Những người không chờ thêm được nữa
Thầy Thu ngồi bên bậu cửa Nhà Nghe Mưa trong ánh chiều tà của Lam Hải, ngón tay run rẩy lần theo từng phím bấm máy phục chế nhưng không còn nhớ nổi tên loại băng từ quen thuộc.
Mùi muối biển và hơi ẩm mặn cố hữu của thành phố Triều Trắng len qua từng khe liếp, phủ một lớp bụi mờ xám đục lên những khớp xương gầy guộc đã hơn một trăm hai mươi năm tuổi. Ở hành tinh này, những thành tựu tân tiến nhất của y học có thể kéo dài nhịp đập của quả tim, tẩy rửa các mảng xơ vữa trong mạch máu để giữ cho lồng ngực một con người tiếp tục phập phồng tới tận một trăm năm mươi hay một trăm sáu mươi tuổi, nhưng không một phác đồ tái tạo sinh học nào ngăn nổi sự thoái hóa âm thầm của các khớp thần kinh. Trí nhớ của người thợ già giống như một dải từ oxit sắt bị phơi dưới từ trường quá hạn: những mảng ký ức gãy vụn, biến dạng, rơi rụng từng ngày như lớp vôi vữa tróc lở khỏi bức tường chắn sóng. Có những buổi sáng thức dậy, thầy Thu ngơ ngác nhìn quanh gian xưởng quen thuộc, ánh mắt đục ngầu hoang mang không nhận ra những cuộn băng phủ lớp oxit crôm treo ngay ngắn trên giá gỗ gõ, thậm chí chẳng nhớ nổi người đàn ông trạc sáu mươi tuổi với mái tóc hoa râm đang lặng lẽ pha trà trước mặt mình là ai.
Thế nhưng, vào những khoảnh khắc tỉnh táo hiếm hoi le lói như ngọn bấc sắp cạn dầu, sự minh mẫn của ông lại sắc bén đến đau lòng. Đó là lúc ông chợt nhận ra bóng tối vô hình đang từng bước nuốt chửng lấy tâm trí mình, nhận ra từng cái tên, từng tần số dao động âm thanh mà ông trân quý suốt một đời đang trượt khỏi kẽ tay như những hạt cát biển khô.
"An này," thầy Thu khẽ gọi, giọng khàn đặc và khô khốc như tiếng cọ xát giữa hai thanh kim loại bị rỉ sét lâu ngày dưới đáy biển. "Gọi con bé Mai sang đây. Cả cán sự tư pháp của Nghiệp đoàn Giữ Sóng nữa. Làm cho xong đi. Tôi không còn nhiều buổi chiều như thế này nữa đâu."
An đặt tách nước lá ấm xuống cạnh chiếc máy đọc xung cơ học, lẳng lặng gật đầu. Anh ngoài sáu mươi tuổi, những nếp nhăn nơi khóe mắt đã hằn sâu sau mấy mươi năm cúi mình bên bàn lọc sóng, nhưng cái nhìn vẫn nguyên vẹn vẻ nhẫn nại dịu dàng thuở đôi mươi mới chập chững bước chân vào căn nhà ngập mùi dầu máy này. Anh hiểu điều thầy muốn nói. Ba năm qua, những cơn suy giảm trí nhớ ập đến ngày một dày đặc hơn, kéo theo những khoảng lặng mù mịt mà sau mỗi lần tỉnh lại, thầy Thu lại thấy mình mất đi một phần đời sống. Thu sợ một sớm mai thức dậy, mình sẽ hoàn toàn chìm vào vùng trắng xóa vô định của hư vô trước khi kịp trao gửi nơi này cho người duy nhất hiểu được giá trị thiêng liêng của từng vết xước âm thanh.
Hai tiếng sau, dưới sự chứng kiến của Mai và viên chức thị chính Triều Trắng, các tập hồ sơ pháp lý được trải phẳng trên mặt bàn gỗ gõ đã lên nước bóng lẫy. Gian phòng chỉ có tiếng giấy ram ráp cọ vào nhau và tiếng quạt hút gió của chiếc máy phân tích quang phổ rè rè hoạt động nơi góc tường. Từng trang văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu toàn bộ cơ sở Nhà Nghe Mưa, cùng toàn bộ trách nhiệm dân sự đối với kho lưu trữ âm thanh độc lập của đô thị duyên hải đều được viên chức nghiệp đoàn xướng lên rành rọt, mạch lạc.
Bàn tay thầy Thu run bần bật. Các khớp ngón tay sưng to, vẹo vọ vì chứng viêm khớp kinh niên của vùng biển ngập mặn; người thợ già phải mất gần nửa phút, run rẩy thử đi thử lại mới kẹp chặt được cây bút quang học giữa hai ngón trỏ và ngón cái. Mai toan bước tới đỡ lấy cổ tay ông, nhưng An khẽ đưa tay cản lại. Anh biết người thầy của mình muốn tự thực hiện nghi thức cuối cùng này bằng chút sức tàn kiêu hãnh của một người thợ thủ công độc lập. Khi đầu ngòi bút chạm xuống ô nhận diện sinh trắc học, mắt thầy Thu không hề chớp. Ánh sáng laser đỏ quét qua võng mạc và mô da của ông. Ông ký tên mình bằng một nét chữ ngoằn ngoèo nhưng dứt khoát, rồi đặt ngón trỏ chai sần vào vòng quét nhiệt độ và điện trở mô học.
Màn hình sáng lên tiếng *bíp* trầm đục, xác nhận lệnh chuyển giao vĩnh viễn đã được mã hóa vào mạng lưới dân sự Triều Trắng.
"Từ hôm nay," người thầy già thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực gầy lép phập phồng nhọc nhằn dưới lớp áo len dệt thô xơ xác, "tiếng sóng của Lam Hải, tiếng thở của người sống và lời trăn trối của người chết ở cái xưởng này... thuộc về anh. Anh không nợ tôi bất cứ điều gì, An ạ. Tôi nuôi anh bằng cơm của biển, anh trả lại cho tôi bằng bốn mươi năm ngồi bên chiếc máy đọc rãnh âm. Nhưng anh nợ sự thật một bản ghi không bị cắt gọt. Nhớ lấy điều đó. Đừng bao giờ run tay trước những kéo cắt của quyền lực."
Đêm hôm ấy, một cơn bão muối quét qua vịnh Triều Trắng nhưng kỳ lạ thay lại là một đêm bão êm. Không có sấm sét xé toạc bầu trời hay những xung áp suất khí quyển giật mạnh làm rung chuyển các khung giằng thép của Nhà Nghe Mưa; chỉ có lớp sương mặn dày đặc trùm kín khung cửa sổ nhìn ra bến cảng và tiếng mưa phùn rơi đều đều, đơn điệu như tiếng nhiễu trắng chạy trên một dải tần vô tận không có điểm dừng.
Thầy Thu nằm trên chiếc phản gỗ ở gian sau, đắp tấm chăn len sờn mép. Hơi thở của ông ngắn dần, nhẹ bẫng như sợi chỉ tơ, rồi chìm vào một giấc ngủ sâu không mộng mị. Đến rạng sáng, khi ánh quang điện đầu tiên của ngọn hải đăng ngoài khơi quét một vệt sáng trắng bạc qua trần nhà gỗ, An bưng khay thuốc và chậu nước ấm bước vào gian phòng thì nhận ra bàn tay buông thõng bên mép phản của thầy đã lạnh buốt từ lúc nào. Gương mặt người thợ phục chế trăm tuổi thanh thản lạ lùng. Những vết nhăn nheo co rúm vì đau đớn những ngày qua dường như đã giãn ra hoàn toàn trong sự tĩnh lặng của buổi sớm, không còn vướng bận bất kỳ nỗi dằn vặt hay bóng ma quá khứ nào. Ông đã rời đi trong sự bình yên tuyệt đối của một người thợ vừa trả xong món nợ lớn nhất và nặng nề nhất của cả đời mình.
***
Tang lễ của thầy Thu diễn ra giản dị theo đúng phong tục trầm lặng của những người giữ sóng duyên hải Lam Hải. Không có những bài điếu văn hoa mỹ được soạn sẵn bởi các cơ quan quản lý tư tưởng, không có những vòng hoa tươi đắt đỏ vận chuyển từ các vòm kính sinh học trung tâm; chỉ có những người bạn cùng thời đã lưng còng tóc bạc, những thợ máy già nua của Nghiệp đoàn Giữ Sóng với bàn tay sạm đen vì dầu mỡ, vài người hàng xóm xóm Đá Lở từng được ông khôi phục lại giọng nói của người thân đã khuất từ những mẩu băng vụn nát, và cô kỹ sư kết cấu Linh mang đến một vòng cành dương xỉ biển do chính tay cô đan lấy trong đêm.
Sau lễ hỏa táng bằng hồ quang nhiệt theo quy chuẩn môi trường hành tinh, tro cốt của ông được gửi lại trong một hốc đá tại nghĩa trang vách đá vôi nhìn thẳng ra đại dương sâu thẳm. Mai đứng bên An, lặng lẽ đỡ lấy cánh tay anh khi cửa lò điện phân từ từ khép lại. Gió biển mặn chát lùa qua những dải băng tang màu tro buộc trên cổ tay những người đưa tiễn, mang theo tiếng sóng rì rầm va đập vào vách đá ngầm bên dưới, tựa như một dàn đồng ca vô tận đang hát khúc tiễn đưa một linh hồn gắn bó cả đời với âm ba của nước.
Trở về Nhà Nghe Mưa, gian nhà vắng lặng đến ngột ngạt. Mùi trầm hương thảo mộc lẫn với mùi cồn lau đầu đọc từ tính tạo nên một thứ bầu không khí quánh đặc. An ngồi xuống chiếc ghế xoay bằng thép bọc đệm sờn trước bàn làm việc cũ kỹ của thầy. Trên mặt bàn gỗ gõ, khối tinh thể thô chứa hồ sơ Tịch Quang nằm lặng lẽ cạnh cuốn sổ nhật ký thao tác tay bìa bọc da cá đã sờn rách bốn góc—vật chứng nghiệt ngã mà thầy Thu đã trao lại cho anh nhiều năm về trước.
Trong cuốn sổ ấy, từng nét bút run rẩy của Thu đã ghi lại tường tận những nhát dao cắt gọt tần số hạ âm mười lăm héc-tơ, từng dòng lệnh làm phẳng biên độ sóng địa chấn trước ngày thuộc địa Tịch Quang diệt vong. Những trang giấy ố vàng còn lưu lại rành rành con dấu đỏ kiểm duyệt của Hội Đồng Lá Chắn thời bấy giờ, xác nhận việc tiêu hủy các cảnh báo địa tầng để duy trì trật tự xã hội giả tạo. Đó là một vết nhơ nghề nghiệp, một nỗi ô nhục không thể gột rửa mà nếu công bố ra toàn cõi Lam Hải, tên tuổi lẫy lừng của người sáng lập Nhà Nghe Mưa sẽ lập tức bị kéo xuống bùn nhơ của lịch sử, trở thành kẻ tòng phạm trong mắt hậu thế.
Mai bước vào phòng, rót cho anh một cốc trà lá ấm bốc khói mỏng. Cô nhìn cuốn sổ bọc da cá đặt trên bàn, đôi mắt thoáng chút ngập ngừng rồi khẽ cất tiếng: "Anh có thể chọn cất nó đi, anh An. Hoặc ít nhất, ghi chú thêm vào hồ sơ rằng thầy làm thế vì bị cưỡng ép bởi quy chế thời chiến của Hội đồng. Không ai nỡ trách cứ một người thợ già đã nằm dưới ba tấc đất sâu, nhất là khi thầy đã cống hiến trọn vẹn phần đời còn lại để chuộc lỗi."
An nhìn tách trà, mặt nước phẳng lặng phản chiếu ánh đèn vàng vọt trên trần xưởng. Anh lắc đầu chậm rãi: "Nếu anh tô hồng cho thầy, anh sẽ biến cả cuộc đời thầy thành một lời nói dối."
An mở ngăn kéo dưới bàn, lấy ra một lớp màng bọc chống ẩm polymer trong suốt chuyên dụng cho việc lưu trữ vĩnh cửu. Anh cẩn thận đặt cuốn sổ tay cùng khối tinh thể dữ liệu thô vào trong màng bọc, ép hết không khí ra ngoài rồi dùng máy hàn nhiệt gắn kín miệng túi. Bằng cây bút mực từ tính không phai, anh viết lên nhãn lưu trữ bằng những nét chữ vuông vức, dứt khoát: *Bản ghi gốc và nhật ký can thiệp kỹ thuật Tịch Quang — Thao tác viên: Thu — Lưu trữ nguyên trạng, không chỉnh sửa, không giải thích thay.*
"Thầy đã dành cả nửa sau cuộc đời để sống trong nỗi dằn vặt cắn xé đó, Mai ạ," An ngẩng đầu lên nhìn cô gái trẻ, ánh mắt thâm trầm mà kiên định. "Thầy chịu đựng nỗi đau ấy từng ngày chính vì thầy muốn sự thật phải được nhìn nhận nguyên bản, không son phấn, không lảng tránh. Tôn trọng thầy không phải là biến thầy thành một vị thánh hoàn hảo vô tì vết để người đời ca tụng, mà là dũng cảm để lịch sử nhìn thấy rõ ràng vết sẹo trên tay thầy. Đó là vết sẹo của một con người đã từng gãy ngã, nhưng đã đứng dậy bằng cách giữ lại sự thật cho chúng ta."
Anh đứng dậy, bước đến chiếc tủ sắt chống cháy âm tường, cất gói tài liệu vào ngăn dưới cùng rồi gạt lẫy khóa cơ học. Anh gắn lên mép tủ mã lưu trữ dân sự công khai, mở quyền truy cập cho bất kỳ nhà nghiên cứu hay người dân nào muốn tra cứu lịch sử đo đạc của thành phố. Sự trung thực nghiệt ngã ấy chính là vòng hoa tưởng niệm chân thành và trang nghiêm nhất mà anh có thể dâng lên linh hồn người thầy của mình.
***
Cách Lam Hải hai mươi sáu năm ánh sáng, trên cao nguyên khô cằn của Vọng Sa, mùa đông buốt giá đang siết chặt lấy thung lũng đá vôi trong một gọng kìm băng giá.
Bà Sương đã bước sang tuổi một trăm mười chín. Thân thể bà quắt queo lại, gầy gò và khô khốc như những nhánh gai tuyết bám chặt vào vách đá dựng đứng của sa mạc. Đôi mắt từng nhìn thấu từng phôi mầm suy thoái, từng phát hiện những đột biến nhỏ nhất của rễ mầm qua kính hiển vi huỳnh quang, nay đã bị bao phủ bởi một lớp màng đục thủy tinh thể dày đặc màu sữa. Bà không còn tự bước đi được nữa; đôi chân teo tóp được bọc trong lớp vải nỉ dày, đặt bất động trên chiếc xe đẩy cơ học bằng khung ống hợp kim nhẹ do chính tay Tâm thiết kế riêng từ mười năm trước. Cơn suy kiệt đa cơ quan của tuổi già đã chạm đến giới hạn cuối cùng của sinh học; khối máy trợ tim cấy dưới da ngực bà thỉnh thoảng lại phát ra những tiếng bíp rời rạc, khô khốc, cảnh báo rằng thời gian của người quản thủ Vườn Hạt chỉ còn tính bằng từng ngày, từng giờ.
Vào một buổi sáng xám xịt khi lớp sương muối kết tinh thành những mảng trắng xóa bám chặt vào những tấm kính vòm dày của Vườn Hạt Cuối Đông, bà Sương yêu cầu Kha triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại phòng điều hành tầng ngầm sâu số bốn. Căn phòng nằm sâu ba mươi mét dưới lòng đá mẹ, nơi nhiệt độ luôn duy trì ở mức ổn định nhờ địa nhiệt tự nhiên. Có mặt trong phòng ngoài Kha còn có Yên—nay đã là một chuyên viên thủy văn chững chạc ngoài ba mươi tuổi, nước da ngăm giòn vì nắng gió công trường lòng sông cổ, chuyên viên lưu trữ dữ liệu giống Vân, cùng năm nhân sự nòng cốt phụ trách kỹ thuật sinh học và vận hành máy móc của toàn bộ khu bảo tồn.
Căn phòng ngầm lạnh lẽo, không khí nồng mùi ozone và ẩm mốc đặc trưng của lòng đất. Chỉ có tiếng máy lọc không khí rì rầm hút ẩm đều đặn phát ra từ các ống dẫn thông hơi trên vách đá. Bà Sương ngồi trên xe đẩy, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên tấm chăn len đắp ngang đùi. Bà khẽ hất đầu, ra hiệu cho Kha cắm thẻ dữ liệu cá nhân bọc viền đồng của bà vào khe đọc của máy chiếu lập thể đặt giữa phòng.
Một sơ đồ mặt cắt ba chiều của toàn bộ hệ thống địa đạo và khoang trú ẩn Vườn Hạt hiện lên giữa không trung, phát ra ánh sáng xanh lam nhạt, rọi những vệt sáng lạnh lùng lên gương mặt căng thẳng của những người có mặt. Khác hẳn với sơ đồ công cộng mà Liên Hội Mở Cửa vẫn dùng để in trên các áp phích tuyên truyền về một "mạng lưới cứu sinh toàn diện cho thung lũng", các khoang trú ẩn trên bản vẽ thực tế này được phân định ranh giới rõ ràng bằng hai màu sắc đối lập gay gắt: phần lớn các vòm hang và hành lang dài hàng cây số nhuốm màu xám vô hiệu, chỉ có một lõi trung tâm rất nhỏ nằm sâu trong lòng khối đá hoa cương là chớp tắt ánh vàng bảo tồn.
"Các anh các chị mở to mắt ra mà nhìn cho kỹ," giọng bà Sương mỏng và khô như một tờ giấy ráp cọ vào đá mài, nhưng từng âm tiết rơi xuống mặt bàn kim loại đều mang sức nặng nghìn cân. "Nhiều năm qua, con Hạ và đám người của Liên Hội Mở Cửa luôn miệng rêu rao trên các đài phát vô tuyến rằng nếu lá chắn sụp đổ vì áp lực mở cổng năng lượng, chúng ta chỉ cần đưa toàn bộ dân cư thung lũng rút xuống các hầm sinh học của Vườn Hạt là có thể an toàn sống sót qua một thế kỷ. Chúng bảo với đồng bào rằng Vườn Hạt có đủ oxy tái sinh, đủ phôi giống lương thực ngắn ngày và đủ nguồn nước ngầm hồi lưu cho tất cả mọi người."
Bà dừng lại, lồng ngực gầy guộc run rẩy dữ dội theo từng cơn ho khan ngắt quãng. Kha vội bước tới, toan đặt tay đỡ lấy vai bà để truyền chút hơi ấm, nhưng bà gạt nhẹ tay anh ra. Đôi mắt đục mờ vì thủy tinh thể thoái hóa bỗng quắc lên tia nhìn sắc nhọn cuối cùng của một ý chí sắt đá chưa từng chịu khuất phục.
"Đó là một sự lừa dối dơ bẩn và hèn nhát," bà gằn từng tiếng, hơi thở phì phò qua kẽ răng. "Hệ thống lọc tuần hoàn khí quyển và tái tạo sinh quyển ngầm của chúng ta đã cạn kiệt vật liệu lọc hạt chuyên dụng từ nửa thế kỷ trước. Các màng xúc tác hữu cơ đã mủn rách, không còn linh kiện thay thế từ các tàu vận tải viễn xứ. Nguồn điện phụ từ địa nhiệt chỉ đủ duy trì áp suất tối thiểu và dưỡng khí cho *một phần ba* số người hiện đang làm việc và cư trú hợp pháp tại khu vực lòng chảo này. Một phần ba! Các anh chị hiểu con số đó nghĩa là gì không? Nghĩa là nếu thảm họa vỡ vòm xảy ra vào ngày mai, hai phần ba số dân—những người già ở khu ngoại vi, trẻ nhỏ ngoài vành đai canh tác, hàng ngàn công nhân đào kênh ở nông trường phía đông—sẽ không có lấy một mét khối không khí sạch để thở. Họ sẽ chết ngạt trong bóng tối hoặc mục rữa vì bức xạ ion hóa chỉ sau bốn mươi tám giờ đồng hồ."
Một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt như trước cơn giông sét trùm xuống căn phòng ngầm. Sắc mặt Yên tái nhợt; cô gái trẻ bàng hoàng nhìn chằm chằm vào biểu đồ dòng lưu lượng dưỡng khí thực tế hiển thị nhấp nháy trên bảng số liệu màu đỏ thẫm. Vân cắn chặt môi đến ứa máu, mắt ngấn nước nhìn sang Kha, còn những kỹ thuật viên kỳ cựu từng gắn bó nửa đời mình với các máy nén khí thì cúi gầm mặt xuống sàn đá xám xịt. Sự thật trần trụi và cay đắng này như một gáo nước băng tạt thẳng vào mọi ảo tưởng vị nhân sinh cao đẹp mà người ta vẫn thường thêu dệt để biện minh cho khát vọng phá vỡ bức tường cách ly an toàn của tiền nhân.
"Tôi giấu kín điều này suốt bốn mươi năm," bà Sương tiếp tục, giọng chùng xuống, chất chứa một nỗi đau đớn cùng cực đã bị nén chặt qua nhiều thập kỷ. "Tôi giấu vì tôi không muốn thung lũng này rơi vào cảnh hỗn loạn, không muốn nhìn thấy cảnh người ta giẫm đạp lên nhau, thảm sát lẫn nhau chỉ để tranh đoạt những tấm thẻ căn cước ưu tiên bước vào cửa hầm. Nhưng giờ tôi sắp chết rồi. Quả tim nhân tạo này không còn đập được bao lâu nữa. Tôi không thể mang sự thật này xuống mồ để mặc các người tiếp tục mơ mộng những giấc mơ hão huyền của con Hạ."
Bà run rẩy thò bàn tay khẳng khiu như cành củi khô vào trong cổ áo len, lôi ra một sợi dây cáp thép mảnh đeo sát da thịt. Đầu sợi dây treo một chiếc chìa khóa cơ học bằng hợp kim titan xỉn màu, có khắc rãnh vi sai phức tạp—chiếc chìa khóa duy nhất có thể kích hoạt cửa vòm hầm số không, nơi cất giữ ngân hàng mầm giống gốc chưa hề bị biến dạng hay phơi nhiễm bởi bất kỳ xung điện từ nào kể từ ngày khai phá Vọng Sa.
Bà ngoắc ngón tay gọi Kha lại gần. Khi Kha quỳ một chân xuống bên cạnh chiếc xe đẩy, bà run rẩy tháo sợi dây cáp ra khỏi cổ mình, đặt chiếc chìa khóa lạnh ngắt vào lòng bàn tay đã chai sạn vì cầm cuốc của anh, rồi dùng cả hai bàn tay xương xẩu nắm chặt lấy bàn tay anh. Da thịt bà khô rát, lạnh lẽo như đá núi mùa đông.
"Kha này," bà nhìn xoáy vào mắt người học trò đã đồng hành cùng mình suốt hơn bốn mươi năm qua giữa vùng đất chết này. "Lòng trắc ẩn là thứ cứu rỗi tâm hồn con người trong thời bình, nhưng sự tỉnh táo lạnh lùng mới là thứ duy nhất bảo vệ được sự sống giống loài khi tai ương ập đến. Nếu ngày đó đến... nếu lá chắn vỡ tan và hàng vạn người hoảng loạn kéo đến đập cửa hầm, đòi mở toang kho thóc giống gốc ra để nghiền bột ăn qua bữa, hoặc đòi nhét ba người vào một khoang thở chỉ thiết kế cho một người... anh phải biết nói 'Không'."
Nước mắt Kha ứa ra, nóng hổi rơi xuống mu bàn tay nhăn nheo đầy những đốm đồi mồi của người thầy già. Anh nghẹn ngào, cổ họng nghẽn đặc: "Thưa bà... con..."
"Đừng khóc!" Bà Sương nghiêm giọng, bàn tay bà bất thần siết chặt lấy cổ tay anh với một sức mạnh phi thường cuối cùng bộc phát từ một thể xác đang tàn lụi. "Kẻ gác cổng không được phép yếu lòng! Cây cối không lớn lên bằng nước mắt; mầm sống của ngày mai chỉ có thể nảy nở nếu hạt giống hôm nay được giữ trọn vẹn trong bóng tối lạnh lẽo và cô độc. Trao Vườn Hạt cho anh, tôi không chỉ trao sự nghiệp, mà tôi trao cả cái quyền phải tàn nhẫn để giữ lấy mầm sống cuối cùng cho đồng loại. Hứa với tôi đi. Hứa trước mặt đất mẹ này."
"Con hứa," Kha run rẩy đáp, từng âm thanh như bị rút cạn từ sâu thẳm lồng ngực. "Con hứa sẽ giữ mầm giống đến hơi thở cuối cùng. Con sẽ không mở cửa."
Bà Sương từ từ buông lỏng những ngón tay khẳng khiu ra. Bà ngả đầu ra sau tấm đệm lưng của chiếc xe đẩy, khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ, một hơi thở dài thanh thản tựa hồ như vừa dỡ bỏ được một khối đá nặng ngàn cân đã đè trĩu lên ngực áo suốt một thế kỷ đằng đẵng. Đôi mắt đục mờ của bà khép lại, mi mắt không còn rung giật nữa.
Chiều hôm đó, bà rơi vào trạng thái hôn mê sâu do suy tuần hoàn toàn phần. Đến nửa đêm, giữa lúc nhiệt độ ngoài trời của cao nguyên Vọng Sa tụt xuống âm bốn mươi độ C và những cơn gió buốt gầm rít dữ dội qua các khe nứt của thung lũng đá vôi, bà Sương trút hơi thở cuối cùng. Người đàn bà thép của Những Người Giữ Hạt đã vĩnh viễn nhắm mắt xuôi tay, để lại cả một vùng đất khô lạnh chìm sâu trong sự im lìm tê tái của mùa đông khắc nghiệt nhất lịch sử thuộc địa.
***
Hai tuần sau ngày thầy Thu qua đời, tại Lam Hải, An ngồi một mình trong phòng thu âm cách âm của Nhà Nghe Mưa.
Bốn bức tường phủ các tấm mút tiêu âm hình kim tự tháp màu tro nuốt chửng mọi tạp âm của đô thị bên ngoài. Đèn báo tín hiệu truyền dẫn trên bảng điều khiển sáng rực một màu đỏ ối. Trước mặt An không phải là những tập hồ sơ kỹ thuật phục chế hay các bảng đối chiếu dữ liệu Tịch Quang khô khốc, mà là chiếc micro kim loại cổ điển nối thẳng vào kênh phát sóng cá nhân tầm xa mang mã hiệu Lam Hải.
Mái tóc anh sau những ngày lo toan tang lễ đã bạc trắng thêm nhiều ở hai bên thái dương. Khóe môi trễ xuống, đôi vai chùng xuống dưới sức nặng của nỗi mỏi mệt tích tụ. Anh đưa ngón tay trỏ nhấn vào nút ghi âm màu đen đã mòn vẹt lớp sơn bóng.
"Kha này," An cất tiếng. Giọng anh trầm buồn, chậm rãi, vang lên khe khẽ giữa bốn bức tường tiêu âm tĩnh mịch. "Thầy Thu vừa đi rồi. Thầy đi trong một đêm bão muối rất êm, thanh thản và không còn phải chịu đựng những cơn đau cắn xé của chứng viêm khớp hay nỗi hoảng loạn của trí nhớ thoái hóa nữa."
An im lặng một thoáng, lắng nghe tiếng quạt gió làm mát cụm máy chủ truyền phát sóng kêu ro ro đều đặn bên dưới sàn kỹ thuật.
"Mấy hôm nay dọn dẹp lại di vật của thầy trong gian phòng sau, tôi thấy lòng mình trống rỗng đến kỳ lạ. Cả cuộc đời tôi từ năm hai mươi tuổi bước chân vào cái xưởng này đến tận bây giờ đều xoay quanh cái bóng lớn của thầy. Tôi học cách thầy áp tai nghe từng tiếng lách tách siêu âm trên rãnh từ, học cách thầy dạy phải tôn trọng và giữ gìn từng nhịp thở yếu ớt của người khác được ghi lại trong dải sóng. Khi thầy nằm xuống vách đá nhìn ra biển, tôi mới giật mình nhận ra mình đã ngoài sáu mươi tuổi rồi. Thế hệ che chở cho chúng ta, thế hệ đứng mũi chịu sào của những ngày đầu định cư đã lần lượt rời đi hết cả rồi, Kha ạ. Chúng ta bỗng nhiên trở thành những người đứng ở hàng đầu tiên, chắn trước mặt gió bão của thời đại mới."
An ngước nhìn chiếc đồng hồ thiên văn gắn trên vách, các kim số đếm nhịp trôi lạnh lùng của thời gian vũ trụ:
"Sinh mệnh con người sao mà ngắn ngủi quá đỗi... Hai mươi sáu năm để một lời nói bay từ tôi vượt qua khoảng không gian thăm thẳm đến được trạm thu của em, và phải mất thêm hai mươi sáu năm nữa để tôi nhận lại được một lời hồi đáp. Cả một đời người dài dằng dặc của chúng ta, ngẫm cho cùng, cũng chỉ đủ cho hai hay ba lần cất tiếng hỏi và đợi nghe câu trả lời từ phía bên kia bóng tối. Trước dòng chảy lạnh lùng, vô tận của không gian và thời gian này, chúng ta nhỏ bé và mong manh biết chừng nào. Nhưng tôi vẫn sẽ nói, chừng nào máy phát này còn năng lượng..."
Cùng thời điểm lịch chuẩn ấy tại Vọng Sa, trong căn phòng ngầm nồng nặc mùi đất ủ hữu cơ và phôi mầm thực vật, Kha cũng đang ngồi một mình trước máy ghi âm dải hẹp mang số hiệu 105-VH. Trên mặt bàn làm việc bằng đá phiến thô ráp của anh, chiếc chìa khóa titan mở vòm không và cuốn sổ phả hệ Vườn Hạt Cuối Đông vừa được chuyển giao quyền quản thủ nằm song song bên cạnh cốc nước lọc đã nguội ngắt.
Kha gạt nhẹ công tắc thu âm bằng thép. Giọng anh khản đặc, từng âm thanh phát ra đứt quãng vì những cơn gió lạnh thung lũng mấy hôm nay đã làm cổ họng anh sưng tấy:
"Anh An... Bà Sương đã mất rồi. Đêm bà đi, ngoài trời lạnh buốt xương, tuyết khô phủ kín toàn bộ các tấm pin quang điện của vòm kính số ba."
Kha hít sâu một hơi buốt lạnh vào lồng ngực, cố kìm nén tiếng nấc nghẹn ngào đang chực dâng lên nơi cuống họng. Anh cúi xuống, nhìn chăm chú vào chiếc chìa khóa hợp kim xỉn màu đang phản chiếu ánh đèn neon đơn độc:
"Bà trút bỏ thân xác già nua đầy bệnh tật ấy lại cho mảnh đất khô cằn này, nhưng bà trút sang vai tôi một gánh nặng quá khủng khiếp. Đến hôm nay, khi cầm chìa khóa này trong tay, tôi mới hiểu hết cái giá nghiệt ngã của sự tồn tại trên hành tinh Vọng Sa. Người ta cứ ngỡ sống thọ một trăm bốn mươi hay một trăm năm mươi năm là một đặc ân của tiến bộ khoa học, nhưng thực ra đó là một cuộc thử thách tàn nhẫn về sức chịu đựng của lương tri con người. Nhìn nắm đất khô phủ lên áo quan của bà, tôi bỗng thấy sợ hãi thời gian vô cùng. Tôi sợ những tín hiệu mà chúng ta gửi cho nhau, khi vượt qua hàng triệu triệu cây số không gian chết chóc để đến nơi, liệu có còn kịp gặp người đang sống để lắng nghe? Liệu khi bức thư này tới bờ biển Triều Trắng, anh có còn ngồi bên bàn máy? Nhưng dẫu thế nào đi nữa, tôi vẫn sẽ tiếp tục nói với anh. Tôi sẽ giữ đất này, giữ chặt từng hạt mầm gốc này trong bóng tối, như cái cách mà anh đang kiên cường giữ lấy những thanh âm trung thực bên bờ biển mặn..."
Hai bản ghi âm độc lập được hệ thống mã hóa lượng tử nén lại thành những chùm xung quang học siêu hẹp. Chúng được phóng thích từ các ăng-ten parabol khổng lồ của Đài Chân Trời bên bờ Lam Hải và Đài Cực Bắc trên đỉnh vách đá Vọng Sa, lao vút vào màn đêm vĩnh cửu của vũ trụ bao la. Hai tia sáng nhỏ nhoi mang theo tiếng thở dài của hai người đàn ông bắt đầu cuộc hành trình cô độc dài hai mươi sáu năm ánh sáng xuyên qua khoảng chân không câm lặng. Những người cất lên lời giãi bày ấy đều thấu hiểu một sự thật cay đắng: khi đối phương nhận được thông điệp này, cả hai đều đã là những ông lão bảy tám mươi tuổi với mái đầu bạc trắng, nếu như số phận còn cho phép họ sống sót qua những cơn bão cát và những đợt triều mặn của hành tinh mình.
***
Sáng hôm sau, lễ an táng của bà Sương được cử hành trên sườn đồi đá vôi hoang vu nhìn xuống toàn cảnh thung lũng Vườn Hạt Cuối Đông. Bầu trời Vọng Sa trĩu nặng một màu chì đục, không một gợn mây, chỉ có những luồng gió mùa đông buốt giá từ rặng núi phía bắc tràn về, rít lên từng hồi thê lương qua những ống thép thông hơi của hệ thống ngầm.
Cư dân nông trường trong những bộ áo bảo hộ lao động sờn rách, các thành viên tổ chức Những Người Giữ Hạt với băng tay màu xanh lục thẫm, cùng đại diện các cộng đồng dân cư nghèo khó sống dọc lòng sông cổ đứng ken dày, lặng lẽ cúi đầu trong gió rét. Không ai nói một lời nào; chỉ có tiếng áo khoác nylon sột soạt cọ vào nhau theo từng cơn gió giật. Yên đứng sát cạnh cha, hai mắt hoe đỏ vì thức trắng nhiều đêm, lặng lẽ đưa bàn tay nhỏ bé nắm chặt lấy bàn tay thô ráp đầy vết nứt nẻ của Kha để truyền cho anh chút hơi ấm gia đình ít ỏi giữa không gian băng giá.
Chiếc quan tài đơn sơ làm bằng hợp kim tái chế màu xám xỉn từ từ được dây cáp tời cơ học hạ xuống huyệt mộ sâu hun hút. Huyệt mộ ấy không được đào trong đất mềm, mà được đục đẽo công phu suốt ba ngày đêm thẳng vào nền đá mẹ sa mạc rắn như thép nguội.
Khi các dây cáp tách rời khỏi móc treo phát ra tiếng *leng keng* khô khốc, Kha buông tay con gái ra, bước chậm rãi lên mép huyệt đá. Gió cao nguyên thổi tung mái tóc hoa râm rối bời của anh, thổi bay những hạt bụi xám bám trên vạt áo bảo hộ.
Anh cúi người xuống chân, vốc lấy một nắm đất khô cằn lẫn sỏi vụn sắc nhọn của lòng thung lũng Vọng Sa. Đất mùa đông lạnh buốt thấu xương, những cạnh sỏi thô ráp cứa nhẹ vào da thịt trong lòng bàn tay anh. Kha đứng sững lại bên mép vực sâu trong một thoáng nghẹn ngào, nhìn xuống nắp quan tài hợp kim nằm im lìm dưới đáy huyệt tối.
Rồi anh từ từ xòe những ngón tay chai sạn ra.
Những hạt đất khô và sỏi vụn màu nâu xám rơi lả tả qua kẽ tay anh, lao xuống khoảng sâu tăm tối, đập vào nắp kim loại vang lên những tiếng *cộp, cộp* khô khốc, vang dội và dứt khoát giữa sự im lặng đến nghẹt thở của đám đông.
Âm thanh khô lạnh ấy dội ngược lên vách đá hoa cương, găm thẳng vào tâm can Kha. Nắm đất lạnh thả xuống mộ bà Sương cũng chính là thời khắc Kha thấu suốt rằng tấm khiên che chở cuối cùng của thế hệ đi trước đã hoàn toàn khép lại sau lưng mình. Từ giây phút này trở đi, sự nghiệt ngã của quy luật sinh tồn, nỗi cô đơn của sự thật và gánh nặng bảo vệ mầm sống mong manh cho tương lai của cả thung lũng nay đã hoàn toàn nằm lại trên đôi vai anh.