Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.14 / 45
Chương 14

Cuốn sổ của bà ngoại và tiếng thoi đưa

Lớp vải dầu sáp mở ra để lộ cuốn sổ giấy bổi ngả vàng lem dấu thời gian, phảng phất mùi quế khô và hương đậu lên men quen thuộc.

Bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát cửa sổ gian buồng, ngọn đèn dầu hạt lạc le lói hắt lên những ngón tay gầy guộc của Lâm Tú Nương. Từng nếp vải dầu đã nứt nẻ sau hàng chục năm vùi sâu dưới đáy rương gỗ long não, mép giấy bổi bên trong có chỗ quăn queo, xơ xác như cánh bướm khô, nhưng từng đường chỉ khâu gáy bằng sợi gai nhuộm vỏ cây vẫn còn ghì chặt lấy nhau, kiên cường qua bao mùa mưa ẩm xứ đồng bằng ven chân núi Thanh Lĩnh. Gió đêm cuối xuân lùa qua khe liếp nứa, mang theo hơi ẩm ngai ngái của đất ải vừa vỡ cùng mùi hoa bưởi thoang thoảng từ vườn sau bay vào, nhưng chẳng thể xua đi bầu không khí trang nghiêm, trầm lắng đang bao trùm lấy gian nhà đất ba gian.

Lâm Tú Nương khẽ vuốt phẳng mép giấy sờn cũ, đôi mắt trũng sâu đong đầy xúc cảm. Những vệt thâm quầng quanh khóe mắt bà dường như dãn ra, nhường chỗ cho một vẻ thanh thản hiếm hoi sau những chuỗi ngày dài đằng đẵng sống trong âu lo thắt ruột. Bà ngước nhìn con gái lớn, giọng khàn đặc nhưng ấm áp lạ lùng:

“Tiểu Mãn, mẹ con ta từ nay không còn phải nơm nớp giấu giếm điều gì nữa. Cuốn sổ này là của bà ngoại Lâm Thu Bà truyền lại cho mẹ lúc mẹ theo cha con về làm dâu xóm Đông này. Ngày ấy bà dặn, người làm nghề chế biến đồ ăn thức uống, muối một vại dưa, ủ một chum tương thì cái tâm phải trong vắt như nước giếng đá Thanh Lĩnh. Bán cho thiên hạ ăn cũng như nấu cho con thơ trong nhà nuốt, tuyệt đối không được vì mươi đồng bạc lẻ mà gian dối tráo đổi nguyên liệu mốc hỏng, càng không được hám lợi mà rút bớt ngày tháng ủ ấp. Mẻ tương hỏng thì đổ bỏ làm phân bón ruộng, chứ một khi đã để hạt tương vẩn đục lọt vào miệng người ta thì cái đức của dòng họ cũng trôi sạch theo rãnh nước.”

Bà ngừng lại, bờ ngực gầy guộc phập phồng sau một hơi thở dài trút bỏ gánh nặng. Đôi bàn tay thô ráp chai sần vì dầm mưa dãi nắng bao năm qua run run đặt lên mu bàn tay rám nắng của Tiểu Mãn, chậm rãi đẩy cuốn sổ sang:

“Mẹ ốm yếu, tính lại nhút nhát, giữ bảo vật của bà bao năm mà chỉ dám lén lút muối dăm hũ dưa độn bữa qua ngày đói rách, thậm chí suýt nữa vì sự hèn kém của mình mà để con mụ Chu Kim Quế bức ép cướp mất. Nay cha con đã trao toàn quyền sinh kế trong nhà cho con trước bàn thờ tổ tiên, con lại là đứa gan dạ, biết tính trước lo sau, mẹ trao cuốn sổ này lại cho con là đúng người, trọn vẹn ý nguyện của bà ngoại dưới suối vàng.”

“Mẹ, con xin nhận. Con hiểu cái tâm của bà và mẹ.”

Tiểu Mãn đưa hai tay trân trọng đón lấy cuốn sổ. Đầu ngón tay nàng run khẽ khi lướt qua lớp bìa bổi sần sùi mang màu nâu sẫm của vỏ trấu nghiền. Hơi ấm từ trang giấy cũ như truyền vào huyết quản nàng một luồng sinh khí mới mẻ, vững chãi. Từng thớ giấy thô ráp dưới ngón tay nàng như chứa đựng mồ hôi, nước mắt và cả sự nhẫn nại suốt một đời của người bà ngoại mà nàng hằng kính yêu. Nàng biết, cuốn sổ này không chỉ là những dòng chữ ghi chép kinh nghiệm đơn thuần, mà là chiếc phao cứu sinh, là nền móng để gia đình nàng tự tay đập tan xiềng xích nợ nần của địa chủ họ Lương và sự dòm ngó hiểm độc của nhánh bác cả Diệp Đại Phúc.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hạt lạc, Tiểu Mãn nín thở lật mở trang đầu tiên.

Mắt nàng mở to, vẻ kinh ngạc thoáng hiện qua đôi lông mày thanh tú. Chữ viết trong sổ không hề nguệch ngoạc theo lối ghi chép tầm thường của nông dân quanh vùng chỉ biết dăm ba chữ bẻ đôi để ghi tên nợ hay đong đấu thóc. Từng nét mực tàu màu đen tuyền tuy đã ngả sắc nâu sẫm theo năm tháng nhưng vẫn giữ nguyên cốt cách cứng cáp, phương trượng và cực kỳ khuôn phép. Lối trình bày chia cột rành mạch, dứt khoát: cột ghi tiết khí rõ ràng từ Lập Xuân cho tới Đại Hàn; cột ghi phẩm cấp hạt đậu tương, phân chia tường tận đậu loại một tròn mẩy vỏ bóng, đậu loại hai hạt nhỡ đều tay, tuyệt đối không dùng đậu loại ba lép xẹp; cột ghi lượng muối hạt tinh khiết theo từng cân lạng chi li; thậm chí từng bước khử trùng chõ gang, vỉ nứa, cách hong khô chum sành trên than củi không khói đều được phân loại hệt như phong cách sổ sách kế toán của các tửu lầu sang trọng bậc nhất trên trấn Liễu Kiều hay ngoài huyện thành.

“Chữ của bà ngoại... đẹp và chuẩn mực quá mẹ ạ,” Tiểu Mãn thì thầm, ngón tay lần theo một hàng chữ son nhỏ chú thích bên lề trang giấy. Nét son tuy đã phai bạc theo năm tháng nhưng vẫn toát lên vẻ nghiêm cẩn phi thường.

Lâm Tú Nương mỉm cười hoài niệm, ánh mắt xa xăm nhìn vào khoảng không vô định trước mặt, nơi ký ức tuổi thơ lại hiện về:

“Thuở trẻ, bà ngoại con từng làm quản sự bếp cho một hoa viên cự phú ngoài huyện, nếm trải đủ thói đời xa hoa lẫn khắt khe của giới hào môn trước khi về quê dựng nghiệp ủ tương. Người ngoài cứ ngỡ bà chỉ là một bà lão nông thôn khéo tay muối dưa, nào ai biết bà đã chắt lọc những quy chuẩn gắt gao nhất chốn phố thị để đúc kết thành từng trang sách này. Mỗi một chữ viết xuống đều phải đổi bằng bao nhiêu mồ hôi và những đêm thức trắng canh lửa, canh men.”

Tiểu Mãn im lặng gật đầu, chăm chú nghiền ngẫm từng trang viết nói về kỹ thuật làm tương hạt truyền thống.

Từng bước hiện ra sống động trong tâm trí nàng, rõ ràng và mạch lạc như thể người bà đang đứng ngay bên cạnh chỉ tay dẫn dắt: từ việc tuyển chọn hạt đậu tương đầu vụ tròn mẩy, hạt nào lép, sâu mọt, nứt vỏ đều phải tỉ mỉ nhặt bỏ bằng tay dưới ánh sáng ban ngày; đến việc ngâm nước giếng đá trong bao nhiêu canh giờ để hạt ngậm đủ ẩm mà không bị chua phôi; rồi tới công đoạn đồ chín đậu trong chõ gỗ sao cho hạt chín mềm tới tận tâm nhưng lớp vỏ mỏng bên ngoài vẫn giữ nguyên vẹn hình hài, không được nát nhừ như cháo. Đậu đồ xong phải tãi đều ra những chiếc nia lớn đan bằng cật tre già đã phơi nỏ, quạt cho ráo mặt nước trước khi đem vào phòng ủ mốc.

Thế nhưng, khi đọc đến phần cốt lõi nhất – công đoạn phối trộn mốc cật tre với nước muối hạ thổ và lịch trình đảo nắng phơi sương – đôi lông mày lá liễu của Tiểu Mãn khẽ nhíu lại.

Nàng đọc đi đọc lại đoạn văn viết về tỷ lệ muối và thời khắc mở nắp chum đón khí trời. Trang sách ghi rõ: *“Cứ mười cân đậu hạt đã mọc mốc vàng hoa cau, dùng hai cân tám lạng muối mỏ giã mịn, hòa tan cùng mười hai bát nước giếng Thanh Lĩnh đun sôi để nguội. Đậy nắp kín, ủ trong bóng râm hai tuần rồi đem phơi nắng sớm.”*

Tiểu Mãn dừng tay lại, ngón trỏ đặt hờ trên dòng chữ son bên dưới. Ánh mắt nàng thoáng lộ vẻ trầm tư sâu sắc.

Từ nhỏ nàng đã nhiều lần quẩn quanh bên chân bà ngoại, hít hà hương tương thơm nồng ngọt hậu lan tỏa khắp khoảnh sân nhỏ rải sỏi trắng. Ký ức tuổi thơ ùa về mồn một, rõ ràng như mới hôm qua. Nàng nhớ như in những buổi trưa hè oi nồng rát bỏng, khi ve sầu râm ran trên rặng liễu ven khe, bà ngoại Lâm Thu Bà chẳng bao giờ đảo tương vào buổi sáng sớm tinh sương như trong trang sách này miêu tả. Sáng sớm sương ẩm còn đọng trên cỏ, hơi nước bốc lên từ lòng đất sẽ dễ làm đọng giọt trên nắp chum, rơi ngược vào tương gây thối hỏng. Bà luôn đợi đúng lúc mặt trời đứng bóng giữa đỉnh đầu, khi ánh nắng gay gắt nhất rọi thẳng vào lòng chum gốm nung đỏ rực, xua tan toàn bộ hơi ẩm đọng dưới đáy chum, mới dùng chiếc muôi gỗ thị dài cán khuấy tròn theo chiều kim đồng hồ đúng ba mươi sáu vòng.

Hơn thế nữa, tỷ lệ muối mỏ hai cân tám lạng cho mười cân đậu là quá nhạt đối với khí hậu ẩm thấp, mưa dầm gió bấc của xứ Thanh Khê này. Vùng đất ven chân núi Thanh Lĩnh này quanh năm chịu gió nồm nam đưa hơi nước từ sông lớn thốc vào, độ ẩm không khí rất cao. Nếu chỉ cho ngần ấy muối, lớp tương phía trên chắc chắn sẽ sinh màng váng trắng nhờn nhợt chỉ sau một đợt gió nồm, khiến cốt tương bị chua gắt và thiu ủng từ bên trong. Nàng nhớ rõ bà ngoại từng lén bỏ thêm một nắm muối hạt rang khô cùng hai đốt mía nướng lùi tro nóng để ghìm vị mặn chát của muối mỏ mặn mòi, kéo dài độ ngọt hậu sâu lắng cho từng giọt tương.

Tiểu Mãn khẽ mỉm cười, trong lòng dâng lên niềm thán phục vô hạn đối với trí tuệ và sự cẩn trọng phi thường của người bà quá cố.

Thì ra bà ngoại đã sớm dự phòng tình huống cuốn sổ quý giá này rơi vào tay kẻ gian hoặc người ngoài dòm ngó toan tính trộm nghề. Bà đã cố ý ghi chép thiếu một tỷ lệ gia vị cân bằng men và đảo lộn thời điểm đón nắng khuấy chum. Kẻ nào nếu chỉ sao chép máy móc theo từng câu từng chữ trong cuốn sổ mà không có sự thấu hiểu thực tế, không nắm được cái tâm và sự quan sát nhạy bén đối với thời tiết, nắng gió của vùng đất này, thì mẻ tương ủ ra sẽ hoàn toàn hỏng bét, chua lè ủng thối, chỉ có thể đổ đi cho lợn ăn.

“Con cười gì thế, Tiểu Mãn?” Lâm Tú Nương dịu giọng hỏi khi thấy khóe môi con gái cong lên, đôi mắt sáng lấp lánh lạ thường dưới ánh đèn.

“Dạ không có gì đâu mẹ,” Tiểu Mãn ngước lên, ánh mắt đầy vẻ tự tin và kiên định. “Con chỉ đang thầm thán phục bà ngoại thôi. Bà phòng xa vô cùng. Cuốn sổ này nếu kẻ có tâm địa bất chính lấy trộm được cũng chỉ ôm về một đống hạt mốc hỏng mà thôi. Mẹ yên tâm, từng bước đi nước bước cốt tủy, từng tỷ lệ muối hạt và cách hãm men bằng mía nướng, con đều nhớ kỹ trong lòng rồi. Không sai một ly, không lệch một khắc.”

Gấp nhẹ cuốn sổ lại, nàng cẩn thận bọc lại bằng tấm vải dầu sáp, dùng sợi dây gai buộc chặt bốn góc rồi đặt vào chiếc tráp tre nhỏ của riêng mình, bên cạnh bản Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư vừa được Trưởng thôn Phạm Đức Thuận đóng triện sáng nay.

Nhìn dấu triện đỏ chót trên tờ khế ước, tâm trí Tiểu Mãn nhanh chóng chuyển sang những toan tính thực tế. Món nợ ba lượng bạc gốc của mụ Chu Kim Quế đã được ấn định trả làm hai kỳ: kỳ một vào cuối tháng ba với số tiền một lượng năm tiền bạc trắng, kỳ hai vào rằm tháng tư trả nốt một lượng năm tiền còn lại. Hiện tại đã là trung tuần tháng hai âm lịch, mùa xuân đang độ ấm dần lên. Từ giờ đến cuối tháng ba chỉ còn hơn một tháng, vỏn vẹn chừng bốn mươi ngày ngắn ngủi. Nếu chỉ trông chờ vào việc nhổ tỉa rau cải, hái rau muống cạn mang ra chợ phiên bãi cầu đá bán mớ lẻ từng đồng tiền kẽm, thì dù có chắt bóp đến mấy cũng không tài nào gom đủ một lượng năm tiền bạc mặt.

Ruộng Cồn Gió vừa được khơi dòng nước mương ngầm Cây Gạo, mầm đậu xanh mới nhú cao chừng nửa ngón tay, lớp lá non mới xòe ra hứng nắng sớm, phải đợi đến tận tháng tư mới trổ hoa kết hạt thu hoạch vụ đầu. Muốn có tiền tươi thóc thật để đập tan mưu đồ hống hách của mụ bác dâu cả ngay trong kỳ hạn thứ nhất, nhà nàng buộc phải mở ra một nguồn thu phụ trợ mới ngay trong chuỗi ngày nông nhàn này.

Ánh mắt Tiểu Mãn quét qua khoảng tối nơi góc chái nhà nối liền gian buồng với chái bếp.

Ở nơi đó, phủ đầy mạng nhện xám xịt và bụi bặm của nhiều năm bỏ xó, là hình bóng sừng sững của chiếc khung cửi dệt vải thô bằng gỗ sến già cỗi. Khung gỗ đen thẫm, các then chốt tre bám đầy bồ hóng, mấy con thoi gỗ nằm chỏng chơ dưới đất, phủ một lớp bụi mờ như một phế tích bị lãng quên.

“Nhị Hòa! Tam Nha! Hai đứa vào đây phụ chị một tay!” Tiểu Mãn cất tiếng gọi ra ngoài sân.

Chỉ lát sau, Diệp Nhị Hòa thoăn thoắt chạy vào, theo sau là cô bé Tam Nha và bé Tiểu Đậu lon ton bước thấp bước cao. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi quần xắn móng lợn để lộ đôi bắp chân săn chắc, trên trán lấm tấm mồ hôi sau khi vừa cùng cha gọt nhẵn mấy thanh đòn gánh gỗ mít ngoài hiên.

“Chị cả, có việc gì thế ạ?” Nhị Hòa sốt sắng hỏi, hai mắt sáng lên chờ đợi hiệu lệnh.

“Khiêng chiếc khung cửi này ra gian chính, lau chùi sạch sẽ. Từ ngày mai, mẹ và chị sẽ dệt vải thô.” Tiểu Mãn dứt khoát chỉ tay về góc chái.

Diệp Thành bên ngoài hiên nghe tiếng động, chống đôi gậy tre bước vào. Ánh mắt ông dừng lại trên chiếc khung dệt cũ kỹ nơi góc tối, trong mắt ánh lên tia xót xa xen lẫn bùi ngùi:

“Khung cửi này là của hồi môn của mẹ các con mang về đây mười tám năm trước. Ngày ấy mẹ con là thợ dệt có tiếng khéo tay bên bờ sông Lam. Từ ngày chân ta bị nạn, cảnh nhà túng bấn thiếu trước hụt sau, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, chẳng còn tiền mua nổi một cân bông sợi, cái khung này đành nằm im lìm phủ bụi mọt khoét suốt sáu bảy năm trời. Liệu... liệu còn dùng được nữa không con? Mộng gỗ để lâu sợ khô ngót, lỏng lẻo mất rồi.”

“Dùng tốt cha ạ!” Nhị Hòa hào hứng vỗ ngực, cậu sà ngay xuống gầm khung cửi quan sát từng khớp mộng. “Khung đóng bằng gỗ sến đỏ già đanh, đinh sắt mộng gỗ đều dày bản, không hề bị mối xông chút nào, chỉ có mấy cái then chốt bằng tre bị ngót ngót lỏng lẻo thôi. Con đẽo lại then chốt nêm chặt vào là cứng cáp như mới ngay!”

Cả gia đình lập tức bắt tay vào việc. Không khí trong căn nhà đất ba gian trở nên rộn ràng, ấm áp khác hẳn sự ngột ngạt, sợ hãi của những ngày bị chủ nợ vây bủa trước kia.

Nhị Hòa dùng búa gỗ gõ nhẹ vào các then cài, cẩn thận tháo rời từng bộ phận con thoi, lược dệt, trục cuốn sợi và bàn đạp chân mang ra khoảng sân đất nện. Diệp Thành ngồi tựa lưng vào cột nhà đất, dùng con dao bài sắc ngọt tỉ mẩn chuốt lại từng chiếc then chốt bằng gỗ muồng cứng cáp. Từng nhát dao vót dứt khoát, chuẩn xác, trau chuốt từng đầu mộng sao cho khít rịt không một kẽ hở, giúp các mối nối ăn khớp vào nhau như đúc.

Tam Nha và Tiểu Đậu lăng xăng xách chậu nước giếng trong vắt, nhúng giẻ rách lau chùi từng thanh gỗ sến, cọ sạch từng vết bụi bặm, phân gián cáu bẩn bám dính suốt bao năm qua. Dưới bàn tay cần mẫn của lũ trẻ, thớ gỗ sến màu nâu đỏ thẫm dần hiện ra bóng bẩy, nổi rõ những đường vân gỗ uốn lượn tuyệt đẹp.

Tiểu Mãn mang ra một bát con đựng mỡ lợn phi xỉa trộn cùng vài giọt dầu trẩu mà nàng chắt chiu từ trước. Dùng một túm vải vụn sạch, nàng cẩn thận thấm dầu rồi bôi đều lên các rãnh trượt của con thoi, tra vào từng khớp quay của trục cuốn và trục nhả sợi. Mùi dầu trẩu the nồng quyện với mùi gỗ sến tạo nên một hương vị lao động khoan khoái, tinh tươm, xua tan hoàn toàn cảm giác ẩm mốc của xó nhà.

“Mẹ xem này, dây cửi đứt mất mấy đoạn rồi,” Tiểu Mãn nâng bó dây gai néo trục cửi lên kiểm tra, những sợi dây gai cũ kỹ đã mủn mục sau nhiều năm ẩm mốc.

Lâm Tú Nương mỉm cười, vẻ yếu ớt dường như tan biến trước đồ vật gắn bó cả thời thiếu nữ của mình. Đôi mắt bà ánh lên niềm say mê của một người thợ lành nghề tìm lại được công cụ quen thuộc. Bà bước lại gần, bàn tay thoăn thoắt luồn sợi:

“Không sao, mẹ còn giữ một cuộn chỉ gai se đôi rất dai cất trong bao tải khô trên gác bếp. Để mẹ căng lại cho. Nghề dệt này cần nhất là độ căng của sợi dọc phải đều tăm tắp, chùng một sợi là mặt vải sẽ bị nổi hạt sống, căng quá một sợi thì đứt thoi ngay khi dập lược.”

