Ngày mưa không tính là ngày thắng
Gió mùa đông bắc mang theo những vệt mây xám xịt cuộn đặc từ ngoài vịnh vào, trút xuống thị trấn ven biển từng đợt mưa rào xối xả. Mưa quất ràn rạt lên những tấm tôn fibro-xi-măng cũ kỹ của dãy phố thợ rèn, dội vào lòng máng xối tôn rỉ sét trước hiên tiệm sửa xe của cô Mai thành những dòng nước đục ngầu phù sa, sủi bọt trắng xóa rồi tràn ứ ra con rãnh thoát nước công cộng.
Nước từ con lạch sâu phía sau chợ cá bắt đầu dềnh lên theo từng nhịp sóng lớn. Triều cường từ cửa biển Hải An dâng ngược vào hệ thống cống ngầm vốn đã tắc nghẽn vỏ sò và rác rác bến thuyền, khiến mặt đường nhựa loang lổ ổ gà nhanh chóng biến dạng. Đến non trưa, đoạn đường ven sông nối từ ngã ba xóm thợ sang Trường Trung học cơ sở Hải An đã chìm sâu dưới hơn nửa mét nước đục quạch màu đất sét. Cứ chốc chốc, một chiếc xe tải chở đá hộc từ mỏ đá trên núi chạy rầm rập lướt qua, gầm máy gầm rú xé toạc không gian ẩm ướt, kéo theo từng đợt sóng con quất mạnh vào mé hiên tiệm, cuốn theo rác rưởi, xác bèo tây dập nát và những vệt váng dầu máy lóng lánh đủ sắc cầu vồng trôi dạt vô định.
Bảo đứng tựa vai vào khung cửa kho sau, ánh mắt dừng lại ở sáu chiếc xe đạp đợt một đã lắp ráp hoàn chỉnh, xếp thành một hàng thẳng tắp dọc theo vách tường khô ráo nhất trong tiệm. Đó là thành quả của hơn ba tuần làm việc cật lực từ sáng sớm đến tận đêm muộn. Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn dây tóc sáu mươi oát treo lơ lửng giữa trần, những nan hoa bằng thép mạ kẽm do chú Phúc thợ nguội trực tiếp cân vành ánh lên những vệt sáng lạnh buốt. Từng chiếc căm xe đã được kéo căng đều tay, gõ vào phát ra âm thanh trong vắt và đanh gọn. Xích líp được nhồi đẫm loại mỡ bò công nghiệp chịu mặn nhập từ xưởng tàu, những đĩa líp năm tầng sáng bóng không dính một hạt bụi, và má phanh cao su xẻ rãnh thoát bùn chuyên dụng đã được ép sát cữ vành nhôm dày hai lớp.
Theo lịch hẹn đã thống nhất từ tuần trước, trưa hôm nay cậu và cô Mai sẽ chuyển dần từng cặp xe sang cất ở kho chứa sau dãy nhà xe của trường học. Ở đó, cô Hạnh và thầy tổng phụ trách đội đã dọn sẵn một gian phòng khô ráo để sáng mùng năm tháng Chín, đúng vào lễ khai giảng năm học mới, trường sẽ tổ chức trao tận tay cho sáu em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của xã đảo, trong đó có chiếc cào cào sườn thép gia cố mang mã số X02 dành riêng cho bé Linh – đứa nhỏ có mẹ bận gom cá ngoài bến từ tờ mờ sáng, ngày nào cũng phải đi bộ hơn sáu cây số đường đê lầy lội để tới lớp.
Thấy nước ngoài mép đường cái đã mấp mé mép gạch tam cấp của thềm tiệm, từng con sóng nhỏ vỗ bập bõm cuốn trôi cả mấy chiếc giẻ lau dính dầu, Bảo sốt ruột không yên. Cậu với tay lấy tấm áo mưa cánh dơi bằng nilon màu xanh bộ đội treo trên vách ván ép, tròng vội qua đầu rồi cúi xuống định dắt chiếc cào cào X02 ra mép thềm:
— Nước mới ngang bắp chân thôi cô ạ. Hay là để con bọc thật kín mấy bọc xích líp với cùm trục giữa bằng màng bọc nilon, rồi dắt từng chiếc lội tắt men theo gờ đá mé đê? Đằng nào kho trên trường cũng xây trên gò đất cao, đưa sang bên đó gửi trước cho chắc ăn. Nhỡ đâu chiều nay triều cường dâng cao ngập tràn vào xưởng thì công toi hết cả lũ xe...
— Để nguyên đấy!
Tiếng cô Mai đanh lại như tiếng kim loại va đập, vang rền át cả tiếng mưa đang gõ rầm rập trên mái tôn. Giọng nói sắc lạnh ấy chặn đứng cánh tay đang vươn ra nắm lấy ghi-đông xe của Bảo.
Bà bước từ trong gian máy tiện ra ngoài sáng. Đôi ống quần vải kaki thợ hàn xắn cao quá đầu gối để lộ đôi bắp chân săn chắc, chằng chịt những vết sẹo xước sâu hoắm đã ngả màu nâu xám – dấu tích của hàng vạn lần va chạm với phoi sắt sắc lẹm, đầu dây căm gãy và góc bàn mài qua hơn ba mươi năm bám trụ với nghề cơ khí đường phố. Cổ tay phải của bà quấn chặt một dải băng thun y tế màu da đã ngả ố vàng vì thấm mồ hôi và dầu nhớt, nơi khớp xương bị thoái hóa nặng sau những chuỗi ngày dùng búa tạ tán đinh và siết cờ-lê quá sức. Nhưng ngón tay trỏ và ngón cái của bà khi kẹp chặt chiếc kìm mỏ quạ bằng thép tôi thì vẫn vững như bàn thạch, không hề có lấy một tích tắc run rẩy.
Cô Mai chĩa thẳng mũi kìm mỏ quạ ra khoảng không gian mịt mù nước ngoài lòng đường. Cách hiên tiệm chừng hai mươi mét, một người đàn ông trung niên đang bì bõm dắt chiếc xe máy chở hai sọt cá khô bị chết bugi giữa dòng nước đỏ ngầu phù sa; từng đợt sóng đánh dạt người lái nghiêng ngả, chiếc xe máy chao đảo chực chìm nghỉm:
— Cậu tưởng dắt xe đạp qua đoạn ngập lụt này là chuyện đùa của mấy đứa trẻ con chơi trò té nước đấy à? — Cô Mai nheo đôi mắt kèm nhèm đầy những nếp nhăn sâu hoắm ở khóe mi, nhìn thẳng vào gương mặt còn non choẹt của cậu học việc. — Nhìn kỹ dòng nước kia đi! Nước sông Hải An vào mùa gió chướng dâng ngược từ biển vào, nó không phải là nước mưa ngọt trên trời rơi xuống. Nó là nước lợ ngậm đầy hạt cát mịn thô nhám và muối biển hòa tan. Cậu dầm một chiếc xe qua nửa cây số đường lầy đó, nước áp lực sẽ đội qua mép phớt cao su chắn bụi, luồn thẳng vào trong ổ bi trục giữa, chui tọt vào chén cổ và ổ líp sau. Bao nhiêu mỡ kháng mặn nhập từ xưởng tàu sáng nay tôi với cậu cặm cụi dùng ngón tay nhồi từng kẽ bi coi như thành bùn nhão hết! Rồi lúc đó ai là người ngồi rã từng chi tiết ra, lấy dầu hôi rửa sạch từng hạt cát li ti bám trong rãnh côn? Ai hong khô từng viên bi bạc đạn rồi cân chỉnh lại từng vòng ren?
Cô Mai tiến thêm một bước, mũi kìm hạ xuống chỉ thẳng vào mặt nước cuộn sóng trước cửa:
— Chưa kể dưới lòng nước đỏ lòm kia là cái gì cậu có nhìn thấy không? Ổ gà, ổ voi, đá hộc người ta rải tạm mé đường, mảnh sắt vụn rỉ sét chìm dưới đáy bùn. Cậu dắt xe đi bộ, thụt chân sụp một phát xuống rãnh thoát nước, sườn xe đập vào mép cống cong vênh mất cữ chuẩn, người thì sứt đầu mẻ trán trôi ra giữa dòng lạch, lúc đấy cậu mang cái xác sắt vụn ấy đi bàn giao cho học sinh nghèo à?
Bảo từ từ buông tay khỏi ghi-đông chiếc X02. Lớp kim loại bọc cao su ở tay nắm vẫn còn ram ráp dưới lòng bàn tay cậu. Nhìn dòng nước đỏ ngầu đang sủi bọt cuồn cuộn ngoài kia, mang theo cả những thân cây chuối mục và rác rưởi trôi băng băng về phía hạ lưu, một cảm giác lạnh toát chạy dọc sống lưng cậu:
— Con... con chỉ sợ bên trường họ chờ, sợ chậm ngày khai giảng của các cháu...
— Nguyên tắc số một của người làm nghề kỹ thuật: ngày mưa bão thì không bao giờ được tính là ngày thắng! — Cô Mai gằn từng tiếng, dằn mạnh chiếc kìm mỏ quạ xuống mặt bàn thao tác bằng gỗ lim dày năm phân phát ra một tiếng *cộc* khô khốc, vang dội khắp gian xưởng. — Thời tiết bất khả kháng không cho phép thì phải ra lệnh đình chỉ di chuyển ngay lập tức. Không có cái thứ lý lẽ liều mạng hay nhắm mắt làm ẩu để đổi lấy cái thành tích đúng giờ giả tạo trên giấy tờ. Chiếc xe đạp này làm ra từ đồng tiền mồ hôi nước mắt của người ta quyên góp, từ công sức cậu mài từng giọt mỡ bò, là để đứa nhỏ nó đạp an toàn suốt ba bốn năm cấp hai, chứ không phải để cậu bấm giờ báo cáo cho đẹp lòng ban giám hiệu rồi tống vào tay một đứa con nít một đống sắt ngậm nước mặn đang rỉ sét từ trong ruột. Nghe cho thủng tai chưa?
— Dạ, con hiểu rồi cô.
— Hiểu thì kéo cửa sắt lửng xuống một nấc cho tôi, lấy hai bao cát khô sau góc bếp ra chèn chặt vào mép ngưỡng cửa để cản sóng xe tải. Hôm nay một bánh xe cũng không được phép lăn ra khỏi tiệm.
***
Mệnh lệnh dứt khoát của cô Mai không hề đồng nghĩa với việc hai cô trò được phép buông tay nghỉ ngơi. Ngược lại, khi triều cường dâng cao làm tê liệt tuyến đường giao thông huyết mạch nối bến cá với khu chợ trung tâm, lượng xe đạp thồ của cánh tiểu thương, người gánh cá thuê và những người gom rau chiều bị ùn ứ, hỏng hóc dọc đường càng đổ dồn về tiệm nhiều hơn bao giờ hết.
Từ lúc mười một giờ trưa trở đi, khoang sân nhỏ trước cửa tiệm liên tục vang lên tiếng bì bõm của những đôi ủng cao su ngập nước. Người ta dắt vào tiệm đủ loại phương tiện chắp vá, từ những chiếc xe phượng hoàng cổ lỗ sĩ sườn hoen gỉ, cọc yên buộc chặt bằng săm xe máy cũ, cho đến những chiếc xe thồ bánh lớn chở theo hai sọt tre nặng trịch đầy ắp cá mối, cá nục ướp đá cây. Chiếc thì bị xích dão tuột khỏi đĩa líp do rác sông và dây nilon quấn chặt cứng vào mo-ay-ơ, chiếc thì đứt phựt dây cáp phanh khi người lái cố gồng mình ghìm tải nặng lao xuống dốc cầu Cống Đá trơn tuột như bôi mỡ.
Cô Mai nhận xử lý những ca bệnh phức tạp nhất. Bà đứng tựa một bên hông vào cột thép xưởng để chia bớt trọng lượng cơ thể, giảm tải cho chiếc khớp gối và cổ tay phải đang nhức buốt vì gió lạnh. Bàn tay trái của bà thuần thục như một cỗ máy chính xác: một tay giữ cờ-lê tròng cỡ mười bốn để hãm chặt ốc côn, tay kia dùng kẹp gắp từng viên bi thép dính đầy bùn đất ra ngoài, thả vào bát dầu hôi đang sủi bọt đen ngòm.
Bảo đảm nhận vai trò thợ phụ, quỳ gối trên một tấm ván gỗ dày được kê cao trên hai viên gạch xỉ để tránh nước bùn ngập dưới nền. Cậu thoăn thoắt dùng bàn chải đót nhúng dầu hôi cọ rửa sạch từng kẽ răng của líp xe, gạt bỏ lớp cát mịn bám chặt như đá mài, rồi luồn dây cáp phanh mới vào vỏ ruột gà bôi sẵn mỡ nhờn. Đôi bàn tay của cậu, vốn từng chỉ quen lướt trên bàn phím máy tính xách tay trong những phòng học máy lạnh ở trường đại học, giờ đây chai ráp, thô nhám và nhuốm đen một màu dầu luyn ăn sâu vào từng khóe móng. Đất bùn bắn lấm tấm từ cẳng tay lên tận sống mũi, mồ hôi túa ra hòa cùng hơi nước ẩm mốc tạo nên một thứ mùi ngai ngái, khét lẹt đặc trưng của những xưởng thợ ven biển trong ngày áp thấp nhiệt đới.
Đến hơn hai giờ chiều, mưa bắt đầu rớt hạt thưa dần dù mây đen vẫn trĩu nặng trên bầu trời. Lợi dụng khoảng thời gian vãn một đợt khách đổi ca ngoài bến, Bảo đứng dậy, vặn mình nghe khớp xương sống kêu răng rắc. Cậu lau thật khô hai bàn tay cáu bẩn vào chiếc giẻ lau bằng vải sợi bông treo ở góc cột, rồi thọc tay vào túi áo ngực lôi ra chiếc điện thoại bấm phím cũ kỹ đã tróc hết lớp sơn bạc ở phím bấm số.
Cậu bước sâu vào góc kho khô ráo, nơi sáu chiếc xe dự án đang đứng sừng sững dưới ánh đèn, hít một hơi thật sâu để định thần rồi bấm dãy số điện thoại của văn phòng Đoàn Đội bên Trường THCS Hải An.
Tiếng tút dài vang lên ba hồi thì đầu dây bên kia có người nhấc máy. Tiếng cô Hạnh, giáo viên phụ trách công tác học sinh của trường, vang lên qua loa thoại, lẫn trong tạp âm ồn ào của tiếng gió rít qua khe cửa kính và tiếng kim loại va đập ngoài hành lang:
— A-lô, Bảo đấy phải không em? Tình hình bên tiệm sửa xe thế nào rồi? Ngoài đoạn đường ven sông nghe mấy thầy cô bên đội xung kích báo về là nước ngập sâu lắm, xe đò chạy tuyến huyện cũng phải quay đầu, không qua nổi đoạn Cống Đá.
Không còn chút lúng túng, ấp úng hay thói quen tìm cách nói giảm, nói tránh để bao biện như những ngày đầu tiên cậu trốn chạy từ thành phố về quê xin việc, Bảo nói chuyện bằng một giọng điệu rành rọt, khúc chiết, mang đầy tính kỷ luật của một người thợ đã quen làm việc với những con số dung sai:
— Dạ thưa cô Hạnh, cháu gọi điện để báo cáo chính xác về tiến độ bàn giao xe đợt một ạ. Hiện tại sáu chiếc xe trong danh sách dự án của các cháu đã được hoàn thiện toàn bộ phần cơ khí, từ việc nắn khung, rút căm cân vành cho đến hệ thống xích líp và phanh chống trượt bùn. Tất cả các thông số kỹ thuật đều đã được cô Mai trực tiếp kiểm tra và nghiệm thu đạt chuẩn an toàn cao nhất. Tuy nhiên, hiện tại mực nước ngập trên đoạn đường nối từ phố thợ rèn sang trường đã vượt quá nửa mét, dòng chảy qua khu vực cầu Cống Đá xiết rất mạnh và nước mang theo nhiều cát thô, muối biển mặn. Cô Mai đã ra quyết định kỹ thuật là đình chỉ tuyệt đối việc dắt bộ hoặc vận chuyển xe bằng đường bộ trong ngày hôm nay. Nếu dầm nước lợ lúc này, toàn bộ hệ thống ổ bi trục giữa và bạc đạn chén cổ mới thay sẽ bị nước mặn xâm nhập phá hủy lớp mỡ bôi trơn, gây nguy cơ rỉ sét ngầm từ bên trong.
Đầu dây bên kia im lặng lắng nghe. Chỉ có tiếng ngòi bút bi gõ nhè nhẹ lên mặt bàn gỗ và tiếng lật sổ tay sột soạt. Bảo tiếp tục trình bày phương án dự phòng mà cậu đã chuẩn bị sẵn trong đầu:
— Cháu xin phép cô cho dời lịch chuyển giao sáu chiếc xe này sang chiều ngày mai, hoặc ngay thời điểm triều cường rút hẳn xuống dưới mép bó vỉa hè. Toàn bộ hồ sơ kiểm định chất lượng, sổ nhật ký bảo dưỡng chi tiết và phiếu cam kết bảo hành kỹ thuật của từng mã xe cháu đã phân loại, kẹp sẵn trong túi nilon chống nước bấm ghim cẩn thận. Ngay khi mặt đường khô ráo và an toàn cho việc vận chuyển, cháu sẽ lập tức liên lạc trực tiếp với cô để phối hợp mở cửa kho nhà xe tiếp nhận.
Một tiếng thở phào nhẹ nhõm truyền qua ống nghe. Giọng cô Hạnh trở nên ấm áp và hoàn toàn tin cậy:
— Em báo cáo cụ thể, rõ ràng và có căn cứ kỹ thuật như thế này là cô và ban giám hiệu rất mừng. Bên trường trưa nay nước triều cũng tràn qua bờ kè, ngập trắng cả khoảng sân bóng rổ, các thầy giáo đang phải xắn quần bê toàn bộ bàn ghế của các lớp tầng một lên tầng hai để tránh ngập. Cứ an toàn là trên hết Bảo ạ. Chúng ta làm cho các em học sinh có phương tiện đi lại lâu dài, không việc gì phải nóng vội chạy theo tiến độ hình thức giữa lúc mưa bão thế này. Em cứ giữ xe thật cẩn thận bên đó. Chiều mai khi nào nước rút, em cứ chủ động liên hệ với cô hoặc thầy Nghĩa bên Đoàn trường nhé.
— Dạ vâng, cháu cảm ơn cô nhiều ạ. Cháu chào cô.
Bảo hạ chiếc điện thoại xuống, thở hắt ra một luồng hơi dài, cảm thấy như vừa gỡ bỏ được một tảng đá vô hình đè nặng trên ngực. Cậu bước lại gần chiếc bàn thợ nguội, cầm lấy cây bút bi mực xanh cài trên vách gỗ, cẩn thận lật cuốn sổ tay kỹ thuật bìa da cứng màu đen, ghi chép nắn nót vào phần phụ lục: *Hoãn chuyển xe đợt 1 sang trường — lý do: triều cường dâng cao, ngập lụt cục bộ, bảo vệ độ kín khít và mỡ bôi trơn vòng bi trục giữa — đã liên hệ và thống nhất phương án với cô Hạnh lúc 14 giờ 15 phút.*
Cô Mai đứng tựa lưng vào mép bệ máy mài từ lúc nào không hay. Trên tay bà là chiếc ca men tróc sơn đựng nước chè xanh nóng hổi, bốc khói nghi ngút tỏa mùi thơm chát dịu. Bà đưa mắt nhìn từng con chữ ngay ngắn, gọn gàng trong cuốn sổ của cậu học việc, khóe miệng khẽ giật nhẹ một cái nhưng không hề buông một lời khen ngợi thừa thãi. Bà nhấp một ngụm chè đặc, nuốt đánh ực một cái rồi hất cằm về phía chiếc xe đạp đầm cũ kỹ chở hai giỏ cá mối của chị Ba Đen vừa dắt lẹp bẹp qua ngưỡng cửa:
— Bánh sau chiếc đó bị dơ bạc đạn nghiêm trọng rồi, lắc ngang thấy rơ gần một phân. Ra tháo tán trục, rỡ bi ra xem có viên nào bị mẻ cạnh không thì thay mới, vô lại mỡ bò chịu nhiệt cho người ta. Làm cho dứt điểm, cẩn thận từng con ốc trước khi trời sụp tối.
— Dạ, con làm ngay đây cô! — Bảo đáp gọn lén, kéo thẳng lại chiếc tạp dề bằng vải bạt thô dính đầy muội than, nhanh nhẹn bước chân ra khoảng sân ướt sũng.
***
Sáu giờ ba mươi phút tối. Những hạt mưa dầm dề cuối cùng cũng ngớt hẳn, nhưng gió chướng ngoài cửa biển vẫn rít lên từng hồi buốt lạnh qua những hàng phi lao xơ xác, thổi thốc vào những con ngõ ngoằn ngoèo của Xóm Cồn. Nước ngoài trục đường chính đã rút bớt được chừng mười phân, để lại trên mặt nhựa một lớp bùn non phù sa trơn trượt quánh đặc như mỡ trét.
Bảo đạp chiếc Martin 107 cũ mèm lộc cộc về nhà. Bánh xe xé nước lướt qua những vũng nước đục ngầu đọng lại trên mặt đường, bùn non bắn lấm tấm lên lưng chiếc áo bảo hộ lao động đã bạc phếch màu vải bạt vì ngâm trong nắng gió, dầu mỡ và bụi đá mài. Khắp hai bên bả vai cậu mỏi nhừ, từng thớ thịt ở bắp tay căng cứng sau một ngày dài liên tục dùng sức siết ốc, vặn kìm và gập người bên những chiếc khung sắt rỉ sét. Nhưng lạ lùng thay, trong lồng ngực cậu lại là một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản đến kỳ lạ. Đã không còn nữa cái cảm giác sợ hãi mơ hồ, sự trống rỗng và những lời hứa hẹn hão huyền vô căn cứ từng đè nặng lên tâm trí cậu suốt những năm tháng trượt dài trên giảng đường đại học. Giờ đây, mỗi một việc cậu làm qua đôi bàn tay, mỗi quyết định dời hoãn hay sửa chữa đều dựa trên những nguyên lý vật lý rõ ràng, có sổ sách ghi chép, có giới hạn năng lực và có trách nhiệm cụ thể đến từng chi tiết.
Quẹo chiếc xe đạp qua rặng dâm bụt dẫn vào khoảng sân nhỏ của căn nhà cấp bốn, Bảo bỗng giật mình khựng lại. Cậu ngạc nhiên khi thấy bóng dáng quen thuộc của cha mình – ông Lâm – đã ngồi sừng sững bên mé hiên nhà từ lúc nào.
Điều đó hoàn toàn trái ngược với nhịp sống thường nhật. Vào những ngày biển động hay triều cường, công việc ngoài bến cảng thường bận rộn gấp bội. Ông Lâm, với tư cách là một phu khuân vác kỳ cựu chuyên đóng thùng xốp và ướp đá cây cho các vựa hải sản lớn, thường chỉ về nhà sau tám, chín giờ đêm khi những chuyến xe tải đông lạnh cuối cùng rời bến chạy xuyên đêm ra các tỉnh phía Bắc. Đôi vai vạm vỡ nhưng còng rạp của ông luôn ướt đẫm nước đá tan và tanh nồng mùi cá biển.
Thế nhưng tối nay, ông Lâm lại ngồi thu lu một mình trên chiếc đẩu gỗ tràm thấp tè kê sát mép hiên. Ông mặc chiếc áo thun dài tay cũ rách, cáu bẩn màu phèn sắt, hai ống quần lao động xắn lửng để lộ đôi bàn chân to bè, thâm sì vì ngâm nước biển lâu năm. Chiếc đèn dầu hỏa treo lủng lẳng trên cây cột hiên bằng gỗ xoan hắt ra một vệt ánh sáng vàng vọt, lay lắt trước gió, soi rõ những vệt muối biển khô đóng vảy trắng xóa trên mu bàn tay nứt nẻ của ông. Trước mặt ông không có mâm cơm đậy lồng bàn như mọi bận, chỉ có một chiếc gạt tàn làm bằng nắp hộp sữa đặc đã đầy tàn đóm và nửa ấm trà xanh đã nguội ngắt từ lâu.
Bảo gạt chân chống xe đánh *cạch* một tiếng bên góc sân gạch, cất tiếng chào khẽ:
— Cha... cha về sớm thế ạ?
Ông Lâm giật mình, bờ vai khẽ rung lên rồi từ từ ngẩng đầu. Đôi mắt trũng sâu, đỏ hoe vì những đêm thức trắng kéo lưới và vác cá nhìn con trai. Ánh nhìn ấy đượm vẻ mệt mỏi cùng cực, nhưng không còn nét cay nghiệt, giận dữ bốc hỏa như cái ngày Bảo xách chiếc ba lô rách nát trở về nhà hồi đầu mùa hè. Ông khẽ gật đầu, ngón tay run run vê lại một mẩu thuốc rê đã cuốn dở:
— Ừ. Tao về từ lúc hơn năm giờ chiều.
Bảo bước lên bậc thềm gạch, cởi đôi ủng cao su cáu bẩn dựng ngay ngắn vào góc tường, rồi múc một gáo nước mưa trong chiếc chum sành đặt cạnh mé hiên để rửa sạch lớp bùn non bám trên mu bàn chân. Cậu bước lại gần hiên, linh cảm thấy sự lặng lẽ khác thường đang bao trùm lấy bóng lưng hao gầy của cha.
— Ngoài vựa hôm nay ít việc lắm hả cha? — Bảo khẽ hỏi, ngồi xổm xuống mép thềm gạch tàu mát lạnh, giữ một khoảng cách chừng mực bên cạnh chiếc ghế đẩu của ông.
Ông Lâm quẹt que diêm. Ngọn lửa bùng lên soi rõ gương mặt sạm đen, gồ ghề đầy những nếp nhăn của người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đã dành trọn đời mình đánh cược với sóng gió đại dương. Ông rít một hơi thuốc thật sâu, tàn thuốc đỏ rực lên trong bóng tối ẩm ướt rồi lụi dần thành một lớp tro xám. Phả ra một làn khói mỏng hòa vào không khí lạnh buốt của đêm mưa, ông nói, giọng trầm đục và nghẹn lại ở cổ họng:
— Mưa bão kéo dài ba hôm nay rồi, ngoài khơi sóng đánh cấp sáu, cấp bảy. Đội tàu vỏ thép lớn ngoài cửa lạch không chiếc nào dám nổ máy rời phao số không, còn mấy chiếc ghe nhỏ đi lộng thì người ta kéo hết lên bãi cát từ sáng sớm để chằng dây neo lại. Không có cá ngừ, cá nục về bến, vựa lấy đâu ra hàng mà đóng thùng xốp chở đi chợ đầu mối ngoài tỉnh. Ông chủ cơ sở thu mua... chiều nay vừa gọi đám thợ già lại, thông báo tạm thời cắt giảm hai ca làm từ hôm nay. Những ai lớn tuổi, sức yếu... thì cho nghỉ dài hạn, khi nào vào vụ cá nam năm sau mới tính tiếp.
Bảo lặng người nhìn cha. Dưới ánh đèn dầu leo lét, bờ vai gầy guộc của người đàn ông cả đời lam lũ dường như sụp xuống thêm một bậc, run rẩy dưới sức nặng vô hình của hai chữ cơm áo. Cái nghề phu vác đá và đóng thùng xốp cá này, ông bám víu lấy nó suốt hơn ba mươi năm ròng rã để nuôi sống cả gia đình, vốn dĩ chẳng bao giờ có một tờ hợp đồng lao động hay một mảnh thẻ bảo hiểm y tế lận lưng. Tất cả số phận của người lao động bến bãi đều phó mặc hoàn toàn cho con nước, cho những mẻ cá đầy vơi và lòng trắc ẩn bấp bênh của biển cả. Biển động thì bếp lửa trong nhà cũng lạnh ngắt theo từng cơn sóng vỗ bờ.
Ông Lâm im lặng một lúc lâu, ánh mắt đăm đắm nhìn ra chiếc Martin 107 của Bảo đang dựng lặng lẽ nơi góc sân tối, giọng ông chùng xuống, cay đắng:
— Chiều nay ngồi ở cái hiên này nhìn nước ngập mấp mé con ngõ, tao lại cứ nghĩ miên man... Cái nghề lao động chân tay này bạc bẽo thật mày ạ. Ráo mồ hôi là hết sạch tiền. Hồi trước tao cứ cắm đầu cắm cổ cày cuốc, vác đá đến mức rách cả thịt vai, nhịn từng ngụm nước ngọt để chắt bóp từng đồng gửi lên thành phố cho mày ăn học... Cũng chỉ vì tao sợ. Tao sợ sau này mày lại phải giống như tao bây giờ, cứ mỗi mùa mưa bão lại ngồi ngóng trời ngóng biển, phập phồng lo từng bữa cơm, từng đồng tiền đong gạo...
Bảo cảm thấy một luồng hơi nóng đột ngột dâng lên, làm cay xè nơi khóe mắt và sống mũi. Những lời tâm sự hiếm hoi, thốt ra một cách mộc mạc không một chút oán trách hay gắt gỏng ấy như một mũi khoan xoáy thẳng vào góc sâu kín và đau đớn nhất trong lòng cậu – nơi chứa đựng vết thương tội lỗi mà suốt bao tháng ngày qua cậu luôn tìm cách lẩn tránh.
Cậu nhích người lại gần chiếc ghế đẩu, hạ mình ngồi bệt hẳn xuống nền gạch tàu lạnh buốt ngay sát chân cha.
— Con biết hết, cha ơi, — Bảo cất lời, giọng cậu trầm xuống, run rẩy nhưng rành rọt từng từ, không còn mang theo chút hoa mỹ hay ngụy biện nào của một kẻ từng ảo tưởng về những lý thuyết kinh tế xa vời trên giảng đường. — Ngày trước ở trên thành phố, ngay từ cuối năm thứ hai đại học, con đã biết bản thân mình không thể nào theo nổi ngành học đó rồi. Con không có đầu óc tính toán kinh doanh, nhìn vào những bản kế hoạch tài chính, những thuật ngữ đao to búa lớn của thầy cô, con thấy nó hoàn toàn xa lạ và sáo rỗng. Nhưng con hèn nhát... con không đủ dũng khí để nói thật với cha. Con cứ lần lữa, cứ lấy tiền cha gửi lên để đóng tiền thi lại, học lại hết kỳ này sang kỳ khác chỉ vì một nỗi sợ hãi tột cùng... Con sợ nhìn thấy ánh mắt thất vọng của cha. Con sợ phải thừa nhận mình là một đứa thất bại vô dụng sau ngần ấy năm cha nai lưng gánh từng tạ cá, từng cây đá lạnh buốt ngoài bến để nuôi con ăn học.
Gió đêm từ ngoài lạch sông lại thổi thốc qua rặng dừa nước ven bờ, mang theo vị mặn nồng nàn của biển cả hắt thẳng vào khoảng hiên nhà ẩm ướt.
Ông Lâm không ngắt lời con trai. Bàn tay thô ráp đầy những vết sẹo nứt nẻ vì ngâm nước đá của ông đặt hờ trên đầu gối, những ngón tay gầy guộc khẽ giật giật theo từng nhịp thở của Bảo.
Bảo hít một hơi thật sâu, ngẩng đầu lên, lần đầu tiên nhìn thẳng vào đôi mắt trũng sâu của cha để đối diện trực tiếp với món nợ lớn nhất của cuộc đời mình:
— Toàn bộ số tiền học phí gần hai chục triệu đồng của cả năm học cuối... con đã làm mất trắng vào những môn thi nợ không thể nào gỡ nổi. Số tiền đó không phải là giấy, nó là mồ hôi, là máu, là những đêm đông lạnh thấu xương cha phải thức trắng ngoài bãi cát để đóng từng thùng xốp cá. Con biết tội lỗi của con lớn lắm, con có đi làm thuê, có học việc suốt cả đời này cũng không bao giờ bù đắp lại được những vất vả, cay đắng mà cha đã phải chịu đựng vì con. Nhưng cha ơi, con không trốn chạy nữa đâu. Con quyết định quay về đây, con bắt đầu học lại từ những việc nhỏ nhất, từ cách cầm chiếc cờ-lê, siết từng con đinh ốc của cô Mai, là vì con muốn tự mình đứng vững trên đôi chân bằng chính sức lao động của hai bàn tay này. Con không dám hứa hẹn những điều to tát, viển vông nữa, nhưng từ nay về sau, từng bữa cơm, từng đồng tiền điện, tiền thuốc men trong căn nhà này, con sẽ tự mình gánh vác và chịu trách nhiệm đến cùng.
Sự im lặng tuyệt đối bao trùm lấy góc hiên nhà nghèo. Tiếng gió chướng rít qua khe cửa dường như cũng ngừng lại, nhường chỗ cho tiếng nước mưa rỏ từng giọt tí tách từ mép ngói âm dương xuống vũng bùn trước sân.
Không có một cái tát trời giáng nào giáng xuống. Cũng không có những tiếng quát mắng lôi đình hay những lời đay nghiến xé lòng như cái đêm đầu tiên Bảo bước chân về lại căn nhà này ba tháng trước.
Ông Lâm từ từ gạt tàn thuốc lá vào chiếc nắp hộp sữa đặc. Ông khẽ thở dài một tiếng thật sâu—một tiếng thở dài nặng nhọc nhưng nhẹ bẫng kỳ lạ, như thể một nút thắt oan nghiệt giằng xé tâm can ông suốt bao năm tháng dồn nén vừa được cởi bỏ. Ông nghiêng đầu nhìn con trai, nhìn thật kỹ vào đôi bàn tay trần của Bảo đang đặt trên đầu gối: những khớp ngón tay đã sưng to và chai cứng, những kẽ móng tay ngấm sâu một màu dầu luyn đen nhánh không thể nào cọ rửa sạch, và một vết sẹo dài màu hồng nhạt chạy dọc theo ngón tay trỏ – dấu vết của một lần bị đầu căm xe thép đâm toạc thịt khi cậu cố sức rút vành.
Đó không còn là bàn tay trơn nhẵn, mềm yếu của một cậu sinh viên thị thành chỉ biết ngửa tay xin tiền phụ cấp mỗi đầu tháng. Đó là đôi bàn tay của một người thợ đã bắt đầu nếm trải và thấu hiểu trọn vẹn cái giá của mồ hôi, sự nhọc nhằn và kỷ luật sắt của lao động chân chính.
— Tiền mất thì cũng đã mất rồi, — giọng ông Lâm khàn khàn, nhưng chắc nịch và bình thản lạ lùng. — Tiếc của thì ai mà chẳng tiếc đứt từng khúc ruột. Nhưng tao giận, tao cay đắng bấy lâu nay không phải vì tao tiếc mấy đồng bạc ấy, mà tao giận vì mày là con trai tao mà mày lại hèn nhát đi lừa dối cha mày, mày trốn chui trốn lủi như một kẻ làm điều khuất tất. Bây giờ mày dám ngồi trước mặt tao, nói thẳng thắn được cái sai của mày ra như vậy, biết nhìn vào lỗi lầm mà tìm đường sửa chữa, thì từ nay tao không bao giờ nhắc lại chuyện trường lớp trên thành phố nữa. Đã chọn con đường cầm cái búa, chiếc kìm thì phải làm cho đàng hoàng, cho đến nơi đến chốn. Đừng bao giờ để người đời người ta nhìn vào rồi khinh bỉ, bảo cái ngữ mày chỉ là thứ học đòi nửa vời, đụng khó khăn là buông tay bỏ cuộc!
— Dạ... con nhớ rồi cha. Con ghi khắc từng lời cha dặn.
Ông Lâm chống hai tay lên đầu gối, chậm rãi đứng dậy. Khớp xương hông của ông kêu lên những tiếng lục cục khô khốc vì chứng bệnh đau lưng kinh niên. Ông với lấy ấm chè nguội rót ra chiếc bát sành mẻ miệng, ngửa cổ uống một ngụm lớn rồi đưa mắt nhìn ra con ngõ lầy lội đầy bóng nước ngoài kia:
— Chiều nay tao ngồi ngoài bến cá, nghe mấy bà bán tôm cá ngoài chợ kháo nhau, bảo tiệm sửa xe của bà Mai gom góp phụ tùng ráp được mấy cỗ xe đạp tốt lắm cho đám học trò nghèo Xóm Cồn đi học, nhưng đường ngập quá chưa mang sang trường giao được. Mày với bà Mai tính mang sang bằng cái gì? Định đạp từng chiếc lội nước qua à?
Bảo ngẩng lên nhìn cha, khẽ lắc đầu cười gượng:
— Dạ đâu có cha. Cô Mai cấm ngặt rồi ạ. Xe mới nhồi mỡ kháng mặn, dầm qua nước lợ là cát chui vào hỏng sạch ổ bi. Bọn con tính đợi đến chiều mai nước rút hẳn xuống dưới mép đường thì mới dám thuê chiếc xe lôi ba bánh của chú Bảy bên xóm thợ chở làm hai chuyến sang trường. Tiền thuê xe hết sáu mươi ngàn đồng, cô Mai tính trích từ phần quỹ tiệm tự đối ứng ra trả.
Nghe đến đó, đôi lông mày rậm rạp của ông Lâm bỗng chau lại. Ông xua tay một cái dứt khoát:
— Thuê mướn cái gì cho tốn tiền tốn của! Chiếc xe ba gác máy chở thùng xốp đông lạnh của tao đang trùm bạt để không ngoài góc bụi chuối kia kìa. Cơ sở người ta cho nghỉ việc hai ngày, xe có chạy chuyến nào đâu mà để đấy cho rỉ máy!
Bảo trố mắt nhìn cha, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên:
— Xe ba gác của cha... chở nổi một lúc sáu chiếc xe đạp không ạ?
— Mày coi thường cái xe của tao đấy à? — Ông Lâm gằn giọng, trong đáy mắt ánh lên một tia tự hào nghề nghiệp rất đỗi quen thuộc của một người thợ bến bãi lành nghề. — Thùng xe tao đóng bằng gỗ sến dày hai phân, khung sắt hộp mười hai phân hàn giằng chắc nịch, tao chở một lúc cả tấn cá ướp đá cây chạy phăng phăng thì sáu cái xe đạp khung sắt của mày ăn nhằm gì! Sàn xe tao đã lót sẵn hai lớp cao su ruột xe tải chống trượt. Sáng mai tao ra cắt thêm mấy tấm bìa các-tông dày lót quanh thành thùng xe, chằng dây thừng chuyên dụng vào ghi-đông là chạy êm ru như ru ngủ. Một chuyến duy nhất là chở hết sạch cả sáu chiếc sang tận cửa nhà xe Trường Hải An, tao cam đoan không để trầy xước một vệt sơn nào của tụi mày! Khi nào ngoài đường nước rút xuống dưới mắt cá chân, mày cứ chạy về ới tao một tiếng, tao quay tay nổ máy chở sang cho.
Lòng Bảo trào dâng một niềm vui sướng khôn tả, cậu vội vàng nói:
— Dạ thế thì quý hóa quá cha! Để sáng mai con bảo với cô Mai ghi bổ sung vào sổ dự toán, trích phần tiền xăng ba mươi ngàn từ nguồn của tiệm gửi lại cho cha...
— Dẹp ngay cái trò tính toán tiền nong vớ vẩn ấy đi! — Ông Lâm trừng mắt, ngắt lời con trai bằng một cái khoát tay nảy lửa. — Tao chở là tao chở giúp cho đám con nít nghèo trong xóm có phương tiện đến trường ngày khai giảng, chứ tao thèm khát gì ba mươi ngàn tiền xăng của cái dự án từ thiện ấy! Xe là xe của nhà mình, xăng trong bình phụ vẫn còn hơn nửa bình. Mày liệu mà chuẩn bị sẵn mấy sợi dây chằng cao su bản lớn với đống giẻ sạch bọc quanh khung sườn xe cho cẩn thận. Làm việc với nhà trường là phải chắc chắn, chỉn chu, tuyệt đối không được để va quẹt làm méo mó phụ tùng của người ta. Đã nghe rõ chưa?
Bảo nhìn nét mặt nghiêm nghị, cương trực nhưng chan chứa tình thương của cha dưới ánh đèn dầu le lói, cổ họng cậu nghẹn lại vì xúc động. Cậu đứng thẳng người, cúi đầu thật sâu:
— Dạ, con nghe rõ rồi cha. Sáng mai con sẽ chuẩn bị đầy đủ dây chằng và giẻ đệm ở xưởng.
— Được rồi đấy. Vào nhà dọn mâm cơm ra ăn đi, nước ngoài lạch đang rút êm dần rồi.
Hai cha con lục đục bước vào gian bếp nhỏ lợp mái ngói xi măng. Bữa cơm tối đạm bạc chỉ có một đĩa cá nục kho mặn với ớt hiểm đã nguội và bát canh rau tập tàng nấu với chút tôm khô đập dập, nhưng gian nhà cấp bốn ẩm thấp, ám mùi khói bếp dường như ấm áp và sáng sủa hơn hẳn sau chuỗi ngày dài đằng đẵng bị bủa vây bởi sự nghi kỵ, mặc cảm và những khoảng lặng thinh nén chặt.
Cơm nước xong xuôi, Bảo giành phần mang hai bộ quần áo lao động của hai cha con ra bể nước mưa sau hè giặt giũ. Cậu xả từng gáo nước trong vắt, vò thật kỹ những vệt bùn đất và dầu mỡ bám trên lớp vải thô, cẩn thận vắt khô từng chiếc một rồi đem phơi lên sợi dây kẽm căng dọc theo khoảng hiên có mái che chắn gió.
Dưới ánh đèn hiên vàng vọt lay lắt trong những cơn gió đêm muộn, chiếc áo bảo hộ màu xanh thẫm dính đầy dầu máy và mỡ bò công nghiệp của cậu học việc được treo ngay ngắn cạnh chiếc áo thun dài tay đượm nồng vị muối biển và lấp lánh những vảy cá khô của người cha phu vác. Gió biển mặn mòi từ ngoài lạch sông thổi lùa qua khe liếp nứa, hòa quyện hai mùi hương của lao động chân chính lại làm một. Mùi dầu máy trên áo Bảo quyện với mùi muối biển trên áo cha phơi chung một dây, không còn khoảng cách của sự giấu giếm.