Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmC.38 / 40
Chương 38

Ổ bánh sữa của riêng mình

Tiếng then cài lách cách vang lên quen thuộc khi Nhiên đẩy cánh cửa gỗ của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, đón nhận cái ôm siết ấm áp từ Diệp Lam và nụ cười rạng rỡ của cô Hảo đầu hẻm.

Gió sương cao nguyên từ ngoài dốc sâu ùa thốc vào theo gấu áo khoác dạ, mang theo cái rét ngọt ngào của rừng thông và hơi ẩm lạnh buốt đặc trưng của một đêm Đà Lạt đã về khuya. Nhưng chỉ cần bước qua ngưỡng cửa, cánh cửa gỗ khép lại sau lưng, bầu không khí bên trong gian tiệm lập tức phủ lên người cô một sự ấm sực, chở che. Nơi này ngan ngát mùi bột mì mộc vừa mới xay, hòa lẫn với hương bơ béo ngậy còn vương vất từ mẻ bánh ban chiều, cùng chút hương thảo mộc khô thơm dịu treo nơi góc xà nhà.

Cô Hảo vừa lau vội đôi bàn tay thô ráp vào chiếc tạp dề hoa đã sờn mép quen thuộc, vừa ríu rít bước tới. Dưới ánh đèn vàng ấm áp của gian tiền sảnh, ánh mắt người đàn bà phố núi hấp háy niềm vui mừng không giấu giếm, những vết chân chim nơi khóe mắt xô lại thật đôn hậu:

“Về đến nơi là tốt rồi, con bé này! Hai ngày nay tao đứng ngồi không yên, buôn bán ngoài đầu hẻm mà ruột gan cứ để đâu đâu, chốc chốc lại dỏng tai ngó sang bên này. Thấy chú Bách với cô Mai vẫn bình an cả chứ cháu? Chú ấy chịu gặp mày rồi phải không?”

Nhiên khẽ mỉm cười, cảm giác thân thương từ sự xởi lởi, mộc mạc của cô Hảo như một chiếc chăn len dệt thô phủ xuống đôi vai đang thấm lạnh, kéo cô về với thực tại dịu dàng của hẻm Hoa Đăng. Cô khẽ gật đầu, giọng nói mềm mại:

“Dạ, thầy và cô đều khỏe cả, gửi lời hỏi thăm cô nhiều lắm ạ. Thầy dặn lần sau có dịp xuống phố, nhất định sẽ ghé sạp nước của cô uống một ly trà atiso đỏ. Cháu cảm ơn cô Hảo hai hôm nay đã nhận hàng bột với bơ giùm cháu, lại còn cất công qua đây phụ trông coi quán xá.”

“Gớm, ơn nghĩa gì ba cái chuyện cỏn con đó!” Cô Hảo cười xòa, vạt áo tạp dề đung đưa theo từng cử chỉ khoát tay hào sảng. “Hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, mày đi đường xa lo việc lớn, tao ở nhà đỡ đần được chút nào thì mừng chút nấy. Mấy bao bột mì T-W-65 với thùng bơ lạt Đơn Dương người ta chở tới trưa qua, tao với thằng Thịnh đã khiêng gọn gàng vào kho mát rồi đấy. Thôi, tao phải lui về quán dọn dẹp nốt để đóng cửa đây, nhường chỗ cho hai đứa thợ bánh tụi bây bàn giao chuyện bếp núc. Mà này, trông sắc mặt mày bữa nay nhẹ nhõm, tươi tỉnh hơn hẳn rồi đấy, Nhiên à. Đi một chuyến mà như trút được cả tảng đá đè trên ngực.”

Cô Hảo vỗ nhẹ lên mu bàn tay Nhiên một cái thật tình cảm, cái vỗ tay ấm áp của người lớn tuổi trong xóm từng chứng kiến cô gái trẻ lầm lũi suốt mấy năm qua. Bà quay sang gật đầu chào Thịnh – người nãy giờ vẫn đứng lặng lẽ bên cạnh, tay xách chiếc giỏ mây đựng mèo Mè – trước khi xỏ lại đôi dép tổ ong lẹp xẹp bước ra ngoài màn sương đêm đang cuộn tròn nơi đầu ngõ.

Khi cánh cửa gỗ khép lại hẳn, tiếng then cài buông xuống nghe một tiếng “cạch” khô giòn, không gian gian tiệm chỉ còn lại ba người cùng chú mèo Mè.

Thịnh cúi người, cẩn thận mở chốt nắp giỏ mây. Chú mèo lông xám tro lập tức thò chiếc đầu tròn xoe ra ngoài, hít hà bầu không khí quen thuộc của ngôi nhà rồi lững thững bước ra. Bốn bàn chân đệm thịt mềm mại chạm xuống sàn gỗ không một tiếng động. Mè đi một vòng quanh chân Diệp Lam, khẽ cọ chỏm đuôi mềm như nhung vào ống quần tây màu sẫm của cô như một lời chào hỏi và cảm ơn kín đáo sau những ngày được chăm sóc chu đáo.

Diệp Lam cúi nhìn con mèo, nở một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản. Cô tháo chiếc tạp dề làm việc màu trắng tinh khôi treo cẩn thận lên chiếc móc gỗ mun bên tường, vuốt lại nếp áo sơ mi rồi đưa tay mời Nhiên bước vào gian bếp phía sau tấm rèm vải thô.

Căn bếp nhỏ vốn là thế giới riêng tư, kín cổng cao tường của Nhiên suốt bốn năm qua – nơi cô giam mình trong bóng tối từ không giờ đến ba giờ sáng để đối diện với những dằn vặt và những mẩu ký ức vụn vỡ. Giờ đây, dưới bàn tay quán xuyến của Diệp Lam trong hai ngày vắng chủ, gian bếp sáng bóng không một hạt bụi. Bàn thao tác bằng gỗ thông xẻ dày đã được lau chùi sạch sẽ bằng khăn ẩm tẩm giấm táo, các hũ gia vị thủy tinh xếp ngay ngắn theo đúng thứ tự kích thước và chủng loại, từng chiếc âu sứ, thìa gỗ mun, phới lồng đều nằm đúng vị trí quy định. Những chiếc khay nướng bằng gang đen nhánh úp gọn gàng trên kệ sấy phía trên lò than, phản chiếu ánh sáng ấm áp của ngọn đèn vàng treo thấp.

Nhưng điều khiến tim Nhiên thắt lại trong một nhịp rung động sâu xa chính là chiếc tủ gỗ thông ba ngăn chạm khắc cành hoa mimosa nơi góc phòng.

Cánh tủ đang hé mở chừng một lóng tay để không khí lưu thông vừa đủ. Trên ngăn chính giữa – vị trí trang trọng và ấm áp nhất, tránh mọi luồng gió lùa – hũ thủy tinh nuôi men cái hoang dã đang được bao bọc cẩn thận trong lớp khăn dạ xám dày. Qua thành thủy tinh mờ hơi ẩm lấm tấm như giọt sương mai, khối men màu trắng ngà đang nở phồng, vòm men cong tròn hoàn hảo, bề mặt điểm xuyết những bọt khí li ti căng mọng. Khối men khẽ phập phồng thở một nhịp điệu sống động, bình yên và thiêng liêng đến kỳ lạ.

“Nhiệt độ bên trong tủ luôn được tôi theo dõi và giữ chuẩn xác ở mức hai mươi mốt phẩy năm độ C,” Diệp Lam lên tiếng, giọng nói của cô trầm tĩnh nhưng ánh lên sự trân trọng tuyệt đối của một người trong nghề. “Cữ mười giờ sáng nay, tôi đã cho men ăn đúng một trăm gam nước suối tự nhiên hai mươi tư độ cùng một trăm gam bột T-W-65 mộc. Dùng đúng chiếc thìa gỗ thông cán dài khuấy tròn một chiều theo lời cô dặn, tuyệt đối không để kim loại chạm vào làm xáo trộn từ tính và hệ vi sinh. Nó ăn rất khỏe, vòm men đạt đỉnh cực đại sau đúng bốn tiếng rưỡi rồi hạ xuống một nhịp rất êm, sẵn sàng cho mẻ nướng đêm nay.”

Nhiên bước lại gần chiếc tủ gỗ, cúi đầu hít một hơi thật sâu.

Mùi hương chua thanh thoát như táo xanh lên men, ngai ngái mùi phấn hoa mimosa rừng và vị ngọt đằm sâu của hạt lúa mì nguyên cám xộc thẳng vào sống mũi, xua tan đi tất cả mệt mỏi, buốt giá của chặng đường dài vượt dốc đèo Tuyền Lam mù sương. Khối men không hề có một chút dấu hiệu căng thẳng, suy yếu hay biến chất nào; trái lại, nó căng tràn sinh khí, như một đứa trẻ được chăm bẵm trong tình yêu thương thuần khiết nhất.

Diệp Lam đứng tựa lưng vào mép bàn thao tác, nhìn hũ men, rồi nhìn sang Nhiên. Ánh mắt kiêu hãnh của một thợ làm bánh chuyên nghiệp từng được đào tạo bài bản từ những trường phái ẩm thực hiện đại nay đã hoàn toàn nhường chỗ cho sự khiêm nhường và cảm phục chân thành:

“Hai ngày qua, ở lại một mình trong gian bếp này và chịu trách nhiệm duy trì sự sống cho nó, tôi mới thực sự hiểu ra mình đã ấu trĩ và nóng vội đến nhường nào trong suốt những năm tháng làm nghề vừa qua. Trước đây ở Sài Gòn, tôi từng nghĩ làm bánh đỉnh cao là phải kiểm soát tuyệt đối. Tôi tin vào máy ủ men công nghiệp, tin vào đồng hồ đo độ ẩm điện tử, tin vào việc dùng nhiệt độ và chất phụ gia để ép khối bột nở theo đúng từng phút, từng giây trong kế hoạch kinh doanh. Nhưng khi ngồi một mình ở đây giữa đêm Đà Lạt tĩnh lặng, lắng nghe tiếng men thở phập phồng trong bóng tối, tôi mới nhận ra rằng người thợ không thể ra lệnh cho sự sống.”

Lam dừng lại một chút, khẽ mỉm cười tự giễu, ánh mắt nhìn vào đôi bàn tay mình:

“Chúng ta không thể bắt ép một sinh mệnh phải lớn lên theo ý muốn chủ quan của mình. Người làm bánh, rốt cuộc chỉ có thể chuẩn bị một môi trường tốt nhất, giữ cho chiếc tổ ấm áp và sạch sẽ nhất, rồi kiên nhẫn cúi đầu chờ đợi. Làm bánh không phải là một cuộc trình diễn quyền năng hay kỹ thuật xảo diệu, mà là học cách lắng nghe và chờ đợi sự trưởng thành tự nhiên của tự nhiên. Bài học đó, trường lớp hào nhoáng hay những cuốn sách dạy làm bánh đắt tiền của các bậc thầy nước ngoài chưa từng dạy tôi một chữ nào.”

Cô ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt Nhiên, giọng nói rung rinh một niềm xúc động mộc mạc:

“Cảm ơn cô, Nhiên. Cảm ơn cô vì đã dám tin tưởng giao phó sinh mệnh của hũ men này cho một kẻ từng đầy định kiến và kiêu ngạo như tôi.”

Nhiên xúc động nhìn người bạn đồng nghiệp. Những khoảng cách vô hình, những nghi ngại nghề nghiệp và sự va chạm gay gắt giữa hai trường phái làm bánh trước đây dường như đã hoàn toàn tan rã, hòa tan vào hơi ấm dịu dàng của men bột trong gian bếp này. Cô bước tới, nhẹ nhàng đặt tay lên vai Diệp Lam:

“Tôi cũng phải cảm ơn cô rất nhiều, Lam à. Nếu không có sự tận tâm và bàn tay vững vàng của cô giữ lửa cho hũ men này, tôi đã không thể yên lòng rời đi để tìm lại sự thật cho cuộc đời mình. Gian bếp này, từ nay về sau, cô luôn luôn được chào đón. Bất cứ lúc nào cô muốn quay về với cách làm bánh mộc mạc nhất, cánh cửa tiệm Lúc Nửa Đêm sẽ luôn mở rộng đón cô.”

Hai người phụ nữ trao nhau một cái bắt tay thật chặt. Đó không chỉ là sự bàn giao công việc đơn thuần, mà là một sự công nhận bình đẳng, tôn trọng và thấu hiểu sâu sắc giữa hai người thợ làm bánh chân chính đã cùng đi qua những thử thách của cái nghề nhào nặn sự sống.

Diệp Lam thu dọn đồ đạc cá nhân vào chiếc túi xách da, dặn dò Nhiên nhớ nghỉ ngơi sớm rồi nhẹ nhàng chào tạm biệt, bước ra khỏi cửa tiệm để trả lại khoảng không gian tĩnh lặng, thiêng liêng cho cô và Thịnh.

***

Đồng hồ trên vách gỗ buông tiếng gõ trầm đục: mười hai giờ rưỡi đêm.

Gian bếp lại chìm vào sự yên tĩnh quen thuộc của hẻm Hoa Đăng, chỉ còn tiếng củi thông khô cháy lách tách trong góc lò nướng và tiếng thở đều đều của chú mèo Mè đang cuộn tròn trên tấm đệm vải nỉ dưới chân bàn.

Thịnh đã lặng lẽ cởi chiếc áo khoác dạ dày treo lên giá gỗ cạnh cửa. Anh đi một vòng quanh gian nhà trước, kiểm tra lại từng then chốt cửa sổ bằng gỗ, gài chặt chốt sắt bên ngoài cánh cửa chính để chắn gió lạnh, rồi quay trở vào bếp. Không cần Nhiên phải lên tiếng, anh tự giác xắn tay áo len màu tro quá khuỷu tay, cầm thanh cời sắt cúi xuống giúp cô gạt bớt lớp tro nguội, chêm thêm những thanh củi thông chẻ nhỏ vào buồng đốt lò nướng gang.

Anh không hỏi han dồn dập về chuyến đi, cũng không gặng hỏi những gì đã diễn ra tại căn nhà gỗ ven hồ Tuyền Lam. Anh hiểu Nhiên cần sự tĩnh lặng để những chấn động trong tâm hồn lắng xuống. Thịnh với tay lấy chiếc ấm đất nung trên kệ, rót cho cô một ly nước ấm pha chút mật ong hoa dại của núi rừng, rồi đặt nhẹ nhàng lên mép bàn thao tác, ngay cạnh chỗ cô ngồi:

“Uống chút nước ấm cho nhuận giọng đi em. Gió đèo ban đêm độc lắm, ngấm vào người lúc nào không biết đâu.”

Sự hiện diện trầm tĩnh, vững vàng của Thịnh như một chiếc mỏ neo sắt cắm sâu vào lòng biển phẳng lặng, giữ cho tâm can Nhiên không bị cuốn trôi bởi những đợt sóng ngầm cảm xúc đang dâng tràn mãnh liệt trong lồng ngực. Cô ngước nhìn anh, khẽ gật đầu cảm ơn rồi bưng ly nước ấm bằng cả hai bàn tay, cảm nhận hơi nóng dịu dàng ngấm qua từng đầu ngón tay đang run rẩy vì xúc cảm.

Nhiên ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông mộc bên bàn bếp. Cô kéo khóa chiếc ba lô vải dù sờn màu, cẩn thận lấy ra chiếc hũ sứ nắp gài có gioăng cao su màu trắng ngà. Đây chính là hũ men vừa được hòa chung linh hồn tại căn nhà ven hồ Tuyền Lam chiều qua – nơi nhánh men cội nguồn ba mươi năm của thầy Bách và nhánh men hoang dã của mẹ Thu Hà đã tìm thấy nhau, hòa quyện làm một sau ba thập kỷ lưu lạc.

Nhiên đặt chiếc hũ sứ nắp gài bên cạnh hũ thủy tinh trên mặt bàn gỗ. Sau đó, với tất cả sự nâng niu, cô khẽ chạm tay vào vạt áo trong, rút ra tấm ảnh cũ đã ngả màu ố vàng, bốn góc sờn rách vì thời gian.

Dưới ánh sáng vàng cam ấm áp của ngọn đèn dây tóc treo thấp, bức ảnh chụp ba mươi năm trước tại nhà kính trên đồi thông Mimosa hiện lên sống động đến từng chi tiết. Trong ảnh, thầy Bách thời trẻ phong trần, nụ cười rạng rỡ và tự do như gió ngàn; cô Mai với nét mặt dịu hiền, đôi mắt trong veo tựa đầu vào vai chồng; và mẹ cô – Lạc Thu Hà – với đôi mắt sáng ngời lấp lánh niềm tin yêu, gò má ửng hồng dưới nắng cao nguyên và chiếc tạp dề trắng lấm lem những vệt bột mì. Ba con người của một thời thanh xuân rực rỡ, sống hết mình với niềm đam mê cây cỏ, men bánh và hương vị thuần khiết của đất trời.

Nhiên lật mặt sau của tấm ảnh. Dưới ánh đèn, những dòng chữ viết tay nắn nót bằng mực tím đã phai màu theo năm tháng nhưng từng nét chữ vẫn hiện lên rõ ràng, mạch lạc: nửa sau của công thức bánh sữa thảo mộc gia đình mà suốt bốn năm qua cô ngỡ rằng đã vĩnh viễn bị chôn vùi trong tro tàn của quá khứ.

*“...Bột T-W-65 mộc: 300g, sữa tươi Đơn Dương thanh trùng hâm ấm ba mươi lăm độ C: 180ml, bơ lạt ủ mềm: 40g, mật ong hoa dại: 30g, hai thìa cà phê bột rễ cam thảo sao khô mài mịn trên cối đá. Và điều cốt tủy nhất: một trăm gam men cái Mimosa đang ở đỉnh điểm sinh trưởng, nhào chậm bằng tay trong mười lăm phút đến khi màng bột kéo mỏng như lụa mà không rách...”*

Nhiên đặt tấm ảnh nằm ngay ngắn trên mặt bàn gỗ có những vết dao cắt hằn sâu theo năm tháng làm việc. Cô mở cuốn sổ tay học việc sờn gáy của mình ra, đặt bên cạnh. Đôi mắt cô chăm chú đối chiếu từng dòng chữ, từng tỷ lệ mà mẹ đã ghi với kỹ thuật ủ men lạnh nhiều tầng mà thầy Bách vừa truyền thụ và hoàn thiện bên bờ hồ Tuyền Lam chiều qua.

Thầy Bách đã bổ sung vào công thức còn dang dở của mẹ một chi tiết mang tính quyết định: nhiệt độ ủ khối bột bánh sữa không được phép vượt quá hai mươi tư độ C. Ở ngưỡng nhiệt độ mát lành này, các enzym tự nhiên trong men hoang dã mới có đủ thời gian phân giải hoàn toàn tinh bột phức thành đường đơn tự nhiên, tạo nên một độ ngọt hậu sâu lắng, thanh tao lan tỏa khắp vòm họng mà không cần phải lạm dụng bất kỳ loại đường tinh luyện hay phụ gia tạo ngọt nào.

Hai nửa của một công thức thất lạc suốt bốn năm ròng rã. Hai mảnh ghép của tình mẫu tử bao la và sự chuộc lỗi âm thầm từ người thầy già, cuối cùng đã nằm trọn vẹn, khít khao bên nhau ngay trên chiếc bàn làm việc này.

Không còn bí ẩn nào chưa có lời giải đáp. Không còn bức thư niêm phong nào ngăn cách giữa quá khứ và hiện tại. Mọi mảnh vỡ đớn đau của ký ức đã được gom nhặt đầy đủ, đặt ngay ngắn dưới ánh sáng của sự thật và lòng trắc ẩn.

Nhiên hít một hơi thật sâu, lồng ngực cô phập phồng một nhịp đập rạo rực. Cảm giác hồi hộp xen lẫn một sự thanh thản kỳ lạ lan tỏa khắp huyết quản, làm bừng sáng gương mặt cô.

“Anh Thịnh,” Nhiên khẽ gọi. Tiếng gọi của cô trong trẻo và thanh thoát hơn bất cứ thanh âm nào cô từng cất lên trong suốt bốn năm qua tại căn bếp này.

Thịnh đang cúi người dùng thanh cời sắt điều chỉnh lại vị trí của những thanh củi thông trong buồng đốt, nghe tiếng gọi liền ngừng tay, ngẩng đầu lên nhìn cô:

“Anh đây. Em cần lấy thêm dụng cụ hay nguyên liệu gì sao?”

“Đêm nay... em muốn nướng một ổ bánh.” Nhiên nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt cô lấp lánh những đốm lửa kiên định và ấm áp. “Nhưng không phải là bánh để bày lên tủ kính bán cho những vị khách ghé qua lúc nửa đêm. Càng không phải là chiếc bánh ký ức để khơi gợi nỗi đau hay cứu rỗi bất kỳ ai lạc lối trong đêm sương nữa.”

Thịnh buông thanh cời sắt xuống chiếc giá đỡ bằng gang. Anh đứng thẳng người dậy, ánh mắt ấm áp và thấu hiểu nhìn sâu vào gương mặt cô:

“Ổ bánh cho riêng em?”

“Vâng. Cho chính em.” Nhiên khẽ mỉm cười, một nụ cười mộc mạc nở ra trên đôi môi đã quá lâu chỉ quen với sự câm lặng. “Bốn năm qua, em nướng hàng ngàn ổ bánh để trừng phạt bản thân mình. Em biến mỗi chiếc bánh thành một chiếc phao cứu sinh ném ra cho người khác, chỉ để xoa dịu nỗi mặc cảm tội lỗi và sự dằn vặt đang cào xé trong lòng. Em chưa từng một lần nướng bánh bằng niềm vui thuần khiết của sự sống, như lời mẹ đã dặn trong bức di thư.”

Thịnh mỉm cười. Nụ cười của người đàn ông phong trần dường như sáng bừng lên trong ánh lửa, nhẹ nhõm như thể anh vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân đã cùng cô gánh vác suốt bấy lâu:

“Lò nướng đã sẵn sàng rồi. Lửa củi thông cháy đượm lắm, nhiệt trong buồng nướng đang lên rất đều và êm. Anh ở đây phụ em một tay.”

***

Nhiên đứng dậy, buộc gọn lại mái tóc dài sau gáy bằng chiếc kẹp làm từ gỗ thông. Cô xắn tay áo lên quá khuỷu tay, để lộ đôi cánh tay thon thả nhưng săn chắc của một người thợ bánh thủ công, rồi khoác lên mình chiếc tạp dề may bằng vải bao bố thô mộc.

Cô mở chiếc khóa cài của hũ sứ.

Một tiếng “tách” khẽ vang lên khi gioăng cao su bật mở, giải phóng một luồng sinh khí thơm ngát. Mùi hương của men cái hợp nhất bốc lên ngào ngạt – hương hoa dại mùa xuân quyện chặt với men chua thanh khiết của trái cây chín và mùi đất ẩm sau cơn mưa rừng. Chú mèo Mè ngửi thấy mùi hương quen thuộc liền nhảy phóc từ dưới sàn lên mặt bàn gỗ, ngoan ngoãn ngồi thu lu bên cạnh chiếc cân đồng cổ, đôi mắt xanh màu ngọc bích chăm chú dõi theo từng cử động nhịp nhàng của cô chủ.

Nhiên bắt đầu cân bột. Từng vốc bột mì T-W-65 mộc màu nâu nhạt, lấm tấm những mẩu cám lúa mì li ti rơi xuống đĩa cân đồng, tạo nên những tiếng sột soạt êm tai như tiếng lá khô xào xạc trong vườn thông. Ba trăm gam bột mì nguyên cám. Cô đong đúng một trăm tám mươi mi-li-lít sữa tươi nguyên chất từ nông trại Đơn Dương vào một chiếc âu gốm nhỏ tráng men xanh, rồi đặt chiếc âu cạnh thành lò nướng để hơi ấm âm ỉ làm sữa ấm dần lên đúng mức ba mươi lăm độ C.

Bốn mươi gam bơ lạt vàng óng đã được Diệp Lam ủ mềm tự nhiên ở nhiệt độ phòng, mềm mịn như một khối kem tươi. Ba mươi gam mật ong hoa dại sánh đặc, thơm nồng nàn hương hoa cà phê và hoa dã quỳ. Và cuối cùng, Nhiên lấy hai mẩu rễ cam thảo sao khô, cho vào chiếc cối đá nhỏ, dùng chày nghiền chậm rãi cho đến khi lớp vỏ gỗ biến thành thứ bột mịn màu vàng nâu, tỏa ra một mùi hương ngọt ấm, thảo mộc thảo dã lan tỏa khắp gian bếp.

Khi dùng chiếc thìa gỗ thông múc đúng một trăm gam men cái Mimosa bừng bừng sức sống trút vào giữa lòng âu bột đã khoét sẵn một chiếc giếng nhỏ, Nhiên dừng lại một nhịp thở.

Cô chuẩn bị đón nhận những cảm giác quen thuộc của những đêm làm bánh ký ức trước đây: cơn buốt nhức chạy dọc sống lưng, sự co thắt nơi lồng ngực hay những ảo ảnh đau đớn của người khác tràn vào tâm trí. Nhưng tuyệt nhiên không có gì xảy ra. Không có sự phản phệ thể xác. Không có bóng tối nào xâm lấn. Chỉ có sự bình yên tuyệt đối của đất trời và hơi thở ấm áp của sự sống đang chờ được đánh thức.

Đôi bàn tay trần của Nhiên chạm vào khối bột.

Bột mì, sữa ấm, bơ lạt, mật ong và men cái hòa quyện dưới sự tiếp xúc dịu dàng của mười đầu ngón tay. Nhiên cảm nhận rõ ràng từng thớ sợi gluten bắt đầu hình thành, liên kết chặt chẽ và co giãn nhịp nhàng dưới lực ép của lòng bàn tay cô.

Cô bắt đầu nhào bột. Nhấc lên, gập đôi lại, xoay một góc chín mươi độ, rồi dùng phần ức bàn tay miết nhẹ khối bột xuống mặt bàn gỗ thông. Động tác của cô uyển chuyển, nhịp nhàng và chuẩn xác như một vũ điệu của sự tĩnh lặng. Từng thớ cơ trên cánh tay chuyển động hài hòa, dồn toàn bộ sự chú tâm, lòng biết ơn và niềm trân trọng sự sống vào khối bột trắng ngà.

Mùi thơm ngậy của bơ sữa, vị ngọt ấm nồng của rễ cam thảo quyện cùng hơi men hoang dã bốc lên ngùn ngụt, bao bọc lấy gian bếp nhỏ trong một bầu không khí êm đềm, ấm áp tựa như một cái ôm chở che của người mẹ. Khối bột từ chỗ lợn cợn, rời rạc dần dần trở nên kết dính, đàn hồi và mịn màng đến kinh ngạc. Khi Nhiên dùng hai tay nhẹ nhàng kéo dãn một góc bột nhỏ, khối bột mỏng dần, mỏng dần, tạo thành một lớp màng trong suốt như lụa mỏng có thể nhìn xuyên qua ánh đèn mà không hề rách – màng gluten hoàn hảo chỉ đạt được bằng sự kiên nhẫn và bàn tay thủ công thuần túy.

Nhiên vo tròn khối bột thành một khối cầu bóng bẩy, căng tròn và mịn màng như làn da em bé. Cô thoa một lớp bơ mỏng vào lòng chiếc âu sứ lớn, đặt khối bột vào trong, phủ lên một tấm khăn vải lanh ẩm rồi đặt âu bột vào góc bàn ấm gần lò than để ủ men.

Thời gian như ngưng đọng trong gian bếp tiệm Lúc Nửa Đêm.

Suốt một giờ đồng hồ ủ bột, Thịnh và Nhiên ngồi bên nhau, lắng nghe ngọn lửa củi thông trò chuyện với bóng đêm. Thịnh thỉnh thoảng đứng dậy chêm thêm một thanh củi, còn Nhiên ngồi yên lặng, ngắm nhìn chú mèo Mè đang lim dim ngủ bên đĩa cân đồng. Dưới tác động kỳ diệu của men cái hoang dã và hơi ấm dịu dàng, khối bột bên trong âu sứ từ từ phồng lên, nhân đôi thể tích, bề mặt căng mịn đàn hồi hoàn hảo.

Hết một giờ, Nhiên nhẹ nhàng lấy khối bột ra bàn thao tác. Cô không dùng lực mạnh để đấm xẹp bột như cách làm bánh mì thông thường, mà chỉ dùng các đầu ngón tay ấn nhẹ để dàn đều bọt khí lớn, rồi khéo léo cuộn tròn, tạo hình nó thành một ổ bánh gối thuôn dài đẫy đà. Đặt ổ bánh vào chiếc khuôn gang đen nhánh, cô lấy chiếc lưỡi dao lam sắc bén, nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, khía một đường dứt khoát và ngọt lịm dọc theo sống lưng ổ bánh.

Từ vết khía hé mở, Nhiên dùng chiếc chổi lông mềm quét nhẹ một vệt bơ lỏng mỏng mảnh.

“Xong rồi,” Nhiên khẽ nói, ánh mắt lấp lánh nhìn Thịnh.

Thịnh lập tức bước tới, dùng đôi găng tay da dày mở cánh cửa sắt của lò nướng gang. Một luồng hơi nóng rực rỡ, mang theo hương gỗ thông cháy đượm phả ra không gian. Nhiên cẩn thận nâng chiếc khuôn gang trượt êm ái vào lòng buồng nướng, đặt ngay ngắn trên phiến đá giữ nhiệt.

Cánh cửa lò bằng sắt dày đóng sầm lại với một tiếng trầm đục chắc nịch.

Tiếng củi thông nổ lách tách bên dưới buồng đốt ngân nga như một khúc hát ru êm đềm giữa đêm đông. Thịnh kéo chiếc ghế gỗ lại gần, ngồi xuống sát bên cạnh Nhiên. Cả hai không ai nói với ai một lời nào. Giữa họ không cần thêm bất kỳ lời nói nào nữa, bởi mọi tâm tư, mọi sự chia sẻ đã được gói trọn trong bầu không khí ấm áp, tĩnh lặng của gian bếp này.

Họ cùng nhau ngồi im, lắng nghe hơi thở của chiếc bánh đang lớn lên trong bóng tối rực lửa của lò than.

Mười phút trôi qua, bơ bắt đầu sôi réo rắt bên trong khuôn. Hai mươi phút, mùi sữa tươi Đơn Dương và mật ong bắt đầu caramel hóa, tỏa ra một hương thơm ngọt ngào, ngậy béo đến nao lòng. Mùi thơm ấy len lỏi qua từng khe cửa gỗ thông, ngập tràn khắp gian tiệm nhỏ, rồi thoát ra ngoài con hẻm Hoa Đăng tĩnh mịch, hòa quyện vào làn sương đêm lạnh buốt của phố núi Đà Lạt.

Đó không phải là mùi hương ma mị của những chiếc bánh ký ức từng làm người ta rơi lệ vì tiếc nuối. Đó là mùi hương của gia đình. Mùi hương của những buổi sớm mai bình yên, ấm cúng bên hiên nhà – mùi hương mà Nhiên tưởng chừng đã vĩnh viễn đánh mất dưới bốn mùa đông lạnh giá vừa qua.

***

Đúng bốn mươi phút sau, khi đồng hồ điểm một giờ mười lăm phút sáng, Nhiên đứng dậy.

Cô đeo đôi găng tay vải nỉ dày, đưa tay kéo chốt mở cánh cửa lò nướng.

Một luồng hơi nóng hổi, tinh khiết ùa thốc ra ngoài gian bếp, mang theo hương thơm bơ sữa và thảo mộc ngào ngạt đến mức khiến người ta phải nín thở vì xúc động. Ổ bánh sữa vàng ruộm óng ả, lớp vỏ ngoài nở căng bóng bẩy, đường khía dọc sống lưng bung nở rực rỡ như một cánh hoa hé nở trong lửa đỏ, để lộ phần ruột bánh màu trắng ngà xốp mịn như mây trời.

Nhiên cẩn thận nhấc chiếc khuôn ra khỏi lò, úp nhẹ ổ bánh lên chiếc vỉ nan tre đan tay đặt sẵn trên bàn.

Ngay khoảnh khắc ổ bánh nóng hổi tiếp xúc với không khí mát lành của gian phòng, một thanh âm kỳ diệu bỗng cất lên: tiếng vỏ bánh giòn tan khẽ reo lách tách, li ti, đều đặn như tiếng mưa rơi trên mái lá. Những người thợ làm bánh chân chính gọi đó là “bài ca của vỏ bánh” – một bản giao hưởng vi diệu của nhiệt độ và cấu trúc, thanh âm chỉ xuất hiện khi một mẻ bánh nướng đạt đến độ chín muồi hoàn hảo từ trong ra ngoài.

Nhiên đứng lặng, đắm chìm trong việc ngắm nhìn ổ bánh đang bốc khói nghi ngút. Hơi ấm nồng nàn phả lên gương mặt cô, làm ửng hồng đôi gò má thanh tú và làm tan chảy những giọt sương lạnh còn vương trên mi mắt.

Không dùng dao cắt, Nhiên đưa đôi bàn tay trần – những ngón tay vẫn còn vương chút bụi bột mì mộc – nhẹ nhàng bẻ đôi ổ bánh sữa nóng hổi.

Vỏ bánh vỡ ra với một tiếng rắc giòn tan, êm ái. Ruột bánh xé sợi mềm mại, tơ tơi như những dải lụa mỏng đan xen vào nhau, giải phóng những làn khói thơm phức mùi sữa tươi Đơn Dương thanh trùng và rễ cam thảo sao khô. Nhiên bẻ một mẩu bánh nhỏ từ phần ruột xốp mềm nhất, từ từ đưa vào miệng.

Cô cắn miếng bánh đầu tiên.

Toàn bộ các giác quan của Nhiên như bừng tỉnh trong một cơn chấn động êm ái nhưng mãnh liệt chưa từng có.

Vị giòn rụm của lớp vỏ mỏng tang tan biến ngay trên đầu lưỡi, nhường chỗ cho vị ngọt béo thanh khiết, mềm ngậy của sữa tươi hòa quyện tuyệt hảo cùng bơ lạt. Hậu vị ngọt đằm, sâu thẳm của cam thảo lan tỏa khắp vòm họng, được nâng đỡ và cân bằng hoàn mỹ bởi vị chua thanh tao, cao quý của chủng men hoang dã Mimosa ba mươi năm tuổi. Không có một chút gắt gỏng của đường hóa học, không có vị nồng gắt của men công nghiệp; tất cả là sự hòa hợp tuyệt đối của tự nhiên và tình yêu thương.

Nhưng hơn cả một hương vị ẩm thực đỉnh cao, một dòng chảy ký ức ấm áp, chân thực và mãnh liệt bất ngờ tuôn trào, ngập tràn khắp tâm trí cô.

Đó không phải là cơn ác mộng kinh hoàng của đêm mưa tầm tã trên đèo Prenn bốn năm về trước. Không có ánh đèn pha xe tải loang loáng quét qua màn mưa mù mịt, không có tiếng lốp xe trượt dài trên mặt đường trơn trượt, không có tiếng phanh rít xé lòng hay âm thanh kim loại va chạm xé toạc màn đêm mà cô đã dùng để tự đày đọa, tự cào xé tâm can mình suốt một ngàn bốn trăm ngày qua.

Ký ức hiện về trong vắt và ấm áp như một buổi sáng mùa thu Đà Lạt ngập tràn ánh nắng vàng mật ong.

Trước bậc thềm gỗ của căn nhà cũ ven đồi thông, những giọt sương sớm còn đọng long lanh trên những chùm hoa cẩm tú cầu xanh biếc. Mẹ Thu Hà đứng đó, dáng người mảnh mai, đẫm vẻ dịu hiền trong chiếc áo len đan tay màu hạt dẻ. Mẹ đang cẩn thận quàng chiếc khăn len ấm áp quanh cổ Nhiên, tỉ mỉ vuốt lại từng nếp len cho cô con gái nhỏ trước giờ đến trường.

Đôi bàn tay mẹ ấm áp lạ thường, thơm nồng mùi bột mì và vỏ cam tươi. Mẹ nhìn cô, đôi mắt cong lên thành một vệt trăng khuyết dịu dàng, nụ cười hiền từ rạng rỡ như ánh bình minh xua tan đi tất cả giá lạnh của mùa đông phố núi:

*“Nhiên con, trời lạnh rồi, nhớ mặc ấm nghe con. Hôm nay mẹ nướng mẻ bánh sữa con thích nhất đây này, mẹ để trên bàn ăn một góc lớn đấy. Con ở nhà học bài, nhớ ăn no, ngủ sớm. Đừng thức khuya, đừng lo nghĩ lung tung nghe con gái. Mẹ thương con gái của mẹ nhất trên đời.”*

Trọn vẹn là tình yêu thương vô điều kiện.

Không có một ánh mắt muộn phiền. Không có một lời trách cứ nào dù là nhỏ nhất. Không có bất kỳ sự oán giận hay dằn vặt nào về việc cô đòi mẹ làm bánh hoa cúc hay những nũng nịu dại khờ của tuổi mới lớn. Trong trái tim bao la của mẹ Thu Hà, cô con gái nhỏ chưa bao giờ là nguồn cơn của bất hạnh hay tai ương. Sự ra đi của mẹ là một tai nạn nghiệt ngã của số phận, nhưng điều cuối cùng và duy nhất mà mẹ để lại cho cõi đời này, cho đứa con gái duy nhất của mình, chính là tình mẫu tử thuần khiết, vẹn nguyên và vĩnh cửu như ánh mặt trời.

Mẹ không hề trách cô.

Mẹ chưa từng một giây, một phút nào trách cứ cô!

Sự thật ấy, tình yêu thương vĩ đại ấy, sau bốn năm ròng rã bị vùi lấp dưới lớp tro tàn lạnh lẽo của mặc cảm tội lỗi do chính cô tự dựng nên để giam cầm bản thân, nay đã bừng sáng rực rỡ, tinh khôi qua hương vị của ổ bánh sữa trọn vẹn này.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má Nhiên, rơi xuống chiếc vỉ bánh nan tre. Rồi hai giọt, ba giọt, lã chã tuôn rơi không sao ngăn lại được.

Nhiên buông mẩu bánh xuống mặt bàn. Đôi vai cô run lên bần bật. Cô ôm lấy mặt, quỳ sụp xuống chiếc ghế gỗ và òa khóc nức nở.

Đó không phải là tiếng khóc câm lặng, nghẹn ngào trong cay đắng của những đêm cô độc giam mình trên căn gác xép lạnh lẽo. Đó là tiếng khóc vỡ òa, giải tỏa mọi đè nén, đau đớn, cô đơn và mặc cảm tội lỗi đã gông cùm tâm hồn cô suốt ngần ấy năm trời nơi con hẻm tối tăm. Tiếng khóc của một đứa trẻ cuối cùng đã tìm lại được vòng tay ấm áp của mẹ, tiếng khóc của một linh hồn vừa đạp đổ cánh cửa ngục tù tăm tối để đón nhận sự tha thứ – sự tha thứ quý giá nhất: tha thứ cho chính bản thân mình.

Thịnh bước nhanh tới bên cô.

Anh không dùng những lời khuyên sáo rỗng để bảo cô ngừng khóc. Anh hiểu giọt nước mắt này là cần thiết, là sự gột rửa thiêng liêng mà cô phải đi qua. Thịnh quỳ một chân xuống sàn gỗ bên cạnh chiếc ghế, nhẹ nhàng dang rộng vòng tay, kéo Nhiên vào lòng mình, để cô tựa trọn vẹn mái đầu đang run rẩy vào bờ vai vững chãi của anh. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần của người bảo vệ ca đêm khẽ vỗ về lên lưng cô – từng nhịp, từng nhịp một cách đều đặn, ấm áp và kiên định như một bến đỗ bình yên che chắn cho con thuyền nhỏ sau cơn bão biển kinh hoàng.

“Khóc đi em,” giọng Thịnh trầm ấm, run run vì xúc động nghẹn ngào. “Trút hết ra đi, Nhiên. Đã qua hết rồi... Mọi đau khổ đã ở lại phía sau rồi. Mẹ em vẫn luôn yêu em, thầy Bách vẫn luôn tin tưởng em. Em không có lỗi gì cả, Nhiên à. Em không có lỗi gì hết...”

Chú mèo Mè bước lại mép bàn, khẽ dụi chiếc đầu tròn mềm mại vào mu bàn tay đang run rẩy của Nhiên, cất lên tiếng kêu “meo... meo...” êm ái, thanh thản như một lời an ủi dịu dàng.

Gian bếp nhỏ ngập tràn trong hơi ấm nồng nàn của ổ bánh sữa mới ra lò và tiếng khóc thổn thức, giải thoát của Nhiên. Ngoài kia, màn sương đêm dày đặc của Đà Lạt bắt đầu loãng dần, nhường chỗ cho những vệt sáng đầu tiên le lói nơi đường chân trời phía đông xa xăm.

***

Rất lâu sau đó, khi những tiếng nấc nghẹn ngào đã dịu lại thành những nhịp thở êm đềm, Nhiên mới từ từ ngẩng đầu lên khỏi bờ vai đẫm nước mắt của Thịnh.

Mắt cô đỏ hoe, sống mũi cay xè, nhưng gương mặt lại rạng ngời một vẻ thanh thoát, nhẹ nhõm và an yên chưa từng thấy. Làn sương mù u uất, u tối bấy lâu nay che phủ đôi mắt cô đã hoàn toàn tan biến, để lộ ánh nhìn trong veo, sâu thẳm và tràn đầy nhựa sống của một người đã thực sự tìm thấy ánh sáng cuộc đời.

Nhiên đưa mu bàn tay quệt khô những vệt nước mắt còn vương trên má. Cô nhìn Thịnh – người đàn ông đã thức trắng cùng cô qua hàng trăm đêm dài tăm tối, người đã kiên nhẫn đứng gác trước hiên nhà dưới mưa phùn gió bấc chỉ để chắc chắn rằng cô vẫn an toàn bên lò bánh, người đã không ngần ngại vượt qua những rào cản mặc cảm của chính mình để đồng hành cùng cô đi tìm sự thật.

Cô cầm lấy nửa ổ bánh sữa còn lại trên vỉ tre, nâng niu đặt vào đôi bàn tay to lớn, ấm áp của anh:

“Anh ăn đi. Chiếc bánh sữa của riêng em đấy.”

Thịnh đón lấy nửa ổ bánh vẫn còn nóng hổi. Mùi thơm ngọt lành phả lên gương mặt anh. Thịnh đưa bánh lên miệng, cắn một miếng thật lớn. Vị ngọt ngào, mềm xốp như mây và hơi ấm nồng nàn của bơ sữa Đơn Dương lan tỏa trọn vẹn trong khoang miệng anh. Anh nhai thật chậm, cảm nhận từng tầng hương vị tinh tế tan ra nơi đầu lưỡi, đôi mắt sáng lên một niềm hạnh phúc mộc mạc, thuần khiết:

“Ngon lắm, Nhiên à. Thật sự rất ngon... Đây là chiếc bánh ngon nhất mà anh từng được ăn trong cả cuộc đời mình.”

“Anh có thấy ký ức nào hiện về không?” Nhiên khẽ nghiêng đầu, khóe môi hé mở một nụ cười trêu anh, nét tinh nghịch hiếm hoi của một cô gái trẻ cuối cùng đã trở lại trên gương mặt cô.

Thịnh lắc đầu, cười hiền từ, ánh mắt ngập tràn sự âu yếm:

“Không có ký ức xa xôi nào cả. Anh không thấy quá khứ, anh chỉ thấy... hiện tại đang ở ngay đây. Rất ấm áp, và rất bình yên.”

Nhiên nhìn nụ cười của anh, trong lòng cô dâng lên một niềm rung động ngọt ngào, sâu lắng. Cô hít một hơi thật sâu, gom hết tất cả sự can đảm và chân thành của trái tim mình, rồi chủ động đưa bàn tay qua mặt bàn gỗ, nhẹ nhàng đặt lên bàn tay ấm áp của Thịnh.

Đó là lần đầu tiên cô chủ động chạm vào anh – không phải một cái chạm vô tình hay sự bám víu trong hoảng loạn, mà là một sự gắn kết tự nguyện, tin cậy và đầy ắp yêu thương của một người phụ nữ đã hoàn toàn chữa lành những vết thương lòng.

Bàn tay Thịnh thoáng khựng lại một nhịp vì bất ngờ, nhưng rồi những ngón tay rắn rỏi, ấm áp của anh lập tức siết nhẹ lại, đan chặt vào những ngón tay thon thả của cô. Hơi ấm từ bàn tay anh truyền qua da thịt, chảy thẳng vào trái tim cô, vững chãi và an toàn hơn bất kỳ thành trì nào.

“Anh Thịnh này,” Nhiên nhìn thẳng vào đôi mắt đen lánh của anh, giọng cô dịu dàng nhưng vô cùng dứt khoát. “Tấm quyết định bổ nhiệm làm Tổ trưởng ca ngày ở tòa nhà An Sương... sáng mai anh hãy ký nhận đi.”

Thịnh giật mình, ánh mắt thoáng chút bối rối, anh vội vã lắc đầu:

“Nhiên... anh đã nói với em rồi mà, anh không vội chuyện đó đâu. Anh ở lại ca đêm thêm một thời gian nữa cũng chẳng sao, để anh còn trông chừng tiệm bánh, trông chừng cho em...”

“Không,” Nhiên lắc đầu, ngắt lời anh một cách kiên quyết nhưng ánh mắt tràn ngập sự trìu mến. “Anh không cần phải trông chừng ai nữa cả. Anh đã dũng cảm đối diện với quá khứ, đã nhắn tin xin lỗi Huy và hàn gắn lại tình anh em ruột thịt, vậy thì anh cũng phải cho phép bản thân mình được sống một cuộc đời trọn vẹn dưới ánh mặt trời. Anh không thể tiếp tục giam cầm tuổi trẻ của mình trong căn bốt bảo vệ lạnh lẽo từ nửa đêm đến sáng chỉ vì lo lắng cho em mãi được.”

Thịnh nhìn sâu vào mắt cô, giọng anh trầm xuống, để lộ nỗi bất an sâu kín nhất mà bấy lâu nay anh vẫn luôn chôn giấu trong lòng:

“Nhưng nếu anh chuyển sang làm ca ngày... còn tiệm bánh này thì sao? Lời thề của em với bóng đêm... những giờ phút từ không giờ đến ba giờ sáng...”

Nhiên không đáp ngay. Cô khẽ mỉm cười, rút bàn tay mình ra khỏi tay anh rồi đứng dậy, bước lại chiếc bàn gỗ nhỏ nơi góc phòng làm việc. Cô lấy ra một tấm thiệp giấy thô mộc làm từ vỏ thông và chiếc bút mực đen. Trước sự chứng kiến của Thịnh, cô cúi người, nắn nót viết từng dòng chữ nồng ấm gửi về căn nhà gỗ ven bờ tây nam hồ Tuyền Lam:

*“Kính gửi thầy Bách và cô Mai,*

*Đêm nay, con đã nướng xong ổ bánh sữa của riêng mình. Con đã hiểu trọn vẹn lời dặn của mẹ Thu Hà và tấm lòng của thầy cô. Con không còn sợ hãi bóng tối, cũng không còn trừng phạt bản thân bằng những dằn vặt của quá khứ nữa.*

*Tiệm bánh hẻm Hoa Đăng sẽ không bao giờ tắt lửa, và bình minh ngày mai, con sẽ mở rộng cánh cửa đón ánh mặt trời.*

*Con đợi thầy và cô về thăm tiệm bánh của chúng ta.”*

Nhiên đặt cây bút xuống bàn. Cô quay lại nhìn Thịnh.

Lúc này, những tia nắng rạng đông đầu tiên của ngày mới đã bắt đầu xuyên qua những khe rèm cửa sổ bằng gỗ, rọi những vệt sáng màu hổ phách ấm áp lên sàn nhà và phản chiếu lấp lánh trong đôi mắt trong veo của cô. Nhiên bước lại gần anh, hai bàn tay cô nắm chặt lấy bàn tay anh, cất tiếng nói rõ ràng, rành rọt từng chữ:

“Quy tắc mở cửa tiệm từ không giờ đến ba giờ sáng đã chấm dứt rồi, anh Thịnh à. Nó chưa từng là quy tắc của men bánh, mà chỉ là nhà tù do mặc cảm tội lỗi của chính em tự dựng lên mà thôi. Thầy Bách đã dạy em, men cái hoang dã thuộc về sự sống, thuộc về hơi thở tự nhiên và ánh sáng ban ngày. Mẹ em trong bức di thư cũng dặn em phải nướng bánh dưới ánh mặt trời.”

Cô ngước nhìn gương mặt cương nghị, phong trần của người đàn ông trước mắt, trái tim rung lên những nhịp đập ngọt ngào và kiên định:

“Thịnh, em sẽ chuyển giờ mở cửa tiệm bánh Lúc Nửa Đêm sang ban ngày. Em sẽ đổi bảng hiệu, em sẽ mở toang cánh cửa gỗ này đón ánh bình minh, đón những người lao động đi làm sớm, đón các cô bác hàng xóm sang ăn sáng, đón cả những mẻ bột tươi mới của Diệp Lam và những phin cà phê Ban Mai của cô Phượng. Vì vậy, anh hãy nhận quyết định ca ngày đi. Anh xứng đáng được sống trọn vẹn dưới ánh mặt trời rực rỡ.”

Thịnh sững sờ nhìn cô. Lồng ngực anh phập phồng những đợt sóng cảm xúc mãnh liệt. Khóe mắt người đàn ông rắn rỏi bỗng hoe đỏ, cổ họng anh nghẹn lại vì niềm xúc động quá lớn, giọng anh run run:

“Thế... anh làm ca ngày xong, chiều tối anh có được sang đây không?”

Nhiên bật cười thành tiếng – một chuỗi cười trong trẻo, rạng rỡ và tươi tắn như đóa hoa dã quỳ vừa bung nở sau một đêm dài ngậm mưa buốt giá. Cô siết chặt lấy những ngón tay ấm áp của anh, lắc nhẹ:

“Dĩ nhiên rồi! Dù anh làm ca nào, chiếc ghế gỗ cạnh quầy bánh này vẫn luôn luôn là của anh. Nhưng em muốn nói với anh một điều...”

Nhiên ngừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Thịnh bằng tất cả sự chân thành, dũng cảm và yêu thương của một người phụ nữ đã hoàn toàn rũ bỏ bóng tối của quá khứ để bước vào một chương mới của cuộc đời:

“Em không còn cần một người đứng gác trong bóng tối nữa, em cần anh cùng bước đi dưới ánh mặt trời.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn