Có nghề là còn biết hỏi
Tiếng trống khai trường gióng lên từng hồi dồn dập từ đầu tháng Chín, rền vang qua những rặng phi lao chắn cát rồi hòa vào tiếng sóng biển Hải An, báo hiệu một năm học mới bắt đầu. Những vòng bánh xe đạp lăn đều tăm tắp từ mép Xóm Cồn hướng về phía cánh cổng trường THCS Hải An.
Vào những sớm mai đầu thu, vệt bánh cao su xẻ rãnh khía sâu xuống nền đất pha cát, in thành những đường chỉ song song thẳng thớm trên mặt đê lộng gió. Mười hai chiếc xe thuộc đội xe hỗ trợ phương tiện nhập vào dòng người tấp nập của thị trấn biển. Chúng mang theo những đứa trẻ quần xanh áo trắng tinh tươm, khăn quàng đỏ bay phần phật bên vai, ngày hai buổi cần mẫn qua bến đò ngang, lướt qua đoạn đường rải đá dăm gồ ghề ven mép nước mặn. Chiếc xe cào cào sườn ngang mang mã hiệu X02 của Phạm Ngọc Linh chạy lướt êm ru trên đường làng. Không còn những tiếng lọc cọc lỏng lẻo của vành đảo hay tiếng xích khô khốc cọ vào hộp chắn như thuở đầu năm, dưới chân cô học trò lớp bảy giờ đây chỉ còn nhịp xích đẫm dầu trơn tru và tiếng líp trượt tanh tách thanh giòn mỗi bận thả trôi qua dốc cầu.
Thế nhưng, mảnh đất duyên hải Hải An chưa bao giờ chiều lòng người được trọn vẹn một tháng trời. Bước sang tuần học thứ hai, một vùng áp thấp nhiệt đới ngoài khơi xa dồn mây xám xịt từ đường chân trời thốc thẳng vào đất liền. Gió chướng mang theo hơi nước mặn chát quất rát rạt qua rặng bần, rặng mắm. Mưa xối xả trút xuống ròng rã suốt hai ngày một đêm, biến các ngả đường làng thành những dòng kênh cạn đục ngầu. Nước triều lợ từ mé sông Luộc dâng cao, tràn qua bờ bao, ngập sâu quá mắt cá chân ở những quãng trũng ven mép cồn cát mà bọn trẻ buộc phải lội qua mỗi bận tan trường.
Khi mưa tạnh và nước triều từ từ rút xuống mé sông, thứ còn đọng lại trên mặt đường không chỉ là bùn đất thông thường, mà là một lớp cát biển mịn như bột, ẩm ướt, nhão nhoét và bám riết lấy mọi bề mặt. Thứ cát phù sa pha muối ấy văng tung tóe theo từng vòng quay của lốp xe, bám chặt vào nan hoa, nhét kín các khe líp tầng và len lỏi vào từng kẽ hở cơ khí nhỏ nhất.
Chiều thứ Tư, sau buổi học phụ đạo câu lạc bộ đọc sách ở thư viện trường, trời hửng nắng hanh vàng. Linh khoác cặp sách lên vai, dắt chiếc X02 ra khỏi góc lán lợp tôn thì chợt khựng lại vì thấy bàn đạp nặng trịch một cách bất thường. Cô bé chống chân, thử nhấn một vòng đạp thật chậm để lách qua bãi cỏ trước sân trường. Vừa lúc giò dĩa xoay được nửa vòng, từ cụm trục giữa giáp với đáy sườn xe liền phát ra một chuỗi âm thanh lạo xạo, ken két ghê tai.
Âm thanh ấy không sắc gọn và ngắt quãng như tiếng va đập của sên chùng quẹt vào thành hộp xích, cũng không phải tiếng ken két của má phanh cao su mòn trơ ốc hãm. Nó rin rít, cọ xát nghẹt thở, tựa như có một nắm sỏi vụn li ti đang bị nghiền nát vụn giữa hai thớ kim loại dưới sức nặng của người đạp. Cảm giác truyền ngược lên lòng bàn chân Linh gợn lên từng cơn sần sùi, nham nhở.
Nếu là chuyện của một năm về trước, có lẽ cô bé mười ba tuổi đã cắn răng dồn sức đạp ráng thêm năm cây số đường đê trơn trượt để kịp giờ về phụ mẹ dọn mớ cá vụn ngoài bến, mặc kệ ổ trục gầm gừ kêu cứu dưới chân. Nhưng đôi mắt Linh lúc này dừng lại nơi gióng ngang của khung xe. Ở đó, một chiếc nhãn nhựa trong suốt ép nhiệt bọc lấy cuốn Sổ tay mượn xe thu nhỏ vẫn còn mới nguyên. Từng dòng chữ in đậm, rõ ràng của bản nội quy sử dụng do chính tay anh thợ trẻ ở xưởng cơ khí dán vào hôm kiểm định hiện lên rành rọt trong trí nhớ: *“Khi phát hiện tiếng kêu lạ ở cụm chuyển động quay hoặc phanh trượt, tuyệt đối không ráng đạp tiếp; dừng xe ngay lập tức, chuyển sang dắt bộ và báo ngay cho giáo viên phụ trách đội xe.”*
Linh buông chân khỏi bàn đạp, dứt khoát không nhấn thêm một vòng nào nữa. Em quay đầu xe, cẩn thận dắt ngược chiếc X02 vào sâu trong nhà xe có mái che kiên cố của trường, dựng chân chống nghiêng rồi bước nhanh lên văn phòng Đoàn Đội ở tầng trệt dãy nhà hiệu bộ để tìm cô Hạnh.
Nghe học sinh trình bày ngắn gọn, rành rọt từng biểu hiện lạ của xe và mô tả chính xác vị trí phát ra tiếng kêu, cô Hạnh gật đầu tán thành. Cô giáo trẻ buông cây bút chấm bài, đứng dậy cùng Linh bước xuống lán xe. Cô Hạnh đích thân cúi thấp người, dùng hai bàn tay nắm chặt lấy giò dĩa bên phải và bên trái, lay mạnh sang hai bên thân xe để kiểm tra độ rơ lắc dọc trục. Cốt trục vẫn vững, nhưng khi cô khẽ xoay nhẹ giò dĩa bằng tay không, tiếng lạo xạo khô khốc lập tức truyền qua lòng bàn tay.
Cô Hạnh rút chùm chìa khóa trong túi áo, bấm chiếc khóa dây bọc nhựa màu đỏ cố định khung chiếc X02 vào thanh sắt bảo vệ của nhà xe.
— Em làm đúng quy định kỹ thuật lắm, Linh — cô Hạnh ôn tồn nói, ánh mắt lộ rõ sự hài lòng. — Chiều nay em gửi xe lại đây rồi đi bộ về cùng nhóm bạn Xóm Cồn. Đừng lo lắng chuyện không có xe đi, cô sẽ gọi điện ngay sang tiệm cô Mai tiếp nhận xử lý theo đúng lịch kỹ thuật.
Cuộc điện thoại bàn từ văn phòng Đoàn trường THCS Hải An nối sang máy của tiệm sửa xe lúc bốn giờ kém mười lăm chiều. Chuông reo vang từng hồi giòn giã át cả tiếng gió biển ngoài hiên.
Bảo nhấc ống nghe, kẹp vào vai rồi nhanh chóng mở cuốn sổ nhật ký tiếp nhận dịch vụ đặt trên mặt bàn gỗ. Đầu bút bi gai cào nhẹ trên mặt giấy kẻ ngang, ghi vắn tắt từng thông tin: *“Tiếp nhận tin báo: Xe X02 — Người mượn: Phạm Ngọc Linh — Hiện trạng: Trục giữa phát tiếng lạo xạo sau hai ngày ngập nước triều lợ pha cát mé cồn — Vị trí hiện tại: Lán xe trường học.”*
Ở góc xưởng bên kia, cô Mai đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ tràm, cẩn thận tháo dải băng thun màu da quấn quanh cổ tay phải ra để xoa bóp dầu mù u rồi quấn lại thật chặt. Nghe tiếng Bảo gác máy, bà ngước mắt lên, giọng nói trầm tĩnh vang qua gian nhà:
— Lấy túi đồ nghề chuyên dụng, đi bộ sang trường dắt xe về xưởng ngay. Đừng để con bé học trò phải bồn chồn lo lắng, mà bản thân anh cũng đừng vội ngồi đây đoán già đoán non khi chưa hạ chén bi ra nhìn tận mắt.
***
Chiếc cào cào X02 được Bảo dắt bộ về xưởng, đưa thẳng lên giá treo xe chuyên dụng bằng sắt chữ C đặt ở khoang sửa chữa chính. Bảo với tay bật công tắc chiếc bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng trên trần. Luồng sáng vàng ấm áp rọi thẳng vào cụm giò dĩa và ống trục đáy sườn xe, làm lộ rõ lớp bùn đất khô khốc pha cát biển bám thành một màng dày màu xám ngoét quanh bát trục và nắp chắn bụi.
— Kiểm tra ngoại quan trước, không được cắm khóa vào vặn êm ru ngay lập tức — giọng cô Mai cất lên từ phía sau. Bà khoanh tay đứng tựa lưng vào cây cột gỗ lim giữa nhà, đôi mắt sắc sảo dõi theo không rời một cử động nhỏ nào của người thợ trẻ.
Bảo gật đầu. Cậu với lấy chiếc giẻ lau bằng sợi cotton cũ, tẩm một chút dầu hôi rồi kiên nhẫn lau sạch từng mảng bùn khô bám quanh vỏ ngoài của ống trục giữa. Cậu không vội vàng. Cậu lấy tuýp mở ốc đầu trục, mở hai con ốc tán cố định đùi đĩa vào cốt vuông, sau đó với tay lấy chiếc vam cảo đùi đĩa bằng thép đen bóng trên giá dụng cụ.
Bảo cẩn thận dùng tay xoay ren ngoài của thân vam vào sâu hết cỡ trong lỗ ren nhôm của đùi đĩa. Cậu siết chặt ren ngoài bằng chiếc cờ-lê mười sáu để bảo đảm độ ăn khớp tuyệt đối, rồi mới bắt đầu dùng cờ-lê tròng vặn từ từ trục ép ở giữa của vam. Mọi động tác diễn ra chuẩn xác, dứt khoát và tuân thủ chặt chẽ từng nấc lực siết mà cô Mai đã uốn nắn suốt nhiều tháng qua. Tuyệt nhiên không còn cảnh nóng vội cầm búa sắt gõ chan chát vào mép giò dĩa làm toe toét miệng ren hay biến dạng cốt trục như những ngày đầu cậu mới bỡ ngỡ bước chân vào xưởng.
Một tiếng *“tách”* đanh gọn vang lên. Đùi đĩa bằng hợp kim nhôm nhẹ nhàng trượt ra khỏi phần côn của cốt vuông bằng thép mà không hề để lại một vết trầy xước nào trên rãnh ren.
Tiếp đó, Bảo lấy chiếc cờ-lê móc chuyên dụng gài chính xác vào rãnh của nắp chén chặn bên trái. Cậu gằn lực cổ tay, xoay ngược chiều kim đồng hồ. Khi nắp chén chặn bằng thép tôi vừa được nhấc ra khỏi miệng ống sườn, phần mỡ bò bên trong lộ trần dưới ánh đèn rọi.
Bảo khẽ chau mày. Lớp mỡ kháng mặn màu xanh ngọc bích nguyên bản mà chính tay cậu đã vô vào ổ bi cách đây một tháng nay đã biến tính hoàn toàn. Nó ngả sang một màu xám xịt, đục ngầu, sệt quánh và lợn cợn những hạt li ti như một thứ bùn nhão pha bột mài. Bảo dùng chiếc kẹp gắp y tế cẩn thận gắp vòng rế ổ bi ra ngoài, thả chìm vào chiếc nắp hộp thiếc tròn đựng sẵn dầu hôi nguyên chất.
Cốt trục giữa được rút ra từ phía bên kia. Cậu dùng một chiếc chổi lông nhỏ quét sạch lớp mỡ bẩn dính trên các viên bi thép, để trơ ra những khối cầu kim loại sáng loáng dưới đáy dầu. Cậu vớt từng viên ra, đặt lên tấm vải trắng sạch trải trên lòng bàn tay rồi cầm chiếc kính lúp phóng đại lên soi từng góc cạnh.
— Thưa cô, bề mặt của hầu hết các viên bi đều bị rỗ li ti, xuất hiện nhiều vết cào xước hình dăm cát chạy ngang dọc — Bảo vừa quan sát vừa cẩn trọng báo cáo từng chi tiết. — Cốt trục giữa bằng thép hợp kim tôi cứng thì không có dấu hiệu cong vênh, rãnh côn lăn của bát trục chỉ hơi mờ lớp bóng bề mặt chứ chưa bị lún thành rãnh sâu. Nguyên nhân là do lớp cát biển siêu mịn đã lọt qua khe hở của mép phớt chắn bụi sau hai ngày xe ngập trong nước triều lợ. Cát bột bị cuốn vào vòng quay rế bi, nghiền nát màng bôi trơn rồi cào xước mặt bi, chứ hoàn toàn không phải do lỗi ren bị lệch hay ốc siết chưa đủ lực định mức trong lần bàn giao đầu năm.
Cô Mai bước chậm rãi tới mép bàn nâng, đón lấy chiếc kính lúp từ tay Bảo. Bà nheo mắt nhìn thật kỹ từng vết rỗ nhỏ như đầu kim trên mặt viên bi thép, rồi nghiêng chén côn dưới ánh đèn để kiểm tra độ nhẵn của rãnh lăn. Ánh mắt nghiêm cẩn thường ngày của người thợ già khẽ chùng xuống, những nếp nhăn nơi khóe mắt dãn ra trong một cái gật đầu kín đáo.
— Bắt bệnh đúng và rành rọt lắm. Nước lợ vùng chân cồn này ngậm cát biển dữ dằn hơn nước phù sa sông trong. Bất kể xe nào lội qua mà gặp loại cát bột nhão này dính vào khe phớt thì mỡ chịu nước tốt đến mấy cũng chỉ cầm cự được một thời gian ngắn. May là con bé Linh nhớ lời dặn trong sổ tay, phát hiện tiếng lạ là dừng xe dắt bộ liền. Nếu nó cứ cắn răng đạp ráng chừng mười cây số đường đê nữa, cát nó nghiền nát rãnh côn của bát sườn thì coi như vứt cả cụm cốt giò dĩa, lúc đó chi phí khắc phục phải nặng gấp bốn, gấp năm lần.
Cô Mai xoay người bước lại chiếc bàn gỗ ở gian giữa, lật mở cuốn Sổ theo dõi bảo dưỡng định kỳ của dự án hỗ trợ xe học sinh, tìm đến đúng trang lưu trữ hồ sơ kỹ thuật mang mã hiệu X02.
— Trường hợp này là hao mòn cơ học tự nhiên do điều kiện thời tiết đặc thù của vùng trũng, không phải lỗi kỹ thuật lắp ráp của người thợ, cũng không phải do học sinh dùng sai mục đích hay phá hoại — cô Mai dõng dạc nói, ngón tay điểm nhẹ vào trang sổ. — Thay hai rế bi mới loại tốt nhập từ kho Tín Phát, cạo rửa sạch sẽ toàn bộ cát sạn trong lòng ống sườn, vô mỡ kháng mặn mới. Chi phí vật tư hết mười lăm ngàn đồng cho hai rế bi mới, tiền công tiệm tính theo biểu giá ưu đãi học sinh mười ngàn đồng. Toàn bộ hai mươi lăm ngàn đồng này trích thẳng từ Quỹ dự phòng hao mòn một triệu hai trăm ngàn đồng của nhà trường. Anh lập phiếu biên nhận rõ ràng gửi cô Hạnh ký duyệt xuất két.
— Dạ cô, con hiểu rồi ạ.
Bảo ngồi ngay ngắn vào bàn, rút tập phiếu biên bản kỹ thuật ba liên ra kê giấy than. Cậu nắn nót viết từng dòng chữ rõ ràng: liên một gửi cho nhà trường làm chứng từ quyết toán quỹ dự phòng, liên hai lưu hồ sơ phương tiện tại tiệm, liên ba kẹp thẳng vào cuốn sổ tay mượn xe trả lại cho gia đình học sinh. Từng thông số kỹ thuật, từng chủng loại linh kiện thay thế, từng đồng chi phí được ghi chép minh bạch, không thừa một chữ, không thiếu một con số.
Ghi chép xong, Bảo quay lại khoang sửa xe, bắt tay ngay vào việc phục hồi chiếc cào cào. Cậu cuộn một dải vải thô sạch luồn qua lòng ống sườn, kéo qua kéo lại nhiều lần cho đến khi mọi hạt cát biển còn sót lại trong các hốc ren đều bị quét sạch hoàn toàn. Bảo dùng đèn pin soi kỹ từng bước ren trong của sườn xe. Thép vẫn nguyên vẹn, đường ren sắc sảo, không hề có hiện tượng trờn hay biến dạng.
Cậu mở hộp mỡ bò kháng mặn màu xanh thẫm, dùng ngón tay miết một lượng vừa đủ vào lòng rãnh côn của chén trục, đặt hai rế bi mới tinh vào đúng chiều chịu lực. Cậu nhẹ nhàng đưa cốt trục qua, vặn bát chén chặn bên ngoài rồi dùng cờ-lê móc siết với lực vừa vặn, không quá lỏng để tránh tạo độ rơ, cũng không quá chặt để không làm ghì rế bi.
Bảo đưa tay xoay nhẹ đầu cốt vuông. Cốt trục giữa quay tít, êm ru như lướt trên mặt nước phẳng lặng, không hề có một tiếng gợn nhỏ nào và tuyệt đối không xuất hiện bất kỳ độ rơ lắc dọc trục nào khi lay mạnh.
Cậu lắp lại đùi đĩa, siết chặt ốc nón đầu trục, đậy nắp chắn bụi bằng cao su mới tinh vào rồi hạ chiếc xe xuống nền xi măng. Để bảo đảm chiếc xe vận hành hoàn hảo nhất, Bảo tự mình đạp thử vài vòng trên con ngõ dài trước cửa tiệm. Dưới sức đạp của một thanh niên, xích líp ăn khớp nhẹ bẫng, êm ả như một làn gió thổi lướt qua mặt cát.
Đầu giờ sáng hôm sau, khi tiếng kẻng đồng báo hiệu giờ ra chơi của trường THCS Hải An vừa dứt, chiếc X02 đã được Bảo đưa về trả lại đúng vị trí trong nhà xe của trường. Linh cùng vài bạn cùng lớp chạy ùa từ trên hành lang tầng hai xuống. Đôi mắt đen láy của cô bé sáng bừng lên khi nhìn thấy chiếc xe thân thuộc của mình đã được lau chùi sạch bóng, xích líp đen nhánh đẫm dầu mới.
Linh đón lấy tờ phiếu tiếp nhận kỹ thuật có chữ ký xác nhận của thợ và cô Hạnh, ngập ngừng hỏi khẽ:
— Em cảm ơn anh Bảo! Xe hết kêu lạo xạo rồi hả anh?
— Hết sạch rồi, êm ru như lúc mới bàn giao cho em hồi đầu năm — Bảo mỉm cười hiền hậu, chỉ tay vào dòng chữ ghi chú nắn nót ở góc dưới của phiếu biên nhận. — Nhưng em nhớ nhé, nếu những ngày tới triều cường dâng cao ngập quá nửa bánh xe, tốt nhất là em dắt bộ qua đoạn ngập đó. Khi về đến nhà, lấy một ca nước ngọt dội sơ vào cụm trục giữa và líp xe để trôi bớt cát biển bám ngoài. Lần này em phát hiện tiếng kêu lạ mà dừng xe báo cô Hạnh kịp thời là chuẩn xác lắm, giúp quỹ của trường đỡ tốn tiền thay cả bộ cốt sườn đắt đỏ.
Linh khẽ mỉm cười, nét ngượng nghịu tan biến trên gương mặt nhỏ nhắn. Em gật đầu chắc nịch, cẩn thận gấp tờ phiếu kẹp vào cuốn sổ theo dõi rồi cất vào ngăn cặp, ríu rít cùng chúng bạn chạy ngược lên lớp học cho kịp giờ truy bài.
***
Mười một giờ trưa, không gian trong tiệm sửa xe trở lại vẻ yên ả thường nhật. Gió biển thổi xào xạc qua mái tôn hiên trước, xua đi cái hanh nồng của buổi trưa đầu thu, mang theo mùi mặn mòi quen thuộc của bờ bãi và vị ngai ngái của rơm rạ khô ngoài ngõ.
Bảo cặm cụi thu dọn toàn bộ đồ nghề vào khay sắt, dùng giẻ dầu lau sạch từng chiếc cờ-lê, tròng miệng rồi treo ngay ngắn lên bảng gỗ đục lỗ. Khi cậu đang cúi người cầm chiếc chổi đót quét lớp mạt sắt và cát khô dưới chân giá treo thì cô Mai từ gian nhà trong bước ra. Trên tay bà là một ấm trà xanh bằng sành mới hãm, khói bốc nghi ngút tỏa mùi thơm chát ngọt.
— Bảo này, rửa tay cho sạch rồi vào đây ngồi uống chén nước với cô.
Giọng cô Mai trầm, bằng phẳng và khoan thai, không có vẻ gì là quở trách hay căng thẳng, nhưng sự trang trọng hiếm thấy trong lời gọi khiến Bảo thoáng giật mình. Cậu vội vàng bước lại vòi nước ở góc sân, dùng xà phòng bột cọ sạch lớp dầu mỡ còn bám nơi kẽ móng tay, lau khô vào khăn rồi bước lại chiếc bàn tròn bằng gỗ tràm đặt ở góc tiếp khách.
Trên mặt bàn, đặt ngay cạnh ấm trà men xanh, là một tập tài liệu kẹp trong chiếc bìa da cứng màu xanh đậm. Cô Mai rót cho Bảo một chén trà đầy, đẩy nhẹ sang phía cậu rồi đưa tay mở chiếc bìa da ra.
Đó là hai bản hợp đồng được đánh máy thẳng tắp, ngay ngắn trên nền giấy A4 trắng tinh: **HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THỢ PHỤ**.
Bảo sững người, đôi mắt dán chặt vào dòng tiêu đề in hoa đậm nét rồi ngước lên nhìn người phụ nữ đối diện. Dưới ánh sáng ban trưa hắt qua khung cửa sổ, những nếp nhăn nơi khóe mắt và vầng trán cô Mai dường như sâu hơn, nhưng ánh nhìn của bà thì sáng rõ, kiên định và ấm áp lạ thường.
— Hết ba tháng thử thách học việc rồi — cô Mai chậm rãi lên tiếng, ngón tay trỏ có vết sẹo chai sần điểm nhẹ lên mặt giấy. — Hôm nay là ngày tiệm chính thức xác lập vị trí thợ phụ cho anh. Đọc cho thật kỹ từng điều khoản trước khi cầm bút ký tên.
Bảo đón lấy bản hợp đồng bằng cả hai bàn tay. Trái tim cậu bỗng đập rộn lên trong lồng ngực, những ngón tay hơi run rẩy khi lần giở từng trang giấy in mực đen sắc nét. Đây không còn là tờ giấy thỏa thuận học việc tạm thời với khoản phụ cấp ít ỏi một triệu hai trăm ngàn đồng thuở cậu mới rời bỏ giảng đường đại học kinh tế, ôm nỗi bẽ bàng và thất vọng của tuổi trẻ trôi dạt về quê biển.
Bản hợp đồng ghi rõ ràng từng đề mục mang tính pháp lý và trách nhiệm thực chất: *Vị trí công tác: Thợ phụ cơ khí xe đạp.* *Mức lương khởi điểm: 2.800.000 đồng/tháng, nhận vào ngày cuối cùng của tháng dương lịch.* *Thời gian làm việc: 07:00 – 11:30 và 13:30 – 17:30 các ngày trong tuần; nghỉ chiều Chủ nhật.*
Thế nhưng, điều khiến Bảo chăm chú đọc đi đọc lại, đọc đến từng dấu chấm dấu phẩy chính là bản phụ lục phân định phạm vi trách nhiệm và giới hạn chuyên môn đính kèm phía sau: *1. Các công việc được thao tác độc lập: Tiếp nhận xe và lập phiếu mô tả hiện trạng; vá săm, thay lốp, thay xích líp thông dụng; cân chỉnh độ căng cáp phanh, thay má phanh cao su; vệ sinh ngâm rửa phụ tùng cơ khí; kiểm tra và bảo dưỡng các hạng mục thông thường trong đội xe học sinh.* *2. Các công việc bắt buộc phải có sự giám sát của thợ cả: Taro tiện lại ren khung sườn; nắn càng trước, nắn khung xe va quẹt biến dạng; cân vành rút căm độ khó cao; ép sơ-mi kim loại; tháo lắp và định lượng lực siết trên các dòng moay-ơ và trục giữa đặc chủng của khách trả tiền.* *3. Chế độ đánh giá chuyên môn: Định kỳ sáu tháng một lần, tiệm sẽ tổ chức kiểm tra sát hạch tay nghề toàn diện để xem xét điều chỉnh mức lương và mở rộng phạm vi công việc độc lập.*
— Cô không bao giờ vẽ ra viễn cảnh làm giàu hay hứa hẹn anh sẽ thành thợ giỏi sau một đêm — cô Mai nhìn thẳng vào mắt Bảo, giọng nói điềm đạm mà chắc nịch như đinh đóng vào gỗ lim. — Hai triệu tám trăm ngàn đồng là mức lương khởi điểm đúng với giá trị sức lao động của một người thợ phụ bắt đầu làm được việc thực chất. Tiền ấy là tiền công tiệm trả sòng phẳng cho mồ hôi, cho sự cẩn thận và tính kỷ luật của anh, không phải tiền trợ cấp thương hại, cũng không phải tiền học bổng cứu trợ.
Bà nhấp một ngụm trà xanh nóng, để vị chát đọng lại nơi đầu lưỡi rồi nói tiếp:
— Làm thợ cơ khí, cái khó nhất không phải là học thuộc lòng quy tắc siết ốc, mà là biết ranh giới của tay nghề mình tới đâu. Cái gì làm được thì nhận làm cho tới nơi tới chốn, cái gì chưa chắc chắn thì phải biết hỏi, phải qua mắt người có nghề kiểm tra. Bản hợp đồng này ghi rõ những việc anh chưa được phép làm một mình không phải để kìm hãm anh, mà là để bảo vệ anh, bảo vệ uy tín của cái tiệm này và bảo đảm an toàn tính mạng cho người ngồi trên xe. Anh có thấy điều khoản nào gò bó hay không hợp lý không?
Cổ họng Bảo nghẹn lại. Một cảm giác xúc động sâu xa dâng lên, xua tan mọi nỗi băn khoăn còn sót lại trong lòng cậu. Những ký ức của chuỗi ngày vừa qua dồn dập ùa về trong tâm trí: buổi trưa làm cháy ren xe của cô Sương vì thói hấp tấp chủ quan, lời hứa bốc đồng mười tám chiếc xe trước đám đông ngày khai trường, những đêm thức trắng ghi chép từng mã phụ tùng dưới ngọn đèn dầu, và ánh mắt nghiêm khắc nhưng bao dung của cô Mai khi cùng cậu ép từng chiếc ống sơ-mi thép để sửa chữa sai lầm. Cậu đã đi qua những va vấp cay đắng ấy không phải bằng những lời ngụy biện bay bổng hay những con số ảo trên màn hình máy tính, mà bằng từng vết xước trên mu bàn tay, bằng sự trung thực và lòng tự trọng của một người lao động chân chính.
— Thưa cô, con đọc rất kỹ rồi ạ. Con hoàn toàn đồng ý và xin nhận trách nhiệm theo đúng từng điều khoản trong hợp đồng.
Bảo cầm cây bút mực đen trên bàn, nắn nót ký tên mình vào ô người lao động: *Trần Gia Bảo*. Chữ ký ngay ngắn, đĩnh đạc, dứt khoát, không chút do dự hay run rẩy.
Cô Mai đón lấy bản hợp đồng, ký chữ ký góc cạnh quen thuộc bằng mực xanh rồi đóng nắp bút. Bà với tay lên giá gỗ phía sau lưng, lấy xuống một tấm thẻ mica nhỏ viền nhôm vừa mới được bấm lỗ móc khóa cẩn thận, đặt nhẹ vào lòng bàn tay Bảo.
Trên tấm thẻ mica trong suốt, những dòng chữ in lụa nổi bật sắc nét: *TIỆM SỬA NHỮNG ĐIỀU CHƯA MUỘN* *Thợ phụ: TRẦN GIA BẢO*
— Treo lên bảng phân công của tiệm đi — cô Mai mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng khuôn mặt sạm nắng đầy phong trần của người đàn bà cả đời gắn bó với mỡ bò sắt vụn. — Chiều nay tiệm có ba chiếc xe thồ chở cá hẹn thay xích và cân vành sau. Nghỉ trưa cho đàng hoàng, lấy lại sức rồi ra làm việc.
***
Năm giờ ba mươi chiều, thị trấn Hải An dịu mát hẳn sau một ngày hanh nắng. Ánh hoàng hôn đỏ rực buông xuống mặt biển, nhuộm một màu vàng đồng lấp lánh lên bờ kè đá chắn sóng kéo dài từ chân cầu sắt ra tận mép vịnh.
Bảo dắt chiếc Martin 107 ra khỏi tiệm. Cậu mặc chiếc áo thun xanh đã sờn vai, ống quần xắn cao quá mắt cá, trong túi áo ngực là bản hợp đồng lao động gấp tư phẳng phiu và tấm thẻ thợ phụ bằng mica còn mát rượi. Cậu đạp xe chầm chậm qua con phố chính rợp bóng cây bàng biển, rẽ vào quán nước mía quen thuộc nằm nép mình dưới bóng mát của rặng dừa nước cạnh chân cầu sắt.
Vy đã ngồi ở chiếc bàn gỗ ngoài trời từ bao giờ. Cô mặc chiếc sơ-mi cọc tay màu vàng nhạt, mái tóc dày cột cao gọn gàng sau gáy, để lộ gương mặt thanh tú và vầng trán sáng. Trước mặt cô là cuốn sổ tay phác thảo bìa sách cùng một ly nước mía đá đã vơi đi một nửa.
— Ê, anh thợ phụ! Hôm nay hết ca đúng giờ dữ ta — Vy ngẩng đầu lên, nụ cười rạng rỡ nở trên môi cùng đôi mắt sáng ngời sau cặp kính cận.
— Hết giờ làm việc theo quy định thì phải tan ca đúng hẹn chứ — Bảo cười tươi, kéo chiếc ghế nhựa ngồi xuống đối diện. — Cho một ly nước mía nhiều đá cô Ba ơi!
Người phụ nữ bán nước nhanh nhẹn ép hai khúc mía róc vỏ vào trục máy, tiếng máy ép chạy rào rào hòa cùng tiếng gió biển rì rào thổi qua rặng dừa. Ly nước mía xanh ngắt, ngọt lịm pha chút vị chua thanh của lát quất tươi được đặt xuống mặt bàn gỗ lấm tấm giọt nước đọng.
Vy gập cuốn sổ tay phác thảo lại, hai mắt long lanh vẻ hào hứng không giấu giếm. Cô chìa ra một tờ thông báo trúng tuyển có đóng dấu mộc vuông màu đỏ của một trung tâm đào tạo đồ họa ứng dụng danh tiếng tại thị xã:
— Khoe với Bảo chuyện này nè! Mình vừa nhận được kết quả thông báo sáng nay. Trúng tuyển khóa thiết kế đồ họa ứng dụng buổi tối rồi! Khóa học kéo dài chín tháng, tuần ba buổi Hai - Tư - Sáu.
Bảo đón lấy tờ thông báo, đọc từng dòng chữ ngay ngắn ghi rõ thời khóa biểu từ mười tám giờ ba mươi đến hai mươi mốt giờ. Cậu ngước nhìn cô bạn cùng tuổi, thấy rõ niềm vui thuần khiết và sự kiêu hãnh kín đáo trong ánh mắt của một cô gái trẻ đã bao tháng ngày vừa làm việc cật lực ở xưởng in thị trấn, vừa tự mày mò vẽ từng market quảng cáo ngoài giờ để nuôi dưỡng ước mơ của mình.
— Chúc mừng Vy nhé! Thật lòng chúc mừng bạn — Bảo nói, giọng chân thành và ấm áp. — Nhưng mà đi học buổi tối ở tít trên thị xã thì chuyện đi lại tính sao? Đoạn đường từ đây lên đó ngót nghét ba chục cây số chứ ít đâu.
— Mình tính toán kỹ hết rồi — Vy cười tươi, đưa tay khuấy nhẹ ly nước mía. — Chiều thứ Hai, Tư, Sáu mình xin phép xưởng in cho về sớm ba mươi phút, ra bến ngã ba bắt chuyến xe buýt liên tỉnh lúc năm giờ mười lăm để lên thị xã. Học xong lúc chín giờ tối thì vừa kịp đón chuyến xe buýt chót về lại Hải An tầm mười giờ đêm. Hơi vất vả chuyện đi lại một chút, nhưng bù lại mình được học bài bản về tư duy bố cục, chất liệu in ấn và xử lý hình ảnh chuyên nghiệp. Vừa học lý thuyết vừa có xưởng in của chú để thực hành ngay, tiền học phí thì mình đã tự dành dụm đủ từ tiền lương nửa năm qua rồi, không phải xin ba mẹ một đồng nào hết.
Nhìn Vy say sưa và tự tin kể về kế hoạch học tập của mình, trong lòng Bảo không còn gợn lên bất kỳ một chút mặc cảm hay tự ti nào như những ngày đầu mới bỏ trường kinh tế về quê. Cậu không còn cảm giác muốn thu mình lại, cũng không còn thói quen đem con đường của mình ra so sánh với người khác để rồi tự dằn vặt hay ghen tị. Vy có mục tiêu nghề nghiệp độc lập và vững vàng của cô ấy, và bản thân cậu lúc này cũng đang đứng vững vàng trên chính đôi chân của một người thợ có nghề, có kỷ luật.
— Lịch học dày như vậy thì tuần sau bắt đầu luôn hả Vy? — Bảo hỏi, với tay lấy chiếc bút bi của Vy, vẽ một vòng tròn nhỏ lên góc tờ giấy nháp trên bàn. — Để mình ghi nhớ lịch xe buýt của bạn. Hôm nào không trùng ca trực sửa xe buổi chiều ở xưởng, tầm mười giờ đêm xe buýt về đến bến ngã ba thị trấn, nếu gặp hôm trời mưa to gió lớn thì Vy cứ nhắn một tiếng, mình đạp xe ra đón dắt về cho an toàn. Còn những ngày rảnh rỗi cuối tuần thì tụi mình vẫn ra đây uống nước mía, bàn chuyện vẽ bảng biểu hay in ấn tài liệu cho xưởng.
Vy nhìn Bảo, ánh mắt thoáng chút ngạc nhiên rồi chuyển thành sự cảm thông và trân trọng sâu sắc. Cô nhận ra sự thay đổi lớn lao ở người bạn thân: không còn những câu bông đùa gượng gạo để lấp liếm sự bối rối, không còn vẻ ngượng ngùng giấu đi bàn tay chai sạn dính dầu mỡ, và càng không có sự níu kéo ủy mị hay đòi hỏi người khác phải vì mình mà thay đổi lộ trình riêng.
— Cảm ơn Bảo nhiều nha — Vy khẽ cười, giọng chùng xuống thật dịu dàng. — Tụi mình ai cũng có việc phải học, ai cũng bận rộn cả, nhưng rảnh thì cứ hẹn nhau ở quán nước này. À mà nghe nói chiều nay bên tiệm vừa ký hợp đồng mới với người thợ phụ nào đó phải không?
Bảo bật cười sảng khoái, luồn tay vào túi áo ngực rút ra bản hợp đồng lao động vừa ráo mực cùng tấm thẻ thợ phụ bằng mica. Cậu đặt nhẹ hai thứ lên mặt bàn gỗ, ngay bên cạnh xấp tài liệu đồ họa của Vy.
— Đây. Thợ phụ chính thức của Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn, lương khởi điểm hai triệu tám trăm ngàn, sáu tháng nữa sát hạch tay nghề một lần. Bắt đầu từ tháng này là tự nuôi sống bản thân đàng hoàng, đóng tiền ăn sinh hoạt cho ba đều đặn mỗi tháng không thiếu một cắc.
Vy cẩn thận cầm tấm thẻ mica lên, đầu ngón tay miết nhẹ qua dòng chữ in tên Trần Gia Bảo. Cô gật đầu thật mạnh, nụ cười bừng sáng trên khuôn mặt:
— Tuyệt vời lắm, Bảo. Rất đàng hoàng, rất chắc chắn, không cần vội vã.
***
Đèn đường thị trấn Hải An đồng loạt bật sáng khi chiếc đồng hồ trên tháp bưu điện điểm bảy giờ tối. Những ngọn đèn cao áp tỏa ánh sáng vàng ấm áp xuống mặt đường nhựa dẫn thẳng ra mé biển. Gió đêm bắt đầu thổi mạnh hơn, xua tan cái oi ả của mặt đất, mang theo hơi sương mát lạnh và tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân kè đá.
Hai người bạn đứng dậy rời quán nước. Vy dắt chiếc xe đạp mini gọn gàng, vẫy tay chào Bảo ở ngã ba rẽ về phía khu phố Đông nơi gia đình cô sinh sống:
— Mình về ăn cơm với mẹ đây. Chừng nào bắt đầu đi học buổi đầu tiên ở thị xã sẽ nhắn Bảo nhé!
— Ừ, về cẩn thận nghen! — Bảo đáp lời, đứng tựa bên ghi-đông chiếc Martin 107.
Bóng dáng Vy khuất dần dưới rặng phi lao đang ngả nghiêng theo từng cơn gió biển. Bảo đứng lại bên ngã ba thêm một lát, hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ắp vị mặn mòi quen thuộc của vùng biển quê hương. Cậu không hề cảm thấy cô đơn, cũng không thấy bất kỳ áp lực nào đè nặng lên vai. Con đường phía trước của Vy đang mở ra với những trang thiết kế đồ họa và những chuyến xe buýt ngược xuôi thị xã; còn con đường của cậu gắn liền với xưởng sửa xe, với mùi dầu mỡ, với những đường ren cơ khí chính xác, với tiếng líp quay đều và phẩm giá của một người thợ biết lượng sức mình. Hai con đường độc lập, khác biệt về phương tiện, nhưng cùng chung một điểm tựa vững chãi là sự lương thiện, lòng kiên nhẫn và tinh thần tự lập.
Cậu nhảy lên xe, đạp thong thả về nhà ở Xóm Cồn. Ánh đèn dầu và đèn điện từ những ô cửa sổ ven đường hắt ra những vệt sáng bình yên trên mặt cát.
Sáng hôm sau, đúng sáu giờ bốn mươi lăm phút, Bảo đã có mặt trước cửa xưởng.
Cậu mở toang hai cánh cửa bằng ván sến già, đón làn gió sớm trong lành thổi từ biển vào xua tan mùi dầu hôi nồng đượm. Cậu lấy chiếc khăn sạch lau lại mặt bàn cơ khí, đoạn bước tới bên tấm bảng gỗ đóng đinh treo dụng cụ sửa chữa ở bức tường gian chính.
Cạnh chiếc cờ-lê mười hai thân thuộc đã nhẵn bóng qua bao ngày đại tu xe học sinh, một chiếc đinh sắt mới toanh đã được cô Mai đóng chắc nịch từ lúc nào.
Bảo mỉm cười, trân trọng lồng dây móc của tấm thẻ thợ phụ mang tên mình vào chiếc đinh ấy. Tấm thẻ thợ phụ mang tên Trần Gia Bảo được cô Mai treo lên bảng phân công của tiệm, cạnh chiếc cờ-lê mười hai thân thuộc.