Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmC.35 / 40
Chương 35

Căn nhà ven hồ Tuyền Lam

Tiếng lá thông xào xạc dưới bánh xe máy hòa cùng tiếng sóng nước vỗ bờ rì rào khi Thịnh chở Nhiên và Mè rẽ vào con đường đất đỏ hun hút ven hồ Tuyền Lam.

Buổi sớm mai nơi thung lũng hồ còn đẫm một màn hơi ẩm đặc quánh, thứ sương mù của vùng cao nguyên cuối năm không chịu tan biến dưới những vệt nắng non đầu ngày mà cứ lượn lờ, bện chặt lấy từng vạt đất, từng thân cây. Những dải sương mỏng mảnh như những dải lụa bạch lướt là là trên mặt đất bazan ẩm ướt, luồn lách qua những gốc thông già cổ thụ phủ đầy rêu phong xanh thẫm và những nhánh phong lan rừng bám chặt vào vỏ cây xù xì ứa nhựa. Không khí nơi đây tinh khiết đến mức buốt nhói trong từng nhịp hít thở sâu, mang theo trọn vẹn vị chát ngọt của nhựa thông tươi nồng nàn, mùi ngai ngái của đất ướt sau chuỗi ngày ẩm đọng và hơi lạnh bảng lảng từ mặt nước mênh mông phả lên không dứt.

Thịnh ghì chặt đôi bàn tay trên tay lái kim loại đã lạnh ngắt, chiếc xe máy cũ khẽ rùng mình, tiếng máy nổ giòn lạch cạch vang lên từng hồi qua từng gờ đất gập ghềnh, từng rãnh nước xói sâu ngoằn ngoèo sau những cơn mưa dầm dề ban chiều hôm trước. Mỗi lần lốp xe trượt nhẹ trên lớp lá kim mục ướt sũng, anh lại nghiêng người, vững chãi ghì sườn xe để giữ thăng bằng tuyệt đối cho người ngồi phía sau. Ở phía trước ghi-đông, Mèo Mè ngồi ngay ngắn trong chiếc giỏ mây êm ái đã được lót cẩn thận bằng chiếc khăn nỉ dày màu nâu xám. Hai chiếc tai tam giác đen tuyền của nó khẽ rung rinh đón bắt từng âm thanh lao xao của rừng sâu: tiếng giọt sương mai trĩu nặng buông mình khỏi đọt thông rơi đánh thót xuống thảm cỏ, tiếng một con chim gõ kiến điểm nhịp lách cách đằng xa, tiếng gió sớm khẽ cọ vào những tán lá kim rì rào như một lời thở than xa vắng. Đôi mắt ngọc bích của con mèo mở to, tròn xoe và trong suốt như hai hòn ngọc cẩm thạch soi bóng xuống lòng suối, ánh lên sắc xanh biếc mỗi khi một vệt nắng sớm xuyên qua kẽ lá rọi thẳng vào đáy mắt.

Nhiên ngồi phía sau, hai bàn tay luồn sâu vào túi chiếc áo khoác dạ ấm, ngón tay run rẩy chạm khẽ vào mép chiếc ba lô vải bạt thô màu cỏ úa đang được cô ôm chặt trước ngực. Ở nơi sâu nhất của chiếc ba lô ấy, được quấn quanh bằng ba lớp khăn len mềm và một chiếc áo bông dày dặn, chiếc hũ sứ nắp gài màu trắng ngà – kỷ vật thiêng liêng nhất mà mẹ Thu Hà để lại – đang mang theo một mầm sống kiên cường đến lạ kỳ. Đó là phần men cái dẻo quánh, sung mãn nhất, thơm nồng mùi hoa quả lên men tự nhiên và vị chua thanh dịu ngọt, được chính tay Nhiên cẩn trọng chiết ra từ hũ men gia truyền của tiệm Lúc Nửa Đêm trước lúc lên đường. Mỗi nhịp xóc nảy của chiếc xe qua những mô đất mấp mô dường như đều truyền thẳng vào lồng ngực cô, khiến trái tim cô thắt lại rồi run rẩy theo từng nhịp đập.

Bốn năm ròng rã tự giam mình trong chiếc kén tối tăm của con hẻm Hoa Đăng lầy lội, bốn năm chỉ dám mở cửa lò khi thành phố Đà Lạt đã chìm vào giấc ngủ sâu nhất, Nhiên đã quen với việc sống như một cái bóng giữa đêm đen, lấy hơi nóng hầm hập của gạch nung và men bột làm tấm bình phong che chắn cho nỗi sợ hãi tột cùng trong lòng. Cô từng ngỡ rằng mình sẽ mãi mãi chôn vùi tuổi trẻ và những vết thương rỉ máu trong bóng tối của căn bếp nhỏ ấy. Giờ đây, từng dặm đường đất đỏ trải dài dưới ánh nắng sớm ban mai đang bóc trần từng lớp vỏ bọc run rẩy, lạnh lẽo mà cô đã nhọc công đắp lên tâm hồn mình suốt bao năm qua. Ánh sáng của ban ngày không còn chói gắt làm cô đau mắt nữa, mà nó đang soi rọi từng ngóc ngách sâu kín nhất, buộc cô phải đối diện với sự thật mà cô từng chạy trốn suốt một thời thanh xuân.

Men theo những chỉ dấu ngoằn ngoèo trên tấm bản đồ bằng chì than của bà Phượng, chiếc xe vượt qua con dốc ngập thông già, mở ra trước mắt doi đất hẹp biệt lập nhìn thẳng ra mặt hồ tĩnh lặng.

Tấm giấy nướng bánh màu nâu nhạt gấp làm tư nhét trong túi ngực áo gió của Thịnh đã thấm chút mồ hôi và hơi ẩm lạnh của sương sớm, mép giấy hơi quăn lại sau chặng đường dài. Thế nhưng những nét chì than sắc gọn, dứt khoát và tỉ mỉ của bà chủ quán Ban Mai vẫn hiện rõ từng chi tiết dẫn đường: từ chân đập tràn ghép bằng đá chẻ rêu phong, chạy dọc theo bờ dốc thoai thoải của cánh rừng thông phòng hộ, qua cây cầu gỗ ọp ẹp bắc ngang một con suối cạn đầy những viên đá cuội tròn xoe trơn nhẫy, rồi rẽ ngoặt ở gốc thông cổ thụ từng bị sét đánh trúng mang vết cháy xém hình lưỡi rìu hằn sâu vào thân gỗ.

Càng đi sâu vào trong, con đường mòn lại càng teo tóp lại, biến thành một vệt đất hẹp chỉ vừa khít một vệt bánh xe lăn giữa hai bờ cỏ đuôi chồn đẫm sương đêm rủ rạp xuống ngang mắt cá chân. Có những đoạn đường hiểm trở, rễ thông trồi lên mặt đất bazan như những chiếc xương sườn khổng lồ của một loài cổ sinh vật tiền sử nằm vắt ngang lối đi, Thịnh phải hạ hẳn cả hai chân xuống đất, dùng sức đôi giày da bám chặt vào sình lầy, rà phanh từng chút một thật chậm rãi để giữ cho chiếc xe không bị trượt bánh trên lớp lá kim mục ướt sũng và trơn như mỡ.

“Em có mỏi lắm không?” Thịnh khẽ nghiêng đầu về phía sau hỏi, giọng anh trầm ấm, dày dặn len qua tiếng máy xe nổ đều đặn và tiếng xào xạc của gió rừng.

Nhiên lắc đầu nhè nhẹ, trán và cằm cô khẽ tựa vào bờ vai vững chãi bọc trong lớp áo khoác gió của anh: “Em không sao. Không khí ở đây... lạ lắm. Không có mùi khói xe của phố thị, không có tiếng ồn ào của hàng quán, cũng không có cái ngột ngạt của những bức tường bê tông.”

“Gần tới nơi rồi đấy,” Thịnh nói, ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía vách đá xám xịt nhô ra sừng sững ở khúc quanh phía trước. “Bà Phượng dặn qua khỏi hẻm gió sáo này là sẽ tới một doi đất hẹp nhô hẳn ra mặt hồ. Căn nhà của thầy nằm biệt lập hoàn toàn ở đó, không chung đụng với bất kỳ xóm chài hay lán trại nào cả.”

Tiếng gió lùa qua những khe nứt chằng chịt của vách đá chẻ tự nhiên vang lên những thanh âm trầm bổng, rền rĩ và ngân dài như tiếng một chiếc sáo khổng lồ vô hình đang được thổi giữa thung lũng hoang vắng. Âm thanh ấy vừa u hoài, vừa trong trẻo, cuốn phăng đi những mệt mỏi cuối cùng của chặng đường dài đầy trắc trở. Và rồi, khi chiếc xe máy lách qua khúc ngoặt gắt gao cuối cùng của hẻm núi đá, cảnh tượng kỳ vĩ và tĩnh mịch mở ra đột ngột trước mắt khiến cả hai bất giác nín thở, ngón tay Thịnh ghì chặt tay phanh dừng hẳn lại bên bờ dốc.

Đó là một doi đất hẹp và thoai thoải, uốn lượn mềm mại như một chiếc lưỡi dài vươn thẳng ra giữa lòng hồ Tuyền Lam phẳng lặng như một tấm gương soi khổng lồ đúc bằng ngọc bích nguyên khối. Không có lấy một gợn sóng xao động trên mặt nước sâu thẳm; những rặng thông ba lá bạt ngàn ở bờ đối diện in bóng ngược xuống đáy hồ rõ nét đến mức ranh giới giữa bầu trời mù sương và làn nước biếc dường như bị xóa nhòa hoàn toàn thành một khối hư ảo. Ánh nắng sớm rọi nghiêng qua những tầng tán thông kim dày đặc, dệt thành từng dải bụi vàng lấp lánh như lụa rơi nghiêng xuống thảm cỏ non xanh mướt còn đẫm những giọt sương mai long lanh.

Ở doi đất biệt lập ấy, tiếng còi xe inh ỏi, tiếng cãi vã mưu sinh của đời sống thường nhật và cả những nhịp thở gấp gáp, xô bồ của một thành phố du lịch dường như chưa từng một lần chạm tới được. Không gian được bao bọc bởi một sự câm lặng tuyệt đối của tự nhiên, nơi thời gian dường như không còn trôi theo vòng xoay của kim đồng hồ mà chảy theo một nhịp điệu hoàn toàn khác: chậm rãi, phẳng lặng, đằm sâu trong tĩnh lặng nguyên sơ như thể thế giới này đã ngừng lại ở một buổi sớm mai thanh khiết nào đó của nhiều thập kỷ trước.

Một căn nhà gỗ nhỏ mộc mạc nép mình dưới rặng hoa giấy tím biếc, làn khói củi thông xanh lam từ ống khói bốc lên mang theo hương bánh nướng ngào ngạt lẫn mùi vỏ cam tươi nồng ấm.

Ngôi nhà ba gian cất bằng gỗ thông mộc không sơn phết, màu gỗ đã ngả sang sắc nâu trầm cổ kính dưới mưa nắng tháng năm, mái lợp ngói âm dương đã phủ một lớp rêu xanh sẫm mịn như nhung, nép mình khiêm nhường dưới bóng một cây thông cổ thụ tỏa tán xum xuê che chở. Trước hiên nhà, một giàn hoa giấy tím biếc rực rỡ buông rủ từng chùm hoa dày đặc xuống tận bậu cửa sổ, những cánh hoa mỏng manh đọng sương mai khẽ đung đưa trong ngọn gió hồ lành lạnh thoảng qua từng đợt.

Phía góc trái của gian nhà sau, một chiếc ống khói thấp được ghép bằng đá chẻ thô nhám vươn cao khỏi mái ngói, đều đặn nhả ra từng lọn khói mỏng màu xanh lam nhạt. Làn khói ấy không vội vã bốc thẳng lên cao mà là đà sà xuống mái ngói rêu phong, len lỏi qua từng kẽ lá của giàn hoa giấy tím, rồi chầm chậm hòa vào lớp hơi nước mờ ảo đang bốc lên từ mặt hồ tĩnh lặng.

Và từ làn khói lam mỏng mảnh ấy, một mùi hương thân thuộc đến xé lòng bất ngờ ùa tới, vây bọc lấy khứu giác và tâm trí của Nhiên.

Đó là mùi củi thông khô cháy giòn rượm quyện chặt với hơi men bánh mì nướng vừa chín tới – một mùi thơm đậm đà, mộc mạc của tinh bột nở bung dưới nhiệt độ cao, của lớp vỏ bánh giòn tan đang căng phồng trên bề mặt gạch nung. Nhưng bao trùm lên trên hết, lấn át cả mùi khói củi lẫn mùi bột mì, là hương thơm ngọt ngào, ấm sực và hơi cay nồng của tinh dầu vỏ cam sành tươi đang sôi lăn tăn trên bề mặt bột bánh, lẫn với một thoáng the mát dìu dịu của rễ cam thảo sao khô và vài nhánh lá hương thảo vườn nhà.

Mùi hương ấy lập tức kéo giật tâm trí Nhiên lùi ngược về những năm tháng ấu thơ êm đềm đã trôi xa, khi mẹ Thu Hà của cô còn sống, khi đôi bàn tay gầy gò của mẹ còn thoăn thoắt nhào từng khối bột bên khung cửa sổ ngập nắng, và căn nhà kính trên triền đồi Mimosa chưa từng phải trải qua biến cố chia lìa xé ruột. Đó chính là mùi hương độc nhất vô nhị của chiếc bánh cam thảo mộc – món bánh mà suốt mấy mươi năm cuộc đời, người thợ làm bánh Trần Bách chỉ dành riêng để nướng vào mỗi sớm mai cho người vợ hiền hay quên của mình.

Chiếc xe máy trờ tới bờ rào dâm bụt cắt tỉa gọn gàng bao quanh khoảng sân nhỏ rải sỏi trắng. Thịnh tắt máy xe. Tiếng động cơ vừa lịm đi, cả khoảng không ven hồ lại chìm vào sự tịch mịch đến thảng thốt, chỉ còn lại tiếng chim chích chòe khẽ hót lích chích trên cành thông và tiếng bập bùng êm đềm của lửa củi vọng ra từ gian bếp sau.

Không một tiếng động cơ nào xé toạc không gian thêm nữa. Chỉ có tiếng gió xào xạc lùa qua rặng dâm bụt trổ những búp hoa đỏ thắm, tiếng sỏi trắng lạo xạo khẽ rạn dưới gót giày của Thịnh khi anh chống chân xuống đất, và tiếng thì thầm vĩnh cửu của mặt nước hồ Tuyền Lam vỗ nhè nhẹ vào chân kè đá.

Thịnh và Nhiên dừng xe ngoài bờ rào dâm bụt; qua ô cửa sổ mở rộng hướng ra bến nước, Nhiên đứng sững khi nhìn thấy người thầy Trần Bách với mái tóc bạc trắng đang tập trung nắn từng góc chiếc bánh cam nhỏ trên khay nướng.

Hai chân Nhiên như chôn chặt xuống nền đất ẩm đẫm cỏ non. Toàn thân cô run rẩy, cổ họng nghẹn đắng, đôi bàn tay đang ôm chiếc ba lô trước ngực bất giác siết chặt đến mức các đầu ngón tay trắng bệch ra. Cô không dám bước thêm một bước nào nữa, thậm chí không dám thở mạnh, chỉ biết đứng chôn chân bên bờ rào râm bụt, đôi mắt mở to ngong ngóng nhìn qua khung cửa sổ gỗ không cánh mở toang hướng thẳng ra bến thuyền gỗ hình chữ T cắm sâu xuống mặt nước biếc.

Bên trong gian bếp nhỏ tràn ngập ánh sáng vàng dịu của buổi sớm mai, một bóng người đàn ông gầy gò đang đứng lặng lẽ bên chiếc bàn mộc đóng bằng gỗ thông thô ráp chưa bào nhẵn. Nhiên nhận ra dáng đứng ấy ngay tức khắc – cái dáng lưng hơi còng xuống vì hàng chục năm ròng rã đứng tựa vào bàn nhào bột, hai vai buông lỏng tự nhiên nhưng đôi cánh tay lại uyển chuyển, dẻo dai và chuẩn xác đến từng mi-li-mét trong từng cử động miết bột.

Thế nhưng mái tóc của thầy... Mái tóc từng đen nhánh điểm vài sợi muối tiêu phong trần của bốn năm về trước, nay đã bạc trắng như tuyết sương phủ kín những cánh rừng thông mùa đông giá buốt. Những sợi tóc bạc xơ xác lòa xòa trước trán, được giữ lại gọn gàng bằng một dải khăn vải thô màu chàm đã bạc phếch theo năm tháng. Gương mặt thầy gầy guộc đi nhiều, gò má nhô cao và những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt, khóe miệng như những vết khắc tạc của sự nhọc nhằn và những đêm dài thức trắng không ngủ.

Người thợ già mặc chiếc áo sơ mi đũi màu xám tro xắn tay áo lên quá khuỷu, bên ngoài khoác chiếc tạp dề bằng vải bao bố sờn rách ở mép gấu – chiếc tạp dề cũ kỹ mà Nhiên từng thấy thầy đeo trong những đêm nướng bánh miệt mài ở lò bánh trung tâm. Trên chiếc khay nướng bằng gang đen nhánh đặt trước mặt ông trên mặt bàn gỗ, không hề có hàng chục ổ bánh xếp san sát như ở các tiệm bánh công nghiệp, mà chỉ có vỏn vẹn hai ổ bánh nhỏ nhắn, tròn trịa và cong nhẹ như hai vầng trăng khuyết đầu tháng.

Đôi bàn tay gầy guộc nổi rõ những đường gân xanh chằng chịt của ông đang cẩn trọng nắn nót, dùng phần thịt mềm nơi đầu ngón tay cái nhẹ nhàng miết từng góc mép bột cho thật kín, thật mịn. Trên mu bàn tay phải của ông, vết sẹo bỏng hình chữ V sâu hoắm – chứng tích không thể xóa nhòa của một mẻ men bốc cháy dữ dội trong lò kín từ ba mươi năm trước – hiện lên đỏ ửng dưới ánh ban mai rọi nghiêng qua khung cửa sổ.

Chiếc lò nướng của ông không phải là lò nướng điện tầng hiện đại với bảng điều khiển vi mạch điện tử, cũng không phải chiếc lò vòm gạch đồ sộ, rực lửa than đá ngùn ngụt như ở tiệm bánh Lúc Nửa Đêm nơi hẻm Hoa Đăng. Đó chỉ là một chiếc lò nướng đất nung nhỏ bé, mộc mạc, được đắp vụng về nhưng chắc chắn bằng đất sét đỏ trộn rơm mục và bột đá chẻ, đặt vững chãi trên một bệ gạch nung đỏ au sát vách đá. Cửa lò mở hé một khe hẹp, để lộ những đốm than củi thông đang ủ đỏ rực một cách đằm thắm, dịu êm, không hề bốc lên một sợi khói đen hay một ngọn lửa hung hãn nào. Chiếc lò nhỏ đến mức đến mức mỗi lần nướng, vòm lò chỉ chứa vừa đúng một chiếc khay gang duy nhất với hai ổ bánh nhỏ nhắn bên trong.

Một sự chừng mực tuyệt đối đến mức làm người ta rơi nước mắt. Một gian bếp hoàn toàn vắng bóng những dấu vết xô bồ của sự buôn bán thương mại: không có những chồng khay bánh bằng nhôm sáng loáng xếp cao ngút ngàn, không có chiếc đồng hồ bấm giờ cơ học phát ra tiếng tích tắc sắc lạnh thúc giục người thợ, cũng chẳng có những công thức cân đong đo đếm bằng cân điện tử chính xác đến từng phần mười mi-li-gam.

Thầy Bách nắn từng chiếc bánh cam bằng cảm giác thuần khiết của da thịt, bằng sự lắng nghe nhịp thở của khối bột men qua từng đầu ngón tay thô ráp. Ông dùng một chiếc chổi lông nhỏ bằng sợi cọ rừng chấm vào chiếc bát gốm đựng nước cốt cam sành pha mật mía sánh đặc, nhẹ nhàng quét một lớp áo bóng bẩy, mỏng tang lên mặt khối bột đã nở căng tròn, rồi cẩn thận dùng nhíp gỗ rắc lên đó vài sợi vỏ cam bào mỏng tang như tơ nhện.

Mỗi một động tác của người thầy già đều diễn ra chậm rãi, thành kính tựa hồ như một nghi lễ tôn giáo thiêng liêng diễn ra trong sự thinh lặng tuyệt đối của tâm hồn. Trên khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn khắc khổ của năm tháng và nỗi kiệt cùng của sự hy sinh thầm lặng, đôi mắt ông khi nhìn vào khối bột nhỏ bé trên khay lại ánh lên một sự dịu dàng vô bờ bến – thứ ánh sáng ấm áp, bao dung và thanh thản mà Nhiên chưa từng một lần nhìn thấy ở thầy trong suốt bốn năm cô đắm chìm trong mặc cảm tội lỗi và những hoài nghi tăm tối dưới đáy hẻm Hoa Đăng.

Bà Mai ngồi trên chiếc xe lăn kê sát hiên nắng, mái tóc hoa râm cài một nhành hoa dại, ánh mắt tuy đã đục mờ và ngơ ngác nhưng nụ cười lại nở rộ vô cùng thanh thản khi đón lấy mẩu bánh cam nóng hổi từ tay chồng.

Bên ngoài hiên gỗ đón nắng sớm rọi thẳng từ mặt hồ, một chiếc xe lăn tự đóng bằng gỗ thông mộc mạc được kê sát giàn hoa giấy tím. Người phụ nữ ngồi trên xe mặc chiếc áo len dệt thủ công màu ngà ấm áp, đôi vai gầy guộc quàng chiếc khăn len sợi thô màu xám tro có đường viền cam sẫm chạy dọc theo mép – chính là chiếc khăn mang mùi hương hoa cam thảo mộc mà Nhiên từng tìm thấy trong chiếc rương gỗ bỏ quên ở nhà kính đồi Mimosa. Mái tóc bà đã hoa râm quá nửa, sợi bạc nhiều hơn sợi đen, được búi lỏng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ mun và cài lệch một nhành hoa xuyến chi dại màu trắng nhụy vàng tươi vừa được hái ngoài bờ hồ còn đọng nước.

Bà Mai ngồi đó, hai bàn tay gầy gò với những khớp ngón tay sưng nhẹ đan lỏng vào nhau đặt trên tấm chăn nỉ trải ngang đùi. Ánh mắt bà nhìn thẳng ra khoảng không mênh mông của mặt hồ Tuyền Lam, nhưng ánh nhìn ấy thăm thẳm, xa xăm, mông lung và đục mờ như thể đang bị phủ kín bởi một lớp sương mù dày đặc của sự lãng quên. Trong đôi mắt ấy không còn sự định hình rõ rệt của thời gian hay không gian; bà không nhận biết được đâu là buổi sáng của ngày hôm nay, đâu là ký ức của ba mươi năm về trước, đâu là ranh giới giữa thực tại trần trụi và những giấc chiêm bao chập chờn.

Có những khoảnh khắc ngắn ngủi, đôi lông mày thanh tú của bà khẽ nhíu lại, bờ môi nhăn nheo mấp máy không thành tiếng như đang cố gắng tìm kiếm trong vô vọng một từ ngữ quen thuộc, một cái tên thân thương đã vĩnh viễn trôi tuột khỏi miền nhớ, để lại một nỗi ngơ ngác trẻ thơ, tội nghiệp trên gương mặt từng một thời đài các, rạng rỡ của người thiếu nữ Đà Lạt xưa.

Nhưng rồi, tiếng lách cách nhẹ nhàng của chiếc kẹp gắp bánh bằng tre già vang lên từ phía cửa bếp kéo bà trở lại.

Thầy Bách bước chầm chậm ra hiên nhà. Trên đôi tay trần của ông là chiếc đĩa gốm mộc tráng men tro lam cổ điển, bên trên đặt một ổ bánh cam vừa được lấy ra khỏi lò đất, hơi nóng còn bốc lên nghi ngút mang theo làn khói mỏng thơm lừng. Lớp vỏ bánh nở căng, vàng ươm sắc cánh gián óng ả, những sợi vỏ cam sành cháy sém thơm nồng quyện chặt vào lớp mật mía cô đặc keo lại thành một dải mỏng màu nâu hổ phách lấp lánh dưới nắng mai.

Thầy bước từng bước nhẹ nhàng đến bên chiếc xe lăn, khẽ quỳ một gối xuống sàn gỗ thông còn ẩm mát để hạ tầm mắt mình ngang bằng với ánh nhìn ngơ ngác, trống rỗng của vợ. Thầy không vội vã cất lời gọi tên bà, không hối thúc, chỉ nhẹ nhàng đưa chiếc đĩa gốm lại gần, để làn hơi ấm ngào ngạt của chiếc bánh cam thảo mộc lượn lờ quanh sống mũi và đôi gò má gầy guộc của bà.

Và rồi, một điều kỳ diệu giản đơn, thiêng liêng đã xảy ra ngay trước mắt Nhiên.

Hàng lông mày đang nhíu lại vì hoang mang của bà Mai từ từ giãn ra. Cánh mũi nhỏ khẽ phập phồng hít lấy từng làn hương quen thuộc đang lan tỏa trong không khí lạnh. Lớp sương mù đục mờ, vô hồn trong đáy mắt bà dường như tan biến đi trong một tích tắc ngắn ngủi, nhường chỗ cho một tia sáng ấm áp, rạng rỡ và thuần khiết đến nao lòng. Đôi môi khô nứt của bà khẽ cong lên, nở một nụ cười rạng rỡ, thanh thản như một đứa trẻ thơ vừa tìm thấy món đồ chơi thân thương nhất sau một giấc ngủ dài giữa một căn phòng xa lạ.

“Bánh... bánh cam...” Bà Mai mấp máy, giọng nói khàn khàn, ngập ngừng và đứt quãng nhưng ngập tràn một niềm hoan hỉ thuần khiết, không gợn một chút sợ hãi.

“Ừ, bánh cam của Mai đây,” thầy Bách mỉm cười, giọng ông trầm ấm, nghẹn ngào và dịu dàng đến mức khiến người nghe phải rơi nước mắt. Thầy cẩn thận dùng những ngón tay thô ráp, chai sần vì lửa lò khẽ bẻ một mẩu bánh nhỏ nơi phần ruột xốp mềm nhất, đưa lên sát miệng thổi nhè nhẹ từng hơi dài cho bớt đi cái nóng hầm hập của than củi rồi mới cẩn trọng đặt mẩu bánh vào lòng bàn tay run rẩy của vợ. “Bánh vừa chín tới đây này. Ngọt thanh và ấm lắm, Mai ăn đi kẻo nguội.”

Bà Mai đón lấy mẩu bánh nóng hổi, khẽ đưa lên miệng cắn một miếng nhỏ. Bà nhai thật chậm rãi, hai hàng mi khép hờ lại để đón nhận trọn vẹn hơi ấm và vị ngọt ngào thanh tao đang lan tỏa qua vòm họng, thấm sâu vào từng giác quan.

Không hề có một giọt nước mắt đau đớn nào rơi xuống, không có những cơn co giật hoảng loạn hay những ảo ảnh kinh hoàng của quá khứ như những trang nhật ký đẫm máu và nước mắt năm 2002 từng ghi lại. Bà Mai hoàn toàn không nhớ nổi tên người đàn ông tóc trắng như tuyết đang quỳ gối trước mặt mình, bà cũng chẳng nhớ nổi mình đang ngồi ở doi đất ven hồ Tuyền Lam hay góc phố nào của Đà Lạt, bà không biết hôm nay là thứ mấy hay năm nào của cuộc đời. Thế nhưng, qua hương vị ấm nồng của chiếc bánh cam thảo mộc, bà cảm nhận được trọn vẹn sự an toàn tuyệt đối, cảm nhận được hơi ấm che chở và tình yêu thương vô bờ bến đang bao bọc lấy mình giữa thế giới mông lung của sự lãng quên.

Thầy Bách đưa vạt tay áo sơ mi đũi bạc màu khẽ lau đi một vệt vụn bánh nhỏ vô tình vương bên khóe môi vợ. Đôi bàn tay người thợ già run rẩy khẽ khàng, ánh mắt ông nhìn bà chan chứa một nỗi xót xa vô tận của một kiếp người nhiều giông bão, nhưng sâu thẳm trong đáy mắt ấy là một sự chấp nhận bình thản, an nhiên đến lạ kỳ.

Nhiên rưng rưng nhận ra sự thật mà bà Phượng từng nói: chiếc bánh của thầy không thể chữa chứng suy giảm trí nhớ cho bà Mai, nhưng nó mang lại khoảnh khắc an yên quý giá giữa cuộc đời lãng quên.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má Nhiên, trượt qua cằm rồi rơi đánh tách xuống lớp vải thô của chiếc áo khoác dạ. Cổ họng cô nghẹn ứ lại, lồng ngực như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt trong một thứ cảm xúc hỗn mang – vừa đau đớn đến thấu tim gan, lại vừa nhẹ nhõm, thanh thản đến tột cùng.

Tất cả những dằn vặt xé lòng, những câu hỏi bế tắc đã giam cầm cô suốt bốn năm trời trong bóng tối mịt mùng của hẻm Hoa Đăng bỗng chốc vỡ òa thành trăm ngàn mảnh vụn. Cô từng tin vào những lời đồn thổi hoang đường, từng tin rằng hũ men cái gia truyền của mẹ Thu Hà là một thứ quyền năng siêu nhiên, một thứ phép màu mầu nhiệm có thể đảo ngược bánh xe thời gian, có thể chuộc lại những lỗi lầm sinh tử và hàn gắn mọi vết nứt đổ vỡ của quá khứ. Cô từng tự hành hạ bản thân mình trong gian bếp tối tăm không ánh mặt trời, nhồi bột trong nước mắt, cố công tạo ra những mẻ bánh ký ức cho những kẻ lạc loài giữa đêm khuya để tự ru ngủ chính mình, để trốn tránh một sự thật tàn nhẫn rằng mẹ cô đã ra đi mãi mãi và không bao giờ có thể quay trở lại.

Thế nhưng, đứng trước căn nhà gỗ nhỏ đơn sơ nép mình bên mép nước hồ Tuyền Lam này, nhìn mẩu bánh cam bốc khói nghi ngút trên bàn tay run rẩy của bà Mai, Nhiên mới thấu hiểu rốt ráo và trọn vẹn cái giới hạn thiêng liêng, nhân ái nhất của nghề làm bánh.

Chiếc bánh của thầy Bách không phải là thần dược của cõi tiên. Nó không thể đảo ngược quy luật sinh lão bệnh tử khắc nghiệt của tạo hóa; nó không thể sửa chữa những tế bào thần kinh đã thoái hóa, khô cằn trong bộ não của người vợ hiền; nó không thể khiến bà Mai bừng tỉnh nhớ lại ngày cưới ngập tràn hoa mimosa của mùa đông năm nào, cũng không thể trả lại cho người thợ già một người bạn đời minh mẫn để cùng trò chuyện, sẻ chia mỗi sớm mai thức giấc.

Nhưng chiếc bánh ấy đã làm được một điều kỳ diệu hơn bất kỳ phép màu nào trên cõi đời này: nó thắp lên một đốm than hồng ấm áp xua tan đi sự hoảng loạn, sợ hãi của bóng tối lãng quên; nó đem lại cho một tâm hồn đang lạc lối một khoảnh khắc bình yên tuyệt đối, một bến đỗ an toàn giữa một thế giới đang dần trở nên xa lạ, mờ mịt và lạnh lẽo.

Thầy Bách không hề trốn chạy. Thầy không phải là kẻ hèn nhát bỏ rơi tiệm bánh gia truyền của dòng họ hay ruồng rẫy đứa học trò nhỏ bơ vơ giữa giông bão. Thầy chỉ đang lặng lẽ gánh vác trách nhiệm lớn lao và thiêng liêng nhất của cuộc đời mình – dùng toàn bộ phần đời còn lại, dùng từng mẩu than củi thông nhặt nhạnh trong rừng, từng giọt mật mía và từng nhánh cỏ thơm để gìn giữ sự bình yên mong manh cho người phụ nữ mà thầy yêu thương nhất trần đời.

Chiếc lò nướng đất nung nhỏ bé chỉ chứa vừa đúng hai ổ bánh mỗi sáng chính là ranh giới đạo đức cao nhất của một người thợ chân chính: không tham lam sự tán tụng của thế gian, không phô trương quyền năng ảo ảnh, không cưỡng cầu những điều vượt quá giới hạn mong manh của một kiếp người. Bánh làm ra là để nuôi dưỡng hiện tại, để mang lại sự ủi an cho sự sống đang hiện hữu, đúng như lời trăn trối bằng nét mực tím nhạt mà mẹ Thu Hà đã để lại phía sau tấm ảnh đen trắng năm nào: *“Bánh mì nuôi dưỡng sự sống của hiện tại, không phải để níu kéo bóng ma của hôm qua.”*

Thịnh khẽ bước lại gần bên cạnh cô. Bàn tay to bản, ấm áp của anh nhẹ nhàng đặt lên bờ vai đang run rẩy của Nhiên, những ngón tay siết nhẹ qua lớp áo khoác dạ như muốn truyền sang cho cô toàn bộ nguồn dũng khí vô biên, giúp cô bước qua ranh giới cuối cùng của sự ngập ngừng và sợ hãi.

“Vào đi em,” Thịnh thì thầm bên tai cô, giọng anh trầm xuống, khẽ nghẹn lại vì xúc động trước khung cảnh trước mắt. “Thầy đang ở kia rồi. Đừng đứng ngoài này nữa.”

Mè bật nhảy khỏi giỏ xe lao thoăn thoắt qua khe rào gỗ, chạy thẳng vào hiên nhà và quấn quýt cọ đầu vào đôi ủng sờn rách của Bách; người thợ làm bánh già giật mình nhìn xuống con mèo cũ rồi sững sờ ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt đầy nước của Nhiên đang đứng bên hiên.

Chú mèo dường như không thể kiên nhẫn chờ đợi thêm một giây phút nào nữa. Bằng một cú bật nhảy nhẹ tênh và chuẩn xác, Mè phóng vọt ra khỏi chiếc giỏ mây trên ghi-đông xe máy, bốn bàn chân đệm thịt êm ái đáp xuống lớp sỏi trắng mà không phát ra một tiếng động nhỏ. Chiếc đuôi đen dài cong vút ngoe nguẩy đắc thắng, đôi mắt ngọc bích lóe lên sắc xanh rực rỡ dưới ánh nắng mai, nó lao thoăn thoắt qua khe hở của bờ rào dâm bụt, lướt đi như một vệt bóng đen mềm mại qua thảm cỏ non rực rỡ hoa xuyến chi dại.

Nó không hề ngập ngừng, không hề có chút xa lạ, chạy thẳng một mạch qua khoảng sân sỏi, phóng vọt lên những bậc thang bằng gỗ thông dẫn thẳng vào hiên nhà.

“Mè...” Nhiên khẽ thốt lên một tiếng nghẹn ngào trong cuống họng, bàn tay vô thức vươn ra về phía trước nhưng không kịp giữ nó lại.

Tại mép hiên nhà ngập nắng, thầy Bách vừa đứng thẳng dậy, định đưa tay đón lấy chiếc đĩa gốm mộc trên tay vợ để mang vào bếp thì bỗng nhiên cảm thấy một sự cọ xát mềm mại, ấm áp và quen thuộc vô cùng nơi cổ chân mình. Chú mèo đen tuyền quấn quýt, uốn lượn thân mình trườn qua trườn lại quanh đôi ủng cao su màu rêu sờn rách, lấm lem đất đỏ của người thợ già.

Mè ngửa đầu ra sau, cất lên một tiếng kêu “meo” thật dài, thật trong trẻo và nũng nịu như ngày nó còn thơ bé, rồi kiễng hai chân sau lên, tì hai bàn chân trước phủ lông đen mượt lên ống quần đũi bạc màu của Bách. Chiếc mũi hồng hào ươn ướt của nó hếch lên, dụi thật mạnh, thật dứt khoát vào lòng bàn tay gầy gò còn dính đầy bột mì trắng của ông.

Cả cơ thể thầy Bách cứng đờ lại như một pho tượng đá giữa hiên nhà.

Chiếc kẹp bánh bằng tre già trên tay ông tuột khỏi những ngón tay run rẩy, rơi đánh “cạch” một tiếng khô khốc xuống mặt sàn gỗ thông. Người đàn ông tóc trắng như cước run lên bần bật, chầm chậm cúi đầu xuống nhìn. Đôi mắt già nua mờ đục vì khói lò và năm tháng mở to hết cỡ, nhìn chằm chằm vào đốm lông trắng muốt hình tam giác nhỏ xíu nằm ẩn sâu dưới lớp lông đen dày nơi cằm con mèo – một dấu vết kỳ lạ mà ngoài ông ra, chỉ có người từng tự tay bón từng thìa sữa nuôi nấng nó từ khi nó còn đỏ hỏn, chưa mở mắt mới có thể biết được.

“Mè...?” Thầy Bách thì thầm, giọng ông vỡ vụn ra trong lồng ngực gầy guộc, run rẩy như không dám tin vào tai, vào mắt mình nữa. “Mè... thật sự là mày sao con?”

Con mèo đen lại rù rù những tiếng gừ gừ trầm ấm, mãn nguyện sâu trong lồng ngực, chiếc đuôi dài cọ ngoằn ngoèo vào ống chân ông như một lời xác tín không lời: thời gian có thể vần xoay, vạn vật có thể đổi thay và lãng quên, nhưng mùi hương bột mì trên đôi bàn tay của người thợ làm bánh đầu tiên nuôi dưỡng nó thì vĩnh viễn không bao giờ phai nhạt trong ký ức của loài vật trung thành này.

Và rồi, như một linh tính mách bảo từ sâu thẳm tâm linh, thầy Bách từ từ ngẩng đầu lên.

Ánh mắt người thầy già vượt qua giàn hoa giấy tím biếc đang đung đưa trong gió hồ, vượt qua làn khói thông xanh lam mỏng manh đang lãng đãng là đà nơi hiên vắng, vượt qua khoảng sân sỏi trắng lấp lánh nắng mai, rồi dừng lại trọn vẹn ngay trước cánh cổng rào dâm bụt.

Ở nơi đó, đứng sừng sững dưới ánh nắng ban mai rực rỡ và tinh khôi của thung lũng Tuyền Lam, Nhiên đang đứng lặng đi như hóa đá. Hai hàng nước mắt nóng hổi lăn dài không dứt trên đôi gò má ửng hồng vì gió lạnh cao nguyên. Chiếc ba lô vải bạt thô chứa hũ men cái của mẹ Thu Hà vẫn được cô ôm chặt trước ngực như một báu vật thiêng liêng nhất của cuộc đời. Đôi môi cô run rẩy bần bật, nhưng ánh mắt trong veo nhìn thẳng vào người thầy cũ đã hoàn toàn gột rửa sạch sẽ hết những oán hận, cay đắng, sợ hãi và mặc cảm tội lỗi của ngày hôm qua.

Đứng ngay bên cạnh cô, Thịnh khẽ mỉm cười, một nụ cười ấm áp, bao dung và kiên định của người bạn đồng hành tin cậy đã cùng cô đi qua những dặm dài tăm tối nhất.

Bốn năm trời đằng đẵng trôi qua trong bóng tối quạnh quẽ của hẻm Hoa Đăng, bốn năm của những bức thư tay viết trong nước mắt chưa từng một lần được hồi đáp, bốn năm của những câu hỏi đau đáu bị vùi sâu dưới đáy hũ men lạnh ngắt... tất cả những cay đắng, dằn vặt và cách trở của tháng năm bỗng chốc cô đọng lại, tan biến hoàn toàn trong khoảnh khắc hai ánh mắt giao nhau giữa khoảng sân ngập tràn nắng ấm.

Thầy Bách sững sờ, bờ môi khô nứt run rẩy mấp máy liên hồi nhưng nghẹn ngào không thể thốt nên lời. Gương mặt già nua, khắc khổ của ông co thắt lại trong nỗi bàng hoàng tột độ, rồi rất nhanh chóng vỡ òa thành một vẻ xót xa, thương cảm và biết ơn khôn cùng. Ông buông thõng hai cánh tay gầy guộc xuống hai bên sườn, đôi vai gầy khẽ rung lên theo từng nhịp thở dồn dập.

Bột mì trắng còn vương trên vạt áo người thầy già, rớt xuống nền đất ẩm như từng mảnh vỡ thời gian vừa kịp ráp lại.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn