Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.24 / 45
Chương 24

Hóa giải hiềm khích, bắt tay người đối đầu

Gió đêm xào xạc qua rặng tre đầu ngõ khi bóng dáng Ngô Quế Hoa bồn chồn đứng nép bên cổng rào, tay bưng rổ cải giống còi cọc nhưng ngập ngừng không dám gõ cửa.

Ánh trăng non đầu tháng mỏng mảnh như một mảnh vỏ trấu vàng vọt dát một lớp sương lạnh buốt lên bờ giậu dâm bụt cắt tỉa gọn gàng. Hơi may rười rượi thổi từ triền bãi ven sông Đáy thốc qua khe liếp, luồn qua từng lọn tóc bạc nửa mái đầu của người đàn bà luống tuổi. Bên trong khoảng sân đất nện phẳng phiu không vương một cọng rác của nhà họ Diệp, năm chiếc chum sành da lươn mới chở từ lò gốm Nam Bãi về trưa nay đang xếp ngay ngắn thành một hàng thẳng tắp sát mép chái nhà. Trên miệng mỗi chiếc chum nâu bóng, sâu hoắm đều được úp cẩn thận một mảnh nong tre đan khít, sạch bong không chút bụi bặm để đón ngọn gió đêm hong cho thật khô kiệt hơi ẩm trong lòng đất nung.

Mùi khói lá ổi tươi đun với vỏ bưởi khô từ ban chiều vẫn còn vương vấn thoang thoảng khắp khoảng sân, hòa quyện với mùi bùn phù sa ẩm mát của mảnh vườn rau mới cuốc ải và hương thơm ngai ngái, nồng đượm của rơm ủ men vi sinh. Khắp không gian toát lên một vẻ thanh sạch, quy củ đến lạ lùng. Cảnh tượng ngăn nắp, tinh tươm ấy như chiếc gai vô hình đâm chầm chậm vào mắt Ngô Quế Hoa, khiến hai bàn chân chai sần nứt nẻ đóng vảy bùn của mụ chôn chặt dưới nền đất ướt lạnh. Mụ đứng trân trân ngoài rào râm bụt, nửa muốn nhấc chân bước tới đẩy then tre, nửa muốn ôm chặt lấy chiếc rổ mục mà quay đầu tháo lui vào bóng tối thăm thẳm của con ngõ làng.

Mụ đảo mắt nhìn vào gian nhà chính ba gian lợp mái tranh dày dặn. Qua khe liếp tre hở ra chừng nửa gang tay, ngọn đèn dầu lạc tỏa ra thứ ánh sáng vàng ấm áp, xua tan cái giá lạnh của đêm sương muộn. Dưới quầng sáng êm ả ấy, bóng người thiếu nữ mảnh dẻ ngồi thẳng lưng bên chiếc bàn gỗ mít mộc mạc. Diệp Tiểu Mãn hơi nghiêng đầu, ngòi bút lông trong tay đưa qua đưa lại nhịp nhàng, êm ru trên từng thanh thẻ tre, tỉ mẩn ghi chép từng con số, từng danh mục chi tiêu phân bón và số lượng vò tương mà xưởng nhà nàng chuẩn bị xuất bán. Sự tĩnh lặng toát ra từ gian nhà ấy dường như chẳng hề bị xao động bởi những sóng gió dữ dội ngoài kia.

Ngô Quế Hoa cúi gằm mặt nhìn xuống rổ sọt tre rách tươm trên tay mình. Dưới đáy sọt, một mớ cải bẹ giống mọc chen chúc nhau trong lớp đất thịt khô cằn vón cục. Những sợi rễ con vàng vọt, ngắn củn tớn, thân cây khẳng khiu, dại dẹo như những que tăm cắm bờ ruộng, mấy chiếc lá non lơ thơ bị cháy sém một bên rìa, quăn queo lại vì thiếu nước ngọt mát mà lại thừa mứa cái chất mặn đói cay chát của tro trấu chưa xả nước.

Lòng mụ thắt lại từng cơn, một nỗi cay đắng xộc lên tận sống mũi. Mới ban chiều thôi, cảnh tượng ở bến giếng đầu làng còn rõ mồn một như một cái tát trời giáng in hằn trong tâm trí mụ: Trưởng thôn Phạm Đức Thuận mặt sắt đen sì, lớn tiếng răn đe từng lời từng chữ trước sự chứng kiến của toàn thể dân làng; cụ Bảy vuốt chòm râu bạc khẽ gật đầu tán thưởng sự thông minh, ngay thẳng của con bé Tiểu Mãn; rồi đến cảnh con mụ Chu Kim Quế mặt tái như chàm đổ, lủi thủi ôm cái chậu đồng thủng đáy tháo chạy thục mạng như con chuột lột trước những tiếng cười khinh bỉ của đám đàn bà con gái.

Lúc ấy, tim Ngô Quế Hoa tưởng chừng như đã nhảy vọt ra khỏi lồng ngực. Mụ sợ đến mức run bắn hai đầu gối, chỉ biết chôn chân sau gốc cây đa cổ thụ mà run lẩy bẩy. Mụ sợ những lời phán quyết đanh thép của Trưởng thôn về lệnh cấm chợ ba tháng ròng rã, sợ món tiền phạt vạ năm mươi đồng kẽm nộp vào quỹ thôn. Với một kẻ buôn thúng bán mẹt gánh đầu nọ chạy đầu kia, cả gia đình sáu miệng ăn chỉ trông chờ vào từng mớ rau cải, ngọn hành hái vội lúc mờ sương như mụ, bị đuổi khỏi phiên chợ Chợ Chùa thì có khác nào ép cả nhà mụ phải thắt lưng buộc bụng mà chịu chết đói?

Sau một hồi cắn môi đến bật cả máu tươi, để cho cái vị tanh nồng kéo mụ về với thực tại nghiệt ngã, Ngô Quế Hoa lấy hết can đảm tàn dư, run rẩy đưa bàn tay thô ráp, nhem nhuốc khẽ đẩy nhẹ then cài cổng tre. Tiếng cọt kẹt khô khốc của thanh tre già cọ vào cọc rào vang lên giữa đêm vắng, phá tan sự tĩnh lặng của màn đêm.

Bên trong hiên nhà, ngọn bút lông trên tay Diệp Tiểu Mãn khẽ dừng lại. Nàng thong thả đặt bút xuống chiếc gác bằng gỗ thông gọt đẽo vuông vức, đôi mắt phượng đen láy, trong vắt bình thản ngước nhìn ra ngoài sân. Dường như nàng đã sớm nghe thấy tiếng bước chân ngập ngừng rón rén ngoài rào từ cả nửa khắc trước, và cũng đã sớm đoán được bóng người gầy guộc đứng co ro dưới gió lạnh kia rốt cuộc là ai.

Tiểu Mãn đứng dậy, vuốt lại vạt áo chàm mộc mạc, rồi bước qua bậu cửa gỗ mít tiến ra giữa sân đất. Nàng không hề cất tiếng quát hỏi, cũng chẳng có nửa phần gay gắt hay mỉa mai, giọng nàng vang lên giữa sương đêm rành rọt, êm ả như tiếng nước suối chảy qua khe đá:

“Thím Quế Hoa đấy à? Đêm hôm sương muối buốt da buốt thịt thế này, thím đứng ngoài ấy làm gì, vào trong này uống ngụm nước ấm đã.”

Ngô Quế Hoa run bắn người như phải bỏng, hai cánh tay bủn rủn suýt nữa làm tuột chiếc rổ tre rách xuống nền đất. Mụ lúng túng đẩy cánh cổng bước qua bậu, hai vai co rúm lại, cái lưng vốn đã hơi còng vì năm tháng gồng gánh nay lại càng gập sâu xuống, tựa hồ muốn giấu biến cả thân hình gầy guộc tàn tạ của mình vào khoảng tối nhờ nhờ của bờ tường đất. Từng bước chân dẫm lên nền sân đất nện rụt rè, trù trừ, chẳng khác nào một kẻ trộm vừa bị bắt quả tang ngay tại trận.

“Tiểu… Tiểu Mãn đấy à cháu…” Giọng Quế Hoa khàn đặc, vỡ vụn, lí nhí như tiếng muỗi vo ve nơi cuống họng, hai con mắt đỏ ngầu vết thâm quầng chẳng dám một lần nhìn thẳng vào gương mặt sáng rỡ, điềm tĩnh của cô thiếu nữ mười bảy tuổi.

Tiểu Mãn không nói thêm lời khách sáo thừa thãi, nàng nghiêng mình né sang một bên thềm, bàn tay mảnh khảnh đưa ra làm dấu mời mụ bước lên thềm nhà. Trong buồng trong, tấm rèm vải thô dệt bằng sợi bông mộc khẽ động đậy, Lâm Tú Nương nghe thấy tiếng người lạ liền chống tay toan ngồi dậy bước ra, nhưng Tiểu Mãn đã khẽ nghiêng đầu cất giọng trầm ấm, đủ để người trong nhà an lòng:

“Mẹ cứ nằm nghỉ cho ấm lưng đi ạ, thím Quế Hoa bên xóm Đoài tiện đường sang chơi với con một lát thôi.”

Ở góc ngoài hiên, trên chiếc chõng tre kê sát vách đất, Diệp Thành đang nằm dưỡng thương cũng chỉ khẽ cựa mình. Tiếng nạng gỗ va nhẹ vào giát tre vang lên một nhịp khô khốc rồi lại im bặt. Cả gia đình dường như đều ngầm hiểu và đặt trọn sự tin cậy vào bản lĩnh cũng như cách thu xếp của Tiểu Mãn. Không ai bước ra để đay nghiến, cũng không ai làm khó kẻ vừa mới ban chiều còn a dua hùa theo mụ Chu Kim Quế buông lời cay độc xỉ vả nhà họ Diệp.

Bước chân qua bậu cửa gian nhà đất ba gian ấm sực mùi thảo mộc khô và khói bếp lá ổi, Ngô Quế Hoa bàng hoàng như lạc vào một thế giới khác. Mụ đâu dám ngồi lên chiếc ghế đẩu bằng tre cật còn thơm mùi tre mới chuốt nhẵn nhụi. Mụ đứng nép một góc ngay cạnh chân cột quân, lóng ngóng đặt chiếc rổ rau còi cọc xuống sát mũi chân mình, hai bàn tay thô kệch, móng tay bám đầy bùn đen chà xát miệt mài vào vạt áo nâu tơi tả chắp vá chằng đụp. Đầu mụ cúi gằm xuống ngực, chiếc cằm nhọn gầy guộc run rẩy liên hồi. Rồi như không thể kìm nén thêm được nữa trước sự bao dung tĩnh lặng đến lạnh người của Tiểu Mãn, mụ sụp mi mắt xuống, hai dòng nước mắt đùng đục trào ra từ khóe mi đầy những vết chân chim khắc khổ.

“Tiểu Mãn… thím… thím sang đây đêm hôm thế này là để… để dập đầu tạ tội với cháu, với vợ chồng chú Ba…” Giọng Ngô Quế Hoa nghẹn ngào, từng tiếng nấc bật lên nghe chát chúa, cay đắng. “Ban chiều ở bến giếng làng, thím… thím u mê quá cháu ơi. Thím trót dại nghe lời đường mật, xúi bẩy của con mụ Chu Kim Quế. Mụ ấy rỉ tai bảo thím rằng… chỉ cần thím chịu hùa theo mụ ấy rêu rao rằng tương nhà cháu làm bằng đỗ mốc thối, dưa cải nhà cháu tưới nước rãnh bẩn thỉu, làm cho cháu mất mặt mà không ngóc đầu lên bán ở chợ trấn Liễu Kiều được nữa… thì mụ ấy sẽ bảo lão Diệp Đại Phúc xin cho thằng Cả nhà thím một chân gánh củi, chăn bò trên trang trại nhà họ Lương ngoài huyện… Thím tham bát bỏ mâm, thím mê muội mới làm cái chuyện thất đức, ngậm máu phun người như thế!”

Ngô Quế Hoa vừa nói vừa đưa mu bàn tay chai sần lên quẹt ngang mặt, nhưng nước mắt tủi nhục cứ như con đê vỡ, càng lau lại càng trào ra giàn giụa trên đôi gò má hóp tóp teo. Mụ hít một hơi thật sâu, bao nhiêu nỗi uất ức, tuyệt vọng dồn nén suốt bao tháng ngày cùng quẫn bỗng chốc vỡ òa ra giữa căn nhà vắng:

“Nhưng mà Tiểu Mãn ơi, thím cùng đường thật rồi cháu ạ! Mấy phiên chợ gần đây, sạp rau của thím ế ẩm đến mức chẳng thu nổi mười lăm đồng tiền thuế chỗ cho tuần phiên. Mớ rau thím gánh đi từ lúc gà gáy le te nhìn thì xanh mướt mọng nước, vậy mà chỉ phơi ra gió chợ đến non trưa là đã nhũn nhoét, vàng ệch, lá rũ rượi, táp lại như bị người ta dội nước sôi vào gốc. Khách quen xóm Đông, xóm Đoài nhìn thấy sạp nhà cháu rau tươi mơn mởn, thân giòn cọng ngọt, dưa muối thơm lừng nức mũi thì kéo nhau sang mua sạch sành sanh, chẳng ai thèm ngó ngàng đến một ngọn cải của thím nữa. Tiền vốn liếng mồ hôi nước mắt chắt bóp bao năm thím chôn hết vào hai sào đất bãi sau bến sông, mà nay rau héo úng ngoài ruộng nhổ vứt cho lợn, lợn cũng ngửi rồi bỏ đi. Tiền đong bát gạo cho hai đứa nhỏ bữa nay bữa mai thím còn chưa biết nhìn vào đâu… Nếu phiên chợ tới đây Trưởng thôn thi hành lệnh cấm thật, cả nhà năm miệng ăn của thím chỉ còn nước dắt díu nhau đi ăn mày đầu đường xó chợ thôi cháu ơi!”

Từng lời trần tình cay đắng của một người đàn bà nửa đời lam lũ buôn thúng bán bưng rơi rụng lộp độp giữa gian nhà đất thênh thang. Đó không phải là lời xảo biện quanh co của một kẻ lọc lừa mưu mô, mà là tiếng kêu cứu trần trụi, tuyệt vọng của một nông hộ nghèo hèn bị chính sự dốt nát và lòng tham tầm thường xô đẩy đến bờ vực diệt vong.

Thay vì buông lời mỉa mai, xua đuổi hay lớn tiếng đay nghiến kẻ vừa ban trưa còn rắp tâm bôi tro trát trấu vào thanh danh gia đình mình, Diệp Tiểu Mãn chỉ lẳng lặng xoay người bước lại góc bếp lò. Nàng nhấc chiếc ấm đất nung đang ủ trên lớp than trấu hồng rực, cẩn thận nghiêng vòi rót một bát nước lá vối đun sôi sùng sục. Khói nước bốc lên nghi ngút mang theo vị chát ngọt dịu dàng, ấm sực khắp gian phòng. Nàng bưng bát nước gốm mộc đặt xuống mặt bàn gỗ mít, kéo nhẹ chiếc ghế đẩu tre về phía người đàn bà đang đứng run rẩy, rồi ôn tồn bảo:

“Thím ngồi xuống đi đã. Uống ngụm nước nóng cho nhuận giọng, chuyện lớn chuyện nhỏ gì rồi cũng có cách tháo gỡ. Trời trở gió độc thế này, thím cứ đứng co ro ở góc cửa gió lùa rồi trúng phong ra đấy thì khổ thân các em ở nhà.”

Cử chỉ khoan thai, lời nói bình thản và sự bao dung không ngờ ấy của Tiểu Mãn như một gáo nước mát lành dội thẳng vào tâm can đang bỏng rát vì sợ hãi, xấu hổ của Ngô Quế Hoa. Đôi bàn tay nứt nẻ cáu bùn của mụ run rẩy bưng lấy bát nước gốm. Hơi ấm lan tỏa từ thành bát qua lớp da thịt chai sạn khiến mụ rùng mình một cái, sống mũi cay xè. Mụ rụt rè ngồi ghé một nửa mông lên mép chiếc ghế tre, hai mắt đỏ hoe, đờ đẫn ngước nhìn cô gái trẻ trước mặt.

Tiểu Mãn kéo chiếc ghế đẩu đối diện ngồi xuống. Ánh mắt nàng chậm rãi dừng lại nơi chiếc rổ sọt đựng mớ rau cải còi cọc đặt dưới đất. Nàng tuyệt nhiên không nhắc lại một lời nào về Chu Kim Quế, cũng không nhắc lại những lời nhục mạ cay nghiệt ngoài giếng làng ban chiều. Nàng chỉ ngón tay thon thả vào mớ cây giống khẳng khiu, giọng điệu rành rọt, khúc chiết hệt như một bậc lão nông sành sỏi đang bắt mạch kê đơn cho cây cỏ:

“Thím Quế Hoa, thím làm nghề trồng rau bán chợ ngót nghét hai ba chục năm nay, thím có bao giờ tự hỏi vì sao rau nhà thím nhanh úa thối, đưa ra chợ mới qua nửa buổi sáng là thân mềm nhũn, lá rũ rượi, khách cầm lên đặt xuống chê ỏng chê eo không?”

Ngô Quế Hoa ngơ ngác chớp chớp hai mi mắt sưng húp, lắc đầu quầy quậy như người mất hồn:

“Thím… thím chịu chết cháu ạ. Thím thề có trời đất, thím chăm bẵm mấy luống rau ấy còn hơn chăm con mọn. Sớm nào cũng gánh nước, chiều nào cũng múc phân chuồng tưới đẫm từng gốc, lại cặm cụi nhổ từng cọng cỏ may, thế mà chẳng hiểu sao cây cứ còi cọc như que tăm, gốc thì thối đen xì, thân mọng nước mà lá lại mỏng tanh, vừa gặp chút gió nắng là nhũn ra như thạch…”

Tiểu Mãn khẽ thở dài một tiếng, lắc đầu chỉ rõ từng căn nguyên:

“Cái gốc của tai họa chính là ở chỗ ‘chăm đẫm’ ấy đấy thím. Thím nóng lòng muốn cây lớn nhanh như thổi để kịp bán phiên chợ phiên, nên thím dùng phân tươi chưa ủ hoai mà hòa thẳng vào nước gánh đi tưới. Thím có biết trong phân tươi chứa bao nhiêu khí nóng hầm hập, bao nhiêu trứng sâu và mầm nấm độc không? Rễ non của cây cải bẹ mềm như sợi bún, tưới thứ nước ấy vào chẳng khác nào đem rễ cây đi nướng trên chảo than hồng. Rễ bị xót, bị cháy đen các đầu hút thì làm sao hút được chất màu của đất? Cây chỉ ngậm no cái thứ nước phân nóng bốc hơi ấy vào bẹ, nhìn bề ngoài thì mọng nước giả tạo nhưng bên trong ruột thì bấc xốp, tế bào rỗng tuếch. Ra đến chợ, gặp ngọn gió may hanh hao và ánh nắng trưa rọi vào, hơi nước thoát đi hết là tế bào lập tức xẹp lép, lá rũ rượi rồi ủng thối từ cuống thối ra.”

Nàng dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào gương mặt đang đờ đẫn vì kinh ngạc của Quế Hoa, rồi chậm rãi phân tích tiếp:

“Lại thêm cái việc làm đất của thím nữa. Mấy sào đất bãi ven sông nhà thím cày xới liên tục quanh năm suốt tháng, vụ này gối vụ kia mà thím chẳng bao giờ cho đất nghỉ xả độc. Đất thiếu mùn mục, thím lại lạm dụng rải vôi sống bừa bãi và tưới nước phân tươi, khiến cho các hạt đất bị gắn chặt lại sau mỗi trận mưa rào, mặt luống chai cứng như đá tảng. Bộ rễ chùm của cải bẹ vốn ăn nông, cần đất tơi xốp nhiều oxy để thở. Đất bị nén chặt, ngộp thở, rễ không đâm nhánh được thì thân cây làm sao mập mạp? Thím bón cho nó bao nhiêu phân thì cây nghẹn bấy nhiêu, lá vàng vọt, vị rau đắng ngắt như bồ hòn. Thím trồng như thế, có bỏ ra trăm công nghìn sức thì cũng chỉ thu về mớ rau phế phẩm mà thôi!”

Từng lời từng chữ của Tiểu Mãn thốt ra như sấm sét đánh trúng tim đen Ngô Quế Hoa, nhưng đồng thời lại như xé toang bức màn tăm tối bấy lâu nay che mắt mụ. Người đàn bà trố mắt nhìn cô gái trẻ, trong lồng ngực dấy lên một sự kính sợ khôn cùng xen lẫn hổ thẹn sâu sắc. Mụ làm ruộng, trồng rau ngót nghét ba chục năm trời, ngỡ mình đã nếm đủ mùi nắng mưa bùn đất trần ai, vậy mà những đạo lý cốt tủy nhất của thuật nông tang mụ lại mù tịt, chẳng bằng một góc hiểu biết của đứa con gái mới mười bảy tuổi đầu! Lời của Tiểu Mãn không phải là lý thuyết suông trong sách vở của các bậc thầy đồ, mà từng câu từng chữ đều bóc trần đúng cái cảnh tượng thối rễ, cháy lá đang diễn ra từng ngày trên hai sào đất bãi của mụ.

“Hóa ra… hóa ra là thế…” Quế Hoa lẩm bẩm, hai bàn tay run rẩy buông thõng trên đùi. “Thảo nào… thảo nào thím càng xách nước tưới thì luống cải lại càng lụi tàn… Trời ơi, thím dại dột quá, thím tự tay giết chết cả mấy sào đất bãi của tổ phụ để lại rồi Tiểu Mãn ơi!”

Tiểu Mãn nhìn bộ dạng hối hận chân thành của người đàn bà, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười kín đáo nhưng cương nghị. Nàng vươn tay lấy chiếc que đóm bằng tre khều nhẹ bấc đèn dầu, ngọn lửa bùng lên sáng rực, soi rõ từng nét kiên định trên gương mặt thanh tú:

“Đất chai thì cày ải cải tạo lại, cây còi thì đổi cách chăm bón, chưa đến mức tuyệt đường sinh nhai đâu thím. Chiều nay thím hồ đồ hùa theo kẻ xấu, nhưng đêm nay thím đã dám bước chân sang đây nhận lỗi thật lòng, cháu cũng không phải kẻ cạn tình cạn nghĩa mà dồn người cùng làng vào bước đường cùng. Cháu có một đề nghị hợp tác làm ăn này, thím nghe thử xem có ưng thuận hay không.”

Đôi mắt đùng đục của Ngô Quế Hoa chợt lóe lên một tia sáng hy vọng mong manh như đốm lửa tàn gặp gió. Mụ chồm hẳn người về phía trước, hai bờ môi khô nẻ mấp máy:

“Cháu… cháu nói thật sao? Cháu chịu mở lối cho một kẻ… một kẻ từng rắp tâm hại nhà cháu như thím ư?”

“Cháu làm ăn buôn bán, mắt nhìn về phía trước để mở mang cơ nghiệp, chứ không nhìn lại phía sau để ôm giữ thù vặt,” Tiểu Mãn điềm đạm trả lời, thanh âm mang theo sự đĩnh đạc, chắc chắn của một người hoàn toàn làm chủ cục diện. “Sức người có hạn. Một mình cháu và mẹ cháu không thể nào vừa gánh vác việc xới đất, ươm mầm, chăm sóc hàng mẫu rau cải, lại vừa phải cất mẻ tương, muối hàng chục vò dưa rồi gánh hàng ra bến Liễu Kiều buôn bán. Nay xưởng dưa tương của nhà cháu ngày một mở rộng, lượng hàng giao cho các bạn thuyền buôn đường sông ở bến Liễu Kiều và mấy mối tửu lầu trên huyện ngày càng lớn. Cháu đang cần một nguồn nguyên liệu rau cải bẹ ổn định, đều đặn mỗi ngày, và quan trọng nhất là phải tuyệt đối sạch sẽ, tươi giòn đạt chuẩn.”

Nàng nhìn thẳng vào mắt Quế Hoa, gằn từng tiếng rành mạch:

“Cháu đề nghị thế này: Cháu sẽ truyền cho thím bí quyết cải tạo đất chai bằng tro mục ủ lá chuối khô và rơm rạ mục trộn với bùn ao phơi nỏ. Cháu sẽ bày cho thím cách ủ phân chuồng với vỏ trấu nếp và rơm băm nhỏ cho hoai mục hoàn toàn trong hố ủ ba mươi ngày trước khi bón lót. Toàn bộ hạt giống cải bẹ mầm to, bẹ dày, lá xoăn của nhà cháu, cháu cũng sẽ chia sẻ cho thím gieo lứa mới. Đổi lại, cháu sẽ bao tiêu toàn bộ số rau cải bẹ do thím trồng ra trên hai sào đất bãi ấy.”

Ngô Quế Hoa nín thở, hai tai lùng bùng như không tin vào những gì mình vừa nghe thấy:

“Bao… bao tiêu toàn bộ ư cháu?”

“Phải, bao tiêu toàn bộ, không sót một mớ nào,” Tiểu Mãn gật đầu dứt khoát. “Và cháu sẽ thu mua theo một mức giá sàn ổn định quanh năm: đúng hai đồng tiền kẽm cho một cân rau cải bẹ tươi đạt chuẩn. Dù ngoài chợ phiên Thanh Khê rau có thừa mứa rớt giá xuống một đồng một mớ tướng, hay thương lái đường sông có ép giá xuống rẻ như bèo bọt, cháu vẫn giữ nguyên mức giá hai đồng một cân cho thím. Cháu tuyệt đối không ép giá non, ép giá ế của thím một đồng nào.”

Hai đồng tiền kẽm cho một cân rau tươi cân ngay tại bờ ruộng!

Con số ấy vang lên bên tai Ngô Quế Hoa chẳng khác nào một tiếng sét nổ giữa trời quang, nhưng là tiếng sét xé toang màn đêm tăm tối! Bình thường mụ gánh rau còng lưng ra chợ bán lẻ, hôm nào may mắn đắt hàng lắm mới bán được ba đồng một mớ chừng cân rưỡi. Trừ đi mười lăm đồng tiền thuế sạp cho tuần phiên, trừ đi năm bảy mớ rau dập nát héo úa phải vứt bỏ, tính bình quân mỗi cân rau mụ chỉ thu về chưa đầy một đồng rưỡi kẽm. Đã thế lại còn phải dãi nắng dầm mưa từ lúc sao mai chưa lặn đến khi mặt trời đứng bóng, chịu bao nhiêu lời chê bai, chửi bới, hạch sách của khách buôn.

Nay được bao tiêu tận gốc, giá sàn đóng đinh cứng ngắc hai đồng một cân, không mất một xu tiền thuế chợ, không tốn công gánh gồng chạy chợ, chẳng khác nào nhặt được một chiếc phao cứu sinh bằng vàng ròng giữa dòng nước xoáy cuồn cuộn!

Toàn thân Ngô Quế Hoa run rẩy dữ dội, nước mắt lại trào ra ướt đẫm gò má. Mụ xúc động đến mức hai đầu gối nhũn ra, toan quỳ sụp xuống nền đất nện mà lạy tạ thì Diệp Tiểu Mãn đã nhanh như cắt vươn tay đỡ lấy khuỷu tay gầy guộc của mụ, giữ chặt lại bằng một lực đạo dứt khoát:

“Thím Quế Hoa, chớ vội mừng. Cháu đưa ra mức giá tốt và cam kết bao tiêu dài lâu, nhưng ba điều kiện đi kèm của cháu cũng vô cùng khắt khe, ngặt nghèo. Nếu thím vi phạm dù chỉ một lần, giao kèo này lập tức bị xé bỏ, và từ đó về sau cửa nhà họ Diệp sẽ vĩnh viễn khép lại với thím.”

Sắc mặt Ngô Quế Hoa lập tức căng thẳng tột độ. Mụ vội vã đưa tay áo quẹt khô nước mắt, lưng thẳng lên, gật đầu lia lịa như gà mổ thóc:

“Cháu cứ nói! Trăm điều nghìn điều thím cũng xin nghe! Dù có phải thức khuya dậy sớm, đội đá vá trời thím cũng quyết làm bằng được, miễn là cho mấy mẹ con thím có một con đường sống lương thiện!”

Tiểu Mãn rút một thẻ tre sạch trên bàn, dùng đầu que đóm đã gọt nhọn vạch từng nét dứt khoát lên mặt tre:

“Điều thứ nhất: Tuyệt đối cấm kỵ việc tưới phân tươi, nước giải sống hay bất cứ thứ nước rãnh thối, nước đọng bẩn thỉu nào vào luống rau. Toàn bộ nước tưới bắt buộc phải là nước giếng khơi trong vắt hoặc nước dòng Khe Thanh lắng bùn trong bể chứa. Phân bón lót, bón thúc bắt buộc phải là phân chuồng ủ hoai mục với tro bếp và trấu đúng ba mươi ngày theo phương pháp cháu chỉ dẫn. Nếu đến ngày thu hái, cháu phát hiện trên cuống lá có mùi hôi tanh của chất bẩn hoặc dấu vết mầm bệnh do phân sống, cháu sẽ từ chối thu mua toàn bộ đợt rau đó, thím phải tự gánh lấy thiệt hại.”

“Thím nhớ rồi! Thề có trời phật chứng giám, thím mà còn dám múc một gáo phân tươi nào tưới vào ruộng rau thì thím chết không có đất chôn!” Quế Hoa giơ ba ngón tay xương xẩu lên trời thề thốt, giọng run lên vì quyết tâm.

“Điều thứ hai,” Tiểu Mãn tiếp tục, giọng càng thêm nghiêm cẩn, sắc sảo: “Lịch thu hoạch phải tuân thủ nghiêm ngặt theo giờ giấc định sẵn: chỉ được cắt rau vào lúc sáng sớm, bắt đầu từ đầu giờ Dần đến trước giờ Mão, tuyệt đối không được cắt muộn hơn khi mặt trời đã ló rạng khỏi ngọn tre. Cắt rau vào cữ sương mai ấy, thân bẹ cây mới ngậm no hơi ẩm mát lành của trời đất, lá giòn, cuống ngọt lịm, khi đem về muối dưa mới giữ được màu vàng rộm tự nhiên và độ giòn sần sật. Cắt xong, phải nhẹ tay xếp từng bẹ rau ngay ngắn vào sọt tre đã lót sẵn lá chuối tươi, không được dằn ép, không được làm dập gãy gân lá. Một bẹ rau dập nát sẽ làm thối hỏng cả một vò dưa tương.”

Nàng dừng lại một thoáng, nhìn xoáy sâu vào đáy mắt của người đàn bà luống tuổi, chậm rãi nhấn mạnh điều then chốt cuối cùng:

“Và điều thứ ba: Người trực tiếp kiểm tra phẩm chất, giám sát cân đo từng sọt rau của thím bên bờ ruộng không phải là cháu, mà là Trần A Lan. Từng mớ rau thím gánh sang đây, A Lan sẽ soi xét tỉ mỉ từng gốc: bẹ nào sâu bệnh, bẹ nào dập nát, bẹ nào dính bùn dơ chưa rửa sạch sẽ bị loại bỏ ngay tại chỗ không kiêng nể. Thím phải chịu sự kiểm soát chất lượng của A Lan, tuyệt đối không được vì chuyện va chạm cũ ngoài chợ hay cậy mình là bậc bề trên trong làng mà sinh sự cãi cọ, gây khó dễ cho con bé. A Lan bảo mớ nào đạt mới được cân, mớ nào không đạt thì thím phải mang về. Thím có bằng lòng phục tùng không?”

Nghe đến cái tên Trần A Lan, cả người Ngô Quế Hoa bỗng giật thót một cái.

Trong tâm trí mụ hiện lên ngay hình ảnh con bé A Lan mồ côi tính tình ngay thẳng như ruột ngựa, mắt sắc như dao cau. Mấy lần ngoài chợ phiên, hễ thấy Quế Hoa lén lút độn mấy cọng rau già héo úa xuống đáy mớ cải để lừa người mua, A Lan liền đứng phắt dậy bóc mẽ ngay giữa bàn dân thiên hạ, khiến mụ tức tối đỏ mặt tía tai. Nay phải chịu sự kiểm tra, soi xét từng cọng rau của một đứa con gái chỉ trạc tuổi con mình, lại còn phải cúi đầu nghe theo sự phán xét của nó, trong lòng người đàn bà buôn thúng bán mẹt không tránh khỏi một thoáng ngập ngừng, tự ái xóm giềng cồn cào như xát muối.

Thế nhưng, cái cảm giác nhục nhã ê chề khi bị cả làng khinh bỉ ban chiều, cái nỗi sợ hãi tột cùng trước cảnh đàn con nheo nhóc ngửa tay xin ăn đã lập tức đè bẹp chút sĩ diện hão huyền cuối cùng trong mụ. Quế Hoa cắn chặt môi, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo, gật đầu dứt khoát:

“Được! Thím bằng lòng! Con bé A Lan tính nó bộc trực, tay nó sạch, mắt nó tinh đời. Nó chê chỗ nào là thím sai chỗ đó, thím sửa ngay chỗ đó, tuyệt đối không dám nửa lời đôi co, không dám cậy già lên mặt! Có con bé A Lan canh giữ chất lượng, thím lại càng yên tâm làm cho đúng phép tắc!”

Nhìn thấy thái độ phục thiện chân thành và sự dứt khoát buông bỏ thói hư tật xấu của Quế Hoa, ánh mắt lạnh lùng của Diệp Tiểu Mãn mới dần dần dịu lại. Nàng khẽ gật đầu, đứng dậy bước lại chiếc hòm gỗ nhỏ đặt góc bàn.

Nàng lấy ra một tờ giấy dó dày dặn màu vàng ngà phẳng phiu mà Tạ Cảnh đã tỉ mỉ dùng dao gọt giấy cắt sẵn cho nàng từ mấy hôm trước. Đặt tờ giấy dó lên mặt bàn gỗ mít phẳng phiu, Tiểu Mãn chấm ngọn bút lông vào nghiên mực tàu mài sánh đặc, cổ tay uyển chuyển đưa từng nét chữ Hán chân phương, ngay ngắn. Từng hàng chữ đen nhánh hiện lên trên nền giấy:

*“Thanh Khê Thôn Nông Hộ Liên Kết Giao Kèo - Bên nhận bao tiêu: Diệp gia Tiểu Mãn; Bên canh tác cung ứng: Thôn dân Ngô Quế Hoa”.*

Bên dưới, nàng nắn nót ghi rõ từng điều khoản: diện tích hai sào đất bãi bồi ven sông; phương pháp ủ phân chuồng hoai mục ba mươi ngày với tro trấu; nguồn nước tưới sạch từ giếng khơi hoặc Khe Thanh; thời gian thu hoạch nghiêm ngặt từ đầu giờ Dần đến trước giờ Mão; giá sàn cố định hai đồng kẽm một cân tươi; quyền kiểm duyệt chất lượng thuộc về Trần A Lan; và điều khoản chấm dứt giao kèo nếu có gian dối.

Viết xong, Tiểu Mãn dùng hai tay nâng tờ giấy dó lên, đọc to từng chữ, giảng giải cặn kẽ từng câu từng ý cho Ngô Quế Hoa nghe một lượt. Sau đó, nàng mở chiếc hộp gỗ tròn nhỏ đựng sáp chu sa đỏ au, mùi thơm nồng của khoáng chất lan tỏa trong không khí:

“Nếu thím đã nghe thông suốt mọi điều và không còn điều gì khúc mắc, xin thím ấn dấu tay vào đây. Từ nay về sau, hai nhà chúng ta làm ăn nương tựa vào nhau, lấy giấy trắng mực đen làm chứng, lấy chữ tín làm đầu.”

Nhìn tờ giao kèo phẳng phiu thơm mùi mực mới và sắc đỏ rực rỡ của hộp chu sa, hốc mắt Ngô Quế Hoa bỗng nóng bừng bừng. Suốt nửa đời người dầm mưa dãi nắng nơi đồng bãi, đây là lần đầu tiên trong đời mụ được người ta đối đãi một cách đàng hoàng, trân trọng và sòng phẳng đến thế. Người ta không khinh mụ bần hàn, không xua đuổi mụ vì những lỗi lầm xấu xa ban chiều, mà lại chìa tay ra kéo mụ lên khỏi vũng bùn túng quẫn, cho mụ một chỗ đứng đàng hoàng trong việc làm ăn lương thiện.

Bàn tay thô ráp đầy những vết nứt nẻ cáu bùn của Ngô Quế Hoa run rẩy vươn ra. Mụ cẩn thận miết ngón tay cái bên phải vào lớp sáp chu sa đỏ chói, rồi nén một tiếng nấc nghẹn ngào, ấn thật mạnh dấu tay xuống góc dưới tờ giao kèo, ngay bên cạnh chữ ký ngay ngắn của Tiểu Mãn.

Một vết chỉ tay màu huyết dụ in hằn sâu sắc trên nền giấy dó trắng ngà, vững vàng như một lời thề nguyền khắc cốt ghi tâm.

“Tiểu Mãn… thím… thím đội ơn cháu… Cả đời này mấy mẹ con thím không bao giờ dám quên ơn tái sinh của cháu…” Mụ nghẹn ngào thốt lên, hai hàng nước mắt lã chã rơi xuống vạt áo nâu.

Tiểu Mãn khẽ hong khô tờ giấy dó trước ngọn đèn dầu, cẩn thận gấp lại rồi cất vào chiếc tráp tre đựng các văn tự quan trọng của gia đình. Nàng nhìn mụ, khẽ mỉm cười:

“Thím không cần phải đội ơn cháu làm gì. Cháu cần nguồn rau sạch để làm dưa tương, thím cần mối tiêu thụ ổn định để lo cho gia đình. Đôi bên cùng có lợi, cùng giữ chữ tín thì công việc mới bền chặt lâu dài được. Sáng sớm mai sau khi gà gáy cữ hai, thím cứ mang đôi thúng rỗng sang đây, cháu sẽ bảo thằng Nhị Hòa xúc cho thím hai thúng tro mục ủ trấu nếp và đưa cho thím một gói hạt giống cải bẹ vụ đông của bà ngoại để lại. Thím về làm đất ngay cho kịp lứa rau mới.”

Ngô Quế Hoa lau khô nước mắt, cúi đầu tạ ơn thêm một lần nữa rồi xách chiếc rổ tre rách toan bước ra về. Thế nhưng, khi bước chân mụ vừa chạm tới ngưỡng cửa gỗ mít, người đàn bà bỗng khựng phắt lại như bị sét đánh ngang tai. Mụ giật mình đưa tay vỗ mạnh lên trán một cái rõ kêu, vẻ mặt bỗng chốc biến đổi từ nhẹ nhõm sang hoảng loạn tột độ.

Mụ vội vã quay ngoắt trở lại, ngó nghiêng ra ngoài sân vắng xem có bóng người rình rập hay không, rồi rón rén bước thật nhanh đến sát cạnh bàn trà, cúi sát người thì thầm vào tai Tiểu Mãn. Hơi thở của mụ gấp gáp, nóng rẫy:

“Tiểu Mãn ơi… chết mất thôi, thím suýt nữa thì quên khuấy mất một chuyện tày đình!”

Tiểu Mãn khẽ nhíu mày, ánh mắt lập tức trở nên sắc lạnh:

“Chuyện gì mà thím hoảng hốt thế?”

Ngô Quế Hoa run giọng, hai hàm răng va vào nhau cầm cập:

“Hồi chiều muộn hôm nay, lúc thím trốn sau rặng tre làng lội ruộng về nhà vì sợ đụng mặt bà con, thím tình cờ nhìn thấy lão Diệp Đại Phúc lén lút dắt một cỗ xe ngựa nhỏ phủ bạt đen đi đường vòng sau bờ mương Cây Gạo!”

Tiểu Mãn siết chặt hai bàn tay giấu dưới tay áo chàm, giọng vẫn giữ được sự bình tĩnh tuyệt đối:

“Xe ngựa bạt đen? Của ai hở thím?”

“Còn của ai vào đây nữa!” Quế Hoa ghé sát tai nàng, thì thào đầy vẻ kinh hãi: “Cỗ xe ấy là của quản sự Lương Quảng Tài bên trang viện họ Lương ngoài huyện! Lão Đại Phúc đón đổng lão Tài từ lúc chập choạng tối, dắt díu nhau đi thẳng vào gian nhà thờ họ bên xóm Giữa, rồi đóng chặt cửa cài then lại. Thím thấy mờ ám quá nên mới lén vòng ra sau chuồng lợn của nhà thờ, áp tai sát vào vách liếp nghe trộm… Trời đất ơi Tiểu Mãn ơi, hai lão độc ác ấy đang bàn mưu tính kế để bóp chết nhà cháu đấy!”

Nghe đến cái tên Lương Quảng Tài và Diệp Đại Phúc, ánh mắt Tiểu Mãn lóe lên một tia sắc lạnh như lưỡi dao vừa rút khỏi bao. Nàng trầm giọng hỏi:

“Họ bàn những gì, thím nghe có rõ không?”

“Rõ mồn một từng câu từng chữ, thím thề không sai nửa lời!” Ngô Quế Hoa nuốt nước bọt cái ực, kể dồn dập: “Lão Diệp Đại Phúc cay cú chuyện trưa nay bị mất mặt ở sân đình, lại thấy Trưởng thôn và họ tộc trao toàn quyền điều hành sinh kế cho cháu, lão tức tối không ngủ được. Lão lại thấy cháu buôn may bán đắt ở bến Liễu Kiều, kiếm ra tiền ra bạc, lão sợ không nuốt trôi được hai mẫu ruộng gò Cồn Gió của nhà cháu nữa. Lão mới xúi giục Lương Quảng Tài giở trò bẩn thỉu!”

Quế Hoa hít một hơi thật sâu, giọng run rẩy tiếp tục mách:

“Lão Đại Phúc bảo Lương Quảng Tài cứ viện cớ năm nay quan trên huyện nha tăng ngạch thuế phụ điền trang, đòi siết nợ đất đai trước kỳ hạn! Lão Tài gật gù khen kế ấy hiểm, lão bảo sẽ soạn ngay một tờ trát đòi nợ mới toanh. Lão gom cả món tiền nợ gốc mười lăm lượng bạc từ năm ngoái, cộng thêm tiền lãi mẹ đẻ lãi con, lại còn tự ý đặt ra cái gọi là ‘phí bảo quản văn tự’ khống lên thành một món nợ khổng lồ hai mươi lăm lượng bạc! Lão ép nhà cháu phải nộp đủ sạch sành sanh ngay trong tháng này, nếu không nộp đủ, lão sẽ kéo tuần đinh, gia nô của trang viện họ Lương mang gậy gộc về cắm cọc rào đất, cưỡng chế tịch thu toàn bộ hai mẫu ruộng Cồn Gió trước khi dân làng bước vào vụ cấy lúa chiêm!”

Từng lời mách bảo của Ngô Quế Hoa như những nhát búa nện thẳng vào không gian tĩnh mịch của căn nhà đất.

Tiểu Mãn đứng lặng người, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp áo chàm. Đôi mắt nàng trầm xuống thăm thẳm như đáy giếng cổ ngàn năm. Hóa ra, những lời tạ lỗi ngọt nhạt và sự lùi bước của Diệp Đại Phúc ban chiều chỉ là kế hoãn binh hèn hạ. Lòng tham lam vô đáy và sự đố kỵ của người bác cả đã hoàn toàn làm mù quáng nhân tính, sẵn sàng câu kết với nanh vuốt địa chủ ngoài huyện để dồn đứa cháu ruột thịt và người em trai tàn phế vào chỗ chết không chốn dung thân!

Hắn muốn chặt đứt nguồn sống của gia đình nàng, muốn cướp trắng hai mẫu ruộng Cồn Gió – mảnh đất mà cả nhà nàng đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu tươi để khai khẩn, giữ gìn qua bao đợt sương muối khắc nghiệt!

“Thím nghe lão Tài dằn giọng bảo,” Quế Hoa sốt ruột giục giã, trong mắt ngập tràn vẻ lo lắng chân thành cho ân nhân vừa cứu mạng mình: “Chậm nhất là sáng sớm mai, hoặc có khi ngay trong đêm nay lão ấy sẽ mang tờ trát nợ có chữ ký tay của lý trưởng xóm ngoài sang đây đập vào mặt chú Ba để bức bách đấy! Cháu… cháu phải mau mau tìm cậu tú tài Tạ Cảnh với Trưởng thôn Phạm Đức Thuận mà bàn tính đối sách đi, kẻo không kịp trở tay thì mất trắng ruộng đất đấy cháu ơi!”

Nói dứt lời, như sợ có người phát hiện mình đi đêm mách lẻo, Ngô Quế Hoa vội vã kéo sụp chiếc nón mê rách che khuất nửa khuôn mặt, cúi đầu chào Tiểu Mãn rồi cắm đầu cắm cổ lủi nhanh ra khỏi cổng tre. Bóng dáng gầy guộc tàn tạ của người đàn bà nhanh chóng chìm nghỉm vào màn đêm đen kịt ven rặng dâm bụt làng.

Diệp Tiểu Mãn đứng lặng bên hiên nhà đất.

Gió đêm từ đỉnh núi Thanh Lĩnh bắt đầu thổi thốc xuống mỗi lúc một dữ dội, cuốn theo những chiếc lá tre khô bay xào xạc, xoay tròn quanh chân năm chiếc chum sành da lươn mới tinh sừng sững bên chái nhà. Hơi lạnh buốt giá luồn qua từng thớ vải áo chàm, nhưng lồng ngực thiếu nữ mười bảy tuổi lại rực cháy một ngọn lửa kiên định, quật cường không gì dập tắt nổi.

Nàng quay người bước vào gian nhà chính, khẽ đưa tay chạm nhẹ lên gáy cuốn sổ thẻ tre bí truyền của bà ngoại Lâm Thu Bà, rồi chạm vào tờ *Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư* có đóng dấu đỏ của thôn làng cất cẩn thận nơi đáy tráp tre.

Hai mẫu ruộng gò Cồn Gió là mồ hôi, là xương máu, là sinh mạng của cha mẹ và các em nàng. Nàng đã cứu được nó qua đợt sương muối tàn khốc, đã khơi thông được dòng nước ngọt mát từ mương ngầm Cây Gạo về tưới tắm cho từng tấc đất cằn cỗi đơm hoa kết trái, thì tuyệt đối không một kẻ nào, dù là cường hào địa chủ hay thân tộc bất nhân, có thể dùng mưu hèn kế bẩn mà cướp đoạt đi được!

Chưa kịp mừng thì tiếng vó ngựa lộc cộc đã dừng trước cổng từ đường; Lương Quảng Tài mang theo trát đòi nợ mới.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn