Chứng cứ gặp nhau trước con người
Trên màn hình phân tích phổ tại Nhà Nghe Mưa, hai dải dữ liệu đến từ hai thế giới khác nhau bắt đầu chồng khớp lên nhau theo từng mốc thời gian tuyệt đối của lịch chuẩn liên sao.
Ánh sáng huỳnh quang màu lam nhạt của thiết bị phản chiếu lên mái tóc bạc trắng và gương mặt đã hằn sâu những nếp nhăn của An ở tuổi bảy mươi tám. Lớp kính lọc quang học đã mòn vẹt ở các góc, phủ lên đồng tử anh một vệt sáng mờ đục. Bên cạnh anh, kỹ sư trưởng Nghi chống hai tay lên mép bàn kiểm âm bọc nỉ xám; đôi mắt ông đục mờ vì chứng thoái hóa võng mạc tuổi già, nhưng bờ vai gầy guộc và ánh nhìn vẫn giữ nguyên sự sắc sảo tột cùng của một đời người gắn bó với máy móc đài trạm. Tiếng gió biển Triều Trắng bên ngoài rít qua các khe cửa bọc cao su chịu mặn, kéo theo hơi nước mặn chát luồn lách qua từng chốt đồng, hòa cùng tiếng nhấp nháy khô khốc, đều đặn của ổ đĩa quang từ đang giải mã luồng sóng đến chậm hai mươi sáu năm.
Đó là gói dữ liệu sinh học và khí hậu mà Kha, Vân cùng bà Sương quá cố đã nộp vào kênh khoa học liên sao từ Vọng Sa khi họ năm mươi hai tuổi. Hai mươi sáu năm ròng rã, chùm photon mang theo từng ghi chép tỉ mỉ về độ nảy mầm của hạt, sự suy thoái rễ phôi và biểu đồ sụt giảm áp suất khí quyển đã băng qua hàng triệu tỷ cây số của khoảng không lạnh buốt, vượt qua bức màn nhiễu loạn của các đám mây bụi liên hành tinh để rơi xuống chiếc chảo thu kim loại của Đài Chân Trời. Bà Sương đã an nghỉ dưới lớp sỏi lạnh của sườn đồi đá vôi từ mười bốn năm trước, nhưng chữ ký sinh trắc học và dấu niêm phong bảo mật của bà trên tệp gốc vẫn nguyên vẹn—lạnh lùng, chuẩn xác và trung thực như chính cuộc đời kham khổ của bà giữa lòng thung lũng đá.
“Tốc độ giải mã đạt chín mươi chín phần trăm,” Nghi khẽ nói, giọng ông khàn đặc như có cát biển cọ vào thanh quản. “Khối tinh thể của thầy Thu đang cấp xung đối chiếu quán tính. Chúng ta đang đọc nhật ký đất đai của một thế giới khô cằn qua lăng kính của những người gìn giữ sự sống sau cùng.”
An không đáp ngay. Ngón tay gầy gò, nổi rõ những khớp xương cứng ngắc của anh rê nhẹ trên thanh trượt cảm ứng điện dung. Mặt kính lạnh buốt truyền một cơn rùng mình quen thuộc vào da thịt. Khi lớp mã hóa bảo vệ cuối cùng tan biến, màn hình mở rộng ra thành hàng ngàn biểu đồ quang phổ diệp lục, tỷ lệ phân rã phôi hạt lúa mạch lá hẹp, các chuỗi biến thiên của enzym kháng hạn, và đặc biệt là bảng đo áp suất khí quyển ngầm tại các vòm sinh học của thuộc địa Tịch Quang trước ngày diệt vong. Những con số vô tri không có cảm xúc, nhưng chúng mang theo hơi thở dồn dập, đứt quãng của những con người từng tuyệt vọng níu giữ từng mầm xanh trong những ngày cuối cùng của một nền văn minh đã chết ngạt dưới lòng đất.
***
Cùng thời điểm chuẩn ấy, cách Lam Hải hai mươi sáu năm ánh sáng.
Bên dưới mái vòm kiên cố của Kho Lưu Trữ Thuộc Địa Tịch Quang tại Vọng Sa, không khí khô khốc thoang thoảng mùi đá vôi phong hóa và hơi dung môi bảo quản giấy thạch anh. Kha, người quản thủ của Vườn Hạt Cuối Đông ở tuổi bảy mươi tám, ngồi cạnh chuyên viên lưu trữ Vân—người phụ nữ nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt với đôi lưng còng rạp xuống và bàn tay nổi rõ những đường gân xanh xao chằng chịt.
Chiếc máy quét đa tần cổ lỗ phát ra tiếng kêu rè rè quen thuộc, kim đọc trượt qua từng rãnh vi mạch khi nuốt từng tệp dữ liệu âm học và hồ sơ xung chẩn đoán mà An và Nghi đã gửi đi từ Lam Hải cách đây hơn hai thập niên rười. Đèn đọc thạch anh rọi một vệt sáng vàng vọt xuống tấm bàn kim loại đã trầy xước sơn chống ẩm. Vân đeo chiếc kính phóng đại quang học nặng trĩu trên sống mũi, chậm rãi mở từng trang tệp đo sâu địa chấn móng 06-BT-L2 của Đài Chân Trời và bảng ghi chấn động ngầm của thầy Thu để lại từ nửa thế kỷ trước.
“Anh nhìn xem, Kha,” Vân chỉ một ngón tay khô gầy, móng tay đã ngả màu vàng đục vào dải sóng màu hổ phách đang nhấp nhô trên màn hình huỳnh quang. “Đây là biên độ rung chấn hạ âm tầng sâu mà nhóm Lam Hải ghi lại được từ di sản của thầy Thu. Dải mười bốn đến mười sáu héc-vơ. Hai xung ngắn ngắt quãng không phẩy bốn giây, một xung dài một phẩy hai giây, chu kỳ lặp lại đúng mười tám giây.”
Kha im lặng, chiếc áo khoác thợ làm vườn bằng sợi thô đã sờn rách ở mép vai giữ cho lồng ngực anh ấm áp trước cái lạnh ngấm ngầm bốc lên từ nền đá cổ. Anh đã sống cùng nhịp xung này suốt nửa thế kỷ qua, từ ngày đầu tiên nghe thấy nó ẩn sâu dưới bản ghi thoại của An gửi qua đại dương không gian. Nhưng giờ đây, khi cấu trúc sóng ấy được đặt bên cạnh dòng sự kiện thảm họa của thuộc địa Tịch Quang, nhịp đập ấy không còn là một giai điệu cơ học vô hại của một cỗ máy xa xôi nữa. Nó mang dáng dấp của một chiếc đồng hồ đếm ngược dẫn tới sự tuyệt diệt.
Vân bắt đầu thao tác khớp nối dòng thời gian. Đôi mắt già nua của bà nheo lại sau tròng kính phóng đại dày cộp. Bà kéo trục tọa độ lịch sử của Tịch Quang—nơi lưu giữ hàng vạn hồ sơ sơ tán và nhật ký sinh quyển cuối cùng—chồng lên biểu đồ xung kích hoạt ngầm từ Lam Hải. Màn hình tự động căn chỉnh sự chênh lệch do hiện tượng giãn nở thời gian và sai số vận tốc quỹ đạo của hai hệ hành tinh.
“Điểm mốc số không: bắt đầu xuất hiện xung chẩn đoán đồng bộ mười lăm héc-vơ dưới móng đài,” Vân thì thầm, giọng run lên từng chặp theo từng nhịp thở yếu ớt. “Sau đó đúng ba tuần chuẩn, áp suất khí quyển toàn khu vực Tịch Quang sụt giảm đột ngột mười hai phần trăm. Hệ thống tuần hoàn nước ngầm mất hoàn toàn áp lực đẩy mao dẫn. Tỷ lệ nảy mầm của phôi giống trong các vòm đất thí nghiệm giảm thẳng đứng từ tám mươi phần trăm xuống dưới năm phần trăm.”
Bà nhấn một phím lọc nhiễu tần số thấp. Khung hình giật nảy một cái rồi biểu đồ nhảy sang mốc bốn mươi tám giờ trước thảm kịch toàn diện của thuộc địa.
“Và đây... khoảnh khắc định mệnh.” Ngón tay Vân khựng lại trên phím bấm cơ học, gân tay bà giật nhẹ.
Trên màn hình, đường biểu diễn nguồn tích năng của đài địa từ Tịch Quang cắm thẳng đứng xuống đáy vực số không. Đó không phải là một đường dốc thoai thoải do cạn kiệt năng lượng tự nhiên theo chu kỳ suy thoái hạt nhân, cũng không phải là những nhát cắt gãy nham nhở do bão từ vũ trụ hay sự phun trào vành nhật hoa của sao chủ gây ra. Đó là một sự tiêu tán năng lượng tức thời, một cú hút xả cưỡng bức ở mức công suất cực hạn, rút sạch toàn bộ điện tích dự trữ của mạng lưới siêu dẫn ngầm trong lòng hành tinh chỉ trong vòng chưa đầy bốn tiếng đồng hồ.
Đúng vào mili-giây mà nguồn tích năng chạm đáy tuyệt đối, lõi ổn định của lá chắn từ trường nhân tạo vỡ tan thành hàng triệu mảnh vi mô do hiện tượng sốc nhiệt và quá tải cảm ứng thứ cấp.
Vân buông lỏng hai tay, ngả người ra sau lưng ghế tựa bọc vải bạt đã ố màu. Gương mặt bà tái nhợt như tro bếp nguội. Đôi mắt sau tròng kính dày cộp nhìn trừng trừng vào biểu đồ đối chiếu chéo, nơi hai đường cong của hai thế giới vừa khóa chặt vào nhau trong một cấu trúc nhân quả tàn nhẫn.
Sự thật tàn khốc đã hiện hình hoàn chỉnh, không còn bất kỳ kẽ hở nào cho sự suy diễn hay ngụy biện của bất kỳ ai.
Thảm họa diệt vong của thuộc địa Tịch Quang chưa từng là một tai ương khí hậu ngẫu nhiên như các cuốn biên niên sử cũ vẫn ghi nhận. Không hề có cơn bão sao bất thường nào xé toạc bầu trời của họ. Mọi sự sụp đổ sinh thái, cái chết tức tưởi của hàng trăm ngàn sinh linh trong các tầng hầm, sự diệt vong của toàn bộ hệ thực vật phôi mầm và việc bầu dưỡng khí bị gió sao thổi bay vĩnh viễn vào vũ trụ... tất cả đều diễn ra đúng vào thời khắc nguồn tích năng của đài bị rút kiệt để cung cấp năng lượng mở cổng liên sao.
Người ta đã mở cánh cổng để đi tìm đồng loại, để với tay sang bờ bên kia của khoảng không, và chính hành động tuyệt vọng ấy đã đập nát chiếc khiên duy nhất che chở cho thế giới mỏng manh của họ.
***
Tại Nhà Nghe Mưa trên bờ biển Triều Trắng, sự im lặng buông xuống nặng nề như chì lỏng rót vào gian phòng kiểm âm.
An ngồi bất động trước màn hình, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn gỗ phong gai đã lên nước bóng loáng qua hàng chục năm sử dụng. Từng dòng số liệu, từng thông số kỹ thuật về độ suy thoái của màng ion và chỉ số bức xạ proton từ gói dữ liệu của Kha và Vân đang phơi bày một hiện thực nghiệt ngã vượt xa những dự cảm đen tối nhất mà anh từng ấp ủ trong những đêm mất ngủ nghe tiếng sóng đập vào chân móng đài.
Nghi run rẩy tháo cặp kính lão, lấy vạt chiếc áo khoác đồng phục kỹ sư đã bạc màu lau đi lớp sương muối mỏng bám trên tròng kính, nhưng đôi tay ông không sao giữ cho khỏi run rẩy. “Trời đất ơi...” vị kỹ sư già lẩm bẩm, âm thanh nghẹn ứ lại nơi thanh quản khô khốc. “Suốt ngần ấy năm, chúng ta từng nghĩ cỗ máy đó chỉ đơn thuần chia sẻ chung một mạng cấp điện với lá chắn bảo vệ. Nhưng không phải. Nó không dùng chung tải. Nó chính là cái phễu hút sạch toàn bộ lá chắn.”
An nhìn sâu vào sơ đồ cấu trúc của Đài Chân Trời và tháp cực nam Vọng Sa đang hiển thị song song. Bản thiết kế cổ xưa mà họ tìm thấy dưới tầng móng sâu năm mươi tư mét hiện lên sống động từng chi tiết kỹ thuật: đầu cổng hình nan quạt không hề có nguồn pin riêng biệt nào đạt quy mô hành tinh để tự vận hành một vết rách không gian. Để xé toạc không-thời gian và thiết lập một đường hầm liên sao ổn định trong vỏn vẹn bốn giờ đồng hồ, hệ thống điều khiển buộc phải chuyển hướng toàn bộ thông lượng từ trường của lõi hành tinh vào các cuộn cảm siêu dẫn tầng sâu.
Nó đồng nghĩa với một sự đánh đổi tàn bạo: khoảnh khắc cánh cổng bừng sáng để hai con người ở hai đầu vũ trụ bước qua nhìn thấy nhau bằng xương bằng thịt, cũng là khoảnh khắc lá chắn từ trường nhân tạo của cả Lam Hải và Vọng Sa sụp đổ hoàn toàn.
“Để mở cánh cổng,” An thì thầm, giọng anh trầm đục, như nói với chính mình hơn là nói với Nghi, “toàn bộ năng lượng duy trì từ trường sẽ bốc hơi trong chớp mắt. Lõi ổn định bằng hợp kim siêu dẫn sẽ bị nung chảy do hiện tượng quá nhiệt cảm ứng.”
“Và việc khôi phục nó...” Nghi thở hắt ra một hơi dài, ánh mắt đục mờ nhìn qua khung cửa kính dày, nơi đại dương Lam Hải đang cuộn lên những con sóng đen ngòm dưới bầu trời đêm mù mịt sương muối. “Chúng ta không có công nghệ để tái lập một lõi từ trường mới trong ngày một ngày hai. Với nền tảng hạ tầng kỹ thuật hiện nay, kể cả khi huy động toàn bộ nhân lực, nhà xưởng và quặng hiếm còn lại của cả hai hành tinh, thời gian để kích hoạt lại một lá chắn nhân tạo non yếu cũng phải mất ít nhất từ bốn mươi đến bảy mươi năm lịch chuẩn.”
Bảy mươi năm.
Bảy mươi năm ròng rã không có lấy một tấm màng từ trường bảo vệ.
Đó không phải là một khoảng thời gian chờ đợi được đo đếm đơn thuần trên những trang giấy kỹ thuật. Đó là một bản án tử hình kéo dài suốt gần một thế kỷ đối với mọi dạng thức sống hữu cơ.
An nhắm mắt lại. Trong bóng tối sau mi mắt, bức tranh kinh hoàng mà dữ liệu Tịch Quang đã chứng minh bằng xương máu hiện lên rõ mồn một: không có từ trường, bề mặt đại dương bao la của Lam Hải sẽ bị gió sao và các chùm bức xạ ion hóa quét qua từng ngày, từng giờ không ngừng nghỉ. Lớp sinh vật phù du tạo dưỡng khí trôi nổi trên tầng mặt sẽ chết rụi trong tuần đầu tiên; các chuỗi thức ăn dưới biển sẽ đứt gãy hoàn toàn như một mạng nhện bị đốt cháy; nước biển sẽ phân ly thành hydro và oxy dưới tác động của tia cực tím rồi bay biến dần vào không gian vô tận. Các thành phố nổi kiên cố như Triều Trắng sẽ biến thành những lồng sắt khổng lồ nung người sống dưới bức xạ chết chóc, khi mà lớp giáp hợp kim không thể nào ngăn được nhiệt lượng tích tụ.
Và ở bên kia vực thẳm không gian, Vọng Sa—nơi Kha đang hằng ngày nâng niu từng mầm cây trong lớp đất khô—sẽ còn phải chịu một thảm cảnh tồi tệ hơn gấp bội phần. Các thung lũng đá vôi bán lộ thiên sẽ biến thành những lò thiêu rực lửa. Gió cát nhiễm xạ mang theo bụi silicat sẽ quét sạch mọi sự sống mỏng manh trên mặt đất. Túi nước ngầm duy nhất nuôi sống Vườn Hạt Cuối Đông sẽ sôi lên và bốc hơi qua các khe nứt địa tầng nứt toác. Đúng như lời bà Sương đã cảnh báo trước khi nhắm mắt xuôi tay, các khoang trú ẩn ngầm chỉ đủ dưỡng khí và nước lọc cho một phần ba dân số; hai phần ba còn lại sẽ chết ngạt trong bóng tối của những đường hầm sập đổ vì biến dạng địa chất.
Một cuộc đoàn tụ dài bốn giờ đồng hồ.
Đổi lấy sự hủy diệt hoàn toàn của hai sinh quyển, sự diệt vong của hàng triệu con người và sinh linh vô tội trong suốt nhiều thập niên phơi mình trước hơi thở thiêu đốt của sao chủ.
An mở mắt ra. Đôi mắt của người đàn ông bảy mươi tám tuổi nhìn sâu vào màn hình quang phổ huỳnh quang. Ở đó, tín hiệu của Kha gửi đi từ năm năm mươi hai tuổi vẫn đang hiển thị, nhấp nháy đều đặn như một nhịp tim xa xôi, kiên định và dịu dàng giữa bóng đêm vũ trụ.
Anh nhớ lại bản ghi 105-VH của Kha nhận được bốn năm trước, nhớ tiếng lá cây xào xạc trong vòm kính ươm mầm, nhớ cách Kha tỉ mẩn miêu tả từng hạt giống nhỏ bé được ấp ủ qua mùa đông giá buốt. Kha yêu anh, An biết rất rõ điều đó. Tình yêu ấy đã vượt qua năm mươi hai năm im lặng của sóng để chạm vào tim anh, sưởi ấm tâm hồn anh qua những mùa mưa mặn triền miên. Nhưng Kha cũng yêu từng nhành cây ngọn cỏ, yêu Yên, yêu mảnh đất cằn cỗi nhưng kiên cường của Vọng Sa. Người đàn ông ấy đã thề trước nắp quan tài bằng đá của bà Sương rằng sẽ tử thủ giữ lấy từng mầm sống cho thế hệ mai sau.
Liệu một tình yêu đẹp đẽ và nhẫn nại như thế có thể giẫm đạp lên tro tàn của hai thế giới để đổi lấy một cái ôm bằng xương bằng thịt?
“Không bao giờ,” An khẽ nói. Giọng anh run rẩy vì xúc động nhưng âm vực lại đanh thép, không có lấy một thoáng do dự. “Chúng ta không thể làm điều đó. Kha cũng sẽ không bao giờ cho phép điều đó xảy ra.”
Nghi nhìn An, ánh mắt đầy vẻ xót xa nhưng ngập tràn sự kính trọng. Ông vỗ nhẹ bàn tay thô ráp lên bờ vai gầy guộc của người thợ phục chế âm thanh. “Tôi hiểu, An. Chúng ta là những người giữ sóng. Chúng ta giữ sóng để bảo vệ sự sống, không phải để thiêu rụi nó.”
***
Tại Vọng Sa, trong căn phòng ngầm sâu dưới lòng đá của Kho Lưu Trữ Thuộc Địa, Kha cũng vừa chậm rãi đứng dậy khỏi ghế. Khớp gối của người đàn ông bảy mươi tám tuổi kêu lạo xạo dưới gấu quần sợi thô.
Anh bước từng bước nặng nề đến bên khung cửa kính nhỏ nhìn ra khu vườn thực nghiệm dưới ánh đèn natri vàng vọt. Những khóm ngô tuyết và đậu rễ gai đang lặng lẽ vươn những chiếc lá non đầu tiên trong lớp đất mùn nhân tạo được lọc sạch muối khoáng. Để giữ cho chúng sống sót qua những mùa đông âm bốn mươi độ C, thế hệ của bà Sương, của anh, và giờ là của con gái Yên đã phải chắt chiu từng giọt nước ngưng tụ, từng chút dưỡng khí trong bình điều áp, từng ampe điện tích của lá chắn địa từ nhân tạo.
Vân chậm rãi gập tập tài liệu lại, tiếng bìa thạch anh chạm vào nhau khô khốc trong không gian tĩnh mịch. “Kha này, nếu bản báo cáo kỹ thuật này được công bố chính thức... toàn bộ những người thuộc Liên Hội Mở Cửa, những kẻ từng tin rằng thảm họa Tịch Quang chỉ là một tai nạn địa chất xui xẻo, sẽ phải câm lặng hoàn toàn. Nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc...”
Bà ngập ngừng, đôi môi khô nứt khẽ mấp máy, không nỡ nói hết vế sau của sự thật.
Kha quay người lại, mỉm cười một nụ cười mệt mỏi nhưng thanh thản đến lạ kỳ. “Nó đồng nghĩa với việc cánh cổng sẽ vĩnh viễn không bao giờ được phép mở ra, phải không Vân?”
Vân gật đầu, ánh mắt sau cặp kính phóng đại trĩu nặng nỗi buồn thương: “Phải. Cửa sổ cộng hưởng một trăm hai mươi tám tuổi mà nhóm Lam Hải từng tính toán... về mặt cơ học thuần túy nó thực sự tồn tại, nhưng về mặt sinh học và đạo đức giống loài, nó là một chiếc bẫy tự sát hoàn hảo. Không một ai có lương tri lại dám kích hoạt nó.”
Kha bước lại gần bàn làm việc, nhìn chằm chằm vào tệp âm thanh của An đang hiển thị trên màn hình máy quét. Anh đưa bàn tay thô ráp, chai sạn vì nửa thế kỷ cuốc xới đất đá và tách vỏ hạt vuốt nhẹ lên dải sóng mang tần số giọng nói trầm ấm của người bên kia bờ vũ trụ.
Ở tuổi bảy mươi tám, Kha hiểu rõ hơn ai hết giới hạn hữu hạn của một kiếp người. Anh và An đã đi qua gần trọn đời mình trong sự đợi chờ đằng đẵng. Nhưng sự chờ đợi ấy chưa bao giờ là một khoảng trống vô nghĩa, bởi nó đã dạy cho họ biết yêu một người bằng sự kính trọng tuyệt đối đối với sự sống bủa vây quanh người đó. Yêu An, với Kha, không chỉ là khát khao được chạm vào anh, mà là yêu cả đại dương Triều Trắng nơi anh hít thở, yêu những rạn san hô nhân tạo dưới đáy sâu, yêu những cơn mưa mặn và những con người đang sống yên bình dưới lá chắn từ trường của Lam Hải.
Nếu việc gặp gỡ An đồng nghĩa với việc trút một cơn bão lửa bức xạ chết chóc xuống đại dương của anh, biến mảnh đất anh sống thành một nấm mồ tập thể, thì cái chạm tay ấy sẽ trở thành một tội ác không thể dung thứ trước lịch sử của cả hai thế giới.
“Chúng ta lập báo cáo thôi, Vân,” Kha nói, giọng anh trầm ấm, rành rọt và dứt khoát. “Lập một báo cáo khoa học hoàn chỉnh nhất, không bỏ sót một chi tiết nào. Ghi rõ từng con số suy giảm áp suất, từng phương trình đối chiếu chéo về dòng xả năng lượng. Gắn nhãn cảnh báo đỏ cao nhất của hệ thống lưu trữ liên sao.”
***
Trong suốt ba tuần tiếp theo, tại hai hành tinh cách nhau hai mươi sáu năm ánh sáng, hai nhóm kỹ thuật độc lập đã làm việc không ngừng nghỉ bên những bàn làm việc sáng đèn thấu đêm.
Tại Lam Hải, An và Nghi ngồi cùng nhau dưới tầng kiểm định ẩm ướt của Đài Chân Trời, hoàn tất bản phản biện kỹ thuật dày hơn bốn trăm trang. Họ tích hợp toàn bộ dữ liệu dòng rò năng lượng ngầm thu thập được từ di sản của thầy Thu, tính toán tổn thất từ trường tức thời khi các cuộn cảm siêu dẫn bị kích hoạt cưỡng bức, và vẽ ra mô hình mô phỏng sự suy sụp dây chuyền của khí quyển đại dương trong kịch bản kích hoạt cổng bốn giờ. Từng phép tính vi phân, từng biểu đồ nhiệt động lực học đều được rà soát ba lần qua mạng tinh thể của đài. Bản báo cáo được đóng dấu niêm phong bằng sáp màu đỏ thẫm của Nghiệp Đoàn Giữ Sóng, kèm theo chữ ký tay của An với tư cách Quản thủ Nhà Nghe Mưa và chữ ký điện tử của Nghi với tư cách Kỹ sư trưởng Đài Chân Trời.
Tại Vọng Sa, Kha và Vân cùng nhóm cộng sự khoa học trẻ tuổi của Vườn Hạt Cuối Đông hoàn thiện phần hồ sơ đối ứng thực địa. Họ đính kèm toàn bộ dữ liệu suy thoái tế bào mầm giống qua nhiều thế hệ, nhật ký tử vong sinh học chi tiết của thuộc địa Tịch Quang và chứng cứ thủy văn sụt lún vòm đá vôi cực nam do bà Sương để lại. Bản báo cáo của họ không có một dòng cảm thán, toàn bộ đều là những bảng ma trận rủi ro sinh tồn và giới hạn chịu tải sinh quyển. Nó được khóa chặt bằng chữ ký số của Người Quản thủ Vườn Hạt và dấu chứng thực vĩnh viễn của Kho Lưu Trữ Lịch Sử Thuộc Địa.
Đó là hai bản báo cáo được soạn thảo độc lập bởi những con người chưa từng một lần gặp mặt, nhưng khi ghép lại với nhau, chúng khớp nhau đến từng dấu chấm phẩy, từng phương trình toán học và từng kết luận vật lý cốt lõi. Chúng không mang màu sắc của những cảm xúc bi lụy, không có những lời hứa hẹn lãng mạn viển vông hay những tiếng thở dài tuyệt vọng. Chúng là tiếng nói lạnh lùng, đanh thép và trung thực tuyệt đối của khoa học thực nghiệm trước sinh mệnh của muôn loài.
Đêm ngày ba mươi của tháng chuẩn, lệnh truyền phát khẩn cấp đồng loạt được kích hoạt tại cả hai đầu cầu.
Tại Đài Chân Trời, An đứng lặng sau lưng Nghi khi vị kỹ sư già gạt mạnh cần điều khiển công suất tối đa của trạm phát. Chảo ăng-ten khổng lồ phía trên cao nguyên khô khốc rùng mình trong gió lạnh, phát ra tiếng rít trầm hùng vang vọng khắp các vách đá ven biển, phóng luồng dữ liệu mang nhãn “Cảnh Báo Đỏ — Nguy Cơ Tuyệt Chủng Cấp Độ Sinh Quyển” vào không gian sâu thẳm.
Cùng lúc đó, tại trạm phát cực bắc của thung lũng Vọng Sa, ngón tay run rẩy nhưng vững vàng của Kha nhấn phím xác nhận trên bảng điều khiển phủ đầy bụi vôi. Chùm sóng mang toàn bộ sự thật phơi bày về ngày tàn của Tịch Quang lao vút qua tầng khí quyển mỏng manh, hòa vào bóng đêm đen đặc của vũ trụ.
Hai luồng tín hiệu mang theo bản án khoa học không thể đảo ngược bắt đầu hành trình dài hai mươi sáu năm xuyên qua vực thẳm câm lặng. Chúng sẽ bay qua khoảng không vô tận, vượt qua những cơn bão bụi và bức xạ nền của các thiên hà xa xôi, để tìm đến hành tinh đối diện.
Khi các gói dữ liệu phản biện này cập bến và mở ra trên màn hình của hai thế giới, chiếc đồng hồ thời gian của lịch chuẩn liên sao sẽ chỉ vào mốc An và Kha bước sang tuổi một trăm linh bốn. Nếu số phận cho phép họ còn sống đến ngày đó, họ sẽ một lần nữa đối diện với sự thật bằng đôi mắt của những ông lão trăm tuổi đã đi gần hết hành trình trần thế của mình.
Dữ liệu hai hành tinh ráp lại thành một bản án rõ ràng: Tịch Quang không chết vì thiên tai, mà chết vì cánh cổng mở ra sự đoàn tụ.