Dưới ánh đèn dầu bập bùng và ngọn đuốc trấu hun ấm gian nhà, hai mẹ con ngồi ghé sát bên khung cửi. Từng tao sợi gai trắng ngà được luồn qua từng khe răng lược dệt bằng cật tre già. Đôi bàn tay khéo léo của Lâm Tú Nương thoăn thoắt đưa qua kéo lại, căng từng sợi cửi dọc thẳng băng, căng mọng như những dây đàn nguyệt. Từng động tác của bà chuẩn xác, thuần thục như một phản xạ tự nhiên ăn sâu vào máu thịt, chẳng cần đo đạc mà khoảng cách giữa các sợi sợi nào cũng đều tăm tắp.

Sau hơn một canh giờ cặm cụi cùng nhau chỉnh trang, chiếc khung dệt vải thô đồ sộ đã được gia cố vững chãi ngay gian giữa, sừng sững và kiêu hãnh như một thành trì sinh kế mới của gia đình họ Diệp.

Lâm Tú Nương hít sâu một hơi, vén gọn vạt áo nâu chắp vá, chậm rãi ngồi vào ghế dệt. Đôi bàn chân gầy guộc xỏ vào hai bàn đạp gỗ bên dưới.

“Cạch... lách cách! Cạch... lách cách!”

Tiếng thoi đưa lách cách giòn giã vang lên, phá tan sự tĩnh mịch của đêm thôn dã.

Con thoi gỗ nhẵn bóng như một con thoi bạc bay lượn thoăn thoắt giữa hai tầng sợi dọc. Bàn tay Lâm Tú Nương giật lược dệt dập mạnh vào ngực sợi, từng sợi ngang màu ngà đan cài khít rịt vào nhau, tạo nên lớp vải thô dày dặn, đanh mịn và chắc nịch. Âm thanh mộc mạc, nhịp nhàng ấy như tiếng đập của trái tim ngôi nhà vừa hồi sinh, rộn rã và tràn đầy hy vọng. Lũ trẻ tròn xoe mắt nhìn mẹ trổ tài, Diệp Thành ngồi bên cột nhà cũng nở nụ cười nhẹ nhõm, ánh mắt đong đầy yêu thương nhìn người vợ tào khang.

Ngắm nhìn dải vải thô trắng ngà dài ra từng tấc dưới bàn tay thoăn thoắt của mẹ, Tiểu Mãn mỉm cười rạng rỡ, trong đầu nàng từng kế hoạch buôn bán rõ ràng đã đâu vào đấy.

“Mẹ dệt tài thật đấy,” Tiểu Mãn trầm trồ, rồi ghé sát tai mẹ bàn tính: “Mẹ ơi, con tính thế này. Số sợi gai thô này dệt thành vải súc lớn mang ra chợ bán lẻ dĩ nhiên có người mua về may áo tơi hay quần xông pha ruộng đồng, nhưng tiền lời không cao, mỗi súc chỉ kiếm được mươi mười lăm đồng tiền kẽm dôi dư sau khi trừ tiền mua sợi. Con muốn mẹ trích một phần vải thô dày dặn này, may thành từng chiếc túi xách nhỏ có quai đeo chắc chắn, kích thước vừa vặn ôm khít lấy từng hũ sành da lươn đựng dưa chua.”

Lâm Tú Nương ngưng tay thoi lại một nhịp, quay sang nhìn con gái với ánh mắt đầy ngạc nhiên lẫn tò mò:

“May túi nhỏ đựng hũ dưa sao con? Người ta đi chợ mua dưa xưa nay một là bưng cả hũ sành mang về, hai là đem theo liễn, bát của nhà mình đi đựng, sao lại cần túi vải làm gì cho tốn công tốn của?”

Tiểu Mãn kiên nhẫn phân tích, giọng điệu rành rọt, khúc chiết:

“Khách mua dưa của nhà mình ở chợ phiên không chỉ có bà con nông dân quanh vùng, mà phiên vừa rồi mẹ thấy đấy, có cả các quản sự bếp núc, người làm của các nhà khá giả ở xóm Đông và cả khách thương hồ ghé qua bến đò. Hũ sành da lươn trơn nhẵn, bưng trên tay rất dễ trượt vỡ, lại bám mùi nước chua vào áo xống lụa là của họ. Đi đường xa hay ngồi xe ngựa, thuyền bè rất bất tiện. Nếu ta cho hũ dưa vào một chiếc túi vải thô sạch sẽ, may quai xách đôi gọn gàng, bên ngoài thêu một nhành cải hoa nhỏ màu xanh làm dấu hiệu nhận biết, khách xách đi đường xa vừa lịch sự, vừa không sợ va đập nứt vỡ. Một hũ dưa bán kèm chiếc túi sạch tinh tươm ấy, ta có thể thu thêm hai đồng kẽm tiền túi. Người giàu và các nhà hào phú không tiếc hai đồng lẻ để đổi lấy sự tiện lợi và thanh nhã đâu mẹ!”

Diệp Thành ngồi bên cột nhà vỗ đùi đánh đét một cái, tấm tắc khen ngợi:

“Ý hay! Quá hay! Con Mãn nhà mình đầu óc nhạy bén hệt như người buôn ngoài huyện! Một tấc vải gai vụn may thành chiếc túi nhỏ mà biến thành tiền tươi, lại tôn thêm giá trị cho hũ dưa chua của nhà mình! Người ta nhìn vào cái túi vải sạch sẽ là thấy ngay cái tâm người làm nghề, mua ăn cũng yên lòng hơn hẳn!”

Lâm Tú Nương nghe xong, trong lòng bừng sáng, khóe mắt rưng rưng niềm kiêu hãnh:

“Được! Việc may vá thêu thùa thì mẹ rành rẽ lắm. Mẹ sẽ dệt loại sợi đôi dày dặn nhất để may túi xách, bảo đảm đường chỉ chẽ đôi khâu vắt chéo, có rơi từ trên xe bò xuống đất cũng không thể bục rách được!”

Đang lúc cả nhà rôm rả bàn bạc kế hoạch thì ngoài cổng tre bỗng vang lên tiếng bước chân nhẹ nhàng dẫm trên lối ngõ rải đá răm, kèm theo tiếng gõ cửa cẩn trọng ba nhịp.

“Bác Diệp, thím Diệp, Tiểu Mãn muội muội đã ngủ chưa?”

Thanh âm trầm ấm, trong trẻo quen thuộc vang lên giữa đêm vắng. Nhị Hòa nhanh nhảu buông chiếc búa gỗ chạy vội ra then cổng:

“Anh Tạ Cảnh! Cổng không cài then đâu, anh vào đi!”

Cánh cổng tre khép hờ mở ra, Tạ Cảnh bước vào gian nhà chính. Chàng thư sinh vận chiếc áo dài vải xanh đã bạc màu ở cổ tay áo nhưng giặt giũ phẳng phiu, sạch sẽ không một vết ố. Trên tay chàng ôm một xấp thẻ tre mỏng được vót nhẵn nhụi, một thỏi mực thông nhỏ và chiếc bút lông cán trúc đã mòn đầu lông. Gương mặt chàng sáng sủa, đôi mắt đen láy toát lên vẻ điềm đạm, cương trực của kẻ có học thức.

“Cháu chào bác Diệp, chào thím,” Tạ Cảnh lễ phép chắp tay cúi chào người lớn, ánh mắt chàng đảo qua chiếc khung cửi vừa được phục hồi đang óng ánh sắc dầu trẩu, khẽ gật đầu thán phục: “Tiếng thoi đưa lách cách từ đầu ngõ đã nghe rộn rã, cháu đoán ngay là gia đình đang khởi động lại khung dệt.”

“Tạ tú tài mau ngồi xuống đây uống bát nước vối nóng,” Diệp Thành đon đả chỉ chiếc ghế đẩu đối diện, nụ cười trên gương mặt phong trần rạng rỡ hẳn lên. “Nhờ có cháu sáng nay thảo bản Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư đanh thép, rõ ràng mà lão Đại Phúc câm nín không dám ho he một lời trước bàn thờ tổ tiên. Trưởng thôn cũng chẳng thể thiên vị cho lão được. Ơn này của cháu, nhà họ Diệp chúng ta khắc cốt ghi tâm.”

“Bác Diệp quá lời rồi ạ,” Tạ Cảnh khiêm tốn đáp, chàng đặt xấp thẻ tre ngay ngắn lên bàn rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Đôi mắt chàng khẽ dừng lại trên gương mặt thanh tú của Tiểu Mãn đang ngồi cạnh bàn, khóe môi khẽ cong lên một nét cười kín đáo. “Cháu chỉ làm những gì công lý và đạo lý làng xóm mách bảo. Thấy cảnh bất công thì dù sức hèn mọn cũng không thể khoanh tay đứng nhìn. Tối nay cháu ghé qua là muốn đem ít thẻ tre mới vót sang cho Tiểu Mãn và Nhị Hòa.”

Tiểu Mãn rót một bát nước vối ấm bốc khói nghi ngút đẩy sang trước mặt Tạ Cảnh, đôi mắt nàng ánh lên sự háo hức không giấu giếm:

“Huynh mang chữ mới tới dạy cho muội và Nhị Hòa sao?”

“Đúng vậy,” Tạ Cảnh ngồi ngay ngắn lại mép bàn gỗ, cẩn thận trải những thẻ tre mỏng ra mặt bàn phẳng. “Hôm trước ta đã học cách ghi chép năm cột thu chi ban đầu: ngày tháng, khoản thu, khoản chi, số lượng và tên người giao dịch. Nhưng Tiểu Mãn, muội muốn lập xưởng ủ tương quy mô lớn, muốn đưa hàng dưa rau ra chợ trấn Liễu Kiều buôn bán lâu dài, thì chỉ biết mấy chữ số đếm và tên tiền kẽm thôi là chưa đủ.”

Chàng cầm chiếc bút lông cán trúc lên, chấm nhẹ vào nghiên mực nước mài sẵn trên bàn, nắn nót viết từng nét chữ Hán sắc sảo lên mặt thẻ tre màu vàng ngà. Từng nét sổ, nét móc hiện ra dứt khoát, thanh thoát.

“Muội nhìn này, đây là chữ *‘Thấp’* (濕) chỉ độ ẩm ướt, còn đây là chữ *‘Táo’* (燥) chỉ sự khô ráo. Trong xưởng ủ tương hay phơi đậu, việc ghi chép tình trạng ẩm ướt của từng gian nhà, từng dãy chum theo từng ngày là tối quan trọng để kiểm soát mốc hoa cau. Ngày nào trời nồm ẩm, thẻ kho phải treo chữ *‘Thấp’* để người làm biết mà che chắn cẩn thận, không được mở nắp vại bừa bãi. Ngày nào nắng hanh khô ráo thì treo chữ *‘Táo’* để mang nong nia ra phơi.”

Tiểu Mãn chăm chú nhìn theo từng đường bút lông uốn lượn uyển chuyển nhưng dứt khoát của chàng thư sinh. Đốt ngón tay Tạ Cảnh thon dài, hơi gầy, toát lên vẻ nho nhã của người dùi mài kinh sử. Khi chàng cúi xuống viết, một lọn tóc mai buông lơi bên gò má thanh tú, hương mực tàu thoang thoảng quyện cùng mùi sương đêm mát lạnh phả vào không gian ấm cúng. Nàng khẽ cắn môi dưới, tập trung ghi nhớ từng nét sổ, nét phẩy, ánh mắt không giấu nổi sự khát khao tri thức. Nàng hiểu rằng, trên mảnh đất này, kẻ có sức mạnh là kẻ cầm cày, nhưng kẻ có thể làm chủ vận mệnh lại là kẻ nắm giữ con chữ và sổ sách.

Tạ Cảnh ngước lên, bắt gặp ánh mắt trong veo, chăm chú của nàng đang nhìn thẳng vào mình, tim chàng bất giác đập lỡ một nhịp. Ánh mắt ấy quá đỗi chân thành, kiên định và rực lửa, khác hẳn vẻ e ấp, rụt rè của những cô thôn nữ khác trong làng. Chàng húng hắng ho nhẹ một tiếng để che giấu sự bối rối nơi đáy mắt, rồi quay sang Diệp Nhị Hòa đang ngấp nghé tò mò bên cạnh:

“Nhị Hòa, đệ lại đây nhìn kỹ. Đây là chữ *‘Tiết’* (節) và *‘Khí’* (氣). Hai mươi tư tiết khí trong một năm: Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân... Người làm ruộng, làm hàng khô phải thuộc lòng từng tiết khí để biết khi nào sương muối tan, khi nào gió mùa nồm nam kéo về làm ẩm mốc kho bãi. Ghi chép mùa màng không thể chỉ dựa vào trí nhớ, phải có thẻ ghi chép cẩn thận thì mới chủ động được việc thu mua và trữ hàng.”

Nhị Hòa mở to mắt, ngón tay trỏ vụng về vạch theo từng nét chữ trên mặt thẻ tre, miệng lẩm bẩm đánh vần từng thanh âm. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi xưa nay chỉ quen vung cuốc đẵn gỗ, nay được tiếp xúc với con chữ một cách sống động, gắn liền với việc kiểm kho và quản lý hàng hóa sau này, bỗng cảm thấy hào hứng tột cùng.

“Đệ nhớ rồi! Chữ *‘Tiết’* có bộ trúc bên trên, chữ *‘Khí’* có nét uốn lượn như làn mây bốc lên!” Nhị Hòa reo khẽ.

“Khá lắm,” Tạ Cảnh khẽ mỉm cười khích lệ. Ngòi bút của chàng chuyển sang một thẻ tre khác, viết liền một dải chữ vuông vức: “Còn đây là các đơn vị cân đo trọng lượng và dung tích: *‘Cân’* (斤), *‘Lạng’* (兩), *‘Tiền’* (錢), *‘Thạch’* (石), *‘Đấu’* (斗), *‘Thăng’* (升). Khi muội nhập đậu tương của các hộ trong làng hay mua chum vại từ Phường Gốm Nam Bãi, khế ước giao nhận hàng bắt buộc phải dùng các chữ này viết bằng mực tàu đỏ hoặc đen đậm, tuyệt đối không dùng ký hiệu tắt để ngừa kẻ gian cạo sửa nét chữ thêm bớt lạng tiền.”

“Đơn vị *‘Thăng’* và *‘Đấu’* này tương đương bao nhiêu bát nước giếng Thanh Lĩnh hả huynh?” Tiểu Mãn tinh ý hỏi ngay vào bản chất thực tế. Nàng không muốn chỉ học con chữ chết trên giấy, nàng cần biến nó thành công cụ đo lường chính xác cho các mẻ ủ tương sau này.

Tạ Cảnh khẽ mỉm cười tán thưởng, ánh mắt nhìn nàng thêm phần nể phục:

“Một thăng tương đương mười bát ăn cơm gạt bằng miệng. Mười thăng thành một đấu. Khi muội đong nước muối pha vào chum tương hạt, dùng gáo chuẩn định mức một thăng thì mười chum tương sẽ đều tăm tắp mười chum như một, trăm bát dưa chua vị ngọt thanh đậm đà trăm bát chuẩn xác, không bao giờ lo mặn chát hay nhạt nhẽo.”

