Ngọn lửa trong hũ men
Gió lạnh từ đáy thung lũng sâu hoắm phía sau rặng thông già rít lên từng hồi buốt nhức, luồn qua những khe hẹp của hàng rào dâm bụt ướt sũng rồi quất xéo vào cánh cửa sắt kéo của tiệm tạp hóa Vạn Hảo nơi đầu hẻm. Mùi xà phòng bột giặt ngai ngái bốc lên từ những chiếc bao tải xếp chồng trước mái hiên, quyện chặt lấy hơi ẩm của đất đỏ và mùi khói dầu hỏa tù hãm giữa đêm khuya.
Màn đêm ở hẻm Hoa Đăng lúc này tựa như một tấm vải liệm dày vừa bị rạch toạc bởi một nhát dao sắc lẹm, để lộ ra những mảng tối sẫm màu chứa đầy bí mật đã bị nén chặt, mục ruỗng suốt nhiều năm tháng. Tiếng bước chân của Thịnh cùng tiếng lạo xạo của đế giày da nện trên sỏi dốc xa dần ngoài đầu dốc lớn, sau khi chiếc taxi chở vợ chồng ông Tâm lăn bánh chầm chậm rồi chìm nghỉm vào màn sương đục ngầu của phố núi. Nhưng Nhiên không hề quay gót trở lại gian bếp của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm.
Đôi chân cô như bị đóng đinh trên mặt đường nhựa lồi lõm những vũng nước mưa đọng quánh bồ hóng. Một luồng xung lực vô hình trào dâng từ lồng ngực, nóng rẫy và nghẹn ứ, xô đẩy toàn bộ các giác quan của cô, thúc giục cô lao vút qua bên kia con dốc thoai thoải.
Cánh cửa xếp bằng sắt tây sơn màu xanh bộ đội của tiệm tạp hóa Vạn Hảo vừa mới sập xuống cách đây chưa đầy một phút. Tiếng then cài kim loại bên trong đã tra vội vào ổ với một tiếng *keng* khô khốc, sắc lạnh, một âm thanh vội vã, cuống cuồng như muốn đoạn tuyệt ngay tức khắc với toàn bộ thế giới đầy rẫy bất trắc bên ngoài. Nhưng những chấn song sắt han rỉ và những thanh la đan chéo mắt cáo không thể nào che giấu nổi thứ ánh sáng vàng bợt bạt, đùng đục le lói từ ngọn đèn tròn treo lơ lửng giữa trần nhà bằng cót ép. Và càng không thể che giấu được tiếng thở dốc hỗn hển, ngắt quãng đầy sợ hãi đang dội lại sau tấm liếp tre ngăn cách gian ngoài với chỗ ngủ.
Nhiên bước thẳng lên ba bậc thềm xi măng mòn vẹt mép, nơi rêu xanh đã bám thành từng mảng trơn trượt. Bàn tay phải của cô, nơi vết sẹo bỏng do mẻ bánh hoa cúc năm xưa vẫn còn hằn lên sắc đỏ tím chưa bao giờ phai nhạt, siết chặt lấy chấn song sắt lạnh buốt như băng tuyết. Cô giật mạnh khung cửa một cái thật dữ dội.
*Rầm! Rầm!*
Tiếng kim loại va đập vào gờ tường gạch ầm ĩ, chấn động cả một góc hẻm, xé toạc sự tĩnh mịch cô đặc của con dốc lúc ba giờ sáng.
"Cô Hảo! Mở cửa ra cho cháu!"
Bên trong gian nhà hoàn toàn im bặt. Nhưng sự im lặng đó không phải là sự vắng lặng của giấc ngủ, mà là sự nín thở đầy phòng vệ. Ngay sau đó là tiếng sột soạt gấp gáp của bao bì nilon, tiếng dép lê lẹt xẹt trên nền gạch tàu, như thể người ở bên trong đang cuống cuồng dọn dẹp, tìm chỗ lẩn trốn hoặc cố nhét một thứ gì đó vương vãi trên mặt bàn vào góc khuất.
"Cô Hảo, cháu biết rõ mười mươi cô đang đứng nép ngay sau cánh cửa này."
Giọng Nhiên không hề gắt gỏng thô bạo, nhưng nó lạnh buốt, đanh lại như sương muối rơi trên mái tôn, từng từ từng chữ rành rẽ găm vào vách sắt:
"Bà Sương vừa nhắc đến người phụ nữ tên Mai. Người đàn bà trong ký ức của một kẻ mất đi phân nửa hồn phách vì tai nạn. Và khi bà ấy vừa gọi cái tên đó lên, chính cô đã đứng nép sau tấm bạt che mì gói bên hông tiệm mà rình rập, mặt cô cắt không còn một giọt máu. Cháu đã thấy hết. Cháu đã nhìn thấy mẩu giấy báo cũ gói mẻ men có mộc đỏ của Cà phê Ban Mai nằm dưới đáy giỏ quýt mà cô cố tình mang sang cho cháu. Cháu biết rõ những bao bột mì T-W-65 mộc cối đá cô gửi định kỳ vào ngày mùng năm hằng tháng ra bến xe liên tỉnh cho một người nhận tên Đ.P... Cô đừng trốn tránh trong bóng tối nữa. Hãy mở cửa ra nói rõ cho cháu biết: Người phụ nữ tên Mai đó rốt cuộc là ai? Và thầy Bách... thầy của cháu hiện giờ đang ở đâu?!"
Mỗi câu nói của Nhiên như một nhát búa nện thẳng vào lớp tôn mỏng manh của gian hàng tạp hóa tồi tàn. Không gian xung quanh chùng xuống đến nghẹt thở, chỉ còn nghe tiếng gió từ thung lũng xa thốc ngược lên sườn đồi, quất từng luồng buốt giá qua những kẽ lá mimosa đẫm sương đêm bên vệ đường, làm rụng xuống những cánh hoa vàng úa tả tơi.
Sau gần nửa phút im lặng kéo dài như cả một thế kỷ trĩu nặng, tiếng bước chân chầm chậm, nặng nề và run rẩy vang lên từ bên trong lớp liếp nứa. Một tiếng cạch khẽ khàng phát ra khi then chốt sắt phía dưới chân cửa được kéo sang một bên.
Cánh cửa sắt kéo rít lên một vệt dài chói tai, nhức óc, rồi hé mở ra một khoảng trống chỉ vừa đủ một thân người nhìn lọt.
Cô Hảo đứng sững ở đó. Dưới ánh sáng vàng vọt, bợt bạt của ngọn đèn tròn hai mươi lăm oát treo tòng teng trên trần nhà, gương mặt của người phụ nữ bán tạp hóa vốn dĩ tròn trịa, phốp pháp, lúc nào cũng sẵn sàng toe toét những nụ cười đãi bôi buôn chuyện đầu hẻm, nay xám ngoét lại như tro tàn dưới đáy bếp lò. Khóe môi cô giật giật từng chập không tự chủ được, nơi đuôi mắt chằng chịt những nếp nhăn của sự kinh hoàng, mệt mỏi và một nỗi bất lực cùng cực. Cô vẫn mặc nguyên chiếc áo khoác chần bông màu tím than xộc xệch, hai bàn tay thô ráp, gầy guộc bấu chặt lấy gờ cửa sắt, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì ghìm giữ quá nhiều áp lực.
"Nhiên... con... sao nửa đêm nửa hôm mày lại chạy sang đây làm ầm ĩ lên thế hả con?" Giọng cô Hảo the thé, đè nén xuống hết mức có thể vì sợ hàng xóm xung quanh thức giấc, nhưng trong âm sắc ấy lại không nén nổi sự hoảng loạn tột cùng đang cuộn trào. "Về tiệm đi con. Về đóng cửa lại mà nghỉ ngơi. Chuyện của người lớn... chuyện xưa cũ từ ba mươi năm trước rồi, có gì tốt đẹp hay ho đâu mà mày cứ phải cố bới tung lên làm gì cho khổ thân hả Nhiên?"
"Cháu không về!"
Nhiên bước dấn thêm một bước lên bậc thềm xi măng, chèn thẳng nửa thân mình vào khe cửa sắt hé mở, không cho người đàn bà có cơ hội sập cửa lại. Ánh mắt cô quắc lên một ngọn lửa kiên quyết, hoang dại và rực cháy, một thứ ánh sáng chưa từng bao giờ xuất hiện trên gương mặt nhẫn nại, trầm mặc và cam chịu của cô gái làm bánh suốt bốn năm qua.
"Người phụ nữ tên Mai trong ký ức của bà Sương... người từng ở chung trong căn nhà kính trên đồi Mimosa với mẹ cháu và thầy Bách ba mươi năm về trước... rốt cuộc là ai đối với căn nhà này? Tại sao suốt bốn năm qua, ngày nào gặp cháu cô cũng luôn miệng thở dài bảo rằng thầy Bách đã bỏ đi biệt xứ vì quá đau đớn, vì căm ghét sự vụng dại của cháu dẫn đến cái chết của mẹ Hà? Nhưng tại sao cứ đều đặn ngày mùng năm mỗi tháng, cô lại lén lút kéo chiếc xe cút kít chở mười lăm cân bột mì cối đá nguyên cám ra bến xe gửi đi? Cả cái xứ sương mù này, ngoài thầy Bách ra, còn có người thợ làm bánh nào cố chấp dùng đúng loại bột mộc xay đá ấy để nuôi men cái nữa hả cô?!"
"Nhiên... con khẽ cái mồm thôi... tao lạy mày..."
Cô Hảo thụt lùi lại nửa bước, ánh mắt thất thần đảo lia lịa ra ngoài con dốc vắng tanh, nơi bóng tối và sương mù đang cuộn tròn như những bóng ma rình rập bên rìa ánh sáng.
"Tao... tao có biết gì đâu... Bột mì là người ta gửi tiền mua thì tao nhận hàng của mối xe tải rồi chuyển giùm thôi chứ tao biết cái gì..."
"Cô vẫn còn dối trá!"
Hai từ ấy thốt ra từ lồng ngực Nhiên như một tiếng sét xé toạc gian phòng ngột ngạt. Bàn tay cô siết chặt lấy chấn song sắt đến mức các khớp ngón tay kêu răng rắc dưới áp lực đè nén. Cơn giận dữ, nỗi uất nghẹn và sự cay đắng dồn ứ từ tận đáy sâu tâm can suốt một nghìn bốn trăm ngày đêm qua bỗng chốc tìm thấy một miệng núi lửa để phun trào, thiêu rụi toàn bộ lớp vỏ bọc điềm tĩnh thường ngày:
"Chính mắt cháu đã nhìn thấy cuốn sổ giao nhận ghi bằng mực tím nhòe nhoẹt kẹp dưới gầm cân đĩa của cô! Dòng chữ 'Đ.P - chuyển tiếp' nhận hàng tại Ki-ốt số bốn ở bến xe liên tỉnh! Cháu cũng từng tận mắt thấy cô lén lút buông tấm rèm vải hoa xuống, run rẩy bấm chiếc điện thoại bàn gọi báo động cho ai đó ngay khi cháu vừa cất tiếng hỏi thăm về quán Cà phê Ban Mai! Cô đang cố tình bảo vệ ai? Cô lừa dối cháu, cô dựng lên bức màn kịch đó suốt bốn năm qua là để che đậy cho điều gì? Có phải mẹ cháu chết... vốn dĩ không đơn thuần chỉ là một vụ tai nạn xe mất phanh trên đèo như người ta nói? Có phải sự biến mất của thầy Bách là vì một âm mưu, một tội lỗi nào đó mà tất cả những người lớn các người đều hùa nhau giấu giếm, bịt mắt một mình cháu?!"
Bị dồn vào chân tường bởi những chứng cứ đanh thép, trần trụi và luồng ánh mắt bỏng rát như muốn thấu suốt tâm can của Nhiên, người đàn bà bán tạp hóa như sụp đổ hoàn toàn. Đôi vai gầy cộm dưới lớp áo chần bông của cô Hảo run lên bần bật như một bức tường vôi mục nát vừa gặp phải một cơn địa chấn. Cô không thể chối quanh được nữa. Tất cả những lý lẽ vụng về, những lời thoái thác giả lả thường ngày tan biến sạch, chỉ còn trơ lại một nỗi sợ hãi cùng cực biến thành sự tuyệt vọng cay đắng.
Cô Hảo buông lỏng hai cánh tay đang nắm giữ chốt cửa, cả người chùng xuống. Một tiếng thở hắt ra từ lồng ngực bà nghe nặng nề và đau đớn như tiếng rên xiết của một kẻ vừa phải hạ xuống một gánh đá tảng đã đè nghiến lấy tấm lưng còng suốt nửa đời người. Cô kéo rộng cánh cửa sắt ra thêm một đoạn, nép thân mình sang một bên lối đi hẹp, giọng nghẹn lại, run rẩy như sắp khóc:
"Vào đi con... Mày vào nhà đi rồi kéo cửa lại giùm tao. Đừng đứng ngoài đường mà la lối giữa đêm hôm thế này nữa... Tao lạy mày, Nhiên ơi."
Nhiên bước qua bậc cửa, bước vào không gian chật chội, tù túng của gian hàng tạp hóa. Mùi bìa carton ẩm mốc bốc lên nồng nặc, quyện với mùi xà phòng giặt rẻ tiền, mùi dầu hỏa thắp đèn liu riu nơi bàn thờ thổ địa và mùi của những bao tải cá khô góc nhà khiến bầu không khí đặc quánh lại, làm lồng ngực cô nghẹt cứng.
Cô Hảo lập tức với tay kéo sập cánh cửa sắt lại, cài then cẩn thận rồi giật buông tấm rèm vải hoa đã bạc màu, ố vàng loang lổ để ngăn cách hoàn toàn tầm nhìn từ mặt đường dốc. Xong xuôi, người đàn bà như kiệt sức, loạng choạng bước từng bước nặng nề đến chiếc bàn gỗ gụ đặt chiếc cân đĩa đồng đã xỉn màu.
Chiếc ngăn kéo bàn cân kẽo kẹt mở ra sau một cú giật mạnh. Từ bên trong đống giấy lộn và sổ sách ghi nợ nhàu nát, cô Hảo run rẩy rút ra một chiếc hộp sắt đựng bánh quy cũ kỹ, bốn góc đã rỉ sét bong tróc từng mảng sơn đỏ. Bàn tay người đàn bà lớn tuổi run rẩy dữ dội đến mức khi cố cạy nắp hộp, chiếc nắp sắt mỏng rơi tuột khỏi tay, đập xuống mặt bàn kính phát ra một tiếng *coong* chát chúa, ngân dài trong gian phòng ngột ngạt.
Bên trong chiếc hộp sắt hoen gỉ ấy tuyệt nhiên không có tiền bạc hay vàng vòng tích cóp.
Nằm ngay ngắn bên dưới đáy hộp là một xấp biên lai gửi hàng viết tay bằng giấy than của bến xe liên tỉnh, mép giấy quăn queo, ố vàng theo năm tháng, xếp chồng lên nhau từ bốn năm trước cho đến tận tháng trước. Và nằm đè lên xấp biên lai là vài phong bì thư bằng giấy xi măng thô ráp không hề dán tem bưu điện, mép bì thư đã ngả sang màu nâu sẫm vì ngấm hơi ẩm của sương mù cao nguyên.
"Mày nói đúng hết rồi..."
Cô Hảo ôm lấy mặt, hai dòng nước mắt đùng đục từ từ rỉ ra từ khóe mắt chằng chịt những nếp chân chim sâu hoắm.
"Chính tao là người gửi bột. Tháng nào tao cũng nhận bao bột mười lăm ký T-W-65 mộc cối đá từ chuyến xe tải dưới đồng bằng lên, rồi tao kéo ra Ki-ốt số bốn bến xe để gửi tiếp cho bà Phượng... Bà Đỗ Phượng bên quán Cà phê Ban Mai. Rồi từ cái quán cà phê đó, bà Phượng sẽ tìm cách chuyển ngược hàng vào sâu trong rừng cho thầy Bách của mày..."
Dù từng câu từng chữ ấy là điều mà Nhiên đã mường tượng, đã xâu chuỗi suốt những đêm trắng vừa qua, nhưng khi nó được thốt ra rành rọt từ chính miệng người đàn bà hàng xóm, trái tim Nhiên vẫn thắt lại dữ dội. Lồng ngực cô nhói buốt như bị ai dùng kìm sắt bóp nghẹt, đầu óc cô chao đảo, choáng váng như vừa trúng phải một cú giáng trời giáng từ cõi mộng.
"Thầy... Thầy Bách chưa từng bao giờ rời khỏi Đà Lạt sao cô?"
Nhiên thốt lên từng tiếng thì thào, giọng cô khô khốc, cổ họng nghẹn đắng như vừa nuốt phải một ngụm tro tàn.
"Thầy mày chưa từng đi đâu xa cả, con ơi."
Cô Hảo gật đầu trong nỗi cay đắng bẽ bàng, bàn tay thô ráp đập bồm bộp lên mặt bàn gỗ như để xua tan đi sự dằn vặt đang cào xé lương tâm.
"Bốn năm trước... sau cái đêm giông bão định mệnh ấy... sau khi đám tang của mẹ Hà mày xong xuôi, mộ phần còn chưa kịp xanh cỏ, thầy Bách gom hết đồ đạc, dắt con mèo Mè rồi lặng lẽ rời khỏi tiệm bánh Lúc Nửa Đêm. Ai nhìn vào cũng tưởng ổng bỏ đi biệt xứ vì đau đớn, ổng trốn chạy vì không chịu nổi cú sốc mất người thợ phụ tri kỷ. Nhưng ổng đâu có bỏ đi Sài Gòn, ổng cũng chẳng về quê quán nào dưới xuôi hết! Ổng đưa bà Mai... người phụ nữ tên Mai mà ban nãy bà Sương vừa buột miệng nhắc tới trong cơn lú lẫn đó... vào trốn sâu trong một căn nhà gỗ nhỏ ven hồ Tuyền Lam."
"Tại sao?"
Nhiên bước dấn tới một bước nữa, hai mắt cô đỏ hoe, những tia máu li ti giăng kín tròng mắt.
"Tại sao thầy lại phải trốn chui trốn lủi như một kẻ tội đồ? Tại sao thầy lại nhẫn tâm vứt bỏ cháu lại một mình giữa căn nhà trống hoác, bắt cháu phải gánh vác cái tiệm bánh quái quỷ ấy cùng với hũ men cái giữa đêm hôm khuya khoắt suốt bốn năm ròng rã? Cô có biết cháu đã sống như thế nào không?! Cháu đã sống như một cái bóng ma vật vờ giữa nhân gian! Bốn năm qua, đêm nào cháu cũng giam mình trong căn bếp từ không giờ đến ba giờ sáng, đêm nào cháu cũng dằn vặt, cũng tự đày đọa bản thân mình trong mặc cảm tội lỗi! Cháu nghĩ rằng chính vì một câu nói vòi vĩnh đòi ăn bánh hoa cúc của cháu trong đêm mưa bão mà mẹ cháu mới phải lái xe ra ngoài rồi lao xuống vực sâu đèo Prenn! Cháu nghĩ thầy căm ghét cháu, thầy ghê tởm đứa con gái độc ác này nên mới vứt áo ra đi không một lời từ biệt! Vậy mà... vậy mà cô biết hết... Các người biết hết mọi chuyện, các người âm thầm tiếp tế cho nhau, rồi các người đứng nhìn cháu phát điên trong nỗi cô độc và dằn vặt suốt từng ấy năm trời?!"
Nước mắt Nhiên trào ra giàn giụa, lăn dài trên đôi gò má buốt lạnh, nóng hổi và mặn chát. Nỗi uất ức bị dồn nén qua hàng nghìn đêm đen câm lặng bỗng chốc vỡ òa thành những lời gào thét nghẹn ngào, cay đắng đến xé lòng.
"Không phải như thế! Trời ơi Nhiên ơi, sự thật không phải như mày đang nghĩ đâu con!"
Cô Hảo hoảng hốt nhào tới, hai bàn tay run rẩy chụp lấy cánh tay áo len đẫm hơi sương của Nhiên, nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt nhăn nheo.
"Thầy Bách thương mày như con ruột! Cả đời ổng coi mày như hòn ngọc trên tay, làm sao ổng có thể căm hận hay ghê tởm mày được hả con! Chính ổng đã dặn tao... cái đêm trước khi rời đi, ổng đã quỳ sụp xuống nền đất van xin tao với bà Phượng phải sống để dạ chết mang theo, tuyệt đối không bao giờ được để cho mày biết tung tích của ổng, không bao giờ được để mày tìm ra nơi ổng đang ở!"
"Bảo vệ cháu sao?"
Nhiên bật cười gằn, một nụ cười méo mó, lạnh lẽo chứa đầy sự khinh miệt và xót xa đến rợn người.
"Dối trá cháu, biến cháu thành một đứa mù lòa suốt bốn năm trời ròng rã mà các người gọi đó là bảo vệ sao?!"
"Mày có biết người đàn bà tên Mai đó rốt cuộc là ai đối với thầy Bách không?"
Cô Hảo gạt vội giọt nước mắt lăn trên cằm, giọng bà lạc đi, run rẩy bộc bạch từng khúc ruột gan đã chôn chặt suốt mấy mươi năm:
"Bà Mai chính là vợ của thầy Bách mày! Là người vợ danh chính ngôn thuận mà ổng đã cưới hỏi đàng hoàng từ cái thời hai người còn là thanh niên trai trẻ dưới đồng bằng! Nhưng cái số kiếp bà ấy sao mà nghiệt ngã, khổ ải... Cách đây ba mươi năm, khi hai người dắt díu nhau lên cái xứ đồi thông này lập nghiệp, bà ấy mắc phải một chứng bệnh lạ lùng quái ác... Cái đầu óc bà ấy cứ teo dần đi, ban đầu là hay quên trước quên sau, rồi dần dà mất trí nhớ hoàn toàn, lúc tỉnh thì ít mà lúc mê muội thì nhiều, ngơ ngác, khờ khạo như một đứa con nít lên ba! Năm xưa, khi còn ở chung trong căn nhà kính trên đồi Mimosa ấy, chính mẹ Hà của mày là người đã cùng thầy Bách ngày đêm chăm sóc, tắm rửa, đút từng thìa cháo, giặt từng tấm áo cho bà Mai. Mẹ mày thương bà ấy như chị em ruột thịt trong nhà, phụ thầy Bách lặn lội khắp các cánh rừng tìm các loại thảo mộc, nghiên cứu men bánh tự nhiên để làm ra những mẻ bánh có hương vị êm dịu nhất, mong xoa dịu những cơn co giật thần kinh dữ dội cho bà ấy..."
Nhiên lùi lại nửa bước. Lưng cô va mạnh vào mép chiếc tủ kính ọp ẹp chứa những gói thuốc lá và bánh kẹo phủ đầy bụi. Cả gian phòng như nghiêng ngả, chao đảo dữ dội trước mắt cô.
"Vợ của thầy..." Nhiên thì thào, từng thanh âm như nghẽn lại nơi cuống họng.
"Phải! Là người vợ tào khang của ổng!"
Cô Hảo nấc lên một tiếng nghẹn ngào, bàn tay nắm chặt lấy vạt áo chần bông:
"Cái đêm giông bão bốn năm về trước... mẹ Hà mày lái chiếc xe bán tải cũ chạy ra ngoài trong đêm mưa gió tầm tã không phải chỉ vì một câu nói vòi ăn bánh hoa cúc của mày đâu con ơi! Chiều hôm đó bà Mai lên cơn co giật dữ dội, sốt mê man rồi tím tái cả người ở trạm xá dưới chân đèo. Mẹ Hà mày nghe tin báo từ người ta, ruột gan như lửa đốt, mới vội vã lấy xe lao đi trong đêm mưa bão để kịp lấy ống thuốc đặc trị và mẻ men thảo mộc sấy khô mang về cấp cứu cho bà ấy... rồi mới chẳng may gặp tai nạn, trượt bánh xe rơi xuống vực sâu trên khúc cua đèo Prenn! Khi nghe tin dữ, khi người ta kéo thi thể mẹ mày lên khỏi vực thẳm, thầy Bách của mày sụp đổ hoàn toàn. Ổng quỳ mọp bên thi thể mẹ mày giữa nhà xác bệnh viện, ổng tự đấm thùm thụp vào ngực mình mà gào khóc thảm thiết. Ổng gào lên rằng chính sự tồn tại của vợ chồng ổng, chính cái căn bệnh quái ác vô phương cứu chữa của bà Mai đã gián tiếp cướp đi mạng sống của mẹ Hà mày!"
Cô Hảo bước thêm một bước, run rẩy nắm lấy bàn tay lạnh ngắt, cứng đờ của Nhiên, giọng van lơn tha thiết:
"Thầy Bách đã nói với tao trong nước mắt: 'Cái chết của cô Hà là món nợ máu thịt mà cả cuộc đời này tôi có đập đầu xuống đất cũng không bao giờ trả hết được cho con bé Nhiên. Nếu tôi tiếp tục trơ tráo ở lại tiệm bánh này, con bé ngày ngày nhìn thấy mặt tôi, nhìn thấy hình bóng của bà Mai điên dại, nó sẽ bị giam cầm cả đời trong sự dằn vặt khôn nguôi. Nó sẽ tự trách mình, hoặc tệ hơn, nó sẽ căm thù chúng tôi đến tận xương tủy.' Thầy mày sợ mày không gánh nổi sự thật quá đỗi tàn khốc ấy! Ổng sợ một đứa con gái mới mười chín tuổi đầu như mày khi biết mẹ mình chết vì đi cứu vợ của thầy thì tâm trí mày sẽ vỡ vụn ra thành trăm mảnh! Cho nên ổng mới chọn cách ôm lấy người vợ tàn tật dại khờ của mình rút sâu vào bờ rừng heo hút ven hồ Tuyền Lam, tự giam lỏng phần đời còn lại trong bóng tối cô quạnh, để lại tiệm bánh và hũ men cái gia truyền cho mày kế nghiệp! Ổng dặn tao mỗi tháng phải gửi bột mộc cối đá ra bến xe, là để ổng nuôi men nướng bánh mỗi sớm cho bà Mai ăn, để bà ấy ngửi mùi bánh quen thuộc mà không quên mất gương mặt của người chồng già... Thầy mày làm tất cả những điều khổ ải đó là để bảo bọc cho mày, để mày được sống thanh thản mà tiếp tục làm bánh, con có hiểu không hả Nhiên?!"
Từng lời, từng lời phân trần của cô Hảo như một trận bão tuyết buốt giá quất thẳng vào da thịt, xuyên thấu vào từng ngóc ngách sâu kín nhất trong tâm can Nhiên. Không gian chật chội, ngột ngạt của tiệm tạp hóa bỗng chốc trở nên trống rỗng đến rợn ngợp, một sự trống rỗng lạnh lẽo, buốt giá đến tận cùng tủy xương.
Bảo bọc ư?
Nhiên nhìn trân trối vào người đàn bà lớn tuổi đang run rẩy khóc lóc trước mặt mình. Ánh mắt cô trượt xuống những chiếc phong bì xi măng không dám dán tem nằm trơ trọi trên mặt bàn cân, rồi nhìn vào những tờ biên lai gửi hàng nhuốm màu dối trá suốt bốn năm ròng.
Một cảm giác chua chát, bẽ bàng và cay đắng tột cùng trào dâng từ đáy dạ dày, bóp nghẹt lấy thanh quản của cô.
Họ gọi đó là sự bảo bọc? Bảo bọc bằng cách biến cô thành một kẻ mù lòa, một con rối bị giật dây trong một vở kịch bi tráng được dàn dựng công phu? Bảo bọc bằng cách để mặc một đứa con gái mới lớn phải chôn vùi toàn bộ những năm tháng thanh xuân rực rỡ nhất trong gian bếp ẩm thấp, tối tăm giữa đêm khuya khoắt?
Suốt một nghìn bốn trăm ngày đêm, cô không dám bước chân ra ngoài ánh sáng mặt trời của phố núi, không dám kết giao bè bạn, không dám mở lòng đón nhận sự quan tâm của bất kỳ ai, tự biến mình thành một bóng ma cô độc chỉ biết làm bạn với bột mì và lò nướng. Cô đã tự trừng phạt bản thân bằng những đêm thức trắng nhào bột trong nước mắt, tự hành hạ tâm can mình bằng nỗi ân hận rằng chính sự ích kỷ của bản thân đã giết chết mẹ mình...
Tất cả những đọa đày địa ngục ấy, hóa ra chỉ là sản phẩm của một lời nói dối nhân danh "yêu thương và che chở" hay sao?!
"Bảo bọc..."
Khóe môi Nhiên run lên bần bật, rồi bật ra một tiếng cười khẽ. Đó là một nụ cười méo mó, lạnh buốt, một thứ thanh âm thê lương, ai oán đến mức khiến người đối diện phải lạnh gáy rùng mình:
"Các người nhân danh sự bảo bọc... để biến cháu thành một kẻ ngu ngốc, một trò hề suốt bốn năm trời!"
"Nhiên... con đừng nói những lời cay đắng như dao cứa thế mà con..." Cô Hảo hốt hoảng níu chặt lấy cánh tay cô.
"Cô buông ra!"
Nhiên giật mạnh tay lại, lực giật dứt khoát và dữ dội khiến người đàn bà lảo đảo suýt ngã vào đống bao tải xà phòng. Ánh mắt cô nhìn cô Hảo không còn là ánh mắt của đứa cháu gái ngoan ngoãn ngày nào, mà tràn ngập nỗi thất vọng tột cùng và vết thương sâu hoắm của sự phản bội:
"Thầy Bách lấy tư cách gì mà tự cho mình cái quyền phán xét và sắp đặt thay cho cuộc đời của cháu?! Thầy nghĩ rằng cháu hèn nhát, cháu yếu đuối đến mức không dám đối diện với sự hy sinh cao cả của mẹ cháu sao?! Hay thực chất, tất cả các người chỉ đang hèn nhát trốn chạy cảm giác tội lỗi của chính bản thân mình, rồi trút hết mọi đắng cay, cô độc và gánh nặng nghiệt ngã lên đầu một đứa con gái hai mươi ba tuổi đầu?!"
"Không phải thế đâu con ơi... Thầy mày thương mày thật lòng mà..."
"Đủ rồi! Cháu không muốn nghe thêm bất cứ một lời dối trá nào nữa!"
Nhiên gạt phắt cánh tay đang cố vươn ra của cô Hảo. Những giọt nước mắt uất nghẹn trào ra ướt đẫm gương mặt lạnh ngắt. Cô không thể thở nổi, không thể chịu đựng thêm một giây phút nào nữa trong cái không gian nồng nặc mùi ẩm mốc, mùi bột giặt rẻ tiền và sự ngột ngạt của những bí mật giả tạo này.
Nhiên quay ngoắt người, lao thẳng ra phía cửa sắt. Bằng tất cả sức lực còn sót lại của một kẻ đang quẫn trí, cô giật tung chiếc then gài kim loại, dùng hai tay đẩy mạnh cánh cửa xếp sang hai bên. Tiếng sắt rít lên ken két chói tai dội vào màn đêm tĩnh mịch khi cô lao vụt ra ngoài con dốc mù sương của hẻm Hoa Đăng.
Gió lạnh từ đỉnh đồi thốc xuống từng cơn dữ dội như muốn xé toạc lớp áo len mỏng manh của Nhiên. Sương đêm Đà Lạt buốt giá quất rát rạt vào mặt, vào cổ, vào hai bờ mi đang cay xè, nhưng cái lạnh cắt da cắt thịt của đất trời chẳng thể nào dập tắt nổi ngọn lửa uất hận đang bốc cháy ngùn ngụt, thiêu đốt tâm can cô.
Cảm giác bị giam cầm trong một mạng lưới lừa dối tinh vi suốt bốn năm trời khiến toàn bộ niềm tin, lẽ sống, lý tưởng và thế giới quan mà Nhiên dốc lòng vun đắp bấy lâu nay bỗng chốc sụp đổ tan tành như một lâu đài xây trên cát lún. Bốn năm qua, cô đã nâng niu hũ men cái như chính sinh mệnh của mình. Cô coi những lời răn dạy về sự tĩnh lặng, về cái tâm thanh tịnh của người làm bánh mà thầy Bách để lại như những điều thiêng liêng không thể xâm phạm. Cô coi việc thắp lửa lò nướng vòm gạch lúc nửa đêm như một nghi thức chuộc tội duy nhất cho linh hồn mình.
Hóa ra tất cả chỉ là một sự mỉa mai cay đắng! Cô chỉ là một kẻ bị bỏ rơi ngoài rìa của một bí mật lớn lao, một kẻ ngốc nghếch tự trói chặt đời mình vào chiếc cột đá giữa biển khơi giông bão, trong khi những người cô yêu thương và tôn kính nhất lại đứng trên bờ cao, âm thầm nhìn ngó cô bằng ánh mắt thương hại và tội lỗi!
Nhiên lao qua cánh cửa gỗ thông đang khép hờ của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm. Do bước chân quá vội vã và hoảng loạn, mũi giày cô vấp mạnh vào gờ bậc thềm bằng gỗ lim.
Cả người cô ngã dúi dụi về phía trước, hai đầu gối đập mạnh xuống sàn nhà lát gạch bông cũ kỹ phát ra một tiếng *huỵch* đau đớn.
Cơn đau buốt từ khớp xương truyền thẳng lên sống lưng, nhưng nó chẳng thấm tháp gì so với vết thương đang toác miệng, rỉ máu rát bỏng trong lồng ngực cô lúc này.
Không gian bên trong tiệm bánh vẫn chìm trong sự tĩnh lặng quen thuộc, phảng phất mùi bơ cháy cạnh nồng nàn và hương hoa cúc khô còn sót lại từ mẻ bánh ký ức của bà Sương lúc nửa đêm. Chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ sồi trên vách tường vẫn buông từng nhịp tích tắc đều đặn, khô khốc và lạnh lùng. Chiếc kim dài bằng đồng đã nhích qua con số ba giờ sáng từ lâu. Khung giờ thiêng liêng của tiệm bánh đã chính thức khép lại, thế nhưng bên trong tâm hồn Nhiên, một cơn cuồng phong dữ dội đang tàn phá tất cả những gì từng tồn tại.
Nhiên lồm cồm bò dậy từ nền gạch lạnh toát. Hai bàn tay trần run rẩy bấu chặt vào mép quầy bar bằng gỗ thông để gượng đứng lên. Đôi mắt đỏ ngầu, ướt đẫm nước mắt của cô quét qua từng góc quen thuộc của gian bếp:
Chiếc lò nướng vòm gạch cổ truyền còn âm ỉ hơi ấm của mẻ củi tàn...
Chiếc bàn gỗ sồi dày dặn chi chít những vết dao khía, vết lăn bột qua bao năm tháng...
Những chiếc đĩa gốm mộc tráng men màu lam thô ráp...
Và đằng kia, chiếc tủ gỗ thông ba ngăn khiêm nhường đặt ở góc tối nhất của gian bếp, nơi chân tủ có khắc chìm một cành hoa mimosa nhỏ nhắn.
Bên trong ngăn tủ ấy, hũ men cái bằng sành màu nâu đất vẫn đang nằm đó trong bóng tối. Chiếc hũ sành được bọc cẩn thận bằng ba lớp vải lanh xám sạch sẽ, miệng hũ thắt chặt bằng ba vòng dây thừng gai theo đúng lời chỉ dạy nghiêm ngặt mà thầy Bách đã truyền thụ cho cô từ những ngày đầu tiên cô chập chững bước vào nghề bánh.
Men cái...
Bánh ký ức...
Sứ mệnh chữa lành và chuộc tội...
"Chữa lành cho ai chứ?!"
Nhiên gào lên giữa gian bếp vắng lặng. Tiếng thét xé lòng vỡ vụn ra trong sự uất ức và tuyệt vọng tột cùng:
"Một thứ men được nuôi dưỡng từ sự dối trá và trốn chạy! Một thứ năng lực quái quỷ chỉ mang lại toàn đau khổ, chia lìa và xiềng xích! Mẹ mất mạng vì nó... Thầy hèn nhát bỏ trốn cũng vì nó... Còn tôi... tôi bị các người chôn sống trong bóng tối của căn bếp này suốt bốn năm trời cũng chỉ vì nó!"
Trong cơn khủng hoảng lòng tin đến cùng cực, mọi giá trị thiêng liêng mà cô từng thành kính tôn thờ bỗng chốc biến thành những sợi xích sắt siết chặt lấy cổ họng, bóp nghẹt hơi thở của cô. Cô không muốn làm bánh nữa. Cô không muốn nhớ lại bất cứ điều gì thuộc về quá khứ đầy rẫy sự dối trá này nữa. Nếu ngọn lửa này chỉ mang lại sự phản bội, nếu hũ men này chỉ là biểu tượng của một món nợ máu thịt oan khiên, thì thà dập tắt nó đi một lần cho mãi mãi! Thà hủy diệt nó để chấm dứt toàn bộ trò hề này!
Như một kẻ mộng du bị dẫn dắt bởi một cơn điên loạn bột phát, Nhiên lao thẳng về phía chiếc tủ gỗ thông ba ngăn. Cô giật tung cánh cửa tủ gỗ ra với một lực mạnh đến mức bản lề kim loại rên lên một tiếng ken két khô khốc.
Hai bàn tay trần của cô không một chút do dự chộp lấy thân hũ men bằng sành thô ráp. Khối sành nặng trịch, lành lạnh dưới lòng bàn tay run rẩy. Bên dưới ba lớp vải lanh xám, những bọt khí của quần thể vi sinh vật cổ xưa dường như đang sủi lên từng đợt dồn dập, phập phồng một nhịp điệu bất an, hoảng loạn trước luồng oán khí và sự tuyệt vọng đang cuộn trào dữ dội từ chính người chủ của nó.
Nhiên ôm chặt chiếc hũ men cái vào lòng, quay phắt người bước nhanh về phía gian bếp sau.
Cánh cửa sau bằng gỗ tạp mở toang ra một khoảng sân nhỏ ẩm ướt đầy cỏ dại, dẫn ra một con ngõ cụt tối om phía sau đồi. Ngay cạnh bậc cửa sau là một chiếc thùng rác lớn bằng tôn dày, nơi cô vẫn thường đổ tro tàn và vỏ trấu sau mỗi đêm nướng bánh.
Nhiên đứng sững trước miệng thùng rác đang mở toang, bên dưới là lớp tro đen và rác thải ẩm mốc bốc mùi xú uế.
Gương mặt cô đầm đìa nước mắt, lồng ngực phập phồng dữ dội theo từng cơn thở dốc nghẹn ngào. Cô nâng chiếc hũ sành màu nâu đất lên ngang ngực. Hai cánh tay gầy guộc gồng cứng, những đường gân xanh nổi rõ bần bật dưới lớp da trắng bệch.
Chỉ cần buông tay... Chỉ cần dốc ngược chiếc hũ sành này xuống... Toàn bộ khối men cái thảo mộc đã được gầy dựng, chắt chiu suốt hàng chục năm trời qua hai thế hệ của dòng họ Trần, cội nguồn của mọi chiếc bánh ký ức mầu nhiệm, và cũng là nguồn cơn của mọi bi kịch oan nghiệt trong đời cô sẽ tan biến vĩnh viễn vào đống rác rưởi hôi thối.
"Kết thúc đi..."
Nhiên nghiến chặt hai hàm răng, một tiếng thì thầm nghẹn ứ, cay đắng rít qua kẽ răng:
"Tất cả... biến mất hết đi!"
Đúng khoảnh khắc cô chuẩn bị nghiêng miệng hũ, dốc thẳng toàn bộ khối men sống xuống lòng thùng rác bằng tôn, một bóng đen xé toạc màn đêm từ phía trên cao lao vút xuống.
*Vút!*
Nhanh như một tia chớp đen tuyền giữa khoảng không gian mờ tối, con mèo Mè từ góc khuất trên nóc chạn bát phóng thẳng xuống.
Không phải là những cú đáp nhẹ nhàng uyển chuyển, càng không phải là những cái cọ mình nũng nịu hay tiếng kêu "meo meo" lười biếng thường ngày. Con mèo đen lao bổ vào người Nhiên với một sức mạnh kinh hồn, mang theo toàn bộ sự hung bạo và quyết liệt của một loài thú hoang dã.
Hai hàm răng sắc nhọn của nó cắn phập vào vạt chiếc tạp dề bằng vải thô màu nâu mà cô đang đeo trước ngực. Móng vuốt sắc lẹm từ bốn bàn chân bấu chặt lấy từng thớ vải dày, cơ thể nó giật mạnh về phía sau với một lực kéo bất ngờ và dữ dội, khiến Nhiên mất đà lảo đảo, hai gót chân trượt dài trên nền gạch ẩm, suýt ngã ngửa ra sau.
"Mè! Mày làm cái trò gì thế hả?!"
Nhiên giật mình thảng thốt hét lên trong cơn hoảng loạn tột độ. Cô phải dùng hết sức bình sinh gồng cứng hai bắp tay để giữ thăng bằng, tuyệt vọng ôm ghì lấy thân hũ sành nặng trịch để không làm tuột tay rơi xuống đất.
"Buông ra! Tránh xa tao ra mau!"
Nhưng con mèo đen không hề có ý định buông tha. Đôi mắt tròn xoe màu xanh ngọc bích của nó trong bóng tối bừng lên một ngọn lửa dữ dội, hoang dại và kiên quyết đến lạnh người. Nhả vạt tạp dề thô ra, Mè không hề lùi bước hay nhảy tót đi trốn như bản năng loài mèo. Nó tung mình phóng vút lên mặt bàn bếp bằng gỗ sồi ngay sát bên cạnh Nhiên.
Trước khi Nhiên kịp định thần để lùi lại hay vung tay thực hiện tiếp ý định điên rồ của mình, Mè đã lao thẳng tới. Nó dùng toàn bộ thân hình dẻo dai, săn chắc và nóng rực của mình trườn lên, nằm đè chặt lấy nắp hũ men cái đang bọc ba lớp vải lanh xám.
Bốn chân của con mèo quắp chặt lấy bờ vai tròn của chiếc hũ sành thô ráp như bốn chiếc mỏ neo cắm sâu vào đá tảng. Chiếc đuôi đen dài ngoằng quất mạnh liên hồi xuống mặt bàn gỗ phát ra những tiếng *bẹp... bẹp...* khô khốc, vang dội khắp gian phòng vắng.
Nhiên chết lặng tại chỗ. Toàn thân cô run bắn lên từng chập, ngực nghẽn lại không thở nổi. Cô buông một tay khỏi thân hũ, run rẩy vung lên định gạt phắt con vật ra khỏi nắp hũ:
"Mè... Mày có biết tao đang làm gì không hả? Tránh ra mau! Tao không cần nó nữa! Tao không muốn giữ cái thứ men ma quỷ đầy rẫy tội lỗi này nữa!"
Thế nhưng, khi những đầu ngón tay run rẩy, lạnh ngắt của Nhiên vừa chạm vào lớp lông đen dày, mượt mà của Mè, một luồng hơi ấm nồng nàn, hừng hực bốc lên từ lồng ngực đang phập phồng dữ dội của con vật bỗng truyền thẳng qua da thịt cô.
Con mèo đen không hề cào cấu, cũng không hề nhe nanh cắn vào tay cô. Nhưng nó tuyệt đối không chịu nhúc nhích dù chỉ nửa phân. Toàn bộ trọng lượng của một sinh linh nhỏ bé đang gồng cứng lên, ghìm chặt lấy chiếc nắp hũ sành như một tấm khiên sống bằng xương bằng thịt, liều mình bảo vệ thứ báu vật thiêng liêng nhất của ngôi nhà này.
Từ sâu thẳm trong lồng ngực và cổ họng của Mè, một chuỗi âm thanh trầm đục, gằn từng nhịp bắt đầu rung lên:
*Gừ... gừ... gừ...*
Đó không phải là tiếng rừ rừ êm dịu, nũng nịu khi nó được vuốt ve bên cạnh lò nướng ấm áp.
Đó là tiếng gầm gừ đanh thép, sắc lạnh và kiên quyết của một kẻ canh giữ trung thành đến hơi thở cuối cùng, một kẻ hộ vệ cổ xưa đang đối mặt với kẻ thù muốn bức tử sinh mệnh mà nó có bổn phận phải bảo bọc. Đôi mắt xanh ngọc bích ngập tràn ánh lân tinh rực lửa của con mèo xoáy thẳng vào tròng mắt đỏ ngầu của Nhiên, không một chút chớp động, không một chút sợ hãi hay nao núng.
Trong ánh nhìn xanh biếc thăm thẳm như đáy hồ sâu ấy, Nhiên bàng hoàng nhìn thấy phản chiếu lại toàn bộ bóng hình của bốn năm qua...
Bóng hình của những đêm dài dằng dặc cô độc bên bàn nhào bột, khi ngoài trời mưa gió gầm rít còn con mèo đen vẫn luôn nằm cuộn tròn dưới chân cô sưởi ấm cho đôi bàn chân buốt giá...
Bóng hình của những vị khách lạ từng bước vào tiệm bánh này trong tuyệt vọng cùng cực, rồi tìm lại được phương hướng và niềm tin cuộc đời chỉ nhờ một mẩu bánh nướng chan chứa ký ức...
Và xa hơn nữa, xuyên qua lớp sương mù của thời gian, là bóng dáng trầm mặc của người thầy tóc bạc năm xưa, người từng ân cần đặt bàn tay ấm áp, thô ráp lên mái tóc cô ngay bên cạnh chiếc hũ men cái này, dạy cô bài học đầu tiên về lòng nhẫn nại và sự bao dung của người thợ bánh.
Con mèo đen gừ lên từng hồi đe dọa, tiếng rung rền rĩ vang vọng khắp gian bếp tối, kiên quyết dùng cả thân xác và tính mạng của mình để bảo vệ ngọn lửa di sản mà người chủ trẻ tuổi đang muốn dập tắt trong cơn tuyệt vọng cùng đường.