Sáu chiếc ra khỏi cửa
Tiếng động cơ nổ giòn của chiếc xe ba gác dừng lại trước cổng trường Trung học cơ sở Hải An đúng bảy giờ ba mươi sáng thứ Bảy.
Gió sớm thổi thốc từ mé biển vào, mang theo mùi ngai ngái nồng đượm của bùn bãi triều vừa rút, quyện chặt với hơi ẩm lành lạnh bốc lên từ những vũng nước đọng sau chuỗi ngày mưa bão dai dẳng. Đất cát trên con đường liên xã dẫn vào trường vẫn chưa kịp khô ráo hoàn toàn; mặt đường lồi lõm những ổ gà sũng nước, váng phèn nổi lên thành từng vệt mỏng vàng hoe dưới rãnh thoát nước tự nhiên. Cổng trường bằng sắt đan chéo sơn màu xanh rêu đã rỉ sét lốm đốm ở các chân cột, hé mở một cánh vừa vặn đủ cho bề ngang chiếc xe lôi chở hàng lách qua. Ông Lâm gạt mũi chân, trả cần số về số không rồi đạp mạnh chân chống phụ bằng sắt đặc cùm cụp xuống nền đá dăm. Tiếng máy nổ bình bịch rời rạc vài nhịp rồi tắt hẳn. Làn khói xe mỏng manh, khét nồng mùi dầu cặn nhạt dần trong ánh nắng vàng hanh hao của buổi sớm mai, để lại khoảng không gian tĩnh mịch đặc trưng của một ngày cuối tuần nơi ngôi trường làng ven chân sóng.
Trên thùng xe đóng bằng gỗ sến dày hai phân, sáu chiếc xe đạp đã được lau chùi sạch bóng dầu mỡ thừa, xếp so le đầu đuôi vừa khít với nhau như những thanh răng ăn khớp trong một bộ truyền động. Sau buổi chạy thử tải và căn chỉnh nhân trắc học thực địa chiều hôm trước, theo đúng kỷ luật nghề nghiệp, cô Mai đã yêu cầu chở toàn bộ xe về lại xưởng để rà soát lực siết chốt hãm lần cuối, kiểm tra độ chùng cáp phanh và kẹp thẻ đồng niêm phong trước khi xuất xưởng chính thức. Để các sườn xe không va đập làm trầy xước lớp kim loại hay khiến ghi-đông sắt cọ xát gãy nan hoa suốt chặng đường gần ba cây số dằn xóc từ tiệm cơ khí qua đây, ông Lâm đã cẩn thận chèn từng miếng săm ô tô cũ gấp bốn lần ở mọi điểm tiếp xúc. Những sợi dây chằng bằng cao su bản rộng cắt từ ruột lốp xe tải kéo căng hết mức, ghim chặt từng chiếc móc sắt uốn thủ công vào thành xe thùng hộp mười hai phân có lót dải cao su xốp chống trượt.
Bảo nhảy xuống khỏi chiếc ghế phụ bọc nệm rách, hai chân tiếp đất vững vàng trên nền đá dăm lạo xạo. Cậu vội đưa tay định đỡ lấy một đầu dây thun đang căng như dây đàn thì ông Lâm đã gạt phắt tay con trai ra:
— Đứng dạt ra mé đó. Dây này tao kéo hết cữ, lực trả của nó mạnh dữ lắm, sẩy tay bung cái móc sắt một phát là quất rách da mặt như chơi. Mày đứng ngó thôi, để tao tháo nút đầu hồi trước cho nó chùng lực xuống đã.
Bàn tay chai sần, thô ráp và đen sạm vì ngâm nước đá mặn suốt mấy chục năm vác cá của ông Lâm thuần thục bấm ngược chốt gài kim loại. Bắp tay ông gồng lên, ghìm chặt độ nẩy dữ dội của sợi thun to bản rồi từ tốn gỡ từng vòng quấn quanh tai sắt đóng chặt bên hông thùng gỗ. Mỗi tiếng “tách” khô giòn vang lên là một mối chằng được giải phóng; sợi cao su đen trũi, bóng nhẫy dầu mỡ từ từ thu mình lại, rơi gọn gàng xuống lòng sàn gỗ sến. Ông làm việc với sự điềm tĩnh và chuẩn xác đến lạnh lùng của một người lao động nặng lâu năm — không thừa một động tác, không có vẻ gì vội vã sốt ruột, nhưng nhịp độ dứt khoát hơn bất kỳ thanh niên nào quen thói hấp tấp.
Bảo tiến lại gần thành xe, cẩn thận đỡ lấy cỗ xe đầu tiên — chiếc X01 sườn đầm Thống Nhất màu xanh ngọc nhạt. Cậu nhấc bổng bánh trước lên khỏi sàn xe, luồn một cánh tay qua khoảng trống giữa gióng dưới và cọc yên để giữ thăng bằng tuyệt đối. Ông Lâm vòng ra phía sau thùng xe, một tay nắm chắc cọc yên, tay kia ôm trọn lấy gắp sau và bộ đùm xích, nhịp nhàng phối hợp cùng con trai nhấc bổng toàn bộ khối kim loại nặng hơn mười lăm ký qua khỏi mép gỗ cao ngang thắt lưng. Hai cha con bước đều nhịp, gót chân nện vững chãi trên khoảng sân gạch đỏ lát nghiêng để thoát nước mưa.
Lần lượt từng chiếc một được khiêng xuống khỏi thùng xe ba gác bằng sự cẩn trọng tối đa. Chiếc thứ hai là chiếc cào cào sườn thép gióng ngang đôi X02 kiên cố, chiếc xe mà chiều hôm trước Bảo đã tỉ mẩn nới lỏng ốc hãm, hạ thấp cọc yên xuống đúng hai phân rưỡi và rút ngắn hành trình tay phanh nhôm để vừa vặn với tầm với của bàn tay một đứa trẻ mười ba tuổi; chiếc X03 gióng thẳng khung đen tuyền bóng mờ; rồi lần lượt X05, X06, X08 với những vòng vành sắt mới toanh được chú Phúc bên khu Một cân nắn tròn trịa, từng chiếc căm xe căng đều tăm tắp, gõ nhẹ vào nghe đanh gọn như tiếng dây đàn kim khí.
Toàn bộ sáu chiếc xe đợt đầu này tuyệt nhiên không có lớp sơn xịt bóng bẩy hay những miếng đề-can sặc sỡ để che đậy khuyết điểm kim loại như cái ý định bốc đồng, nông nổi ban đầu của Bảo. Thay vào đó, từng mối nối giáp lai, từng vết hàn vảy đồng hay hàn điện đều đã được cạo sạch vảy rỉ sét bằng bàn chải sắt, quét lên một lớp dầu bóng bảo vệ chuyên dụng chống lại sự ăn mòn khủng khiếp của hơi muối mặn mòi vùng biển bãi ngang. Toàn bộ ốc trục, bu-lông hãm đĩa và tán giữ gắp sau đều được siết cứng đúng lực cơ học; những cặp lốp Sao Vàng mới tinh đen nhánh, nổi rõ từng hàng gai cao su bám đường dày dặn sẵn sàng đối mặt với những đoạn đường đá dăm sắc nhọn và ổ gà trơn trượt của vùng Xóm Cồn.
Hai cha con dắt từng chiếc xe qua khoảng sân vắng lặng, tiến sâu vào góc hiên nhà để xe có mái che lợp tôn fibro-xi măng của trường. Nơi này cao ráo, nền láng xi măng phẳng phiu không bị đọng nước, trên mặt sàn có sẵn những thanh sắt chữ V chôn cố định thành từng rãnh song song để giữ bánh trước không bị nghiêng đổ. Bảo cẩn thận gạt từng chiếc chân chống nghiêng bằng thép đặc, sắp xếp chúng thẳng tắp thành một hàng duy nhất theo đúng thứ tự mã kim loại dập nổi buộc bằng dây kẽm xoắn ở cổ phốt: X01, X02, X03, X05, X06 và X08.
Khi chiếc xe cuối cùng đứng vững chãi vào vị trí rãnh sắt, Bảo thở hắt ra một hơi dài, đưa mu bàn tay quẹt vệt mồ hôi đang rịn ra bên thái dương. Cậu ngẩng đầu lên thì thấy cô Lê Thu Hạnh đã rảo bước từ phía dãy phòng làm việc của Ban Giám hiệu và văn phòng Đoàn Đội đi ra. Cô mặc chiếc áo sơ mi màu xám tro cắt may giản dị, chân mang đôi xăng-đan quai da màu nâu sẫm, trên tay kẹp một tập hồ sơ nhựa cứng màu xanh nước biển cùng chiếc túi vải dù đựng những chùm chìa khóa khóa dây số mới tinh. Thầy Nghĩa — giáo viên dạy môn Vật lý kiêm phụ trách công tác Đội dự phòng của trường — bước chầm chậm theo sát phía sau. Thầy mang theo chiếc thước dây cuộn bằng thép và một tập sổ bìa cứng dán nhãn kiểm kê tài sản.
Buổi bàn giao diễn ra vô cùng giản dị trong vòng mười lăm phút ngắn ngủi. Không hề có dải băng rôn khẩu hiệu đỏ rực bằng vải phi bóng nào chăng ngang mái hiên rêu phong, không có bục phát biểu phủ khăn trải bàn nhung đỏ, không có dàn loa phát thanh rè rè cắm điện khuếch đại những bản nhạc hoan ca, và tuyệt nhiên không có bất kỳ bài diễn văn cảm ơn sáo rỗng hay tràng pháo tay gượng gạo nào từ những người tham dự. Mọi thứ diễn ra trong sự lặng lẽ, chuẩn xác và mực thước của một buổi chuyển giao tài sản công vụ thuần túy giữa người thợ bảo dưỡng kỹ thuật và đại diện ban quản lý nhà trường.
Cô Hạnh mỉm cười chào ông Lâm và Bảo rồi tiến lại gần sát dãy xe đạp đang đứng im lìm dưới ánh nắng ban mai. Thay vì mở đầu bằng những lời khen ngợi đãi bôi chung chung, cô mở chiếc kẹp tài liệu nhựa, rút ra ba bản văn bản có tiêu đề in đậm rõ ràng: “Biên bản bàn giao và phân bổ phương tiện công vụ — Đợt 1” đã được đánh máy và in sẵn nội dung theo khung quy chuẩn từ chiều hôm trước.
— Chào bác Lâm, chào em Bảo, — cô Hạnh nói, chất giọng trầm ấm nhưng phát âm từng từ vô cùng rành rọt. — Sáng nay nước ngoài đoạn ngã ba đường liên xã vừa rút xuống dưới mắt cá chân là bác với em đã chở xe sang liền cho trường, đúng boong giờ hẹn bảy giờ ba mươi như tin nhắn tối qua. Chiều qua sau buổi chạy thử và căn chỉnh vóc dáng cho học sinh, cô Mai kỹ tính bắt đưa xe về tiệm để kiểm tra lại toàn bộ lực siết cơ học rồi sáng nay mới cho xuất xưởng chính thức, nhà trường quý cái tính cẩn thận, chắc chắn đó của tiệm lắm. Thay mặt nhà trường, cô rất cảm ơn tinh thần giữ đúng cam kết thời gian của hai bác cháu.
Ông Lâm có vẻ hơi bối rối trước sự trang trọng mực thước ấy. Ông đưa ống tay áo bạc màu quẹt vội những giọt mồ hôi còn đọng nơi trán, lùi lại nửa bước rồi chỉ tay về phía chiếc xe ba gác gỗ đậu ngoài sân:
— Dạ, không có chi đâu cô giáo. Tui sẵn xe trống việc buổi sớm mai, tính chở qua giùm sắp nhỏ cho nó an toàn, gọn gẽ. Chứ để tụi nó chở bằng xe máy dắt dây kẹp đôi kẹp ba ngoài đường lộ thì vừa nguy hiểm, vừa sợ va quẹt trầy trụa hết lớp chống rỉ của mấy cái xe trường. Thôi, cô giáo với cháu nó cứ kiểm tra giấy tờ sổ sách cho đúng phép tắc công vụ, tui đứng ngoài này coi ngó xe cộ là được rồi.
Thầy Nghĩa bước lại gần mép hiên xi măng, không ngần ngại quỳ hẳn một bên gối xuống nền sàn còn vương chút hơi ẩm để tận mắt đối chiếu từng chi tiết máy của cỗ xe đầu tiên. Thầy cầm theo một cây bút chì kim, dùng đầu kim loại gõ nhẹ từng nhịp vào nan hoa của cả bánh trước lẫn bánh sau chiếc X01. Âm thanh “ting… ting… ting…” phát ra đanh gọn, trong trẻo và đồng đều ở khắp vòng chu vi bánh xe. Thầy cúi rạp người xuống, nheo mắt nhìn sâu vào bát phanh sau, kiểm tra độ rơ của trục giữa, rồi dùng tay lay mạnh cọc yên và bàn đạp. Xong xuôi, thầy quay người lại, gật đầu dứt khoát với cô Hạnh:
— Sáu chiếc đợt một này hoàn toàn đúng chuẩn kỹ thuật theo biên bản kiểm định xuất xưởng số 04 mà cô Mai đã ký chiều qua. Phuộc trước chắc chắn, chén cổ không có hiện tượng rơ lắc dọc hay sượng bi khi bẻ hết lái, cùm phanh bám khít đều cả hai bên má và lốp chịu tải đúng loại gai dầy chống trượt bùn. Tôi đã đối chiếu từng số sườn dập chìm trên cổ xe với mã kẹp đồng đóng số thứ tự, hoàn toàn trùng khớp với hồ sơ lưu trữ kỹ thuật của trường.
Bảo mở chiếc cặp da cũ sờn mép của mình, cẩn thận lấy ra một tập tài liệu dập ghim ngay ngắn bằng hai chiếc ghim bấm lớn. Tập tài liệu được chia làm hai phần tách biệt: cuốn “Sổ theo dõi bảo dưỡng định kỳ” đóng bìa cứng và tập “Danh mục thông số nhân trắc học của từng phương tiện”. Cậu bước tới, đặt tập tài liệu lên yên da của chiếc xe X01, dùng lòng bàn tay vuốt phẳng phiu từng nếp gấp mép giấy rồi đưa hai tay trao cho cô Hạnh:
— Thưa cô Hạnh, đây là cuốn sổ theo dõi kỹ thuật mà em đã lập chi tiết cho toàn bộ sáu xe đợt đầu. Trong này, mỗi chiếc xe đều được dành riêng một trang đôi: trang bên trái ghi rõ ngày tiếp nhận đại tu, danh mục toàn bộ phụ tùng đã thay mới kèm nguồn gốc cơ khí, độ mòn danh định của má phanh và xích đĩa tại thời điểm xuất xưởng. Trang bên phải là bảng kiểm tra định kỳ vào sáng thứ Hai đầu tiên của mỗi tháng, có sẵn các cột đo áp suất lốp, độ chùng xích và ô ký xác nhận tình trạng an toàn của thợ cơ khí lẫn giáo viên phụ trách thiết bị của trường. Còn đây là sáu bộ sổ tay mượn xe thu nhỏ phát tận tay cho từng học sinh tiếp nhận, bên trong ghi rõ hai số điện thoại đường dây nóng khẩn cấp của tiệm và văn phòng trường, kèm theo cam kết bằng văn bản: nhà trường và tiệm cơ khí chịu toàn bộ chi phí hao mòn kỹ thuật tự nhiên, gia đình các em hoàn toàn không phải bồi hoàn bất kỳ khoản tiền nào khi xe gặp sự cố hỏng hóc do thời gian hay điều kiện đường sá.
Cô Hạnh đón lấy tập sổ dày dặn từ tay Bảo. Đôi mắt sau cặp kính cận gọng đồi mồi khẽ nheo lại khi cô lật giở từng trang giấy kẻ ô vuông. Những bảng biểu được kẻ bằng mực đen sắc nét, nét kẻ thẳng tắp bằng thước nhựa, những con số đo đạc lực siết cơ học được ghi chú rõ ràng bằng đơn vị Newton-mét (Nm), hành trình bóp nhả của tay phanh tính bằng milimét và cự ly di chuyển thực tế từ từng con ngõ, từng xóm bãi về tới cổng trường. Tuyệt nhiên không có một dòng chữ nào mang tính cảm tính, không có những lời văn tô vẽ hoàn cảnh éo le nghèo khó hay hoàn cảnh gia đình thương tâm của các em học sinh; toàn bộ thông tin cá nhân đều được bảo mật tối đa và quy đổi thành các thông số cơ học, kích thước hình thể nhân trắc học và giới hạn an toàn kỹ thuật của phương tiện.
Cô Hạnh đặt tập biên bản lên bìa cặp hồ sơ cứng, rút cây bút bi mực xanh cài trên ngực áo. Ngòi bút của cô lướt dứt khoát, ký nhận biên bản bàn giao, chính thức tiếp quản quyền quản lý đội xe cho mượn kèm theo cuốn sổ theo dõi bảo dưỡng định kỳ do Bảo dốc lòng thiết lập. Từng chữ ký, từng nét gạch dưới dứt khoát vang lên sột soạt trên nền giấy trắng mực đen. Sau khi ký xong cả ba bản, cô cẩn thận tách chúng ra: một bản trao tận tay Bảo để giữ làm căn cứ đối soát hồ sơ kỹ thuật lưu tại tiệm của cô Mai, một bản giao cho thầy Nghĩa kẹp vào cặp lưu trữ của phòng Thiết bị trường học, và bản gốc có chữ ký sống cô giữ lại cho phòng Đoàn Đội.
— Kể từ giờ phút này, sáu chiếc xe đạp mang mã định danh X01, X02, X03, X05, X06 và X08 chính thức được nhập vào danh mục tài sản công thuộc chương trình hỗ trợ phương tiện đến trường của trường THCS Hải An, — cô Hạnh cất giọng dõng dạc, ánh mắt nhìn thẳng vào Bảo với sự tin cậy tuyệt đối và ấm áp. — Nhà trường hoàn toàn chịu trách nhiệm quản lý, điều phối việc cho học sinh mượn phương tiện theo đúng bộ tiêu chí minh bạch đã được niêm yết công khai tại bảng tin, đồng thời có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với xưởng cơ khí của cô Mai thực hiện đúng lịch kiểm tra kỹ thuật định kỳ vào sáng thứ Hai đầu tháng. Không có bất kỳ một cá nhân nào — dù là nhà tài trợ, phụ huynh hay người có công vận động — có quyền thay đổi mục đích sử dụng công cộng của những chiếc xe này, hay can thiệp làm sai lệch danh sách học sinh đã được xét duyệt dựa trên nhu cầu thực tế.
Lời cô Hạnh vừa dứt thì từ phía ngoài cổng sắt của trường bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập, gấp gáp, kèm theo tiếng ủng cao su nện lẹp bẹp, bì bõm trên nền đá dăm còn sũng nước mưa. Chị Duyên — mẹ của bé Linh học lớp 8B — đang hối hả chạy vào sân trường. Chị vẫn mặc nguyên bộ đồ lao động bằng vải thô sẫm màu sực nức mùi mặn mòi, tanh nồng đặc trưng của vựa cá, trên chiếc tạp dề nhựa dẻo chống nước quấn ngang hông còn bám loang lổ vài vảy cá thu óng ánh dưới nắng sớm. Chiếc nón lá rách tưa cả vành được chị cầm vội trên tay, khuôn mặt đen nhẻm vì gió biển và nắng muối ửng đỏ lên vì vừa phải chạy một mạch từ bến xe lôi đầu làng vào đây.
— Kịp không cô giáo ơi? Có kịp giờ không mấy chú? — Chị Duyên vừa thở dốc vừa hổn hển hỏi, giọng run run vì lo lắng. — Tôi vừa đứng cân cá ngoài bến, nghe bác Bảy chạy xe lôi ngang qua bảo thấy chiếc xe ba gác chở sáu chiếc xe đạp hoàn thiện quẹo vô cổng trường là tôi cuống cuồng xin chủ vựa cho chạy ù qua đây liền. Khổ quá, chiều nay có tới ba chiếc ghe cào ngoài khơi xa cập bờ sớm do né áp thấp, đúng hai giờ chiều là chủ vựa bắt đầu gom cá để phân loại đưa lên xe đông lạnh đi thành phố rồi. Tôi mà trễ ca này một cái là người ta gạt tên ra khỏi danh sách bốc vác, mất đứt nửa ngày công một trăm hai mươi ngàn của hai mẹ con!
Cô Hạnh vội vàng bước nhanh ra khỏi bóng râm của mái hiên, đưa tay đỡ lấy cánh tay gầy guộc của chị Duyên, mỉm cười dịu dàng để trấn an người mẹ nghèo:
— Kịp chứ chị Duyên, rất kịp là đằng khác! Chiều qua chị với cháu Linh đã thử xe và ký phiếu kỹ thuật điều chỉnh rồi, sáng nay nhà trường tiếp quản tài sản công chính thức thì chỉ cần chị ký nốt vào bản lưu hồ sơ quản lý phương tiện của trường và nhận chìa khóa khóa dây cho cháu thôi, mất chưa đầy hai phút của chị đâu. Chị vào trong bóng mát này đứng thở cho lại sức rồi ký là có thể yên tâm quay về vựa cá làm việc ngay được rồi.
Chị Duyên thở phào một hơi nhẹ nhõm, lồng ngực gầy guộc sau lớp áo bảo hộ phập phồng hạ xuống. Chị đưa mu bàn tay thô ráp nứt nẻ quẹt vội những giọt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên gò má sạm đen, rồi rụt rè bước từng bước chậm rãi vào dưới mái hiên nhà xe. Đôi mắt trũng sâu của chị lập tức dừng lại ở vị trí thứ hai trong dãy xe — nơi chiếc xe cào cào X02 gióng ngang đôi màu xám kim loại đang đứng sừng sững, vững chãi. Chiếc xe sạch sẽ tinh tươm, hai chiếc lốp gai đen nhánh dày dặn, và đặc biệt là bộ ba-ga chở hàng phía sau đã được hàn gia cố thêm hai thanh giằng chịu lực bằng thép hộp vuông vức, sáng loáng không tì vết.
Mắt chị Duyên bỗng sáng bừng lên một tia nhìn vừa ngỡ ngàng vừa xúc động. Chị tiến lại gần, theo thói quen cẩn trọng của một người đàn bà lam lũ cả đời chắt bóp từng đồng bạc lẻ, đưa bàn tay run run nắm lấy ghi-đông xe lay mạnh sang hai phía, rồi ghìm toàn bộ sức nặng của nửa thân người ấn thử lên chiếc yên bọc nệm mút giả da màu đen êm ái.
Chiếc xe không hề phát ra một tiếng cót két hay rên rỉ nhỏ nào. Càng xe vững như bàn thạch, chân chống giữ thế thăng bằng hoàn hảo trên mặt sàn bê tông phẳng lì.
— Cỗ xe này cứng cáp thiệt đó chú thợ ơi… — Chị Duyên quay sang nhìn Bảo, giọng nghẹn ngào pha lẫn sự thán phục chất phác, không chút gượng gạo. — Chiều hôm qua con Linh được chú tỉ mỉ đo đạc rồi hạ cọc yên, bóp thử phanh vừa khít tay cho nó đạp thử êm ru, về tới cửa bếp là nó đã líu lo nhắc miết không thôi. Tối qua nó mừng quá, cứ trằn trọc ôm cuốn tập thức miết tới nửa đêm không ngủ được, chỉ mong cho trời mau sáng để trường tiếp nhận xe chính thức, nhận chìa khóa khóa dây rồi trưa nay tự đạp về…
Bảo khẽ mỉm cười, cảm thấy sống mũi mình hơi cay cay. Cậu lật mở tập hồ sơ quản lý phương tiện cùng cuốn Sổ tay mượn xe mang mã định danh HS-08B-04 đặt ngay ngắn trên mặt phẳng của ba-ga chiếc X02, ngón tay trỏ chỉ vào khung chữ ký dành cho người giám hộ ở góc dưới:
— Dạ, chiều qua chị và Linh đã ký phiếu kiểm định kỹ thuật cá nhân hóa, còn đây là bản lưu hồ sơ phân bổ tài sản công của trường và cuốn sổ theo dõi riêng của em Linh, chị Duyên ký giúp em một chữ ký xác nhận nốt vào đây ạ. Toàn bộ thông tin bảo dưỡng, cam kết thay mới săm lốp và phụ tùng định kỳ tiệm tụi em đã in sẵn bên trong. Chị cứ dặn Linh là sáng thứ Hai đầu tiên của mỗi tháng, em chỉ việc dắt xe vào đúng góc hiên này trước giờ chào cờ; trong giờ học, thợ của tiệm em sẽ trực tiếp sang tận nơi để bơm mỡ bò, tăng xích, kiểm tra phanh và lau chùi toàn bộ xe cho em. Nếu chẳng may trên đường đi học từ Xóm Cồn về trường mà xe bị cán phải đá dăm nổ lốp hay đứt xích giữa đồng, chị cứ bảo Linh mượn điện thoại gọi ngay vào một trong hai số khẩn cấp ghi ở bìa sổ, người của tiệm hoặc thầy cô trong trường sẽ chạy xe máy ra ứng cứu và đón em liền, tuyệt đối không để em phải dắt bộ hay trễ giờ học đâu ạ.
Chị Duyên đón lấy cây bút bi từ tay Bảo. Những ngón tay xương xẩu, da dẻ nứt toác thành từng kẽ đỏ ửng vì quanh năm suốt tháng phải ngâm mình trong nước đá ướp cá của chị khẽ run rẩy. Chị kẹp chặt thân bút bằng một sự cẩn trọng gần như thiêng liêng, cúi thấp người xuống, nắn nót ký từng nét chữ “Phạm Thị Duyên” vào biên bản giấy trắng. Nét chữ của chị gầy guộc, xiêu vẹo, đôi chỗ run rẩy không thẳng hàng vì chị ít khi cầm bút, nhưng từng nét mực lại hằn sâu, đậm nét và dứt khoát — như chính lòng tự trọng son sắt của một người mẹ nghèo kiên cường, không muốn đứa con gái duy nhất của mình phải chịu bất kỳ sự thương hại hay mang ơn tủi hờn nào từ người khác.
Ký xong, chị Duyên trả lại cây bút cho Bảo. Chị đón lấy chùm chìa khóa khóa dây số bọc nhựa trong suốt và cuốn sổ tay mượn xe có đóng dấu mộc đỏ chót của trường từ tay cô Hạnh. Chị cẩn thận mở chiếc túi áo trong có khóa kéo của chiếc áo khoác bạc màu, nhét sâu cuốn sổ và chùm chìa khóa vào đó rồi kéo khóa lại cẩn thận, dùng bàn tay vỗ nhẹ lên ngực áo như để chắc chắn rằng báu vật ấy không thể nào rơi mất. Chị liếc nhìn chiếc đồng hồ điện tử bằng nhựa cũ kỹ đeo trên cổ tay, khẽ thở phào nhẹ nhõm:
— Nhanh gọn quá chừng cô giáo ơi! May phước cho mẹ con tôi quá, chứ tôi cứ lo thủ tục trường lớp rườm rà, bắt họp hành bình xét rồi đứng lên phát biểu nhận quà này nọ làm trễ mất buổi gom cá chiều ở bến thuyền thì chết dở cả tháng tiền chợ. Giờ thì hồ sơ ký tá xong xuôi, chìa khóa cầm chắc trong tay, xe cộ yên tâm để ở góc này rồi, trưa nay tan học con Linh nó tự lấy xe đạp tà tà về nhà. Tôi xin phép chạy ngược về vựa cá kẻo ghe lớn người ta cập bến bây giờ! Cảm ơn cô giáo, cảm ơn thầy giáo, cảm ơn hai cha con chú thợ sửa xe nhiều nghen!
Chị Duyên cúi gập người chào một cách vội vã nhưng đong đầy sự biết ơn chân thành, rồi thoăn thoắt xốc lại chiếc tạp dề nhựa, bước những bước sải dài dứt khoát rảo ra cổng trường để kịp đón chuyến xe lôi quay ngược về bến cảng. Bóng dáng gầy guộc, nhỏ thó nhưng dẻo dai của người mẹ hòa nhanh vào dòng người buổi sớm trên con đường liên xã ngập tràn ánh nắng rực rỡ.
Đứng tựa lưng vào cột hiên nhìn theo bóng lưng tất bật của chị Duyên khuất dần sau rặng cây, Bảo cảm nhận được một luồng hơi ấm dịu dàng và nhẹ nhõm vô bờ bến lan tỏa khắp lồng ngực mình. Không có cảnh giăng biểu ngữ phô trương, không có ống kính máy ảnh chĩa vào mặt bắt đứa trẻ nghèo phải cúi đầu nhận sự ban ơn đầy tủi hổ, và cũng không có những bài diễn văn hoa mỹ kể lể công lao của những người làm kỹ thuật. Toàn bộ quy trình trao nhận phương tiện đã diễn ra đúng như bản chất cơ học và nhân văn vốn có của nó: một quyền lợi hoàn toàn chính đáng của một đứa trẻ muốn đến trường tìm con chữ, được bảo chứng bằng sự tôn trọng nhân phẩm và những tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật khắt khe nhất.
Sau khi chị Duyên rời đi, cô Hạnh và thầy Nghĩa mang toàn bộ tập hồ sơ và năm chùm chìa khóa còn lại bước về phía văn phòng Đoàn Đội để hoàn tất việc dán thẻ phân bổ phương tiện cho năm học sinh còn lại theo danh sách bảo mật thông tin. Khoảng sân rộng trước dãy nhà xe lúc này chỉ còn lại hai cha con ông Lâm đứng bên cạnh chiếc xe ba gác máy và dãy sáu cỗ xe đạp đang đứng im lìm, thẳng tắp như những người lính cơ khí sẵn sàng nhận lệnh.
Ông Lâm không vội vã lên xe nổ máy đi ngay. Ông chắp hai tay sau lưng, bước từng bước chầm chậm dọc theo dãy xe sáu chiếc. Đôi mắt sắc sảo, đã quen nhìn thấu từng vết nứt của vỏ tàu gỗ hay độ rơ rão của những bánh răng tời kéo lưới cá ngoài biển khơi, chăm chú soi xét từng mối hàn vảy đồng, từng chiếc cùm phanh bằng hợp kim nhôm sáng bóng và từng sợi xích sắt đã được ngâm kỹ trong dầu hôi, quét lớp mỡ bò kháng mặn màu xanh rêu cẩn thận. Ông không phải là một người thợ cơ khí lành nghề chuyên về khung xe đạp, nhưng cả một đời lăn lộn với máy nổ diesel, ghe cào và xe tải chở hàng nặng đã rèn cho người đàn ông này một trực giác cơ học vô cùng chuẩn xác về độ bền vững và sức chịu tải của kim loại.
Ông dừng lại rất lâu trước chiếc xe cào cào X02 của bé Linh. Bàn tay to bè, thô ráp của ông đưa ra, nắm chặt lấy cổ phốt lắc mạnh sang hai bên để thử lại lần cuối độ rơ của cụm bạc đạn chén cổ. Chiếc xe đứng im phắc, không có lấy một tiếng lách cách thừa thãi. Ông Lâm từ từ ngồi xổm xuống, nheo mắt nhìn sâu vào con ốc hãm trục giữa của giò dĩa — chính là vị trí mà mấy đêm trước Bảo đã từng suýt chút nữa làm trờn ren vì sự nóng vội và thiếu kiên nhẫn của tuổi trẻ. Con ốc thép mới tinh ăn khớp hoàn hảo, phẳng lì với bề mặt bát trục, không hề để lại bất kỳ một vết trầy xước hay dấu cờ-lê trượt cạnh nào.
Ông Lâm đứng thẳng dậy, rút mảnh giấy biên bản phụ trong túi áo ra, nhìn sang Bảo:
— Đọc lại danh sách bàn giao lần chót coi. Kiểm lại cho chắc ăn từng mã xe, đừng để sót một con ốc nào trên giấy tờ.
Bảo cầm tờ biên bản kỹ thuật có chữ ký xác nhận của cô Mai và dấu mộc của trường, cất giọng đọc rõ ràng từng dòng:
— Chiếc X01: sườn đầm Thống Nhất vành 24 inch, giao cho em Nguyễn Thị Mai Lan, học sinh lớp 7A ở dốc Cây Me.
— Rồi, — ông Lâm gật đầu, mắt liếc qua chiếc xe gióng uốn màu xanh nhạt.
— Chiếc X02: cào cào gióng đôi sườn thép hộp, giao cho em Phạm Ngọc Linh, học sinh lớp 8B ở Xóm Cồn.
— Xong rồi. Cái này mẹ nó vừa ký nhận, xe chắc chắn lắm. Tiếp đi.
— Chiếc X03: mini Nhật sườn xéo gia cố thanh giằng ngang, giao cho em Trần Văn Tuấn, học sinh lớp 9C xóm Bãi Cát.
— Rồi.
— Chiếc X08: xe sườn ngang Thống Nhất vành 26 inch, giao cho em Lê Hoàng Nam, lớp 8A ở xóm Đầm Vạc.
— Rồi.
— Chiếc X05: xe cào cào sườn đơn chịu lực, giao cho em Bùi Thị Tuyết, lớp 7C ở dốc Cát Lở.
— Rồi.
— Chiếc X06: sườn đầm gia cố hai gióng, giao cho em Đỗ Minh Khang, lớp 6B xóm Vạn Chài.
— Đủ sáu chiếc, — ông Lâm kết luận, gấp mảnh giấy làm tư rồi đưa trả cho Bảo.
Hai cha con đứng im lặng giữa khoảng sân trường lộng gió. Từng mã kim loại dập nổi bằng đồng mỏng buộc ở cổ phốt xe khẽ va vào gióng sắt kêu lách cách nhẹ tênh khi những ngọn gió biển thổi thốc qua mái hiên. Không có bất kỳ một sự sai lệch nào, dù là nhỏ nhất, giữa những con số kỹ thuật ghi trên mặt giấy biên bản và thực tế sáu cỗ xe đang đứng hiên ngang dưới bóng râm nhà xe. Mọi thứ ăn khớp với nhau một cách hoàn hảo, chuẩn xác như một chu trình chuyển động cơ khí nhịp nhàng đã được vận hành trơn tru sau biết bao nhiêu đêm thức trắng, bao nhiêu va vấp, cọ xát và những bài học sửa sai đắt giá bên bàn nguội.
Ông Lâm đứng nhìn con trai mình một thoáng. Dưới ánh nắng sớm chiếu nghiêng nghiêng, ông thấy Bảo đứng thẳng lưng trong bộ quần áo bảo hộ lao động lấm lem vài vệt dầu mỡ đen nơi cổ tay áo, mái tóc cậu bù xù vì gió muối nhưng đôi mắt thì sáng rõ, trầm tĩnh và dứt khoát lạ thường. Ánh mắt ấy khác hẳn với vẻ rụt rè, lúng túng, lúc nào cũng chực né tránh ánh nhìn nghiêm khắc của người lớn như hồi cậu mới thất thểu mang chiếc ba lô lép kẹp từ thành phố dạt về nương náu nơi thị trấn biển này.
Không có bất kỳ một lời khen hoa mỹ hay ủy mị nào thốt ra từ miệng của người cha cả đời lam lũ. Ông Lâm là người của bến bãi, của những mẻ cá nặng và những nhát búa đóng cọc tiêu; với những người lao động chân tay như ông, làm được việc là bổn phận hiển nhiên của một người có lòng tự trọng, không có gì phải tán dương rùm beng.
Ông bước một bước dài lại gần, đưa bàn tay thô ráp, nồng nặc mùi mặn mòi của vựa cá vỗ mạnh một cái thật dứt khoát lên bả vai rắn rỏi của Bảo. Lực vỗ mạnh đến mức khiến bả vai Bảo hơi chùng xuống một nhịp, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, cậu cảm nhận được trọn vẹn hơi ấm truyền qua lớp vải thô và sức nặng của một sự công nhận thực sự từ cha mình — một sự công nhận không cần đến bất kỳ tấm bằng cử nhân hay danh hiệu bóng bẩy nào treo trên vách nhà, mà được đúc kết từ chính giọt mồ hôi và sản phẩm lao động chân chính đã tự đứng vững thăng bằng trên hai bánh xe.
— Làm việc như vậy là được rồi đó, — giọng ông Lâm trầm đục, ngắn gọn mà dứt khoát. — Gọn gàng, ngăn nắp, sạch nước cản, không có bày vẽ ba cái trò vớ vẩn ruồi bu. Xe cộ một khi đã dắt ra khỏi cửa tiệm là dứt khoát phải chạy cho êm, phải an toàn tuyệt đối cho con người ta đạp đi học đường xa. Cứ giữ đúng cái nếp làm việc cẩn thận, chắc chắn như vầy mà học nghề cho tới nơi tới chốn với cô Mai.
Cổ họng Bảo khẽ nghẹn lại, cậu nuốt khan một ngụm nước bọt rồi gật đầu thật mạnh:
— Dạ, con nhớ kỹ rồi ba.
Ông Lâm xoay người bước nhanh ra phía mép sân đá dăm, rút chùm chìa khóa xe ba gác trong túi quần ra. Nhưng vừa bước được vài bước, ông bỗng dừng chân lại, nghiêng đầu ngoái lại hỏi:
— Mà này, lịch chuyển sáu chiếc xe của đợt hai là bữa nào? Đã gom đủ đồ đạc phụ tùng chưa?
Bảo bước rảo theo sau gót chân cha, cất giọng rành rọt trả lời:
— Dạ, đợt hai cô Mai đã thống nhất lịch hẹn với bên trường là vào khoảng giữa tháng Mười, tầm ngày mười lăm ạ. Chú Phúc bên khu Một hiện đang nhận cân chỉnh nốt sáu cặp vành sắt còn lại, anh Tín bên thị xã cũng đã nhận lời gom xong đợt phụ tùng líp tầng cũ với mấy bộ chén cổ đời sâu vào cuối tuần tới. Tiệm của tụi con sẽ tranh thủ làm vào các buổi chiều cố định trong tuần, sau khi đã giải quyết xong toàn bộ các đơn xe sửa chữa của khách quen trả tiền hàng ngày.
— Ừ, — ông Lâm gật đầu dứt khoát, vẻ mặt hài lòng. — Tới ngày đó, nếu đường sá tạnh ráo mà tao rảnh việc buổi sớm, tao lại đánh xe qua tiệm chở giúp cho một chuyến nữa cho nó xong xuôi trọn vẹn. Nhưng nhớ là phải báo trước cho tao hai bữa để tao còn liệu đường chừa ca, đổi phiên xúc cá bên vựa. Đừng có để tới sát nút mới í ới gọi là tao kẹt việc dưới ghe cào, không có chạy đi đâu được đâu nghen.
— Dạ, con biết rồi ba, con nhất định sẽ báo trước cho ba ít nhất ba ngày, — Bảo đáp, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười rạng rỡ và ấm áp.
Ông Lâm không nói thêm một câu nào nữa. Ông bước thoăn thoắt lại chiếc xe ba gác lôi, trèo lên ghế lái rồi dùng gót chân đạp mạnh một nhát dứt khoát vào cần khởi động. Tiếng máy nổ bình bịch giòn tan lập tức xé tan màn sương ẩm còn sót lại trên những tán lá bàng quanh sân trường. Ông Lâm vào số một, tay côn nhả đều nhịp nhàng; chiếc xe ba gác gỗ chầm chậm lăn bánh qua cánh cổng sắt mở rộng, rẽ ngoặt về hướng con đường nhựa liên xã dẫn thẳng ra phía cảng cá — nơi những đoàn thuyền đánh cá ngoài khơi xa đang rẽ sóng chuẩn bị cập bờ cho một buổi chợ chiều tất bật, huyên náo.
Bảo đứng lặng bên cánh cổng sắt mở hé, ánh mắt dõi theo chiếc xe ba gác của cha đang xa dần cho đến khi vệt khói xám nhạt nhòa khuất hẳn sau những rặng phi lao xanh rì chắn cát ven đường. Mùi khói xăng pha dầu cặn thoang thoảng rồi cũng tan nhanh trong làn gió biển mát rượi.
Cậu quay gót bước trở lại khoảng sân trường THCS Hải An. Nắng sớm lúc này đã lên cao, rọi sáng bừng từng khoảng sân gạch đỏ và hắt những vệt nắng dài, vàng óng xiên qua mái hiên nhà xe. Dãy sáu chiếc xe đạp — những cỗ xe mà mới tuần trước còn là đống sắt vụn hoen rỉ, cong vênh, ngâm đầy nước mặn nằm chỏng chơ trong kho chứa đồ phế liệu của ban dân phố; những cỗ xe từng trải qua những cuộc tranh cãi nảy lửa giữa Bảo và chú Phúc, từng suýt bị biến thành công cụ cho những lời hứa hão bốc đồng, và đã lấy đi của Bảo biết bao đêm thức trắng để taro lại từng đường ren ốc mòn — giờ đây đang đứng sừng sững ở đó. Chúng đứng khiêm nhường, tĩnh lặng nhưng vững chãi vô cùng, sẵn sàng cho những chuyến hành trình dài vượt qua bùn lầy, đá dăm và gió mặn của vùng biển bãi ngang nghèo khó.
Nhà xe của ngôi trường làng ven biển từ nay đã có thêm một góc nhỏ vô cùng gọn gàng mang tên chương trình mượn xe đạp, nơi những chiếc chìa khóa đầu tiên đã được trao tận tay những người cần nó nhất bằng tất cả sự tin cậy và tự trọng.