“Muội hiểu rồi!” Tiểu Mãn đón lấy chiếc bút lông từ tay Tạ Cảnh.

Đầu ngón tay hai người vô tình chạm nhẹ vào nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Một luồng điện ấm áp khẽ râm ran nơi đầu ngón tay khiến đôi má Tiểu Mãn ửng hồng dưới ánh đèn dầu. Nàng vội cúi đầu, nắn nót đưa ngòi bút viết lại chữ *‘Cân’* và chữ *‘Thăng’* lên mặt một phiến tre thừa.

Dù bàn tay nàng vốn quen cầm cuốc, cầm dao thái rau, thô ráp và có những vết chai mỏng, nhưng đường nét mực nàng hạ xuống lại vô cùng ngay ngắn, dứt khoát và ngay thẳng, hệt như tính cách cương trực, kiên cường của nàng vậy. Từng nét hạ bút vững chãi, mực thấm sâu vào thớ tre mà không hề nhòe nhoẹt.

Tạ Cảnh đứng bên cạnh khẽ gật đầu, trong mắt tràn ngập niềm tin cậy và sự tôn trọng sâu sắc:

“Tiểu Mãn muội muội thông tuệ phi thường. Nét chữ vuông vức, tâm tính kiên định, học một biết mười. Chỉ cần tập viết thêm dăm ba buổi, muội hoàn toàn có thể tự tay lập sổ kho, tự mình đọc và kiểm tra từng điều khoản trên mọi tờ khế ước buôn bán mà không kẻ nào có thể dùng chữ nghĩa mập mờ để lừa gạt muội được nữa.”

Lâm Tú Nương ngồi trên khung dệt, tiếng thoi đưa vẫn lách cách nhịp nhàng đưa sợi, nhưng đôi mắt hiền từ của bà thỉnh thoảng lại lướt qua đôi trẻ đang chụm đầu bên bàn gỗ học chữ. Bà nhìn thấy sự kính trọng và săn sóc kín đáo trong từng cử chỉ của chàng thư sinh nghèo, nhìn thấy ánh sáng tự tin, rạng rỡ bừng lên trên gương mặt con gái lớn, trong lòng bà dâng lên một niềm an ủi khôn nguôi. Sau bao giông bão dập dồn, căn nhà nhỏ này cuối cùng cũng đã nhìn thấy những tia nắng ấm áp đầu tiên của một mùa xuân no ấm.

Đêm đã về khuya. Tiếng gió xuân thổi qua rặng tre ngà ven Khe Thanh xào xạc như một khúc nhạc êm đềm.

Tạ Cảnh từ biệt ra về trong làn sương đêm lành lạnh, để lại xấp thẻ tre và lọ mực thông nhỏ trên bàn. Tiểu Mãn cùng Nhị Hòa vẫn cặm cụi nắn nót viết từng nét chữ cho đến khi ngọn đèn dầu lụi dần, chỉ còn tàn bấc đỏ le lói.

Ngoài vườn sau, luống cải bẹ xanh mướt đã bắt đầu vươn những bẹ lá mập mạp đón nhận làn sương đêm trong trẻo. Xa xa nơi gò Cồn Gió, dòng nước mát lành từ mương ngầm Cây Gạo vẫn đang róc rách ngấm sâu vào từng tấc đất cằn cỗi đã được cải tạo, nuôi dưỡng những mầm đậu non nớt đội đất vươn lên.

Thời gian lặng lẽ trôi qua theo từng vòng quay của thoi đưa và từng mẻ dưa chua xuất bán. Tiếng thoi dệt lách cách vang lên đều đặn mỗi sớm mai và đêm muộn trong gian nhà đất. Từng súc vải thô đanh mịn được dệt xong, Lâm Tú Nương lại cùng Tiểu Mãn đo đạc, cắt may tỉ mỉ thành từng chiếc túi vải có quai xách chắc chắn, trên góc thêu một bông hoa cải nhỏ bằng chỉ xanh mộc mạc.

Đúng như Tiểu Mãn dự tính, những hũ dưa chua da lươn bọc trong chiếc túi vải trang nhã, sạch sẽ mang ra chợ phiên bãi cầu đá lập tức thu hút sự chú ý của mọi người. Không chỉ người làng tranh nhau mua mà ngay cả quản gia của các phú hộ trong vùng cũng sẵn sàng trả thêm hai đồng tiền kẽm để có được chiếc túi xách tiện lợi, lịch sự đem về phủ. Tiền tươi thóc thật từ từng hũ dưa, từng chiếc túi vải tích cóp mỗi ngày một dày thêm trong chiếc ống tre giấu dưới gầm giường.

Mùa đông khắc nghiệt hoàn toàn lùi xa nhường chỗ cho nắng ấm rực rỡ của mùa xuân chan hòa khắp thôn dã. Đất đai cằn cỗi ven gò đồi dưới sự chăm sóc không ngơi nghỉ, bón lót tro bếp và ngậm trọn dòng nước ngọt ngào từ khe ngầm đã dần hồi sinh mạnh mẽ, phủ lên một màu xanh mướt mát mắt.

Chẳng mấy chốc, mùa thu hoạch đậu tương trên ruộng cằn bắt đầu, mang lại những bao hạt tròn mẩy vượt mong đợi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn