên quyết dùng mực đỏ gạch chéo ký hiệu cánh sen, từ chối ký vào biên bản nghiệm thu đưa lô vật liệu này vào công trình đê điều và hồ chứa nước vùng hạ lưu.

Và cái giá phải trả cho sự kiên quyết bảo vệ quy chuẩn kỹ thuật đó là gì? Quản sự Tạ Duy đã giận dữ đập bàn, quy chụp nàng tội "chống lệnh quản sự, kiêu ngạo cản trở tiến độ thi công của sơn môn", rồi sau đó là một vụ nổ bàn trận thử tải đầy mờ ám trong đêm vắng làm gãy nát cổ tay và tàn phế cánh tay phải của nàng. Tiếp sau đó là bản án trục xuất nhục nhã, biến nàng thành một phế nhân bị xua đuổi khỏi sơn môn không một lời thanh minh!

Bùi Hạ giơ tờ phiếu xuất kho vật tư dính máu khô lên sát ánh đèn bão. Tờ giấy dầu chuyên dụng chống ẩm của tiên môn màu vàng ngà, bên trên in rõ tiêu đề bằng mộc bản: *“Phiếu Giao Nhận Trận Thạch Trấn Thủy — Lô Tam Bính — Cung ứng: Thương hội Tam Giang / Giám sát: Thanh Huyền Môn Ty Vật Tư”*.

Ở góc dưới cùng của tờ phiếu, nơi ô chữ ký của người phê duyệt xuất kho kiêm giám sát kỹ thuật, có một nét ký tắt hình lưỡi liềm uốn cong vắt chéo một nét móc ngược quen thuộc đến gai người.

Là nét chữ của Quản sự Tạ Duy! Không thể sai vào đâu được!

"Bọn chúng không hề tiêu hủy lô đá phế phẩm đó..." Giọng Bùi Hạ thì thầm, lạnh lẽo và run rẩy đến mức khiến cả Lâm Tự và Hà Thu đều phải giật mình ớn lạnh sống lưng. "Chúng không những không tiêu hủy như lệnh của giới luật đường, mà còn đem bán đứt cho Thương hội Tam Giang để lót vào chân móng Đê Hồi Long. Ăn bớt ngân sách hộ đê của huyện nha, rút ruột vật tư của sơn môn để bỏ túi riêng, rồi dùng thứ rác rưởi chết người này để ngăn lũ dữ cho hàng vạn sinh linh!"

Nàng siết chặt bàn tay trái, mẩu đá trận nghiến vào lòng bàn tay nàng kêu lạo xạo. Ngọn lửa căm hờn bị chôn chặt suốt bao tháng ngày tủi nhục, đắng cay kể từ ngày bị phế bỏ công lực và xua đuổi khỏi đỉnh núi mây mù dường như bùng cháy dữ dội trong đáy mắt nàng. Hóa ra thảm họa vỡ đê mùa lũ trước khiến ngàn người chết trôi, biến ba mươi hai con người trên đỉnh Đoạn Phong thành kẻ tha hương mất nhà mất cửa, tất cả đều bắt nguồn từ chính phi vụ bẩn thỉu mà nàng từng liều mạng ngăn cản bất thành năm xưa!

"Tạ Duy... Thương hội Tam Giang... Các người coi mạng của dân đen là cỏ rác!" Bùi Hạ nghiến răng thốt lên từng chữ, lồng ngực phập phồng kịch liệt, hơi thở dồn dập đến nghẹt thở. Cánh tay phải run lên bần bật trong lớp nẹp tre.

"Hạ cô nương! Dừng lại ngay!"

Một giọng nói trầm thấp, đanh thép nhưng vô cùng điềm tĩnh vang lên từ mép đá phía sau lưng họ.

Nguyễn Mộc từ trên bậc đá dốc đứng bước xuống. Lão thợ đá già chống một cây gậy trúc đực lên từng gờ đá trơn tuột, trên lưng khoác một tấm vải bạt thô đã bạc màu mưa nắng. Dù bước đi chậm chạp vì đôi chân còng queo của người cả đời đục đá, nhưng ánh mắt của ông lão lại sáng quắc và sắc lạnh như lưỡi đục thép dưới vòm mũ cói rách. Ông đã âm thầm đi theo sau nhóm người từ lúc rời đạo quán, đứng lặng lẽ chứng kiến toàn bộ sự việc từ trên mép dốc tối om.

Nguyễn Mộc bước vào hõm đá, nhìn thẳng vào đôi mắt đang rực lửa hận thù của Bùi Hạ, giọng ông chậm rãi nhưng nặng như búa tạ nện vào đe sắt:

"Cất ngay sự phẫn nộ vô ích của cô đi. Căm hờn không cứu được thằng Tín đang ngâm mình dưới bùn lầy, càng không thể đè bẹp được dấu triện son của huyện phủ hay thế lực che trời của một đại tông môn. Nếu cô để sự phẫn nộ làm hỏng lý lẽ pháp lý và trật tự điển lệ, chúng ta sẽ tự tay chôn vùi toàn bộ những gì vừa nhọc công dựng lên trên ngọn núi này!"

Bùi Hạ khựng lại. Nàng nhìn vào ánh mắt nghiêm nghị, sâu thẳm như giếng cạn của ông lão thợ đá, lồng ngực dần hạ xuống theo từng nhịp thở sâu và buốt giá. Nàng từ từ buông lỏng bàn tay trái, để mẩu đá xỉ than nằm yên trên lớp vải gai dính bùn đen.

"Nguyễn bá nói đúng," Bùi Hạ thấp giọng, cố gắng ép bản thân lấy lại sự tỉnh táo đến tàn nhẫn của một người thợ trận trước bàn vẽ kết cấu. "Cháu đã quá manh động."

"Biết dừng lại để nhìn cho rõ sự lý là tốt," Nguyễn Mộc gật đầu. Ông ngồi xuống cạnh một phiến đá phẳng nhô ra khỏi vách, đặt cây gậy trúc sang một bên rồi mở chiếc túi da bò cũ kỹ đeo bên hông. Bên trong túi da được lót giấy dầu cẩn thận, chứa một tập giấy bản dày đóng mép bằng chỉ dù, một thỏi mực tàu mài dở và một chiếc bút lông thỏ cán trúc mòn vẹt.

Lão thợ đá đưa mắt nhìn quanh bốn người đang vây quanh ngọn đèn bão trong hõm đá: Bùi Hạ, Lâm Tự, Đỗ Nghi và Hà Thu.

"Một mẩu đá trận vỡ, một bức thư nhà viết vội bằng than, một tờ phiếu xuất kho dính máu. Đây là những thứ có thể khiến quan trên rụng đầu, nhưng nếu không được xử lý theo đúng trình tự điển lệ, chúng chỉ là rác rưởi vô giá trị trước công đường," Nguyễn Mộc vừa trải phẳng tờ giấy bản lên mặt đá vừa nói, giọng điềm đạm mà chắc nịch từng chữ. "Huyện nha An Lưu hay Trấn Linh Ty đều là những nơi chỉ nhìn vào văn tự có người làm chứng rõ ràng. Nếu chúng ta cầm thẳng những thứ này xuống gõ cửa nha môn tố giác, Tạ Duy và Hoàng Cẩn chỉ cần một câu nói: 'Vật này do kẻ đào phu trộm cắp đem ra vu khống' là đủ để lính nha môn khép cả lũ vào tội vu cáo quan sai, chống đối lệnh hộ đê khẩn cấp."

Lâm Tự gật đầu tán đồng, siết chặt thanh xà bén trong tay: "Đúng vậy. Bọn nha lại chỉ cần một lý do đó là lập tức tịch thu toàn bộ tang vật rồi ném vào lò thiêu hủy sạch sẽ, sau đó bí mật bắt giam Đỗ Tín diệt khẩu trong đêm."

"Bởi vậy, chúng ta phải lập biên bản tiếp nhận vật chứng ngay tại đây, ngay trong đêm nay, dưới ánh đèn này," Nguyễn Mộc chấm đầu bút lông vào chiếc nghiên mực dã chiến pha bằng nước mưa đọng trên lá cọ, nét chữ sắc sảo, chân phương và ngay ngắn bắt đầu trải dài trên trang giấy bản thô ráp. "Phải có đầy đủ chữ ký và dấu điểm chỉ của ít nhất ba nhân chứng độc lập. Ghi rõ thời điểm nhận, địa điểm bàn giao, nhân dạng người chuyển giao, và mô tả chi tiết hiện trạng vật lý của từng món đồ trước khi có bất kỳ ai can thiệp hay sửa chữa."

Nguyễn Mộc vừa viết vừa đọc to từng câu từng chữ để mọi người cùng nghe và chuẩn hóa nội dung:

*"Thời điểm: Giờ Tý, đêm mười một tháng Bảy năm Tân Mão.* *Địa điểm: Bến Bạch Sa, chân sườn nam núi Đoạn Phong, thuộc phạm vi bảo hộ tạm thời của Đạo quán Vọng Đăng.* *Bên giao: Hà Thu, dân chèo thuyền thuộc Hội Đồng Châu Bến Bạch Sa, trực tiếp nhận vật phẩm từ một phu đắp đê giấu tên tại hàng rào công trường Đê Hồi Long vào giờ Thân cùng ngày.* *Bên nhận: Bùi Hạ — Chưởng môn đại diện Tông Môn Sơ Lập Vọng Đăng Am; Đỗ Nghi — thân nhân của phu dịch Đỗ Tín mang tịch số 412.* *Hiện trạng vật chứng kiểm đếm tại chỗ:* *Một: Một mẩu đá góc cạnh, chất liệu đá nhân tạo thiêu kết màu xám xỉ than, kích thước ước chừng ba tấc vuông, trọng lượng hai cân tám lạng, có vết nứt vỡ bung ra do nội lực khoáng thạch, mặt vát mang ký hiệu khắc chìm ba cạnh 'Tam-Bính-Hỏa-Tạp-09' bị gạch chéo phần cuống hoa sen.* *Hai: Một tờ phiếu giao nhận vật tư khổ nhỏ in mộc bản, có chữ ký tắt hình bán nguyệt của Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn, mép giấy dính vệt máu khô thâm đen, nội dung ghi rõ xuất kho cho Thương hội Tam Giang.* *Ba: Một bức thư viết bằng than củi trên giấy bản vàng mỏng của phu dịch Đỗ Tín, nội dung tố giác tình trạng cưỡng bức lao dịch ca ba thâu đêm, đánh đập phu phen và ép ký văn tự vay nợ khống lương thực..."*

Ngòi bút của Nguyễn Mộc lướt đi thoăn thoắt nhưng vô cùng cẩn trọng, từng nét móc, nét phẩy đều tuân thủ chặt chẽ thể thức công văn hành chính của điển chế Vân Hà. Ông dừng lại, ngước nhìn ba người:

"Lâm Tự, với tư cách thợ cả phụ trách công trình cơ học của Vọng Đăng; Hà Thu, với tư cách người vận chuyển độc lập của Hội Đồng Châu; và lão phu, với tư cách người giám sát điển lệ sơn môn. Ba chúng ta sẽ ký tên và điểm chỉ làm chứng độc lập. Bùi Hạ và Đỗ Nghi là người tiếp nhận trực tiếp. Văn bản này sẽ lập thành hai bản giống hệt nhau: một bản niêm phong lưu tại hòm hồ sơ Vọng Đăng Am, một bản sẽ mang theo khi xuống nha môn đối chất."

Lâm Tự không hề ngần ngại, anh bước lên một bước, cúi mình đón lấy chiếc bút lông từ tay Nguyễn Mộc. Bằng bàn tay thô kệch quen cầm rìu đục, anh cẩn thận ký từng nét tên mình vào góc dưới biên bản, rồi dứt khoát ấn ngón tay cái đã quệt đẫm mực son đỏ au vào bên cạnh chữ ký.

Hà Thu lau vội bàn tay ướt nước sông vào vạt áo tơi, cũng run run cầm bút ký tên "Hà Thị Thu" bằng những nét chữ chân phương, mộc mạc của người chèo đò ven sông, rồi điểm chỉ xác nhận bằng tất cả sự can đảm của một người cùng khổ.

Cuối cùng, Nguyễn Mộc hạ bút ký tên mình, dấu vân tay già nua nhăn nheo của lão thợ đá in hằn lên nền giấy vàng như một lời cam đoan đanh thép trước quỷ thần và luật pháp.

Biên bản hoàn tất. Mực vừa ráo trên mặt giấy, Nguyễn Mộc cẩn thận gấp đôi tờ văn tự, đặt mẩu đá trận và tờ phiếu dính máu vào giữa một tấm vải dầu sạch mang theo trong túi, gói kín lại từng góc rồi buộc chặt bằng dây gai khô ráo.

Lúc này, Hà Thu mới ngẩng lên, ghé sát tai Bùi Hạ nói nhỏ một tin tức khiến bầu không khí vốn đã căng như dây đàn càng thêm ngột ngạt, đặc quánh:

"Hạ cô nương, còn một chuyện hệ trọng này nữa... Chiều nay khi tôi ghé bến dịch trạm An Lưu lấy nước ngọt trước khi xuôi thuyền, tôi thấy dịch trạm treo cờ hiệu mây xanh ba dải của Thanh Huyền Môn. Người của dịch trạm kháo nhau rằng một đoàn giám sát của sơn môn vừa từ tổng đàn trên núi cao đến tạm trú tại đó để thị sát công trình đê điều. Trưởng đoàn... nghe đâu chính là Quản sự Tạ Duy!"

Bùi Hạ khẽ nheo mắt lại, hơi thở nàng ngưng bặt trong giây lát. Nắm tay giấu sâu trong ống tay áo rộng bất giác siết chặt đến mức móng tay găm sâu vào da thịt.

Tạ Duy đã đích thân hạ sơn đến huyện An Lưu!

Hắn đến đây vào đúng thời điểm nước sôi lửa bỏng này để làm gì? Để kiểm tra tiến độ hàn gắn Đê Hồi Long, đốc thúc bọn thầu gom vét bạc vụn, hay để che đậy những dấu vết sai phạm vật tư đang trồi lên theo từng khối đá vỡ bung dưới lòng sông? Hay là... hắn đến vì bản báo cáo về việc Đạo quán Vọng Đăng dám nộp đơn xin lập tông môn sơ lập lên Trấn Linh Ty đã bay về sơn môn?

Bên cạnh nàng, Đỗ Nghi đã gạt khô những giọt nước mắt trên má tự bao giờ. Đôi mắt người thầy thuốc vốn luôn điềm đạm, trầm tĩnh và nhẫn nại trước mọi nỗi đau của bệnh nhân nay rực lên một quyết tâm sắt đá chưa từng thấy. Nàng ngẩng đầu nhìn thẳng vào Bùi Hạ, giọng nói không còn chút run rẩy yếu đuối nào nữa, chỉ còn lại sự lạnh lùng và dứt khoát đến kinh ngạc:

"Bùi cô nương, ngày mai tôi sẽ cùng cô xuống huyện nha đối chất công khai!"

Lâm Tự giật mình, vội buông cây xà bén xuống đất cát, giơ tay can ngăn: "Đỗ cô nương, cô đi làm gì xuống chốn đó? Nha môn là nơi hang hùm miệng cọp, cô xuống đó chỉ là một người phụ nữ phàm nhân không tấc sắt cầm tay, tên Điển sử Hoàng Cẩn nham hiểm kia có thể tùy tiện sai lính bắt giữ cô với tội danh quấy rối công đường bất cứ lúc nào!"

"Tôi không sợ!" Đỗ Nghi cất cao giọng, ánh mắt nàng kiên định nhìn thẳng vào người thợ mộc, không hề chớp lấy một lần. "Thằng Tín đang chết dần chết mòn trong bùn lầy Đê Hồi Long từng canh giờ trôi qua. Nếu chúng ta chỉ gửi lá đơn xin miễn hoãn phu dịch thông thường cho anh Lâm Tự, Hoàng Cẩn sẽ dùng dằng trì hoãn, ngâm đơn từ tháng này qua tháng khác, hoặc hắn sẽ nhận đơn rồi ngấm ngầm sai bọn cai ngục trả thù hèn hạ lên đầu em trai tôi! Chúng ta không thể chỉ phòng thủ một cách thụ động và chờ đợi lòng thương hại của bọn quan tham được nữa!"

Nàng quay sang nhìn Nguyễn Mộc và Bùi Hạ, mạch suy nghĩ sắc bén và tỉnh táo của một người thầy thuốc quen chẩn đoán bệnh tình nguy cấp lập tức phát huy tác dụng:

"Các người nghe tôi nói đây. Lệnh trưng phu cũ của Lâm huynh là do huyện nha phát ra, dựa trên Điển lệ Vân Hà thì anh ấy thuộc diện được miễn hoãn đợt một vì cảnh góa vợ nuôi con nhỏ dưới mười hai tuổi. Nhưng nếu chúng ta chỉ mang duy nhất lá đơn xin miễn hoãn đó đi gõ cửa nha môn, Hoàng Cẩn hoàn toàn có thể dùng quyền hạn của Điển sử để bắt bẻ rằng việc đắp đê chống lũ là việc công khẩn cấp thời thiên tai, điển lệ thông thường có thể châm chước tạm thời gác lại để ép anh ấy phải ra công trường."

Đỗ Nghi chỉ tay vào bọc vải dầu chứa mẩu đá trận và biên bản vừa lập trên tay Nguyễn Mộc:

"Nhưng nếu chúng ta mang theo vật chứng này, biến lá đơn miễn hoãn của Lâm huynh thành một đòn bẩy pháp lý kép! Chúng ta không chỉ xin miễn hoãn cho một cá nhân đơn lẻ. Tôi — với tư cách là người nhà trực hệ của phu dịch Đỗ Tín, đồng thời là thành viên chính thức đã ký tên đăng bộ vào Tông Môn Sơ Lập Vọng Đăng Am — sẽ đứng ra công khai tố giác tình trạng ngược đãi lao động tàn bạo và sai phạm vật tư nghiêm trọng tại Đê Hồi Long!

Chúng ta sẽ đặt Hoàng Cẩn vào thế kẹt lưỡng nan: Hoặc là huyện nha chấp nhận ngay lập tức đơn miễn hoãn của Lâm Tự, đồng thời cho phép nhóm thợ của Vọng Đăng Am chúng ta đổi công bằng việc nhận sửa chữa một hạng mục kỹ thuật cụ thể tại thân đê để giải cứu Đỗ Tín ra ngoài một cách hợp pháp; hoặc là chúng ta sẽ mang toàn bộ mẩu đá trận giả mạo này cùng biên bản tiếp nhận có ba nhân chứng độc lập sang thẳng phân sở Trấn Linh Ty tại quận thành, yêu cầu viên kiểm định Đinh Tuệ tiến hành thanh tra kỹ thuật toàn diện công trường Đê Hồi Long!"

Nguyễn Mộc nghe xong từng lời đanh thép của Đỗ Nghi, đôi mắt già nua khẽ nheo lại rồi lóe lên một tia tán thưởng hiếm hoi. Ông vuốt chòm râu bạc lơ thơ, chậm rãi gật đầu tán thành:

"Đòn bẩy kép... Hay lắm! Đỗ cô nương nói rất trúng vào chỗ hiểm của Hoàng Cẩn. Hoàng Cẩn là quan điển sử coi sóc hộ tịch và công trình đê điều của huyện, thứ hắn sợ nhất lúc này không phải là dân phu oán thán, mà là đê không kịp hàn gắn trước đợt lũ lớn sắp tới và Trấn Linh Ty nhảy vào đình chỉ công trường để điều tra chất lượng đá trận. Nếu công trình bị Trấn Linh Ty niêm phong điều tra, cái mũ quan trên đầu hắn sẽ bay đầu tiên trước khi kịp báo công thăng thưởng lên phủ doãn."

Lâm Tự nhìn Đỗ Nghi bằng ánh mắt hoàn toàn khác xưa. Người thầy thuốc mảnh khảnh ngày thường chỉ biết cặm cụi nhóm lửa sắc thuốc, chăm lo từng bát cháo hoa, từng ngụm nước ấm cho đám người già ốm yếu trên đỉnh Đoạn Phong, giờ đây khi đối mặt với hiểm nguy cận kề của người thân lại bộc lộ một dũng khí phi thường và sự sắc sảo về mưu lược đáng kinh ngạc. Anh khẽ thở dài một tiếng, nhưng trong mắt đã lộ rõ vẻ đồng thuận và kính nể:

"Nếu cô nương đã quyết tâm đến vậy, tôi không cản nữa. Nhưng ngày mai xuống huyện, tôi sẽ đi cùng hai người. Có ba người cùng đứng trước công đường, Lâm Tự này dù có chết cũng phải che chắn trước mũi giáo của lính nha môn, Hoàng Cẩn sẽ không dám tùy tiện dùng vũ lực đàn áp."

Bùi Hạ nhìn ba người đồng hành đang đứng vây quanh mình trong hõm đá tối tăm. Một người thợ mộc chất phác nhưng kiên định như cây lim già, một người thầy thuốc giàu lòng vị tha nhưng quả cảm như thép đã tôi, một lão thợ đá từng trải qua bao dâu bể và am tường từng ngóc ngách của luật lệ thế gian. Họ không phải là những tu sĩ cao thâm mang pháp bảo ngút trời hay ngự kiếm phi hành, nhưng họ đang đứng tựa vào nhau giữa đêm đen gió rét, dùng từng mảnh luật lệ, từng mối mộng gỗ và từng dòng biên bản để tạo nên một bức tường thành kiên cố che chở cho chính mình và những người dân khốn cùng xung quanh.

Nàng đưa bàn tay trái ra, đón lấy bọc vải dầu từ tay Nguyễn Mộc. Đầu ngón tay thô ráp của nàng miết nhẹ qua lớp vải thô lạnh ngắt, cảm nhận rõ từng góc cạnh sắc nhọn, gồ ghề và đường nứt nham nhở của mẩu đá trận bên trong.

Gió từ dòng Vân Hà vẫn rít từng hồi qua bãi cọc nhọn Bến Bạch Sa, mang theo hơi lạnh buốt giá của mùa lũ muộn đang cuồn cuộn đổ về từ thượng nguồn xa xăm.

Dưới màn đêm lạnh giá của dòng Vân Hà, Bùi Hạ miết ngón tay lên vết nứt của mảnh đá trận, nhận ra bóng ma của vụ án trục xuất năm xưa đang trồi lên theo từng tảng đá lở.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn