Đơn hàng không mọc thêm vì thiện chí
Chuyến xe buýt cọc cạch nối liền xã bán đảo Hải An với trung tâm thị xã lắc lư qua những triền cát trắng phơi mình dưới nắng gắt đầu chiều, chở theo Bảo cùng cuốn sổ tay bìa bọc nylon ghi vội danh mục phụ tùng chưa hề có lấy một chữ ký duyệt của cô Mai.
Tiếng máy dầu cổ lỗ rền rĩ dưới sàn xe phả từng luồng hơi nóng hầm hập qua kẽ gỗ lát đã mòn vẹt mép. Mỗi lần chiếc xe sập bánh xuống một cái ổ gà sâu hoắm trên đoạn quốc lộ vắng tanh trải dọc bờ biển, đám đòn gánh tre, mấy chiếc thúng rỗng úp ngược và những giỏ cá khô đượm mùi muối mặn của mấy bà tiểu thương lại va đập vào nhau lục cục, lách cách. Bảo ngồi nép mình sát vào khung cửa kính hoen gỉ đóng chặt bằng hai then cài gãy chốt. Cậu siết chặt hai bàn tay quanh mép cuốn sổ tay lò xo kẻ ô vuông. Mười đầu ngón tay cậu vẫn còn hằn nguyên những vệt xám đen bết dính của mỡ bò và dầu máy chưa kịp dùng xà phòng bột kỳ cọ hết từ sáng sớm; móng tay cái bên bàn tay phải bầm tím ngắt một vệt máu đọng sau cú trượt cờ-lê mười bốn lúc mở đai ốc moay-ơ chiều hôm trước.
Trong màng nhĩ lùng bùng của Bảo, những thanh âm vụn vỡ từ buổi sáng định mệnh vẫn dội về liên hồi như sóng vỗ chân bờ kè: giọng nói đanh thép, lạnh buốt của cô Mai khi bẻ gãy hy vọng của cậu, tuyên bố đình chỉ ngay lập tức quyền đại diện kỹ thuật của tiệm; ánh mắt thất vọng trĩu nặng của cô giáo Hạnh khi ôm khư khư ba mươi bộ hồ sơ học sinh nghèo đứng trân trân bên hành lang lộng gió; và tấm băng-rôn đỏ chót in dòng chữ thông báo trắng trợn mà ông Đạt cho người giăng ngang bảng tin khu phố Hai. Cậu đã bước lên chuyến xe buýt trưa ra thị xã trong một trạng thái gần như mộng du, nửa muốn chạy trốn không khí ngột ngạt dưới xưởng, nửa bị thôi thúc bởi một ý nghĩ nông nổi, liều lĩnh đến điên rồ: nếu cậu có thể tự tay mang đủ phụ tùng về, nếu cậu gom đủ linh kiện để hoàn thiện trọn vẹn mười tám chiếc xe trước khi cuộc họp ba bên lúc hai giờ chiều biến thành một bãi chiến trường, có lẽ cậu sẽ chuộc lại được lỗi lầm tày đình của mình. Cậu muốn chứng minh cho cô Mai, cho cô Hạnh và cả cái thị trấn này thấy rằng cậu không phải một kẻ chỉ biết đứng bốc đồng nói suông trên bục micro.
Thị xã đón Bảo bằng cái ngột ngạt đặc quánh của những khối nhà hộp bê tông san sát và hơi nóng bốc lên hừng hực từ mặt đường nhựa phẳng lì không một bóng cây. Cửa hàng kinh doanh phụ tùng xe đạp, xe máy Tín Phát nằm ngay mặt tiền đường Hùng Vương, chỉ cách bến xe liên tỉnh chừng năm trăm mét đi bộ. Đó là một cơ ngơi bề thế bậc nhất khu phố buôn bán phụ tùng cơ khí, gồm hai gian nhà ống ghép lại, trần cao vút và chất kín hàng họ từ sàn gạch men lên tới tận những vì kèo sắt. Mùi của kim khí sắc lạnh, mùi cao su nồng gắt từ hàng trăm chiếc vỏ lốp xếp lớp như vảy cá, mùi mỡ chống gỉ đóng trong thùng phuy hòa lẫn với mùi xăng thơm tẩy rửa tạo nên một bầu không khí đậm đặc của đồng tiền và máy móc. Những cuộn xích xe đạp treo lủng lẳng trên xà ngang như những tổ tò vò đen nhánh, vành nhôm hai lớp sáng choang xếp thành từng cọc cao quá đầu người, cạnh đó là những kệ gỗ chia ô ngay ngắn đựng hàng vạn con ốc, đai ốc, vòng đệm, chén cổ bóng loáng.
Đỗ Minh Tín, ba mươi tư tuổi, mặc chiếc áo thun xám viền cổ đã bạc màu vì ngâm nước giặt nhiều lần, đang ngồi lọt thỏm sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ gõ kê sát quầy thu ngân. Tay phải anh thoăn thoắt bấm phím máy tính cầm tay kêu tanh tách, mắt dán chặt vào xấp hóa đơn bán lẻ ba liên in giấy than, bên cạnh là một ly trà đá đã tan hết đá tự bao giờ, chỉ còn lại thứ nước vàng nhạt lờ đờ bám đầy những giọt nước đọng quanh thành thủy tinh.
— Anh Tín, — Bảo bước qua bậc thềm đá mài, ngập ngừng cất tiếng. Giọng cậu hơi hụt hơi vì vừa phải rảo bước gần một cây số dưới trời trưa đổ lửa. Cậu cố nặn ra một nụ cười quen thuộc trên gương mặt nhễ nhại mồ hôi, thứ nụ cười xã giao mà cậu từng nghĩ sẽ dễ dàng mở ra mọi cánh cửa thuận lợi khi còn ngồi trên giảng đường đại học. — Em bên tiệm cô Mai ở Hải An lên đây ạ.
Anh Tín ngước mắt lên khỏi xấp hóa đơn, cặp kính cận gọng kim loại trễ xuống nửa sống mũi. Ánh mắt anh không vồ vập cũng chẳng lạnh lùng, chỉ sắc sảo và ráo hoảnh, lia một vòng từ bộ quần áo bảo hộ lao động lấm lem vết nhớt của Bảo xuống cuốn sổ tay lò xo đang run rẩy trên tay cậu. Anh không cười đáp lại, chỉ khẽ hất cằm một cái:
— Bảo hả? Cô Mai mày đâu? Cổ tay bả bớt sưng chưa mà để mày lội xe buýt ra tuốt ngoài này giữa trưa trăng trối vậy?
— Dạ... cô Mai đang bận một số việc đột xuất dưới xưởng, — Bảo nuốt nước bọt khan, cố kìm nén tiếng thở dốc, bước sát lại mép bàn quầy, mở cuốn sổ lò xo đặt ngay ngắn trước mặt anh Tín. — Hôm nay em chạy lên gom hàng gấp cho dự án xe đạp trường cấp hai dưới thị trấn. Danh mục phụ tùng cho mười tám chiếc xe, em đã ngồi rà soát rồi liệt kê chi tiết từng món theo chủng loại đây anh. Toàn bộ số này là xe của học sinh nghèo xóm Cồn với xóm Chài đi học. Bên trường với ban vận động khu phố đang cần gấp trước ngày khai giảng mùng năm tháng chín, nên em tính nhờ anh Tín hỗ trợ xuất hàng trước, cho tụi em ghi nợ theo diện dự án trường học. Cuối đợt, bên trường quyết toán kinh phí sẽ chuyển khoản thanh toán đủ một lần cho anh.
Anh Tín không vội trả lời. Anh buông chiếc bút bi xuống mặt bàn, với bao thuốc lá rút ra một điếu, bật lửa châm rồi hút một hơi dài. Làn khói xanh mờ phả thẳng lên cánh quạt trần đang quay vù vù trên đầu, rồi anh mới từ tốn kéo cuốn sổ của Bảo lại gần mép bàn. Bàn tay thô ráp với ngón trỏ chai cứng vì cầm cờ-lê lật từng trang giấy kẻ ô mà Bảo đã nắn nót ghi bằng hai màu mực: mực đỏ cho những chi tiết bắt buộc phải thay mới hoàn toàn, mực xanh cho những phụ tùng có thể tận dụng hoặc cần mua bổ sung nếu đồ cũ hỏng nặng.
Ngón tay trỏ dính muội thuốc của anh Tín rê chầm chậm qua từng dòng chữ ngay ngắn: *mười tám bộ chén cổ, mười tám bộ trục giữa, ba mươi sáu cặp má phanh cao su chịu mặn, mười bốn bộ líp đơn mười sáu răng, hai mươi tư sợi xích hạt xoài, mười hai cặp vành sắt sáu trăm năm mươi mạ crôm...*
Càng đọc, đôi chân mày rậm của anh Tín càng nhíu chặt lại thành một rãnh sâu hoắm giữa trán. Tiếng lách cách của chiếc quạt trần cũ dường như không xua bớt được cái không khí ngột ngạt, nặng nề đang dần đông đặc lại giữa hai người.
— Ai bảo mày kê cái đơn hàng này? — Anh Tín cất giọng hỏi, âm điệu điềm tĩnh đến đáng sợ nhưng khô khốc như ngói nung.
— Dạ... em tự rà soát hiện trạng thực tế của xe rồi lên danh mục, — Bảo ấp úng, bắt đầu chột dạ trước vẻ mặt lạnh tanh của ông chủ vựa phụ tùng. — Em tính toán đủ số lượng để thay thế đồng bộ cho cả mười tám chiếc, đảm bảo các em học sinh có xe chạy êm, an toàn tuyệt đối...
Anh Tín gõ đầu ngón tay trỏ xuống mặt bàn, ngay chỗ góc dưới cùng bên phải của tờ giấy trắng tinh:
— Chữ ký của cô Mai đâu?
Bảo khựng lại, cổ họng nghẹn ứ:
— Dạ, sáng nay dưới xưởng lu bu quá... với lại dự án này là phối hợp giữa trường học với tiệm...
— Không có "với lại" gì ở đây hết, — Anh Tín đẩy trả cuốn sổ về phía Bảo, động tác dứt khoát như một cánh cửa sắt sập mạnh vào then cài. — Cái cửa hàng Tín Phát này làm ăn với tiệm cô Mai mười mấy năm nay, từ cái thời ba mày còn đi biển, từ cái hồi thị xã này còn chưa rải nhựa đường Hùng Vương. Tao chỉ biết mặt cô Mai, biết chữ ký của cô Mai trên sổ công nợ. Cô Mai ký giấy bảo lãnh, hàng xuất ra tao ghi sổ nợ, cuối tháng thanh toán tao không đòi một câu, không tính nửa đồng lãi. Mày là thằng học việc, mới chân ướt chân ráo từ trường đại học về làng được hai tháng, mày lấy tư cách gì đứng ra bảo lãnh một đơn hàng gần sáu triệu bạc mà đòi tao xuất kho cho ghi nợ?
Mặt Bảo nóng bừng như bị ai hắt bát nước sôi vào má. Cậu vội vàng chồm người tới, hai tay bấu vào mép bàn gỗ, giọng nói bắt đầu mất bình tĩnh, cuống quýt phân trần:
— Nhưng đây là việc thiện mà anh Tín! Toàn bộ mười tám chiếc này là xe từ thiện sửa chữa để tặng cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn thật sự. Anh Đạt bên ban vận động với nhà trường đã lên danh sách xác nhận rồi, tiền bạc rõ ràng từ ngân sách hỗ trợ, không ai quịt tiền của anh đâu. Em cam kết với danh dự của em...
— Mày lấy cái gì ra để cam kết? — Anh Tín ngắt lời, giọng không hề gắt gỏng nhưng từng chữ nện xuống sàn gạch như búa tạ giáng vào sắt nguội. — Lòng tốt của mày hả? Hay là cái mác sinh viên đại học về làng? Mày tưởng ở cái tỉnh này chỉ có tụi mày dưới Hải An mới biết làm việc thiện chắc? Tao mở cái cửa hàng này ra là để buôn bán, để nuôi vợ con tao, nuôi ba đứa thợ phụ đang còng lưng dầm dầu mỡ đằng sau xưởng kia kìa. Tiền vốn tao nhập hàng từ các nhà máy ngoài Đà Nẵng, trong Chợ Lớn về đây, tao cũng phải trả bằng tiền tươi thóc thật, có thằng đại lý nào cho tao mang danh nghĩa việc thiện ra để trừ nợ không?
Anh Tín với tay kéo ngược cuốn sổ của Bảo lại, lật phắt trang giấy có những dòng mực đỏ nắn nót, rồi rút cây bút bi cài trên túi áo ngực xuống, gõ mạnh ngòi bút vào từng mục:
— Đó là tao chưa thèm nói tới chuyện chuyên môn kỹ thuật của mày đấy. Mày nhìn lại cái danh mục mày viết bằng mực đỏ này đi. Mày tưởng cứ cầm tiền ra đây là tao có sẵn đồ đúng y chang như mày tưởng tượng để bốc lên xe mang về chắc?
Ngòi bút của anh Tín gạch xoẹt một đường dứt khoát dưới mục trục giữa và chén cổ:
— Nhìn cho kỹ! Trong mười tám chiếc xe bãi quyên góp của mày, tao nghe người ta nói có ít nhất bốn chiếc xe sườn đầm Thống Nhất đời cũ thập niên chín mươi, ba chiếc xe cào cào Trung Quốc đời đầu xài chốt nêm giò dĩa, với hai chiếc mini Nhật bãi moay-ơ ren thô bước ngắn. Mày đòi mười tám bộ trục giữa bạc đạn cốt vuông tiêu chuẩn bây giờ? Mày tính đóng nó vô đâu? Bước ren chén cổ của mấy con xe đầm Thống Nhất cũ nó là ren hệ inch kiểu Liên Xô, giờ nhà máy nào rảnh hơi đúc đại trà nữa mà đòi có sẵn mười tám bộ nằm chờ trong kho tao?
Bảo chết lặng. Cậu trân trân nhìn những con số, những dòng chữ mình đã thức trọn đêm qua để tra cứu và ghi chép. Cậu đã tính số lượng, đã nhân đơn giá theo bảng giá bán lẻ trên mạng internet, nhưng cậu hoàn toàn mù tịt về tính tương thích cơ khí thực tế của từng đời xe cũ kỹ đang nằm la liệt dưới gốc bàng nhà cô Mai. Cậu cứ ngỡ xe đạp thì cái nào cũng giống cái nào: hai bánh, một khung, một bộ giò dĩa, hỏng cái gì thì thay cái nấy.
— Mấy cái món đồ sâu đời này, — Anh Tín hạ giọng, nhưng sự sắc bén trong lời nói không hề giảm bớt, — nếu muốn gom đủ cho mày, tao phải cầm máy điện thoại gọi cho từng mối ve chai ngoài bãi phế liệu ven thị xã, hoặc đánh điện nhờ người ta gom từ các vựa phụ tùng cũ ở Quy Nhơn, Nha Trang gửi xe đò vào. Gom từng cặp chén cổ ren mịn, từng cây cốt giò dĩa chốt nêm bằng thép gió, nhanh nhất cũng phải mất từ bảy đến mười ngày. Đó là thời gian chết cố định của thị trường cung ứng, là quy luật của máy móc cũ, chứ không phải mày vung tay một cái muốn có ngay trưa nay là nó tự đẻ ra trong kho cho mày bốc về!
Cổ họng Bảo đắng ngắt như vừa nuốt phải một ngụm dầu hôi. Cậu thấy mình nhỏ bé, ngây ngô và thảm hại đến tận cùng trước cái bàn làm việc bề bộn giấy tờ sổ sách của người đàn ông buôn bán thực tế này. Những giấc mơ đẹp đẽ về việc tự tay cứu vãn tình thế nguy cấp, về việc một mình xoay chuyển cục diện để cô Mai và cô Hạnh phải kinh ngạc nhìn mình bằng con mắt khác... tất cả vỡ tan tành như bong bóng xà phòng trước thực tế trần trụi của các bước ren kim loại và quy luật sắt đá của chuỗi cung ứng vật tư.
Thấy Bảo đứng như chôn chân xuống sàn gạch, hai vai thõng xuống, khuôn mặt tái mét không còn một giọt máu, anh Tín khẽ thở dài một hơi qua kẽ răng. Anh gạt tàn thuốc, với tay lấy chiếc bình nhựa đựng nước trà đá, rót một ly đầy tràn rồi đẩy nhẹ về phía cậu:
— Uống miếng nước đi cho tỉnh cái đầu ra, thằng nhóc.
Bảo run rẩy đưa hai tay bưng lấy ly nước, nuốt từng ngụm nước trà nhạt thếch, lạnh buốt mà nghe như có cục gai nhọn cào rách cổ họng mình.
Anh Tín với tay lấy tập báo giá in sẵn bằng giấy bóng của cửa hàng, lật mặt sau trắng tinh rồi cầm bút bi vạch từng cột, vừa viết vừa nói, giọng trầm xuống nhưng dứt khoát:
— Tao nói cho mày hiểu cái nguyên tắc làm ăn ở đời này, thằng Bảo. Kinh doanh là kinh doanh, sòng phẳng là sòng phẳng. Tao với cô Mai mày có giao kèo làm ăn rõ ràng hơn chục năm nay: mỗi tháng tiệm gom đơn một lần, có giấy tờ chứng từ ký nhận đoàng hoàng của bả, tao tự động chiết khấu đúng năm phần trăm trên tổng giá trị vật tư tiêu hao và linh kiện thay thế. Đó là mức hỗ trợ tối đa tao có thể trích ra từ tiền lời mồ hôi nước mắt của tao để đồng hành với cái xưởng sửa xe của bả dưới đó. Còn lại, một đồng cũng phải thể hiện trên hóa đơn đỏ hoặc phiếu xuất kho có người chịu trách nhiệm pháp lý và tài chính.
Anh Tín dừng bút, ngước lên nhìn thẳng vào đôi mắt đang đờ đẫn của Bảo:
— Mày khoác cái danh việc thiện lên người, rồi mày tưởng mày có quyền bắt cả thiên hạ này phải nghiêng mình phục vụ cho cái danh đó của mày hả? Mày hứa bừa với người ta dưới hội trường cho sướng cái miệng, cho thỏa cái lòng hăng máu của tuổi trẻ, rồi giờ mày chạy lên đây ép tao phải chia sẻ rủi ro tài chính với mày? Tao cho mày nợ sáu triệu bạc tiền hàng, lỡ mai mốt cái ban vận động gì đó của thằng Đạt nó giải tán, trường học bảo không có ngân sách thanh toán vì vượt dự toán ban đầu, thì tao đi tìm thằng sinh viên học việc như mày để xiết nợ chắc? Lòng tốt mà không dựa trên năng lực tài chính và sự sòng phẳng, thì nó chỉ là một thứ vô trách nhiệm trá hình thôi, mày hiểu chưa?
Từng lời nói của anh Tín như những nhát búa nguội nện thẳng vào màng tang Bảo. Cậu nhớ lại những lời cô Mai từng gắt gỏng bên bàn nguội: *Cái gì mắt chưa đo, tay chưa kiểm tra kỹ thuật thì tuyệt đối cấm tiệt cái mồm hứa hẹn.* Cậu đã từng cho rằng cô Mai quá khắt khe, quá cổ hủ, cay nghiệt với nhiệt huyết cống hiến của người trẻ. Nhưng giờ đây, đứng trước một người làm kinh doanh lăn lộn từng cắc bạc lẻ như anh Tín, cậu mới cay đắng nhận ra cái sự khắt khe ấy chính là tấm lá chắn duy nhất bảo vệ sự tồn tại và phẩm giá của một người thợ nghèo.
Anh Tín xé toạc tờ giấy ghi nháp, kẹp một tờ bảng báo giá chuẩn có đóng dấu mộc vuông đỏ chót của cửa hàng vào bìa cuốn sổ của Bảo:
— Cầm cái này về. Đưa tận tay cho cô Mai coi. Nói với bả, những món nào có sẵn cho sáu chiếc xe đợt đầu, tao đã soạn riêng một góc để đó, bả ký lệnh xuất hàng hoặc cử người cầm tiền mặt lên lấy thì tao cho giao ngay trong ngày. Còn lại, muốn gom đồ cũ đời sâu cho mười hai chiếc kia, phải lên danh sách chính thức, đặt cọc trước ba mươi phần trăm và chờ ít nhất một tuần lễ. Không có chuyện ghi nợ miệng, không có ngoại lệ cho bất kỳ ai. Thôi, cầm sổ đi về đi, trễ chuyến xe buýt chiều bây giờ.
Bảo cúi gập người, lí nhí cất tiếng chào anh Tín trong sự tủi hổ cùng cực. Cậu siết chặt cuốn sổ vào lồng ngực rồi lầm lũi bước giật lùi ra khỏi cửa hàng Tín Phát.
Nắng trưa gay gắt đã chuyển sang sắc vàng vọt, hanh hao của buổi đầu chiều. Gió từ phía biển thổi ngược vào đất liền mang theo từng đợt cát mịn bỏng rát táp rát mặt. Chuyến xe buýt lượt về đưa Bảo quay lại thị trấn Hải An trong một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Suốt dọc chặng đường dài hơn hai mươi cây số, Bảo ngồi bất động, hai mắt dán chặt vào sàn xe, không dám giở tờ báo giá kẹp trong sổ ra xem lại dù chỉ một lần. Sáu triệu bạc. Con số ấy vượt quá toàn bộ số tiền mà một thằng sinh viên mới ra trường như cậu có thể tự xoay xở lúc này. Toàn bộ ngân sách hỗ trợ ba triệu rưỡi của nhà trường chỉ vừa vặn chi trả cho lượng phụ tùng tối thiểu của sáu chiếc xe đợt một, với điều kiện tiên quyết là phải tận dụng tối đa đồ rã từ sáu xác xe phế thải theo đúng phương án ban đầu của cô Mai. Cậu lấy đâu ra tiền để bù vào chỗ thiếu hụt cho mười tám chiếc? Lấy đâu ra phép màu cơ khí để rút ngắn thời gian gom hàng từ một tuần lễ xuống còn vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi?
Khi chiếc xe buýt phanh két một tiếng, thả Bảo xuống ngã tư trung tâm thị trấn, đồng hồ đeo tay đã điểm một giờ mười lăm phút chiều. Cuộc họp ba bên ở trường cấp hai chỉ còn chưa đầy bốn mươi lăm phút nữa là bắt đầu. Bảo đứng chôn chân giữa ngã tư gió bụi, mồ hôi ướt đẫm lưng áo dính chặt vào da thịt. Cậu không dám quay về tiệm đối mặt với cô Mai, cũng không có đủ can đảm để bén mảng lại gần bảng tin khu phố Hai, nơi tấm băng-rôn đỏ chót vẫn đang phơi mình trêu ngươi. Trong cơn bối rối và tuyệt vọng cùng cực, một ý nghĩ mù quáng khác lại lóe lên trong đầu cậu như một chiếc phao cứu sinh mục nát: *Nếu không thể mua được phụ tùng mới ngay lập tức, thì phải có thêm bàn tay người làm. Nếu có thêm thợ phụ rã đồ, cạo gỉ sét, cân vành, nắn sườn... biết đâu trong mấy ngày tới tiến độ vẫn có thể đẩy nhanh gấp đôi, gấp ba?*
Nghĩ là làm, Bảo quay ngoắt gót giày, rảo bước thật nhanh về phía con đường đất đỏ của khu phố Một, hướng thẳng sang con hẻm dẫn vào xưởng sửa xe máy, xe lôi của chú Võ Hữu Phúc.
Tiệm của chú Phúc là một căn nhà cấp bốn xây bằng gạch xỉ đã xỉn màu thời gian, khoảng sân rộng phía trước che tạm bợ bằng những tấm tôn fibro xi măng nứt nẻ, loang lổ muôn vàn vết dầu nhớt đen kịt ngấm sâu vào nền đất. So với sự ngăn nắp, quy củ đến từng chiếc chìa khóa vòng của tiệm cô Mai, tiệm chú Phúc bề bộn và hỗn tạp hơn gấp bội: lốp xe máy cũ, vỏ xe đạp rách nát chất thành từng đống ngổn ngang sát hàng rào dâm bụt, tiếng chiếc máy nén khí cổ lỗ nổ phành phạch chói óc hòa cùng tiếng búa sắt gõ chan chát vào đe thép. Chú Phúc, năm mươi ba tuổi, thân hình đậm chắc như một khúc gỗ lim, nước da đen cháy vì sương gió miền biển, đang ngồi xổm trên chiếc ghế đẩu gỗ thấp tịt. Chú đeo cặp kính lão buộc dây thun quanh đầu, cặm cụi dùng cờ-lê đầu dẹp siết từng chân căm cho một chiếc vành xe lôi chở nước đá to bản.
— Chú Phúc... — Bảo ngập ngừng cất tiếng gọi khi tiếng máy nén khí vừa tạm ngắt một nhịp xả van hơi.
Chú Phúc dừng tay búa, ngước đôi mắt kèm nhèm qua tròng kính lão cáu bẩn lên nhìn. Nhận ra Bảo, khóe miệng chú khẽ nhếch lên một nụ cười nửa miệng, đậm vẻ mỉa mai, trêu chọc đặc trưng của cánh thợ già địa phương:
— Ơ kìa, cậu cử nhân kỹ thuật của tiệm bà Mai đấy à? Cơn gió độc nào thổi kỹ sư trẻ bằng cấp thành phố qua cái xưởng rách đầy dầu mỡ của thằng thợ vườn này thế? Nghe đồn sáng nay trên bảng tin khu phố Hai hoành tráng lắm cơ mà, cam kết một lèo mười tám chiếc xe tinh tươm trước ngày khai giảng, làm cả cái thị trấn này xôn xao bàn tán. Sao, tính ghé qua đây thị sát tay nghề thợ quê của chú mày à?
Mặt Bảo nóng bừng lên từng chặp. Tin tức ở cái thị trấn ven biển nhỏ hẹp này quả nhiên lan nhanh hơn gió bão. Cậu nuốt khan, bước thêm hai bước vào mép mái tôn, cố nén sự ngượng ngùng, giữ cho giọng mình khẩn khoản và tha thiết nhất có thể:
— Dạ, cháu không dám đâu chú Phúc... Chú cho cháu thưa chuyện nghiêm túc một chút ạ. Bên tiệm cô Mai... tình hình là tụi cháu đang bị kẹt tiến độ dữ quá. Cổ tay phải của cô Mai bị viêm khớp tái phát từ mấy bữa nay, sưng to lắm, không cầm búa nặng hay kéo cờ-lê lực được. Mà hạn chót bàn giao xe cho các cháu học sinh nghèo thì cận kề ngay trước mắt rồi... Cháu mạo muội chạy qua đây, tính xin chú thương tình tụi nhỏ học sinh nghèo xóm Cồn, xóm Chài, qua phụ giúp tiệm tụi cháu một tay công quả. Chỉ cần chú phụ tụi cháu vài ba buổi tối để rã xác sáu chiếc xe phế liệu với nắn lại mấy cái càng trước bị cong vênh... coi như chú làm phước cho sắp nhỏ có phương tiện tới trường...
Chú Phúc nghe đến hai chữ "công quả" thì nụ cười chế giễu trên môi bỗng chốc tắt lịm. Chú đặt chiếc búa sắt xuống mặt đe gang nghe một tiếng *chát* khô khốc, đanh gọn làm Bảo giật nảy mình. Chú với lấy cái giẻ lau dính đầy nhớt đen vắt ngang đầu gối, chùi chùi thật kỹ từng ngón tay thô ráp, nứt nẻ, rồi từ từ đứng thẳng dậy. Thân hình cao lớn, vạm vỡ của người thợ già lừng lững chắn ngang tầm mắt Bảo.
— Mày vừa mở miệng nói cái gì? Xin tao qua phụ công quả? Đi làm phước?
Bảo bất giác rụt cổ lại trước ánh mắt bỗng chốc trở nên nghiêm nghị, lạnh lẽo và sắc như dao cạo của người thợ già.
— Mày ăn học trên thành phố cho lắm chữ nghĩa vào, rồi vác cái mặt về đây mở miệng ra là dạy đời người khác chuyện làm phước hả thằng ranh con? — Giọng chú Phúc gằn xuống từng tiếng, trầm đục nhưng nặng trịch như chì. — Tao hỏi mày một câu thôi: tao đi làm phước cho đám học sinh của mày, rồi tối về con tao húp cháo hả? Vợ tao đau khớp nằm liệt giường lấy tiền đâu mua thuốc thang? Tiền điện thắp sáng cái xưởng này, tiền thuế môn bài năm nay tao lấy công quả ra để nộp cho ủy ban xã được không?
— Cháu... cháu không có ý xem thường chú, cháu chỉ nghĩ đây là việc thiện chung của cả thị trấn... — Bảo ấp úng phân trần, bước chân vô thức lùi lại nửa bước trước cơn giận dữ bất ngờ của chú Phúc.
— Việc thiện cái con khỉ mốc! — Chú Phúc chỉ thẳng ngón tay trỏ dính đầy mỡ bò đen nhánh vào ngực Bảo, từng lời đay nghiến nện vào tai cậu. — Đừng có giở cái trò đem danh nghĩa từ thiện ra để bóc lột sức lao động của người khác! Thợ thuyền tụi tao sống bằng đôi bàn tay chai sạn này, bằng từng giọt mồ hôi mặn chát rơi xuống nền đất này để đổi lấy từng lon gạo, manh áo cho gia đình. Một giờ công tao ngồi còng lưng rút căm, nắn vành ở đây là một giờ công lao động đàng hoàng, có mồ hôi, có hao mòn sức khỏe và có giá trị sòng phẳng bằng tiền tươi. Mày lấy cái quyền hạn gì, cái tư cách gì mà đòi tao phải bỏ công sức, bỏ chén cơm manh áo của vợ con tao ra để đi làm cái thứ "công quả" lấp liếm cho cái thói hứa càn hứa bậy của mày hả?
Chú Phúc bước dấn tới một bước, ép Bảo lùi sát ra mép hiên đầy bụi đất:
— Mày muốn tiệm tao hợp tác chứ gì? Được thôi! Kêu con Mai vác cái mặt qua đây, ngồi xuống bàn nói chuyện đàng hoàng giữa hai chủ tiệm với nhau. Phần việc nào khoán cho tao: nắn bao nhiêu cái càng trước, rút bao nhiêu cái vành, tiền công tính theo đơn giá thợ địa phương là bao nhiêu một cái, thời hạn giao hàng chính xác ngày nào giờ nào. Tiền trao cháo múc, trách nhiệm rành rẽ đôi bên. Chứ không có cái kiểu vỗ ngực xưng tên ta đây làm việc thiện rồi đi ăn xin mồ hôi nước mắt của người khác để làm sang cho cái danh hão của mày! Không một ai trên cõi đời này có quyền lấy công sức mồ hôi của người thợ đi làm phước thay cho cái miệng của mình hết, mày nhớ cho kỹ lấy câu đó nghe chưa!
Bảo đứng chết trân giữa khoảng sân đầy nắng. Từng lời, từng chữ của chú Phúc như một nhát dao sắc lẹm rạch toang toàn bộ cái vỏ bọc đạo đức cao thượng mà vô thức cậu đã khoác lên mình suốt mấy ngày qua. Cậu đã từng ngỡ rằng mình đang dấn thân vì việc tốt, vì tương lai của những đứa trẻ nghèo khó, nhưng thực chất sâu xa bên trong, cậu chỉ đang dùng lòng tốt của người khác để che đậy cho sự nông nổi, háo danh và thói vô trách nhiệm của chính bản thân mình. Cậu muốn người khác phải hy sinh, phải chia sẻ gánh nặng để cứu vãn một lời hứa bốc đồng mà cậu đã buột miệng thốt ra trước đám đông.
— Thôi, biến về tiệm mà lo liệu với con Mai đi! — Chú Phúc quay ngoắt người lại, buông một câu xua đuổi cạn tình rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu, cầm lại chiếc búa sắt trên đe. — Đừng bao giờ để tao thấy mày bén mảng qua cái xưởng này ăn nói cái giọng bố thí lòng tốt đó một lần nào nữa!
Tiếng búa sắt lại giáng chan chát xuống vành xe lôi, từng nhát búa đanh gọn, dứt khoát như những cái tát đuổi khách không thương tiếc.
Bảo quay đầu bước đi trong vô thức, hai tai lùng bùng như có tiếng ong vò vẽ bay quanh.
Ánh chiều tà dần buông xuống thị trấn Hải An, nhuộm đỏ rực cả một góc trời phía tây. Mặt trời như một quả cầu lửa khổng lồ từ từ chìm xuống sau những rặng phi lao xơ xác, hắt những vệt bóng dài ngoằng, méo mó của hàng cột điện lên mặt đường cát trắng. Gió biển bắt đầu thổi mạnh thốc vào đất liền, mang theo vị mặn chát nồng nặc của muối biển và mùi tanh nồng của cá vụn bốc lên từ những chiếc thuyền đánh cá vừa cập bến dưới chân cồn.
Bảo lầm lũi lê từng bước chân nặng nề như đeo đá về phía con đường dẫn tới Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn. Đôi giày vải cũ mòn vẹt đế dính đầy bụi cát biển, gấu quần bảo hộ lấm lem những vệt dầu mỡ đen sì cọ vào bắp chân ram ráp.
Hai giờ chiều đã trôi qua từ lâu. Giờ này, cuộc họp ba bên căng thẳng tại phòng hội đồng trường cấp hai chắc chắn đã kết thúc, hoặc đang diễn ra trong sự ngột ngạt tột độ. Cô Mai, với bàn tay phải quấn băng thun trắng bệch vì đau nhức, hẳn đã phải một mình đơn độc ngồi đối diện với những lời chất vấn gay gắt của cô Hạnh, sự lu loa, áp đặt trơ trẽn của ông Đạt và nỗi thất vọng tràn trề của ban giám hiệu nhà trường. Và toàn bộ gánh nặng khủng khiếp ấy trút xuống đôi vai gầy guộc của người đàn bà nghiêm khắc ấy chỉ vì một câu nói liều lĩnh của cậu học việc trên bục phát biểu tối qua.
Bảo dừng bước dưới gốc cây bàng râm mát cách tiệm chừng năm mươi mét. Từ vị trí này, cậu có thể nhìn thấy gian nhà cấp bốn quen thuộc lợp mái ngói rêu phong. Tấm biển gỗ mộc mạc mang dòng chữ "Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn" đã bạc màu mưa nắng đứng lặng lẽ dưới bóng chiều tà. Trước hiên tiệm, không có bóng dáng ai qua lại. Chỉ có tiếng kim loại va chạm lách cách quen thuộc vọng ra từ xưởng sau: tiếng cô Mai đang dùng một bàn tay trái lành lặn nhặt từng con ốc, từng chiếc vòng đệm kim loại trong chiếc chậu nhôm đựng dầu hôi để phân loại.
Bảo cúi đầu, nhìn xuống cuốn sổ tay bìa bọc nylon đang ép chặt trước ngực mình. Những trang giấy kẻ ô ghi đầy những con số, những phép tính và danh mục linh kiện giờ đây trở nên trơ tráo, lố bịch và vô nghĩa hơn bao giờ hết. Cậu đã đi trọn một vòng từ thị xã sầm uất về đến góc xưởng nghèo của thị trấn, từ cửa hàng bán buôn lớn nhất cho đến cái xưởng sửa chữa thủ công nhỏ nhất, và những gì cậu nhận lại là hai bài học cay đắng, xé toạc mọi ảo tưởng non nớt của một kẻ mới bước chân vào đời.
Cậu đã thấu hiểu, bằng một nỗi đau buốt tận tâm can, cái giá nặng nề khôn cùng của một lời hứa miệng. Một lời nói thốt ra chỉ mất vài giây ngắn ngủi để làm vừa lòng đám đông, để nhận lấy những tràng pháo tay tán thưởng nhất thời, nhưng khi nó bắt đầu đòi hỏi tiền mặt sòng phẳng, đòi hỏi vật tư kim loại tương thích và sức lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt của những người thợ nghèo, nó lập tức biến thành một món nợ tàn nhẫn không bao giờ có thể trả hết bằng những lời xin lỗi hay sự ân hận muộn màng.
Bảo hít một hơi thật sâu, nuốt trọn vị mặn chát của gió biển và sự nghẹn ngào vào sâu trong lồng ngực, rồi cất những bước chân nặng trĩu đi về phía bậc thềm của tiệm.
Tập danh mục phụ tùng của anh Tín kẹp chặt tờ báo giá nguyên đai nguyên kiện, không thiếu một đồng và không lùi một ngày.