Chum gốm Nam Bãi và bài toán hao hụt
Khói lò nung nghi ngút cùng mùi đất nung ngai ngái bao phủ khắp triền đồi Nam Bãi khi Tiểu Mãn cùng Diệp Nhị Hòa đẩy xe qua cổng xưởng gốm lớn nhất vùng ven trấn Liễu Kiều.
Trời về chiều, ráng đỏ hắt từng vệt dài thẫm màu lên những dãy lò bầu thoải dốc tựa đàn trâu mộng khổng lồ nằm phục bên triền đất đỏ. Gió từ mặt sông thổi thốc lên triền dốc, cuốn theo bụi đất mù mịt và mùi khen khét đặc trưng của những mẻ gốm đang vào độ rực lửa. Xung quanh cổng xưởng xơ xác cỏ dại, từng đống đất sét vàng, sét xám đã qua ủ dầm, lọc sạn kỹ lưỡng chất cao quá đầu người, che chắn gần như kín một góc bờ rào nứa. Cạnh đó là những bãi tích củi bổi, củi thông bửa thô khô khén, xếp thành từng hàng thẳng tắp cao tựa bờ thành, tỏa ra mùi nhựa thông hăng nồng xen lẫn vị tro than bám lơ lửng trong không khí hanh hao cuối ngày. Tiếng bàn xoay cót két đều đặn dưới các chái lán, tiếng vỗ đất bồm bộp nặng trịch của những người thợ nhào nguyên liệu và tiếng thợ phụ í ới gọi nhau khuân phôi mộc vào bãi phơi râm tạo nên một khung cảnh lao động hối hả, tách biệt hẳn với sự xô bồ mua bán xấc xảo nơi bến thuyền ngoài trấn.
Nhị Hòa cẩn thận ghì chặt hai càng chiếc xe cút kít bằng gỗ mít đóng vụng, các bắp tay nổi rõ dưới làn da rám nắng. Hai bánh xe lộc cộc lăn trên mặt đường gồ ghề đầy những mảnh sành vỡ và xỉ lò ken dày. Đôi mắt cậu thiếu niên không ngừng đảo quanh nhìn những dãy vò da lươn, vò rượu cổ hẹp, chậu sành cắm hoa và ống thoát nước xếp tầng tầng lớp lớp như những bờ lũy kiên cố chạy dài dọc lối đi. Cậu nuốt một ngụm nước miếng, khẽ co vai lại, hạ giọng thì thào với chị gái đang điềm tĩnh rảo bước bên cạnh:
"Tỷ ơi, chỗ này rộng quá, người làm ra vào nườm nượp thế kia. Đệ thấy toàn đồ sành thô với vò rượu năm mười cân dày cộp, không biết phường thợ lớn bực này họ có chịu nhận làm thứ chum kì lạ mà huynh Tạ Cảnh vẽ cho tỷ không? Nhìn mấy lò lửa hừng hực kia, đệ sợ họ chỉ nhận chuyến buôn trăm chiếc nghìn chiếc cho thuyền lái thôi, mình làm có hai chục chiếc... khéo người ta lại xua ra cửa."
Tiểu Mãn đưa tay vuốt lại nếp áo chàm đã sờn mép, những ngón tay khẽ chạm vào bọc ngực áo. Bên trong lớp vải thô là bản vẽ bằng giấy than gấp tư cẩn thận và chiếc túi vải đựng trọn vẹn số tiền kẽm nàng cùng người nhà chắt chiu kiếm được từ sạp hàng buổi sáng ở bến Liễu Kiều. Ánh mắt nàng nhìn sâu vào dãy xưởng, điềm tĩnh nhưng chứa chan sự kiên định của một người đã cân nhắc đường đi nước bước đến từng li:
"Chưa hỏi sao biết không làm? Huynh Tạ Cảnh đã dò la cặn kẽ rồi mới chỉ đường cho chúng ta. Huynh ấy bảo Đào Tam Nương là tay thợ cả có tiếng nhất bãi này, từ thời cha truyền con nối đã nức danh tay chuốt đất đanh mịn. Bà ấy tính tình tuy thẳng thắn, khó gần, ghét thói kì kèo bớt một thêm hai, nhưng lại là người cực kỳ trọng nghề. Một khi đã là người sống chết với đất với lửa, thứ đồ thật sự hữu dụng và có đầu óc, nhìn qua bản vẽ là họ hiểu giá trị ngay. Cứ vững dạ, lát nữa tỷ nói gì đệ chỉ việc lắng tai nghe, đừng bồn chồn mà lộ vẻ chột dạ."
Hai chị em men theo con đường rải xỉ lò đen nhánh tiến sâu vào dãy lán trung tâm, nơi đặt xưởng chuốt tạo hình lớn nhất. Dưới mái lợp cỏ tranh rộng thênh thang, gió lò lùa qua mát rượi xua đi cái oi bức của ánh nắng xế chiều. Hàng chục thợ nặn ngồi bên bàn xoay, người đạp chân, người thoăn thoắt đôi tay nhào đất, vuốt phôi nhịp nhàng như múa. Bụi đất mịn bay bảng lảng trong những luồng sáng xiên khoai rọi qua vách nứa.
Ở gian chính giữa lán, nơi đặt chiếc bàn xoay lớn bằng gỗ nghiến bóng nhẫy vì dính nước sét lâu năm, một người phụ nữ trạc chừng bốn mươi tuổi đang đứng đạp bàn đạp. Thân hình bà săn chắc, đẫy đà, vận bộ quần áo nâu ngắn tay bó sát người gọn gàng. Mái tóc hoa râm búi cao tóe tẽ được quấn chặt bằng một vuông khăn vải sáp màu chàm sẫm. Hai cánh tay bà nổi rõ những đường gân xanh, từ mu bàn tay lên đến khuỷu đều phủ một lớp bùn đất xám mịn màng như bơ. Đôi bàn tay thô ráp ấy lướt nhẹ trên khối đất sét đang quay tít mù; chẳng cần thước đo, chỉ bằng một cái ấn dứt khoát của ngón tay cái và động tác vuốt khéo léo của mảnh tre cạo mỏng, một chiếc vò miệng loe đã thành hình tròn trịa, cân đối đến mức không thừa một ngấn đất nào.
"Tam Nương tử, có khách tìm hỏi việc!" Một bác thợ già râu bạc phơ đang ngồi đập đất ở góc lán ngẩng đầu lên, cất giọng khàn đục gọi to át cả tiếng gió lò phì phò bên ngoài.
Người phụ nữ tên Đào Tam Nương không ngẩng đầu lên ngay. Đôi mắt sắc sảo của bà vẫn găm chặt vào vòng xoay tít của miệng vò. Chân bà đạp chậm lại ba nhịp chuẩn xác, để chiếc bàn xoay gỗ nghiến giảm dần tốc độ rồi đứng im phắc. Bấy giờ, bà mới rút sợi dây cước mảnh vắt bên hông, luồn bén ngọt qua đáy vò mộc cắt rời khối đất khỏi mặt bàn, dùng hai bàn tay nhẹ nhàng nhấc bổng chiếc phôi đất mềm sang tấm ván gỗ bên cạnh. Xong xuôi mọi thao tác chuẩn chỉ của một bậc thầy nghề gốm, bà mới vớ lấy chiếc giẻ ướt lau bớt bùn trên tay, ngước đôi mắt sáng quắc nhìn hai bóng người vừa bước vào mép hiên:
"Ai đấy? Đến mua vò đựng rượu nếp hay lấy vại muối dưa mạ đại trà? Nếu lấy loại thường dăm ba chiếc thì cứ bước vòng ra góc lán phía đông gặp chú Hai kho nhận hàng, trả tiền kẽm theo giá niêm yết. Ở đây ta đang bận chuốt cho xong mẻ phôi miệng hẹp kịp vào lò đêm nay, không rảnh tiếp chuyện mua lẻ lặt vặt."
Tiểu Mãn bước lên phía trước nửa bước, khẽ cúi đầu hành lễ theo đúng phép tắc của người làng quê nhưng phong thái đĩnh đạc, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng vào vị nữ thợ cả mà không hề có chút rụt rè sợ sệt:
"Chào Tam Nương tử. Cháu là Diệp Tiểu Mãn, cùng đệ đệ từ thôn Thanh Khê ven sông tới đây. Cháu vốn nghe danh tay nghề chuốt gốm của nương tử đanh mịn nức tiếng bãi Nam, lò nung giữ lửa đều mười chiếc ra lò vuông tròn cả mười, nên hôm nay mạo muội lặn lội tìm đến xưởng. Cháu không mua đồ sẵn ở kho ngoài, mà muốn cậy nhờ xưởng và đích thân bàn tay nương tử chuốt cho một lô chum sành theo quy cách riêng biệt."
Đào Tam Nương nhướng đôi mày rậm, ánh mắt sắc như dao lướt từ chiếc xe cút kít mộc mạc trống trơn của Nhị Hòa sang vóc dáng mảnh dẻ, chiếc áo chàm bạc màu của cô thôn nương mười bảy tuổi. Khóe môi thô mỏng của bà khẽ giật giật, lộ ra vẻ hoài nghi không giấu giếm:
"Chum quy cách riêng biệt? Nhà ngươi làm nghề gì ở Thanh Khê? Xưởng gốm Nam Bãi này mở ra từ đời cha ông ta, chuyên đúc đồ gia dụng, chum vại cung cấp cho khắp chợ lớn chợ nhỏ quanh huyện lẫn các thuyền buôn xuôi ngược bến Liễu Kiều. Hàng mẫu sẵn có trong kho cả chục loại: vò da lươn tráng men dày, vại muối dưa miệng loe, thố đất kho cá, hũ nút bấc cổ thắt... thiếu giống gì thứ chứa được nước, được muối? Cần việc gì phải nhọc công đặt khuôn riêng làm khổ thợ?"
"Thưa nương tử, chum vò bán sẵn ngoài kho quả thật chứa được nước được muối, nhưng chỉ dùng được cho việc ủ tương theo lối truyền thống che vỉ tre đậy nón rách, hoặc vò muối dưa nút bấc trát bùn tro. Những thứ đó đều có khuyết điểm chí mạng khi gặp thời tiết khắc nghiệt," Tiểu Mãn chậm rãi nói, từng lời rành rọt, âm lượng vừa đủ nghe nhưng vang rõ trong lán thợ. "Thứ cháu cần chế tạo là loại chum sành chuyên dụng để lên men kỵ khí và ủ tương dài ngày ngoài trời, bất kể nắng gắt sấy đất hay mưa dầm dề thối rơm. Cháu muốn thành miệng chum không loe tròn đơn giản như vò rượu, mà phải uốn một đường rãnh sâu lõm xuống như chiếc hào hào nước bao quanh cổ. Miệng trong vươn cao, thành ngoài của rãnh cũng cao ngang bằng miệng trong. Kèm theo đó là một chiếc nắp sành vồng khum khum, khi đậy úp trùm qua miệng trong thì mép nắp lọt thỏm xuống đáy rãnh. Chỉ cần đổ đầy một bát nước sạch vào lòng rãnh ấy, nắp chum lập tức ngập sâu trong nước. Hơi nóng và khí ủ bên trong tương tự sủi bọt đẩy nước thoát ra ngoài dễ dàng, nhưng không khí bẩn, bụi bặm đường gò, phấn nấm tạp và nước mưa axit từ trên trời tuyệt đối không thể lọt ngược vào lòng chum dù chỉ một giọt."
Đào Tam Nương ban đầu nghe với vẻ lơ đễnh, nhưng càng nghe về sau, đôi bàn tay đang cầm giẻ lau của bà càng chậm lại rồi khựng hẳn. Là một người thợ đã vọc đất nung từ thuở lên mười, chỉ cần ba câu miêu tả hình thế kết cấu, trong óc bà đã tự động xoay chuyển và dựng nên một khối hình học ba chiều sắc nét của chiếc chum ấy.
Bà chống hai tay đầy vết chai sần ngang hông, cặp lông mày nhíu chặt lại thành một rãnh sâu giữa trán. Giọng bà trầm hẳn xuống, không còn vẻ xua đuổi bực dọc ban đầu mà đổi thành sự dò xét căng thẳng:
"Ngươi muốn làm chum ngấn nước khóa khí? Kiểu dáng này... ta từng nghe mấy thương nhân già trên thuyền buôn mạn Phúc Kiến, Lĩnh Nam ghé bến Liễu Kiều uống trà kể lại đôi lần. Người ta bảo trong các trang viện lớn dưới miền nam, người ta dùng thứ vò nhỏ như thế để muối kiệu chua, muối quả cà tiến kinh giữ được cả năm giòn ngọt. Nhưng đó là loại vò nhỏ tráng men sứ, thợ ngọc dùng đất cao lanh nung lò nhỏ tinh xảo! Còn ngươi... một đứa con gái làng quê ở Thanh Khê, ngươi tính đặt thứ này làm gì? Định đặt bao nhiêu chiếc? Loại dung tích chứa được bao nhiêu?"
"Cháu muốn làm chum cỡ vừa, lòng chum sâu chừng hai thước, thân phình chứa được khoảng hai mươi thăng tương đậu hoặc bốn chục cân dưa cải nén chặt. Đợt mở đầu này... cháu xin đặt xưởng làm trước hai mươi chiếc."
"Hai mươi chiếc?!"
Đào Tam Nương nghe đến con số ấy thì bỗng bật cười khan một tiếng, lắc đầu nguầy nguậy như nghe phải một chuyện khôi hài không tưởng. Vẻ mặt bà lập tức sa sầm lại, trở về với nét khó tính thường nhật:
"Tiểu cô nương, ngươi nói chuyện nghe thì trơn tru, chữ nghĩa đâu ra đấy, nhưng ngươi có hiểu một tấc đất nung qua lửa nó truân chuyên thế nào không? Hai mươi chiếc chum cỡ vừa mà đòi sửa đổi cả quy cách bàn xoay, uốn vành rãnh nước sâu, gọt nắp riêng cho khít khao... Ngươi có biết việc đó phiền phức và rủi ro đến mức nào đối với một lò gốm không?"
Bà bước giậm chân tiến tới mép đống đất phôi, chỉ tay về phía chiếc bàn xoay gỗ nghiến:
"Thứ nhất, đất sét đỏ pha sét xám Nam Bãi này là đất phù sa bãi bồi ven sông, độ co ngót khi hong gió phơi khô và lúc lửa táp trong lò rất lớn, trung bình ngót mất một phần mười đến một phần mười hai thể tích! Chiếc chum tròn nhẵn bình thường không góc cạnh, đất ngót đều bốn bề thì không sao; nhưng chum của ngươi lại đẻ ra cái rãnh ngấn nước hai lớp thành. Thành ngoài phải mỏng để nắp lọt vừa, thành trong lại phải dày để chịu lực đè của nắp vồng. Hai thành đất độ dày mỏng khác nhau, lúc hong gió độ thoát ẩm không đều, sức co kéo chênh lệch sẽ lập tức giằng xé làm nứt toác ngay từ lúc nó còn là phôi mộc nằm trên giàn phơi!"
Bà xoay người, vung cánh tay gân guốc chỉ thẳng lên sườn đồi phía sau xưởng, nơi năm cửa lò bầu đang phì phò nhả khói đen kịt lên nền trời ráng đỏ:
"Thứ hai, nắp chum và thân chum không thể úp liền vào nhau mà nung được, men chảy ra dính chặt lấy nhau thì coi như vứt! Bắt buộc phải nung riêng. Thân chum to đứng thẳng ở lòng lò, nắp chum vồng nhẹ đặt nghiêng trên khay nung. Lửa trong lò bầu là lửa đuổi, luồng nhiệt chạy từ đầu lò xuống đuôi lò uốn éo theo chiều gió, táp không đều một cái là chiếc nắp đất méo ngay thành hình quả trứng ngỗng! Một khi nắp đã méo, làm sao úp vừa khít vào cái rãnh tròn vo của miệng chum? Hở một li là hỏng cả ngấn nước!"
Đào Tam Nương bước lại gần Tiểu Mãn, giọng gằn từng tiếng đầy thực tế:
"Một mẻ lò bầu của ta mỗi lần nhóm lửa đốt hết ba mươi xe củi bổi, xếp hàng trăm chiếc vò lớn nhỏ đã định hình từ bao năm. Vì hai mươi chiếc chum dị hình dị dạng của ngươi, thợ của ta phải tiện cữ gọt dao riêng, căn chỉnh cữ bàn xoay lại từ đầu, nhường chỗ góc lò lửa êm nhất cho chúng nó. Tỷ lệ nứt vỡ, méo miệng nắp khi dỡ lò cầm chắc phải mất đôi ba thành! Hai mươi chiếc tiền công thu về chẳng bõ tiền củi lửa cho thợ thức trắng ba đêm om than, lỡ mẻ lò méo miệng hết thì xưởng ta nắm chắc phần lỗ vốn đổ đi đâu? Ngươi về đi. Mua tạm vò thường ngoài kho kia kìa, chục đồng ba chiếc, về lấy vải dầu bọc kín miệng rồi lấy rơm khô trát bùn tro bên ngoài mà dùng, người xưa vẫn làm thế có chết ai đâu!"
Lời từ chối đanh thép, lạnh lùng của người thợ cả giàu kinh nghiệm như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào mặt Nhị Hòa. Cậu thiếu niên đang đứng vịn càng xe cút kít bỗng tái mặt, hai vai sụp xuống, đưa ánh mắt bối rối, lo âu nhìn sang chị gái. Cậu khẽ kéo nhẹ vạt áo Tiểu Mãn, ý chừng muốn bảo hay là thôi, về bàn lại với huynh Tạ Cảnh.
Nhưng Tiểu Mãn không hề nhụt chí. Sắc mặt nàng vẫn bình thản như mặt nước giếng khơi không gợn sóng. Nàng đã lường trước tất cả những lời này từ tối hôm trước, khi ngồi cùng Tạ Cảnh dưới ánh đèn dầu soi bóng con kênh Liễu Kiều. Một người thợ cả cả đời gắn bó với lò nung như Đào Tam Nương không từ chối vì hách dịch hay khinh người nghèo, mà từ chối vì bài toán chi phí, rủi ro kỹ thuật và mồ hôi công sức của thợ thuyền quá rõ ràng. Đối diện với một con người thực tế và sành nghề bực này, nước mắt hay lời nài nỉ cầu xin chỉ làm họ thêm coi thường. Muốn lay chuyển họ, chỉ có thể dùng sự chuẩn bị thấu đáo, lý lẽ chuyên môn sắc bén và một phương án sòng phẳng không để ai phải chịu thiệt thòi.
Tiểu Mãn đưa tay vào trong bọc ngực áo, cẩn thận rút ra một tờ giấy than khổ lớn phẳng phiu, không hề có một nếp quăn mép. Nàng tiến lên hai bước, hai tay cung kính mở rộng tờ giấy ra trước mặt Đào Tam Nương.
Dưới ánh sáng ráng chiều rực đỏ hắt vào gian lán, từng nét mực đen nhánh, sắc sảo, ngay ngắn như khắc bằng dao hiện lên rõ mồn một trên nền giấy trắng ngà. Đó không phải là một bức vẽ ước lệ nôm na của người nhà quê, mà là bản vẽ kỹ thuật chi tiết đến kinh ngạc: mặt cắt đứng và mặt cắt ngang của toàn bộ chiếc chum sành.
Từng thông số được ghi chú rành rọt bằng lối chữ khải thanh tú: chiều cao lòng chum hai thước, độ phình bụng rộng một thước hai tấc, đáy chum dày ba phân để giữ trọng tâm vững chãi không bị lật khi đổ đầy tương. Đặc biệt, phần cổ chum được phóng đại riêng một góc: rãnh nước sâu đúng hai tấc rưỡi, mép rãnh ngoài loe nhẹ năm phân để dễ dùng khăn lau chùi cặn bẩn bám đọng lâu ngày; thành trong cao hơn thành ngoài nửa đốt ngón tay để ngăn nước rãnh trào ngược vào trong lòng chum.
Kèm theo đó, bản vẽ nắp chum chỉ rõ độ vát nghiêng ba phân hình nón úp, để hơi nước ngưng tụ mặt dưới nắp sẽ thuận đà trôi tuột xuống mép ngoài rãnh nước chứ không nhỏ giọt xuống bề mặt tương đang lên men. Đáng kinh ngạc hơn cả, ở góc dưới bản vẽ có hẳn một bảng tính toán tỷ lệ trừ hao độ co ngót của đất sét Nam Bãi khi phơi khô và khi nung: đường kính miệng mộc phải chuốt dư thêm một phần mười một, nắp mộc phải nới rộng thêm một phân rưỡi để sau khi rút lửa, hai phần ráp vào nhau sẽ đạt độ khít khao hoàn hảo.
Đào Tam Nương vừa liếc mắt nhìn vào bản vẽ, chân mày đang nhíu chặt bỗng sững lại. Đôi con ngươi sắc lẹm của bà mở to ra, ánh lên những tia kinh ngạc tột độ. Bà vội vàng vơ lấy mảnh giẻ khô lau sạch bùn đất dính trên đầu ngón tay cái, rồi giật lấy mép giấy than, đưa lên sát tầm mắt dưới luồng sáng rọi:
"Bản vẽ này... là do ai vẽ cho ngươi? Nét mực quy củ, phân tấc rành mạch thế này, ngay cả đám thợ tiện mộc lành nghề làm nhà rường trên huyện thành cũng chưa chắc đã kẻ được tỉ mỉ đến từng đường gân thớ đất như vậy! Ngươi nhìn chỗ độ vát nghiêng ba phân của nắp này... thế mà lại tính được cả góc thoát của giọt nước ngưng tụ để nước chua không chảy ngược làm thối tương? Lại còn... lại còn bảng tính độ co ngót đất sét Nam Bãi này nữa, ai mà rành rẽ chất đất vùng này đến mức ghi rõ một phần mười một thế này?"
Tiểu Mãn nhìn thấy sự rung động sâu sắc trong ánh mắt của người thợ cả, nàng khẽ mỉm cười, giọng nói chân thành nhưng đanh thép, đĩnh đạc:
"Thưa Tam Nương, đây là do một vị tú tài trọ học ở thôn cháu đích thân đo đạc, tính toán và vẽ lại dựa trên toàn bộ quy trình lên men thực tế của gia đình cháu. Vị ấy đã từng đến các lò gạch cũ hỏi thăm cặn kẽ tính chất đất sét tầng ba của bãi Nam trước khi hạ bút kẻ từng nét mực này. Cháu biết nương tử lo lắng điều gì. Người mở lò kinh doanh, gánh vác miếng cơm manh áo của hàng chục miệng thợ, không ai có thể làm liều để gánh chịu rủi ro thay cho người ngoài. Cháu tìm đến xưởng của nương tử là vì kính trọng tay nghề bực nhất, cháu đến đây làm ăn chứ tuyệt đối không phải để xin xỏ sự thương hại hay ép thợ thuyền phải chịu thiệt thòi vì mình."
Nàng tháo chiếc túi vải thô đeo bên hông xuống, mở rộng miệng túi, đặt lên mặt chiếc bàn xoay gỗ nghiến. Những xâu tiền kẽm mới tinh, xâu nào xâu nấy một trăm đồng đều tăm tắp, dây gai buộc chặt kêu "leng keng" giòn giã:
"Hai mươi chiếc chum cỡ vừa này, theo thời giá thị trường ở bến Liễu Kiều, vò trơn miệng rộng cùng cỡ nương tử bán ra là ba mươi đồng một chiếc. Vì đây là mẫu phôi mới tốn công chuốt gọt, thợ phải căn cữ dao tiện riêng và hao tâm tổn sức hơn, cháu xin trả xưởng ba mươi sáu đồng một chiếc. Tổng cộng hai mươi chiếc là bảy trăm hai mươi đồng tiền kẽm. Ngay bây giờ, cháu xin đặt cọc trước một nửa là ba trăm sáu mươi đồng tiền mua đất phôi và công thợ chuốt mộc."
Đào Tam Nương ngước mắt từ đống tiền kẽm sáng loáng nhìn sang khuôn mặt bình thản của cô gái trẻ. Lồng ngực bà phập phồng, vẻ mặt dao động thấy rõ, nhưng thói quen cẩn trọng của một người cả đời chịu lỗ chịu lãi giữ chân bà lại:
"Tiền cọc phôi thì sòng phẳng đấy. Nhưng còn chuyện lửa lò hỏa biến thì sao? Ngươi biết rõ lò bầu ăn than đốt củi, đất sét vào lò ngàn độ nung qua ba ngày đêm, lửa hờn lửa dỗi ai mà đoán trước được tuyệt đối? Nếu nung xong hai mươi chiếc mà nứt mất năm sáu chiếc, méo miệng nắp ba bốn chiếc thì cái phần hao hụt ấy tính thế nào? Ai chịu tiền củi lửa cho ta?"
"Cháu cũng đã tính toán trọn vẹn điểm này, tuyệt đối không để xưởng phải ngậm bồ hòn làm ngọt," Tiểu Mãn nhìn thẳng vào mắt Đào Tam Nương, ánh mắt không hề né tránh, rành rọt đưa ra giải pháp quyết định: "Nếu mẻ lò ra, tỷ lệ nứt men, vỡ cốt hoặc méo nắp nằm trong vòng hai thành — tức là từ bốn chiếc trở xuống — cháu xin nhận chịu một nửa tiền hao hụt chi phí đất phôi và củi nung của những chiếc hỏng đó cùng xưởng! Còn nếu mẻ lò ra đạt chuẩn trên tám thành, cháu xin thanh toán đủ không thiếu một đồng tiền công nhật lẫn tiền thưởng thêm cho thợ chuốt phôi. Đổi lại tất cả những điều đó, cháu chỉ có hai yêu cầu duy nhất: thứ nhất, Đào Tam Nương người thật việc thật, đích thân nương tử phải đứng bàn xoay chuốt mẫu năm chiếc đầu tiên để lấy chuẩn. Thứ hai, bản vẽ này và khuôn mẫu chum ngấn nước này, trong vòng trọn một năm tới, lò Nam Bãi chỉ được làm riêng cho nhà cháu, không được tự ý bán đại trà cho bất kỳ mối lái thu gom tương cà nào khác quanh vùng Liễu Kiều hay các thuyền buôn vãng lai."
Một khoảng im lặng sâu hoắm bao trùm gian lán nung. Tiếng búa đập đất ở góc lán dường như cũng ngừng lại. Gió chiều thổi tạt qua mái tranh, mang theo hơi nóng hầm hập phả ra từ thân lò bầu rực đỏ, làm tà áo nâu bạc màu của người nữ thợ cả khẽ bay phần phật.
Đào Tam Nương đứng sững sờ, trân trân nhìn cô thôn nương trước mặt. Trong suốt hơn hai mươi năm kế nghiệp cha quản lý phường gốm này, khách buôn tìm đến bà nhiều không đếm xuể: có kẻ là thương lái giàu có chỉ chăm chăm bớt xén từng đồng kẽm con, chê ỏng chê eo để ép giá thợ; có kẻ là chủ phường rượu hách dịch, chỉ tay năm ngón đòi hàng thật nhanh, mẻ nung hỏng một vài chiếc là nhảy dựng lên chửi bới, đòi đền bù từng cắc mà chẳng cần biết thợ thuyền đã phải thức trắng bao đêm, chịu khói táp mắt cay xè bên miệng lò lửa đỏ.
Thế nhưng, cô gái nhỏ tuổi này thì khác. Nàng không những hiểu đến chân tơ kẽ tóc nguyên lý lên men thoát khí của nghề làm tương, chỉ ra được chỗ yếu chí tử của vò nắp bấc truyền thống, mà quan trọng hơn cả, nàng hiểu và tôn trọng sự nhọc nhằn, rủi ro khôn lường của người thợ lò. Nàng dám mở miệng chia sẻ rủi ro hư hao xương gốm, lại có tầm nhìn sắc bén khóa chặt khuôn mẫu để giữ thế độc quyền sinh kế cho gia đình.
Một người có gan dạ, có hiểu biết và có cái tâm sòng phẳng đến mức này, tuyệt đối không bao giờ là một kẻ tầm thường làm ăn chộp giật qua ngày đoạn tháng.
"Ha ha ha ha!"
Đột nhiên, Đào Tam Nương ngửa cổ ra sau, bật cười một tràng sảng khoái. Tiếng cười sang sảng, giòn giã của người đàn bà vùng sông nước vang dội khắp gian lán, át đi cả tiếng thở dài lo âu nãy giờ của Nhị Hòa. Bà vung bàn tay to bè vỗ mạnh một cái "đét" vào đùi, bụi đất khô trên ống quần nâu bay ra mù mịt:
"Khá! Khá lắm thay cho con bé thôn dã nhà ngươi! Ăn nói đâu ra đấy, khúc chiết gãy gọn, thấu tình đạt lý đến mức một bà già khó tính như Đào Tam Nương này cũng không moi ra nổi nửa lời để bắt bẻ thoái thác! Được! Mười mấy năm nay ở bãi Nam này, ta chỉ toàn chuốt mấy cái vò rượu tầm thường với ống cống thoát nước cho người ta, tay nghề chuốt đồ ngọc từ thời trẻ cũng ngứa ngáy đến tận xương tủy rồi! Kèo này, Đào Tam Nương ta nhận!"
Bà bước sấn tới, bàn tay thô ráp đầy vết chai sần vỗ thật mạnh lên vai Tiểu Mãn khiến nàng khẽ lảo đảo, nhưng trên môi nở nụ cười rạng rỡ:
"Ngươi đã biết trọng người làm nghề thì ta cũng không thèm ăn dày của ngươi một xu! Ba mươi sáu đồng cái gì, ta lấy đúng giá ba mươi lăm đồng một chiếc! Tiền cọc đưa đây ba trăm đồng chẵn là đủ, bốn mươi đồng kia ngươi giữ lấy mà dằn túi đi đường. Phần còn lại, khi nào dỡ lò, chính tay ngươi đổ nước vào rãnh kiểm tra kín hơi, đạt chuẩn ta mới thu nốt. Nhưng ta nói trước, tính ta làm việc gì cũng phải chắc chắn: chiều nay ta đích thân đứng bàn xoay chuốt đúng năm chiếc mẫu đầu tiên để cho vào mẻ lò đêm mai nung thử lửa. Nếu năm chiếc này ra lò không nứt, ngấn nước giữ kín hơi hoàn hảo, ta mới đốc thúc thợ làm đồng loạt mười lăm chiếc còn lại!"
"Được một lời vàng ngọc này của Tam Nương, cháu hoàn toàn yên tâm giao phó!" Ánh mắt Tiểu Mãn sáng ngời lên lấp lánh. Nàng lập tức đếm đủ ba trăm đồng tiền kẽm sáng loáng, đặt ngay ngắn vào chiếc khay gỗ dưới chân bàn xoay của bà.
Nhận tiền cọc cất vào chiếc tráp gỗ khóa sắt dưới gậm bàn, Đào Tam Nương lập tức xắn cao hai ống tay áo lên tận nách, thắt lại vuông khăn trùm đầu cho gọn ghẽ. Bà rút từ giỏ đồ nghề bên cạnh ra một thanh nứa già gọt cong hình chữ U sắc lẹm và một chiếc compa gỗ dùng để đo khẩu độ phôi mộc:
"Đi theo ta ra bãi phôi phía sau lán. Đã muốn làm đồ chuẩn mực thì phải theo dõi từ lúc nhào đất, đừng có đứng đấy mà nhìn suông. Thứ đất sét dùng làm chum ngấn nước này không thể dùng đất sét cát pha tạp ở tầng mặt được, phải dùng sét xám tầng ba lấy từ đáy lòng sông sâu, pha thêm mười phần bột đá nghiền mịn như bột ngô. Có bột đá vào, xương gốm sau khi nung mới đanh lại như gang thép, ngâm nước quanh năm suốt tháng cũng không bị rỉ rỉ thấm ẩm ra ngoài."
Tiểu Mãn và Nhị Hòa háo hức rảo bước đi theo sau bóng lưng vững chãi của người thợ cả. Tại khoảng sân phơi râm rợp mát dưới bóng rặng tre sau lán, Đào Tam Nương thoăn thoắt chọn một tảng đất sét xám dẻo quánh, mịn màng tựa như khối bột bánh dày vừa giã xong. Bà dùng sợi dây thép mảnh cắt đôi tảng đất, lật úp lại kiểm tra xem có bọt khí hay hạt sỏi nào sót lại không, rồi bê nguyên khối đất nặng chừng ba mươi cân đặt ụp lên mặt bàn xoay phụ.
"Nhìn kỹ đây!"
Bà quát khẽ một tiếng, bàn chân trần đạp mạnh vào bàn đạp phía dưới. Chiếc bàn xoay gỗ nghiến bắt đầu quay tít mù, tiếng gió xé rít lên khe khẽ. Đào Tam Nương nhúng hai bàn tay vào chậu nước sét lỏng, áp chặt lòng bàn tay vào khối đất xám. Dưới sức ép chuẩn xác và lực ly tâm mạnh mẽ, khối đất ngoan ngoãn thu mình lại thành một khối trụ tròn thẳng đứng, rồi lại bị bàn tay bà nén bẹp xuống thành một chiếc bánh dày tròn xoe. Bà làm đi làm lại động tác ấy ba lần để ép sạch những bọt khí li ti còn ẩn sâu trong thớ đất.
Sau đó, ngón tay cái của bà cắm phập vào tâm khối đất, hai bàn tay khéo léo kéo rộng lòng chum ra. Đất sét mềm mại dâng lên theo từng nhịp vuốt mượt mà của những ngón tay gân guốc. Chỉ trong chưa đầy một khắc đồng hồ, dưới con mắt tròn xoe thán phục của Nhị Hòa, phần thân chum đã phình ra tròn trịa, thon dần về phía đáy một cách hoàn mỹ.
Đến công đoạn làm miệng rãnh, Đào Tam Nương nheo mắt nhìn bản vẽ của Tạ Cảnh một lần nữa để ghi nhớ khẩu độ. Bà dùng thanh nứa cong nhẹ nhàng khoét một đường sâu hoắm quanh vành miệng, tay trái nâng thành trong vươn cao, tay phải miết cho thành ngoài thoai thoải loe nhẹ đúng năm phân. Từng động tác chuẩn xác, dứt khoát đến mức không một giọt bùn nào văng ra ngoài. Tiếp đó, trên một bàn xoay nhỏ bên cạnh, bà nặn chiếc nắp vồng khum khum, dùng compa gỗ đo đi đo lại đường kính mép nắp rồi úp ướm thử vào rãnh chiếc chum mộc.
Mép nắp lọt thỏm xuống lòng rãnh một cách trơn tru, cách đáy rãnh đúng một khoảng hở tinh tế để nước luồn qua mà không hề bị kẹt cứng khi đất co ngót.
"Thấy tay nghề của Đào Tam Nương này thế nào?" Bà dùng que tre gạt nhẹ một vệt đất thừa, hài lòng ngắm nghía thành quả đầu tiên. "Phôi mộc thế này tuyệt đối không được đem phơi nắng to, phơi nắng gắt là nứt toác ngay cái rãnh nước. Phải ủ rơm ẩm, che bạt kín trong bóng râm trọn hai ngày đêm cho se từ từ từ trong ra ngoài. Đêm mai ta cho vào góc lò số ba, đốt lửa liu riu sấy lò mười hai canh giờ, rồi mới vào than nung chín, đến sáng ngày kia là có thể mở cửa lò dỡ năm chiếc mẫu đầu tiên ra xem."
Nói đoạn, bà quay đầu nhìn sang chiếc xe cút kít bằng gỗ mít của Nhị Hòa đang dựng ở góc sân, rồi lại nhìn mồ hôi đang nhễ nhại trên trán cậu thiếu niên:
"Tiểu tử kia, xe của ngươi đóng bằng gỗ mít già đấy, bánh xe cũng bọc sắt chắc chắn, nhưng chở đồ sành mộc hay đồ nung dặm đường dài ba mươi dặm từ đây về Thanh Khê mà không biết cách chèn lót thì chỉ cần một cú xóc ổ gà là vỡ tan tành cả lũ! Đến lúc đấy thì đừng có ngồi ôm đống mảnh sành mà khóc ròng."
Nhị Hòa gãi đầu gãi tai, lúng túng thưa thật thà:
"Dạ thưa Tam Nương, cháu... cháu định lót một lớp rơm thật dày dưới đáy thùng xe, rồi xếp các chum sát nhau, lấy dây thừng buộc chặt lại là được ạ..."
"Lót đáy không thôi thì ăn thua cái nỗi gì!" Đào Tam Nương bĩu môi lắc đầu, bước lại gần chiếc xe cút kít, đưa tay vỗ vỗ lên thành ván: "Đồ gốm sành sau khi qua lửa nó giòn như bánh đa, mỏng manh nhất là ở hai chỗ: vành miệng và gờ đáy. Ngươi lót rơm dưới đáy chỉ đỡ được lực dằn từ dưới lên, nhưng đi đường đất mấp mô, xe lắc qua lắc lại, sành va vào sành một tiếng 'cốp' là nứt toác dọc thân ngay! Muốn chở đồ sành đi đường xa, trước hết ngươi phải lấy rơm nếp dẻo, tuốt sạch lá úa, bện thành từng con cúi tròn vo như chiếc vòng tay lớn, lồng khít vào gờ đáy của từng chiếc chum để khử triệt để độ nảy của mặt đường. Giữa thân chum nọ với chum kia, tuyệt đối không được để chúng nó chạm da chạm thịt, phải chèn những chiếc đệm rơm bện hình múi bưởi thật chặt ở bốn góc tiếp xúc. Còn dây thừng chằng néo thì sao? Không bao giờ được siết ngang bụng chum, siết thế gặp đường xóc sẽ làm vặn cốt gốm nứt ngầm bên trong; phải chằng néo theo hình chữ nhân, vòng dây qua cổ chum ghì xiên chéo góc xuống các then chốt ở sàn xe. Làm đúng như thế thì dù xe có nghiêng bốn mươi lăm độ hay sụp ổ trâu ổ bò, chum bên trong vẫn nằm im thin thít như thóc nằm trong bồ!"
Nhị Hòa chăm chú lắng nghe từng lời từng chữ như nuốt lấy từng giọt nước mát giữa trưa hè. Đôi mắt cậu sáng rực lên vì học thêm được một ngón nghề vận chuyển quý giá. Cậu vội vàng cúi nhặt một mẩu than củi khô dưới chân lò, ngồi thụp xuống vạch ngoáy ngoáy mấy đường dây chằng hình chữ nhân và hình múi bưởi lên mặt ván xe, miệng lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại từng thao tác để không bao giờ quên.
Nhìn cậu thiếu niên ham học hỏi, Đào Tam Nương khẽ mỉm cười kín đáo. Bà ngoắc tay kéo Tiểu Mãn sang chiếc chõng tre kê dưới góc hiên râm mát của lán nghỉ, với tay nhấc chiếc ấm đất nung đã ngả màu da đồng cáu xỉ, rót ra hai chiếc bát sành tráng men nâu hai bát nước chè xanh om lá tươi bốc khói nghi ngút. Mùi thơm chát nồng của chè tươi hòa quyện với vị ngọt hậu lan tỏa trong vòm họng xua đi bao mệt mỏi của chặng đường trưa.
Nhìn Tiểu Mãn bưng bát nước uống từng ngụm chậm rãi, tao nhã không chút kiểu cách câu nệ, ánh mắt Đào Tam Nương lắng lại, lộ ra nét từng trải của một người đàn bà đã nếm đủ mùi dâu bể:
"Này con bé, dưa tương nhà ngươi làm ngon đến mức nào mà phải kỳ công lặn lội đến tận đây đặt loại chum kín khí tốn kém này? Ta ở cái lò Nam Bãi này ngót nghét ba chục năm có lẻ, phường buôn tương, lái buôn dưa ghé mua vò chum nhiều như đàn cá mùa nước nổi, nhưng mười đứa thì cả mười chỉ cốt đòi vò cho rẻ, men mỏng tang cũng được, miễn sao đựng được nhiều để đem bán tống bán tháo kiếm lời nhanh bỏ túi. Chưa từng thấy đứa nào chưa bán được mấy đồng lời đã chịu bỏ bạc ra chăm chút cho cái đồ đựng kỹ lưỡng như ngươi."
Tiểu Mãn đặt nhẹ chiếc bát sành xuống mặt chõng tre, ánh mắt nhìn ra những luồng khói lò đang cuộn tròn bay lên nền trời thẳm, khẽ mỉm cười giãi bày:
"Dạ thưa Tam Nương, tương của gia đình cháu làm là theo bí quyết gia truyền của bà ngoại cháu để lại từ nhiều đời trước. Đậu nành phải chọn thứ đậu trồng trên đất gò đồi Cồn Gió, tuy đất cằn cỗi nhưng hạt đanh mẩy, rang chín thơm nức mũi; mốc ủ phải là thứ mốc hoa cau chín ngậm sáp vàng óng, muối hạt phải dùng muối biển cũ của năm trước rang khô cho ráo hết vị chát đắng. Một mẻ tương muốn dậy được vị ngọt sâu lắng của đạm đậu, hậu vị mặn thanh mát lành không chát khé cổ họng thì bắt buộc phải dầm nắng phơi sương ròng rã suốt bốn năm tháng trời ngoài trời dãi dầm. Vò sành thông thường nắp hở, đậy nón mê hay vỉ tre, hễ gặp một trận mưa rào bất chợt hay gió bấc ẩm ướt kéo dài là hơi ẩm ngấm vào làm thối mốc, tương nổi váng xám nhờ nhờ, chua lòm như nước ốc ngay. Đợt trước, nhà cháu vừa phải cắn răng đem đổ bỏ hai chum lớn vì bị rỉ nước giọt gianh mái ngói thấm vào, xót xa như cắt từng khúc ruột nương tử ạ. Cháu nghĩ, thà mình chịu tốn kém thêm mấy chục đồng kẽm ban đầu để làm cho được chiếc chum chuẩn mực, bảo bọc cho mẻ tương an toàn tuyệt đối từ ngày đầu đến ngày ngấu, còn hơn là tiếc vài đồng bạc vụn để rồi mất trắng cả vốn liếng, mồ hôi và quan trọng nhất là mất đi chữ tín với người ăn."
Đào Tam Nương nghe xong, ngả người ra lưng chõng tre, thở dài một hơi dài thườn thượt. Ánh mắt bà nhìn xa xăm về phía triền đồi ngút ngát khói lò:
"Nói hay lắm... Khá cho câu 'mất chữ tín với người ăn'. Làm nghề gì trên đời này cũng vậy thôi con bé ạ, cái tâm của mình đặt vào sản phẩm đến đâu thì tiếng thơm nó bay xa đến đấy, đó mới là thứ giữ chân người ta lâu bền nhất. Ngươi nói chuyện làm ta nhớ đến cái lão Tôn béo khốn khổ khốn nạn trên huyện Vân Thủy."
Tiểu Mãn chớp mắt, đôi tai nhạy bén lập tức bắt trúng cái tên vừa thốt ra:
"Lão Tôn béo... Thưa Tam Nương, có phải nương tử đang nói đến chưởng quầy kiêm đại trù sư Tôn Như Hải của Tửu lầu Vọng Giang ngoài bến sông không ạ?"
Đào Tam Nương hơi giật mình, ngạc nhiên quay sang nhìn nàng trân trối:
"Ủa, ngươi là gái thôn quê hẻo lánh mà cũng biết đến danh lão béo ấy à? Đúng là lão Tôn béo ấy chứ còn ai vào đây nữa! Lão khó tính khó nết như ma trút, kén chọn từng cọng hành ngọn răm đưa vào cửa bếp. Mấy tháng trước, đích thân lão cho người đánh xe ngựa về tận bãi gốm này, lùng sục khắp các kho gom cho bằng được ba chục chiếc thố sành da lươn tráng men lòng sâu do chính tay ta chuốt để về hầm món cá kho niêu phục vụ cho các quan khách giàu sang trên thuyền buôn liên tỉnh. Lão vỗ bàn bảo với ta thế này: 'Thức ăn ngon đến mấy mà đựng vào thứ đồ gốm thô vụng, men rỗ mắt cua làm biến chất biến mùi thì công sức người làm bếp coi như vứt cho chó ăn!' Lò Nam Bãi này mấy năm nay thỉnh thoảng vẫn chế tác riêng những lô hũ sành kín khí đặc chủng để chuyển lên huyện cho lão Tôn dùng thử nghiệm các món dưa muối thượng phẩm đấy."
Bà dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn Tiểu Mãn với vẻ đầy thâm ý và kỳ vọng:
"Nếu mẻ chum ngấn nước khóa khí này của ngươi ra lò thành công, dưa tương ủ trong đó đạt được độ thanh khiết tinh khôi, hạt tương không dính một tí tạp mùi nào... có khi chẳng cần ngươi phải đi rao bán vất vả đâu, chính cái lão Tôn béo hách dịch ấy sẽ phải ngửi mùi thơm mà mò tìm về tận cổng nhà ngươi để xin đặt mua cho bằng được đấy chứ chẳng chơi!"
Trái tim Tiểu Mãn khẽ đập rộn lên một nhịp rộn ràng. Nàng bất giác nhớ lại hình ảnh người đàn ông to béo vận áo gấm sẫm màu, đôi mắt híp lại đầy sành sỏi đã ghé vào sạp Ất Thập Bát của nàng sáng nay ở chợ bến — người đã nếm thử đĩa dưa cải giòn tan chấm tương ớt cay nồng rồi tấm tắc khen ngợi, hẹn bao trọn sạp hàng vào phiên chợ mùng mười tới. Mọi mắt xích trong chuỗi nhân duyên buôn bán: từ lò gốm Nam Bãi, chất lượng xương đất nung, nguyên lý ngấn nước khóa khí cho đến khẩu vị khắt khe của tửu lầu lớn nhất bến sông... bỗng chốc đan cài, kết nối lại với nhau một cách tự nhiên và hoàn hảo đến kỳ lạ.
"Cháu xin ghi lòng tạc dạ những lời chỉ dẫn quý báu này của Tam Nương," Tiểu Mãn đứng dậy, hai tay chắp trước ngực cúi đầu thật sâu.
"Được rồi, việc đã định xong xuôi. Giờ Thìn ngày kia, hai chị em ngươi đẩy xe lại đây nhận năm chiếc chum mẫu nung chuyến đầu. Nhớ bện sẵn rơm nếp làm con cúi mang theo đấy, ta không cho chở không về đâu!"
"Dạ, cháu nhớ kỹ rồi ạ!"
...
Hai ngày trôi qua tựa như một cái chớp mắt giữa vòng quay tất bật của công việc đồng áng và chuẩn bị nguyên liệu ở thôn Thanh Khê. Tiểu Mãn cùng cả nhà bận rộn đãi sạch từng thúng đậu nành gò đồi, rang cát nóng để vỏ đậu giòn tan tách đôi, rồi canh chừng nong mốc hoa cau đang lên tơ trắng mịn trong gian buồng kín gió. Đúng giờ Thìn sáng ngày hẹn, khi những tia nắng mai đầu tiên vừa xé tan màn sương bảng lảng trên rặng tre đầu làng, Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa đã có mặt chỉnh tề trước cửa lò nung số ba của Phường Gốm Nam Bãi.
Cửa lò bằng những tảng gạch chịu lửa dày cộp vừa được thợ dỡ ra từ lúc canh năm rạng sáng. Luồng hơi nóng ngùn ngụt từ sâu trong lòng lò vẫn phà ra hăng hắc, mang theo mùi nồng đượm của men gốm vừa chín tới. Trên khoảng đất sạch đã được rải cát mịn trước cửa lò, năm chiếc chum sành mẫu đầu tiên đã được thợ khiêng ra đặt ngay ngắn thành một hàng thẳng tắp để hạ nhiệt.
Đào Tam Nương đang ngồi xổm bên cạnh, trên tay cầm một chiếc búa gỗ nhỏ cán dài. Bà gõ nhẹ từng nhịp "coong... coong... coong..." vào thân từng chiếc chum. Tiếng kêu phát ra vang rền, trong vắt và đanh chắc như tiếng gõ vào chuông đồng hồ.
Nghe thấy tiếng bước chân rộn rã của hai chị em, bà ngẩng đầu lên. Khuôn mặt vuông vức lấm lem những vệt than củi đen nhánh không giấu nổi một nụ cười rạng rỡ, đắc ý tột bực của một người nghệ nhân vừa chinh phục được một đỉnh cao thử thách:
"Tới rồi đấy à hai đứa? Mau nhảy lại đây mà mở to mắt ra nhìn xem tài nghệ chuốt đất canh lửa của Đào Tam Nương ta!"
Tiểu Mãn bước nhanh tới, lồng ngực đập thình thịch, nàng nín thở cúi xuống nhìn ngắm năm chiếc chum thành phẩm.
Khác hẳn với màu xám xịt, ẩm ướt của những khối đất phôi thô hôm trước, năm chiếc chum sau khi trải qua ngọn lửa ngàn độ suốt ba ngày ba đêm trong lò bầu đã khoác lên mình một lớp áo men da lươn màu nâu hạt dẻ óng ả, trầm mặc và sâu thẳm. Lớp men phủ đều tăm tắp từ cổ xuống đáy, bóng láng mượt mà như mặt nước hồ thu buổi sớm, tuyệt nhiên không tìm thấy một vết rỗ mắt cua, một hạt bọt khí hay một đường rạn chân chim nào.
Tiểu Mãn đưa bàn tay run run vuốt dọc theo thân chum. Xương gốm đanh chắc, nặng trịch và trơn láng. Khi đầu ngón tay nàng miết qua gờ rãnh nước sâu quanh miệng, cảm giác nhẵn thín không hề có một gợn sạn thô ráp. Đường rãnh uốn lượn tròn trịa đến mức hoàn mỹ, thành ngoài vươn cao vừa vặn ngang bằng thành trong, không hề bị xiêu vẹo hay giằng xé nứt nẻ dù chỉ một vết chân kim.
"Tam Nương, tiếng kêu trong quá!" Nhị Hòa ghé sát tai vào thành chum nghe tiếng ngân nga dư ba sau nhịp búa gõ, mặt rạng rỡ reo lên thán phục.
"Đó là nhờ sét tầng ba pha bột đá và tay nghề canh lửa của ta đấy nhóc con!" Đào Tam Nương cười lớn, cầm lấy chiếc nắp vồng khum khum màu nâu hạt dẻ úp chụp lên miệng chum.
"Cạch!"
Một tiếng thanh gọn, êm ru vang lên. Chiếc nắp sành vừa khít như in vào lòng rãnh ngấn nước, mép nắp cách đều thành ngoài đúng nửa đốt ngón tay, tạo nên một khe hở tròn trịa, đồng tâm tuyệt đối, không hề có một chút xộc xệch hay bập bênh nào dù ấn mạnh tay vào bất cứ góc nào.
"Bây giờ, mang nước giếng ra đây thử nghiệm!" Đào Tam Nương dõng dạc cất giọng ra lệnh cho đám thợ phụ.
Một người thợ lập tức xách tới một gầu nước giếng khơi trong vắt, mát lạnh. Đào Tam Nương đón lấy gầu nước, từ từ nghiêng dòng, rót đầy một vòng vào đường rãnh quanh miệng chiếc chum thứ nhất. Dòng nước dâng lên ngập quá nửa vành nắp chụp, tạo thành một con hào nước trong veo, ngăn cách lòng chum với thế giới bụi bặm bên ngoài.
Tiểu Mãn quỳ một chân xuống nền cát, áp sát tai vào khe nắp lắng nghe ngóng. Không có một tiếng rít xì hơi nào, không có một bọt tăm nhỏ nào sủi lên. Nàng đưa hai ngón tay lay nhẹ chiếc núm tròn trên đỉnh nắp: chiếc nắp nổi bồng bềnh trong ngấn nước một cách êm ái, trơn tru nhưng không hề lọt một giọt nước nào vào trong lòng chum rỗng bên dưới.
Để kiểm tra độ kín tuyệt đối không chút kẽ hở, Tiểu Mãn rút từ tay áo ra một nén hương trầm mang theo từ nhà, châm lửa đốt đỏ rực rồi mở hé nắp nhét nén hương vào đáy chum, sau đó đậy sập nắp lại, đổ thêm nước cho đầy tràn mép rãnh. Khói hương mù mịt cuộn tròn bên trong qua lớp sành dày đặc quánh, nhưng quanh vành rãnh nước bên ngoài tuyệt nhiên không thấy một sợi khói mảnh nào lọt ra. Một lúc sau, khi khói hương ngưng tụ và nở ra vì nhiệt, áp suất bên trong lòng chum dâng lên nhè nhẹ đẩy mép nắp kênh lên một li; tức thì, một bọt khí lớn kêu "ục" một tiếng giòn tan sủi qua ngấn nước rồi thoát ra ngoài, và chiếc nắp lại lập tức chìm xuống khép kín như cũ.
"Tuyệt hảo! Thật sự là tuyệt hảo!" Tiểu Mãn không kìm được tiếng reo khẽ, hai bàn tay nàng nắm chặt lại, mắt lấp lánh niềm hạnh phúc ngập tràn. "Đúng là thứ chum sành cháu hằng mong ước bấy lâu nay! Khí men nở ra thì tự động thoát ra ngoài, nhưng gió bụi, ruồi bọ và nước mưa dầm bên ngoài tuyệt đối không cách nào lọt vào được!"
Đào Tam Nương đứng vuốt cằm, ánh mắt tràn đầy sự kiêu hãnh của một bậc thầy thủ công vừa tạo ra một tác phẩm để đời:
"Mẻ nung năm chiếc, lửa táp tròn đều cả năm, xương gốm đanh chín mười phần không hao hụt một chiếc nào! Mười lăm chiếc còn lại, thợ của ta đang nhào đất đổ phôi mộc theo đúng cữ này, đúng ba ngày nữa nung xong mẻ lớn là có thể đến chở nốt. Năm chiếc chum mẫu này, các ngươi mau khuân lên xe chở về mà dùng trước đi!"
Nhị Hòa không đợi bảo lần thứ hai, thoăn thoắt mang đống rơm nếp dẻo đã được cậu bện thành từng con cúi tròn dày dặn đặt lót cẩn thận lên sàn xe cút kít. Hai chị em cùng nhau khiêng từng chiếc chum nặng trịch đặt vào thùng xe. Cậu chèn những chiếc đệm rơm múi bưởi êm ái vào giữa các thân chum, rồi dùng sợi dây thừng gai chằng néo chéo theo hình chữ nhân qua cổ từng chiếc chum ghì chặt xuống then sàn xe đúng như những gì Đào Tam Nương đã chỉ dạy hai hôm trước. Xong xuôi, Nhị Hòa nắm càng xe lắc thử thật mạnh: năm chiếc chum nằm vững như bàn thạch, không hề xê dịch hay phát ra một tiếng va chạm nhỏ nào.
Tiểu Mãn lấy chiếc túi vải thô, thanh toán sòng phẳng nốt số tiền công một trăm bảy mươi lăm đồng tiền kẽm cho năm chiếc chum mẫu giao tận tay Đào Tam Nương.
"Tam Nương giữ gìn sức khỏe, ba ngày nữa vào giờ Thìn, chị em cháu lại sang nhận đủ mười lăm chiếc còn lại!"
"Đi đường cẩn thận nhé con bé! Chúc cho mẻ tương mùa mới của nhà ngươi thơm nức khắp bến Liễu Kiều, để cái lão Tôn béo kia phải mở to mắt ra mà nhìn!" Đào Tam Nương vẫy vẫy bàn tay lấm lem than củi, đứng nhìn theo bóng chiếc xe cút kít gỗ mít lăn bánh rời khỏi cổng xưởng trong ánh nắng ban mai rực rỡ.
Chặng đường dài ba mươi dặm từ trấn Liễu Kiều trở về thôn Thanh Khê trưa nay dường như ngắn lại dưới bước chân thoăn thoắt, rộn rã của hai chị em. Gió đồng nội từ bờ kênh thổi qua lồng lộng, mang theo hương ngô non đang trổ cờ và mùi phù sa ngai ngái mát lành. Tiếng bánh xe cút kít kẽo kẹt đều đặn trên con đường đất đỏ, chở theo năm chiếc chum sành da lươn lấp lánh ánh men nâu hạt dẻ dưới nắng trưa — một giải pháp bảo quản hoàn hảo, chiếc chìa khóa sống còn mở toang cánh cửa cho mẻ tương mùa vụ mới và những đơn hàng lớn sắp tới của Diệp gia.
Thế nhưng, niềm hân hoan rạng rỡ của hai chị em vừa kéo dài đến rặng tre xanh ngắt đầu làng thì bỗng khựng lại.
Vừa chở chuyến chum đầu tiên về đến đầu thôn, Tiểu Mãn đã nghe thấy tiếng cãi vã om sòm vang ra từ bến nước.