Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmC.18 / 40
Chương 18

Dấu ấn Mimosa

Gió lạnh từ những triền đồi thông cao nhất phía tây nam thành phố bắt đầu thốc từng cơn dài qua cửa ngõ hẻm Hoa Đăng khi đồng hồ nhà thờ con Gà điểm chập chờn gần ba giờ sáng.

Màn sương đêm của phố núi mùa này không còn bảng lảng như khói lam chiều, mà đặc quánh lại, nhớp nháp và nặng trĩu hơi ẩm, tựa như một nồi cháo loãng đã nguội tanh nguội ngắt phả thẳng vào da thịt người đi đường những vệt buốt nhức tận xương tủy. Con hẻm cụt vốn dĩ chỉ dung chứa tiếng thở dài của những kiếp người lam lũ vừa trải qua một cơn địa chấn dữ dội chưa từng có trong ký ức của bất kỳ ai. Mới chỉ cách đây hơn một tiếng đồng hồ, mặt đường nhựa lồi lõm còn rung chuyển dưới tiếng nẹt pô của những chiếc xe máy độ, tiếng đèn flash điện thoại nhấp nháy liên hồi xé toang bóng tối, cùng những lời xầm xì, réo rắt, hò hét mang đầy vẻ hiếu kỳ nhơ nhuốc của đám đông săn lùng điều giật gân trên mạng xã hội. Giờ đây, khi đám đông ấy bị xua tan, con hẻm chìm nghỉm vào một khoảng lặng hoang tàn, rệu rã đến nghẹn thở.

Trên nền đá ẩm ướt rải rác những tàn thuốc lá bị giẫm nát, vài chiếc ly nhựa đựng cà phê mang đi méo mó và những vệt bùn lầy bị cày xới nham nhở. Dưới mái hiên lợp tôn cũ kỹ của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, chiếc chuông gió bằng đồng thau đen nhẻm thỉnh thoảng lại va đập vào thanh gỗ thông mục, phát ra những tiếng *leng keng* khô khốc, lạc lõng và thê lương giữa không gian ẩm lạnh rợn người.

Tiếng bước chân nện gấp gáp trên nền nhựa đường còn đọng những vũng nước mưa tù đọng đột ngột xé toạc sự tĩnh mịch của màn đêm.

Một bóng người mảnh khảnh nhưng tác phong dứt khoát, nhanh nhẹn tiến lại gần đầu hẻm. Tạ Diệp Lam quay trở lại. Cô mặc chiếc áo khoác gió thể thao dày cộm màu xanh rêu, chiếc khóa kéo kim loại được kéo cao che kín cằm, mái tóc buộc đuôi ngựa sau gáy lòa xòa vài sợi bết dính nước sương đêm. Đôi bốt da cao cổ vốn luôn được đánh xi bóng lộn của cô giờ đây lấm lem những vệt bùn đỏ quạch đặc trưng của đất bazan đồi dốc Đà Lạt, văng lên tận bắp chân, chứng tỏ cô đã vội vã chạy bộ băng qua những triền dốc gập ghềnh từ phía đường lớn mà chẳng màng đến việc giữ gìn dáng vẻ chỉn chu, đĩnh đạc thường ngày của một bếp trưởng điều hành danh tiếng tại một khu nghỉ dưỡng năm sao. Hơi thở của Lam gấp gáp, từng luồng khói trắng mỏng phập phồng thoát ra qua đôi môi tái nhợt vì lạnh.

Thế nhưng, ngay khi vừa đặt chân tới gờ rào chắn tạm bợ được căng bằng dải dây dù sọc đỏ trắng vắt ngang hai bờ tường gạch, bước chân cô lập tức khựng lại giữa chừng.

Phạm Thịnh đã đứng sừng sững ở đó tự bao giờ.

Người bảo vệ ca đêm của con hẻm tựa lưng vào cánh cổng sắt hoen gỉ của tiệm tạp hóa Vạn Hảo, hai bàn tay thô ráp đút sâu vào túi chiếc áo khoác đồng phục sờn vai màu cỏ úa. Trông anh như một phần của bức tường đá rêu phong, hòa lẫn vào màn đêm tĩnh mịch cho đến khi anh thẳng người dậy. Thân hình vạm vỡ, đồ sộ như một khối đá tảng của Thịnh dời khỏi cánh cổng, bước ra chắn ngang đúng khoảng trống hẹp duy nhất dẫn vào khoảng sân nhỏ trước hiên tiệm bánh. Ánh đèn đường vàng vọt, tù mù rọi xuống từ trên cao hắt một nửa bóng tối lên khuôn mặt vuông vức đầy góc cạnh của anh, làm nổi bật đường quai hàm bạnh ra đầy cương nghị, đôi mày rậm chau lại và một ánh nhìn sắc lạnh, nghiêm khắc hiếm thấy ở một người đàn ông vốn quen dĩ hòa vi quý, luôn nở nụ cười hiền lành nhẫn nại với từng cư dân trong xóm.

“Cô Lam,” Thịnh cất tiếng. Giọng anh trầm đục, khô khốc như tiếng hai thanh gỗ mục cọ xát vào nhau, tuyệt nhiên không chứa đựng dẫu chỉ một tia ấm áp của sự đón tiếp. “Tôi nghĩ đêm nay hẻm Hoa Đăng đã phải gánh chịu quá đủ những trò ồn ào ô trọc rồi. Tiệm bánh đã tắt lò, chốt then cài cửa. Mời cô quay về cho.”

Diệp Lam thở hắt ra một hơi dài, luồng khí trắng tan biến vào bóng tối. Ánh mắt bướng bỉnh, sắc sảo vốn có của một người quen nắm quyền kiểm soát trong căn bếp chuyên nghiệp khẽ giật lùi trước khí thế bức người toát ra từ người đàn ông trước mặt, nhưng sự ngoan cố đã ăn sâu vào máu không cho phép cô quay đầu dễ dàng như thế. Cô ngẩng cao cằm, cố giữ cho giọng mình thật rành rẽ và cứng cỏi:

“Anh Thịnh, tôi quay lại đây không phải để gây sự, càng không phải để chụp ảnh hay quay phim bất cứ thứ gì nữa. Tôi vừa xem lại trên mạng xã hội… Tôi biết chuyện gì vừa diễn ra ở đây cách đây một tiếng. Tôi cần phải gặp Nhiên. Tôi có những chuyện bắt buộc phải nói cho rõ ràng với cô ấy, mặt đối mặt.”

“Để làm gì nữa?” Thịnh bước lên một bước. Khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại trong gang tấc. Cái bóng to lớn của anh trùm lên người Diệp Lam, mang theo một thứ áp lực nặng nề khiến cô phải vô thức lùi lại nửa bước để giữ thăng bằng. “Để tiếp tục thẩm định xem một chiếc bánh sừng bò nữa của cô ấy có đạt chuẩn độ ẩm, độ giòn và cấu trúc ruột bánh theo thước đo của các đầu bếp thời thượng các người hay không? Hay là để xoi mói, đào bới xem cái hũ men của một người thầy đã biến mất từ bốn năm trước có đáng giá để cô viết thêm một bài phân tích chuyên sâu giật gân trên cái chuyên trang ẩm thực hàng đầu của cô?”

“Tôi chỉ muốn làm rõ kỹ thuật nghề nghiệp!” Lam cắn chặt môi dưới, thanh âm đã bắt đầu mất đi sự tự tin ban đầu, trở nên vội vã và yếu ớt hơn. “Một người thợ làm bánh có tài năng thiên bẩm và kỹ thuật chuẩn xác đến kinh ngạc như Nhiên không thể tự chôn vùi cả cuộc đời mình trong một góc hẻm tối tăm rách nát này được! Cô ấy mở cửa chỉ vỏn vẹn ba tiếng đồng hồ mỗi đêm, từ mười hai giờ khuya đến ba giờ sáng, lén lút như một kẻ phạm tội đang lẩn trốn ánh sáng mặt trời! Bánh mì ngon làm ra là để cho công chúng thưởng thức, ẩm thực đỉnh cao cần sự minh bạch và công nhận rộng rãi. Tôi làm những việc này là vì muốn tốt cho cô ấy, muốn đưa cái tiệm bánh này bước ra ngoài ánh sáng, để tài năng của cô ấy nhận được sự tôn vinh xứng đáng!”

Một nụ cười nhạt, chứa đầy sự mỉa mai buốt nhói và xót xa khẽ thoáng qua nơi khóe môi Thịnh. Anh khẽ lắc đầu, ánh mắt nhìn thẳng tắp vào đáy mắt của Lam. Cái nhìn ấy sâu hoắm, sắc lẻm và lạnh lẽo tựa như một lưỡi dao mổ xẻ từng lớp mặt nạ tự huyễn hoặc của cô:

“Muốn tốt cho cô ấy? Hay thực chất là cô đang muốn vuốt ve cái tôi ngạo mạn của một kẻ luôn tự cho mình cái quyền năng đứng trên cao để thẩm định, phân loại và phán xét cuộc đời của những người khác?”

Diệp Lam sững sờ. Lồng ngực cô phập phồng dữ dội dưới lớp áo khoác gió dày cộm. Đôi môi cô mấp máy nhưng không thể thốt ra thành lời trước đòn đánh trực diện ấy.

Thịnh hạ thấp giọng xuống thêm một tông, nhưng từng từ, từng chữ anh nhả ra đều nặng trịch như những khối chì đúc, ghim thẳng vào màn không gian ẩm ướt buốt giá chung quanh:

“Cô Lam, cô luôn miệng tự hào rằng mình được đào tạo từ trường lớp bài bản nước ngoài, hiểu tường tận về khoa học ẩm thực, về sự chính xác tuyệt đối đến từng phần mười gam bột mì, từng độ C của nhiệt kế lò nướng. Nhưng tôi nói thật cho cô biết, cô hoàn toàn mù tịt về những con người đang thực sự sống, hít thở và vật lộn ở cái thành phố mù sương này khi màn đêm buông xuống. Những người tìm đến cái tiệm bánh này lúc một giờ, hai giờ sáng… cô có từng bỏ ra một giây nào để nhìn vào mắt họ xem họ là ai không?”

Thịnh vung cánh tay thô ráp chỉ về phía đầu đường lớn ngoài xa, nơi một chiếc xe tải chở rau cũ kỹ, hoen gỉ vừa gầm rú lăn bánh ngang qua, để lại vệt khói đen sặc sụa và tiếng động cơ rên xiết mệt mỏi:

“Họ là những người tài xế xe tải chở rau quả thức trắng bốn mươi tám tiếng đồng hồ ròng rã qua những con đèo quanh co trơn trượt, thần kinh lúc nào cũng căng thẳng tột độ như một sợi dây đàn sắp đứt, chỉ cần một tích tắc ngủ gật là cả người lẫn xe sẽ lao thẳng xuống vực thẳm sâu hun hút. Họ là những người cha đơn thân làm kỹ thuật viên xét nghiệm trong bệnh viện tỉnh, quanh năm suốt tháng giam mình trong mùi hóa chất tẩy rửa nồng nặc và sự lạnh lẽo của nhà xác, đêm đêm trở về căn nhà trọ mục nát với nỗi bất lực cào xé khi nhìn đứa con trai bé bỏng của mình câm lặng, thu mình lại sau cái chết đột ngột của người mẹ. Họ là những cô sinh viên nghèo vừa đánh mất suất học bổng duy nhất để bám trụ lại giảng đường, run rẩy lang thang dưới mưa phùn với vài đồng bạc lẻ ướt sũng trong túi áo, không dám bắt chuyến xe đò về quê đối diện với đôi mắt mỏi mòn trông đợi của mẹ già. Và họ là những người lao động chân tay kiệt cùng thể xác, mang trong lồng ngực những vết thương sâu hoắm không thể thổ lộ cùng ai, cần một nơi chốn ấm sực để nương tựa, để nhai một mẩu bánh mì nóng hổi, để nuốt trôi những giọt nước mắt nghẹn ắng và thở ra một hơi dài trước khi gắng gượng bước tiếp vào ngày mai.”

Thịnh dừng lại một nhịp thở nặng nhọc, ánh mắt anh gắt gao khóa chặt lấy gương mặt đang dần dần trắng bợt đi của người nữ đầu bếp:

“Họ không phải là những thực khách sành ăn rỗi việc đi tìm kiếm những trải nghiệm vị giác thời thượng để chụp ảnh check-in! Và họ càng không phải là lũ chuột bạch thí nghiệm cho những bài viết câu tương tác, những bài phân tích giật gân phục vụ cho cái thị hiếu hào nhoáng của nhóm người ưa bình phẩm, phán xét trên mạng xã hội của cô! Cô giật tít, cô kêu gọi dư luận lùng sục một 'bậc thầy ẩn dật', cô lôi kéo một lũ người kên kên cầm điện thoại nhảy nhót, livestream, hò hét đòi nếm thử thứ 'bánh ký ức' như thể đó là một trò ảo thuật rẻ tiền mua vui chốn hội chợ. Cô đã biến góc trú ẩn yên bình duy nhất của những phận người rách nát thành một cái rạp xiếc thị phi bẩn thỉu!”

Từng lời phân tích đanh thép, trần trụi và đau xót của người bảo vệ ca đêm tựa như những nhát búa tạ liên tiếp giáng thẳng vào tòa lâu đài kiêu hãnh của Diệp Lam. Cô đứng chôn chân giữa làn sương lạnh buốt, hai bàn tay giấu trong túi áo siết chặt lại đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng.

Chưa từng có một ai, kể cả những bếp trưởng khó tính nhất từng hướng dẫn cô ở trời Âu hay những nhà phê bình ẩm thực khắt khe nhất, nói với cô những lời nghiệt ngã mà chân thực đến nhường ấy. Trong thế giới bấy lâu nay cô vẫy vùng—thế giới của những căn bếp inox sáng loáng không tì vết, của những bộ dao rèn thủ công đắt đỏ, của các hội thảo khoa học vị giác, của những bảng xếp hạng sao Michelin và những lời tán tụng xa hoa từ giới thượng lưu—mọi thứ đều được quy đổi rành mạch thành độ hoàn hảo của thành phẩm, sự lan tỏa của thương hiệu cá nhân và giá trị truyền thông. Cô chưa từng một lần nào dừng lại để nghĩ rằng, một ổ bánh mì bình dị có thể là chiếc phao cứu sinh cuối cùng níu giữ một con người khỏi bờ vực của sự tuyệt vọng giữa đêm đen buốt giá.

“Tôi… tôi thực sự không nghĩ mọi chuyện lại bị đẩy đi quá xa đến mức tồi tệ như vậy…” Giọng Lam run rẩy, vỡ vụn ra từng mảng. Lớp vỏ bọc kiêu hãnh, sắc sảo thường ngày hoàn toàn sụp đổ, để lộ ra sự bối rối và hoảng loạn của một kẻ vừa nhận ra mình đã châm ngòi cho một đám cháy hủy diệt. “Tôi chỉ đơn thuần nghĩ đến việc chia sẻ một phát hiện nghề nghiệp… một sự kinh ngạc thuần túy của một người làm bánh trước một kỹ thuật đỉnh cao…”

“Hậu quả của sự hiếu thắng bồng bột thì luôn luôn đến nhanh hơn cái cớ vụng về mà người ta dùng để biện hộ cho nó,” Thịnh lạnh lùng cắt ngang lời cô. Ánh mắt anh không còn sự gay gắt giận dữ nữa, mà chuyển thành một vẻ mệt mỏi, chán chường sâu sắc.

Nói rồi, anh khẽ nghiêng thân mình to lớn sang một bên, để lộ ra khoảng trống nhìn xuyên qua khung cửa sổ kính phủ mờ hơi nước của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm.

“Cô hãy tự dùng đôi mắt của mình mà nhìn vào trong đó đi. Hãy tự mình nhìn xem 'sự chia sẻ' cao đẹp của cô đã làm được những gì cho người thợ bánh ấy.”

Diệp Lam ngập ngừng, đôi chân như nặng trĩu chì khi bước nhích lên nửa bước. Cô hướng ánh mắt run rẩy qua bờ vai Thịnh, nhìn sâu vào bên trong gian tiệm qua ô cửa kính đọng đầy những giọt nước ngưng tụ đang chầm chậm lăn dài như những vệt nước mắt.

Dưới ánh sáng vàng vọt, ấm áp nhưng giờ đây lại mang vẻ hiu hắt, ảm đạm của ngọn đèn treo trần, không gian bên trong tiệm bánh tĩnh lặng đến mức nghẹt thở. Quầy bếp mở—nơi mà vài tiếng trước vẫn còn thơm ngát mùi bơ nướng ngậy béo, mùi quế the the và mùi bột mì chín tới—giờ đây vẫn còn vương lại một vệt khói xám nhạt mỏng manh chưa kịp tan hết, bốc lên từ lò nướng đã bị ngắt điện.

Và bên dưới ánh sáng ấy, Lạc Nhiên đang đứng tựa lưng vào mép chiếc bàn gỗ thông dài. Toàn bộ trọng lượng cơ thể cô dường như đổ dồn vào hai cánh tay đang chống yếu ớt lên mặt gỗ. Đôi vai gầy guộc của Nhiên sụp xuống, chiếc tạp dề trắng dính đầy những vệt bột khô và những mảng bơ sẫm màu lỏng lẻo treo trên thân hình mảnh dẻ như thể sắp trượt khỏi người cô.

Gương mặt Nhiên trắng bợt không còn một giọt máu, đôi môi khô nứt khẽ hé mở để đón từng ngụm khí mệt nhọc. Đôi mắt đen lánh vốn luôn toát lên vẻ điềm tĩnh, nhẫn nại giờ đây trũng sâu xuống, bao quanh bởi những quầng thâm xám xịt lộ rõ vẻ suy kiệt tột cùng sau cơn phản phệ dữ dội của men cái và nỗi hoảng loạn tinh thần khi cô trót phạm vào điều cấm kỵ cốt tử của nghề. Mu bàn tay phải của Nhiên—nơi có một vết sẹo bỏng tròn đã mờ theo năm tháng—vẫn đang khẽ giật giật từng cơn run rẩy không sao kiểm soát nổi.

Trên sàn gạch bông cũ kỹ phía sau quầy, dù Thịnh đã cẩn thận dùng chổi quét dọn và dùng khăn ẩm lau sạch từng vệt kem chanh cháy khét nồng nặc mùi hận thù ban nãy, nhưng khoảng trống trơ trọi nơi chiếc đĩa gốm men lam gia truyền trăm năm vừa vỡ vụn vẫn hiện diện ở đó. Nó như một vết khoét sâu hoắm, một khoảng trống hoác tàn nhẫn không bao giờ có thể hàn gắn lại được nữa.

Dáng vẻ co ro, cô độc, kiệt quệ và vụn vỡ ấy của người thợ làm bánh khiến lồng ngực Diệp Lam thắt nghẹn lại. Một cảm giác tội lỗi dữ dội, cay đắng và nhục nhã từ đáy lòng trào dâng lên, bóp nghẹt lấy cuống họng cô, khiến cô khó thở như thể chính mình vừa nuốt phải một ngụm tro tàn nóng bỏng.

Lam sực tỉnh ngộ hoàn toàn.

Cô bàng hoàng nhận ra sự nông nổi, thói ngạo mạn trí thức và lòng hiếu thắng ấu trĩ của bản thân đã không còn là một cuộc tranh luận mang tính học thuật hay chuyên môn đơn thuần nữa. Cô đã nhẫn tâm giẫm đạp lên sự yên bình mong manh mà người ta phải trốn chạy cả thế giới để chắt chiu gìn giữ. Cô đã biến căn bếp thiêng liêng—nơi chữa lành những tâm hồn rách nát—thành một bãi chiến trường tanh bành chỉ để thỏa mãn cái tôi ích kỷ, muốn chứng minh rằng nhận định của mình là đúng, muốn lôi bằng được bí mật của người khác ra ánh sáng để đổi lấy những tràng pháo tay tán thưởng hời hợt trên mạng ảo.

“Trời ơi…” Lam lẩm bẩm trong cổ họng, hai mắt cô cay xè, nước mắt trào ra nơi khóe mi.

Không chần chừ thêm một giây phút nào nữa, Lam run rẩy rút chiếc điện thoại thông minh từ sâu trong túi áo khoác ra. Bàn tay vốn quen với việc nhào nặn những khối bột ngậm nước khó tính một cách điêu luyện, giờ đây run bần bật đến mức suýt đánh rơi chiếc máy xuống vũng nước dưới chân. Ánh sáng xanh lóa mắt của màn hình cảm ứng bật lên giữa bóng đêm. Cô lập tức mở giao diện của chuyên trang ẩm thực và diễn đàn Nhóm Bếp Mới Đà Lạt—nơi mà cô đang giữ vai trò quản trị viên danh dự.

Bài viết giật gân với tiêu đề đầy tính kích động mà cô đăng tải chập tối nay, cùng hàng ngàn lượt thích, hàng trăm lượt chia sẻ và vô số những bình luận xoi mói, phán xét ác ý vẫn đang nhảy thông báo liên tục không ngừng nghỉ. Mỗi một tiếng *ting* vang lên trong thông báo lúc này chẳng khác nào một cái tát giáng thẳng vào lương tri của cô.

Lam nghiến chặt răng, không hề đắn đo hay tiếc nuối bất kỳ một chỉ số tương tác nào, cô bấm dứt khoát vào nút tùy chọn rồi chọn lệnh xóa vĩnh viễn bài viết.

Hộp thoại xác nhận hiện lên giữa màn hình: *“Bạn có chắc chắn muốn xóa bài viết này không?”*.

Cô dùng ngón tay cái ấn mạnh vào chữ “Xóa”. Toàn bộ bài đăng cùng hàng ngàn lời bình phẩm ồn ào biến mất không còn một dấu vết khỏi trang cá nhân và diễn đàn. Nhưng Lam hiểu rất rõ, việc xóa bài chỉ là một hành động trốn chạy hèn nhát nếu cô không dám dũng cảm đối mặt với mớ hỗn độn do chính tay mình tạo ra.

Dưới ánh mắt giám sát trầm lặng, nghiêm nghị của Thịnh, Diệp Lam hít một hơi thật sâu. Luồng không khí lạnh buốt của sương đêm tràn ngập buồng phổi khiến đầu óc cô trở nên tỉnh táo và sáng rõ hơn bao giờ hết. Cô mở khung soạn thảo bài viết mới của diễn đàn, những ngón tay gõ từng phím chữ dứt khoát, công khai toàn bộ sự thật với tư cách là một Bếp trưởng Điều hành:

*“Tôi, Tạ Diệp Lam, xin gửi lời xin lỗi chân thành và sâu sắc nhất đến tiệm bánh Lúc Nửa Đêm và toàn thể cư dân đang sinh sống tại hẻm Hoa Đăng.*

*Bài viết trước đó của tôi là một hành động hoàn toàn bồng bột, mang nặng tính suy diễn chủ quan cá nhân và hoàn toàn sai lệch về tính chất nghề nghiệp của nơi này. Tiệm bánh trong hẻm Hoa Đăng thực chất chỉ là một căn bếp gia đình nhỏ bé, khiêm nhường, được mở ra nhằm phục vụ bữa ăn đêm ấm áp cho những người lao động nghèo tăng ca, hoàn toàn không hề có bất kỳ câu chuyện thần bí, ma thuật hay thứ 'bánh ký ức' truyền kỳ nào như những tin đồn thổi vô căn cứ đang lan truyền.*

*Với tư cách là một người làm nghề, tôi khẩn thiết yêu cầu các thành viên của Nhóm Bếp Mới và những người theo dõi trang cá nhân của tôi ngừng ngay lập tức việc tụ tập, quay phim, chụp ảnh làm phiền cuộc sống riêng tư của người khác. Xin hãy trả lại sự yên tĩnh vốn có cho con hẻm, và hãy học cách tôn trọng ranh giới riêng tư thiêng liêng của những người thợ làm nghề chân chính.”*

Lam nhấn nút đăng tải công khai, rồi dứt khoát bấm nút nguồn, khóa màn hình điện thoại lại. Toàn bộ thế giới ảo ồn ào lập tức tắt lịm trong lòng bàn tay cô. Cô ngước mắt nhìn lên người bảo vệ ca đêm. Ánh mắt cô giờ đây không còn sót lại chút nào vẻ kiêu hãnh hay ngạo mạn của một ngôi sao ẩm thực, chỉ còn lại sự ăn năn, hối hận trần trụi và thành khẩn nhất:

“Tôi đã xóa sạch bài viết cũ và đăng lời đính chính công khai nhận toàn bộ lỗi lầm về mình. Tôi biết… tôi biết những dòng chữ này chẳng thể nào xóa sạch ngay lập tức những phiền toái, tổn thương và sự hỗn loạn mà tôi đã gây ra cho con hẻm đêm nay… nhưng làm ơn, anh Thịnh, hãy cho phép tôi bước vào trong đó để nói một lời xin lỗi trực tiếp với cô ấy. Tôi nợ Nhiên một sự tạ lỗi đàng hoàng và sòng phẳng, giữa một người thợ làm bánh với một người thợ làm bánh.”

Thịnh im lặng nhìn sâu vào đôi mắt đỏ hoe của người phụ nữ đối diện hồi lâu. Trong bóng tối lờ nhờ của ngọn đèn đường, anh nhìn thấy sự chân thành le lói đã hoàn toàn thay thế cho thói háo thắng mù quáng ban đầu. Một khoảng lặng kéo dài vài giây giữa hai người, chỉ có tiếng gió rít qua rặng thông đồi xa vọng lại.

Cuối cùng, Thịnh khẽ thở dài một tiếng nặng nhọc. Anh bước nghiêng người sang một bên, đưa bàn tay thô ráp kéo chùng sợi dây dù chắn lối, mở ra một lối đi vừa đủ cho một người qua:

“Cô vào đi. Nhưng hãy nhớ cho kỹ, cô ấy vừa trải qua một chấn động rất lớn và đang kiệt sức. Đừng nói hay làm bất cứ điều gì khiến cô ấy phải kích động thêm nữa.”

“Tôi hiểu. Cảm ơn anh, anh Thịnh.”

Diệp Lam cúi đầu bước qua gờ dây dù. Bước chân cô khẽ khàng hết mức có thể khi tiến lại gần bậc thềm đá dẫn lên cánh cửa gỗ thông của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm. Bàn tay cô ngập ngừng đặt lên tay nắm cửa bằng đồng lạnh ngắt, rồi khẽ đẩy nhẹ vào trong. Chiếc chuông đồng gắn phía trên mép cửa khẽ rung lên một tiếng *tính toong* rụt rè, mong manh giữa bầu không khí đặc quánh.

Bên trong gian phòng ấm cúng, Lạc Nhiên giật mình khẽ ngẩng đầu lên.

Trên nóc chiếc tủ gỗ thông ba ngăn sẫm màu kê sát vách tường, con mèo đen tên Mè đang cuộn tròn bỗng nhiên nhổm phắt dậy. Bộ lông đen tuyền của nó dựng đứng lên, đôi mắt màu xanh ngọc bích lóe sáng trong bóng mờ, găm thẳng một cái nhìn lạnh tanh, đầy vẻ cảnh giác và thù địch về phía người phụ nữ vừa bước qua bậc cửa.

Diệp Lam dừng bước ngay mép tấm thảm xơ dừa trải sàn trước cửa ra vào. Cô không dám tự tiện bước sâu hơn vào không gian nhuốm đầy vẻ tang thương và tĩnh lặng của gian phòng. Bàn tay cô run run tháo chiếc mũ len ướt đẫm sương đêm đang đội trên đầu xuống, hai tay nắm chặt lấy vành mũ, rồi cô cúi gập người xuống thật thấp trước người thợ bánh đang đứng sau quầy gỗ:

“Nhiên… Tôi xin lỗi. Tôi thành thật xin lỗi cô vì tất cả những gì đã xảy ra đêm nay.”

Lạc Nhiên vẫn đứng yên bất động ở vị trí cũ, hai bàn tay buông thõng bên hông. Đôi mắt đen sâu thẳm nhưng mệt mỏi cùng cực của cô nhìn chăm chú vào người phụ nữ đang cúi đầu tạ tội trước mặt mình. Mùi bơ khét và vị chua nồng nặc của mẻ bánh tart chanh thất bại ban nãy dường như vẫn còn vương vấn trên đầu lưỡi, mang theo dư vị đắng ngắt của một bài học nhớ đời về việc để cho tâm trí bị dao động. Khi cất tiếng, giọng của Nhiên khàn đặc, trầm lắng và chậm rãi:

“Cô quay trở lại đây để làm gì nữa? Chuyên trang ẩm thực của cô vẫn còn thiếu chi tiết giật gân nào chưa kịp khai thác sao?”

“Không, tôi đã xóa bài viết đó rồi, và tôi vừa đăng một bài đính chính công khai yêu cầu tất cả mọi người dừng việc làm phiền tiệm bánh này lại,” Lam vội vã lắc đầu, giọng cô nghẹn ngào vì xúc động, hai mắt ngấn lệ. “Tôi quay lại đây hoàn toàn không phải để tìm cách thanh minh hay bao biện cho những hành vi sai trái của mình. Tôi biết sự hiếu thắng mù quáng, ấu trĩ của tôi đã biến nơi này thành tâm điểm của sự quấy rối đê tiện. Nhưng khi đứng ở ngoài kia, nhìn thấy cô đứng một mình sau quầy lúc nãy… tôi mới thực sự hiểu ra mình đã tàn nhẫn và ngu xuẩn đến mức nào. Tôi đã tự huyễn hoặc rằng mình là người đại diện cho cái mới, cho sự tiến bộ khoa học và tính minh bạch của ẩm thực, nhưng thực chất tôi chỉ là một kẻ ích kỷ hèn hạ, muốn dùng tài năng và sự bình yên của người khác để làm bàn đạp đánh bóng cho tên tuổi của chính mình.”

Nhiên nhìn Lam thật lâu, ánh mắt cô không hề chớp. Sự giận dữ u uất tích tụ trong lòng cô suốt mấy tiếng đồng hồ qua dường như đang dần dần lắng xuống đáy tâm hồn, nhường chỗ cho một nỗi buồn thương thăm thẳm, mênh mông như biển đêm. Nhiên khẽ đưa bàn tay phải còn vương vết sẹo bỏng lên, vén lại lọn tóc mai lòa xòa trước trán ra sau vành tai, rồi lắc đầu một cách mệt nhọc:

“Bột mì không có lỗi, bánh mì không có lỗi, và những người tìm đến đây ăn bánh cũng không hề có lỗi. Người có lỗi lớn nhất đêm nay… chính là bản thân tôi. Tôi đã để cho sự khiêu khích và những lời phán xét của người ngoài làm lung lạc tâm trí, đã đánh mất đi sự tĩnh lặng vốn có của người thợ nhào bột, và đã biến căn bếp thiêng liêng này thành một nơi để thử thách, dò xét lòng người. Cô không phải là người duy nhất phạm phải sai lầm trong đêm nay đâu.”

Lắng nghe những lời nói bình thản nhưng chứa đựng sức nặng ghê gớm ấy, Diệp Lam càng cảm thấy sự hổ thẹn cào xé tâm can mình dữ dội hơn. Cô bước thêm hai bước ngập ngừng lại gần quầy gỗ, chiếc ba lô vải bạt sờn cũ khoác trên vai được cô từ từ tháo xuống, hai tay ôm chặt lấy nó trước ngực như một đứa trẻ đang mang theo món đồ quý giá duy nhất của đời mình:

“Thực ra… ngay từ đêm đầu tiên bước chân vào đây và nếm thử chiếc bánh sừng bò do chính tay cô nướng, tôi đã bàng hoàng nhận ra mình đang đối diện với một tay nghề vượt xa mọi tiêu chuẩn thông thường. Cách cô xử lý cấu trúc bột ngậm nước ở mức cực hạn, cách cô lắng nghe nhịp thở của nhiệt độ bên trong vòm lò gạch cổ, và đặc biệt nhất… chính là cái hậu vị ngọt thanh pha lẫn vị chua dịu tinh khiết của mẻ men hoang dã mà cô sử dụng. Thứ hương vị đó… nó quá quen thuộc, quá đặc biệt. Nó khiến tôi không thể nào không nghi ngờ, bởi vì tròn bảy năm về trước, tôi cũng đã từng được nếm một thứ phong vị kỳ diệu hệt như thế.”

Đồng tử của Nhiên khẽ co rút lại, ánh mắt cô dao động mãnh liệt:

“Bảy năm trước?”

“Phải, đúng bảy năm trước,” Lam gật đầu, ánh mắt cô trôi dạt về một miền ký ức xa xôi, giọng nói chùng xuống đầy hoài niệm. “Khi ấy tôi mới chỉ là một đứa con gái vừa tốt nghiệp trường dạy nghề làm bánh, trong lòng tràn trề tham vọng ngông cuồng nhưng kỹ thuật thực tế thì hoàn toàn bế tắc. Tôi may mắn được tham gia vào một khóa đào tạo thực địa ngắn hạn vỏn vẹn hai tuần lễ do một bậc thầy ẩm thực ẩn danh giảng dạy tại vùng ngoại ô Đà Lạt này. Người thầy duy nhất mà tôi cả đời tôn kính… chính là thầy Trần Bách.”

Cái tên “Trần Bách” đột ngột vang lên giữa gian phòng tĩnh mịch tựa như một tảng đá lớn rơi thẳng xuống mặt hồ đang đóng băng, làm vỡ tan sự câm lặng và dấy lên những đợt sóng ngầm cuộn trào dữ dội trong huyết quản của Lạc Nhiên.

Lúc này, Thịnh cũng đã lặng lẽ bước vào bên trong tiệm bánh, khép hờ cánh cửa gỗ lại sau lưng để ngăn bớt từng luồng gió buốt từ ngoài lùa vào. Anh đứng tựa lưng vào bức tường gỗ gần cửa, im lặng khoanh tay trước ngực, đôi mắt chăm chú dõi theo từng biểu cảm nhỏ nhất trên gương mặt của hai người phụ nữ. Trên nóc tủ cao, con mèo Mè khẽ hạ thấp người xuống, chiếc đuôi đen tuyền vẫy nhẹ từng nhịp chậm rãi.

“Thầy Bách… từng dạy cô sao?” Nhiên thì thầm, giọng cô run lên bần bật, những ngón tay đang đặt trên mặt quầy gỗ siết chặt lại đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra.

“Thầy chỉ nhận dạy chúng tôi đúng hai tuần ngắn ngủi, nhưng khoảng thời gian hai tuần ấy đã đập tan toàn bộ những định kiến ấu trĩ và thay đổi hoàn toàn cách tôi nhìn nhận về bột mì và sự sống của men,” Lam nói, trong thanh âm của cô giờ đây ngập tràn sự tôn kính và ngưỡng vọng thuần khiết nhất. “Thầy không hề dạy chúng tôi những công thức hàn lâm phức tạp, những kỹ thuật tạo hình hoa mỹ của các trường phái làm bánh phương Tây sang trọng. Thầy bắt chúng tôi phải thức dậy từ bốn giờ sáng khi trời còn tối mịt, lội qua những thung lũng ẩm ướt để leo lên những ngọn đồi thông hoang vu. Thầy bắt chúng tôi quỳ xuống đất để quan sát độ ẩm của từng lớp rêu phong, nếm thử vị chát đắng của vỏ cây thông già, và kiên nhẫn học cách thu thập những chủng men tự nhiên bám trên cánh của từng loài hoa dại nở muộn ở xứ lạnh này.”

Lam khẽ nuốt một ngụm nước bọt nghẹn ắng, đôi mắt cô sáng lên những tia sáng ký ức:

“Thầy luôn nghiêm khắc răn dạy chúng tôi một câu mà suốt đời này tôi không bao giờ dám quên: *'Nguyên liệu của mảnh đất này chính là linh hồn của chiếc bánh. Người thợ làm bánh chân chính tuyệt đối không bao giờ được phép dùng kỹ thuật cơ học để cưỡng bức men cái, mà phải biết hạ cái tôi của mình xuống, kiên nhẫn học cách lắng nghe từng nhịp thở yếu ớt của tự nhiên.'* Chính nhờ vào bài học vỡ lòng sâu sắc ấy của thầy Bách mà một kẻ vụng về, tự ti như tôi năm đó mới có đủ niềm tin để kiên trì theo đuổi nghề làm bánh cho đến tận ngày hôm nay.”

Lam ngước mắt nhìn thẳng vào Nhiên, trong đáy mắt cô ánh lên một vẻ thấu suốt muộn màng và đầy cay đắng:

“Bởi vậy, đêm đầu tiên khi tôi nhìn thấy chiếc tủ gỗ thông ba ngăn với những khớp mộng thủ công tinh xảo, và khi tôi nếm được cái phong vị men rừng độc nhất vô nhị trong chiếc bánh của cô, tôi đã bị kích động đến mức phát điên. Lòng ghen tị và sự tự ái nghề nghiệp đã bóp nghẹt lý trí của tôi. Tôi đã nghĩ một cách đầy uất ức rằng tại sao thầy Bách lại bất công như vậy? Tại sao thầy lại đem toàn bộ tinh hoa, bí quyết men sống tuyệt đỉnh ấy truyền lại cho một người con gái chỉ biết giấu mình trong bóng đêm của một con hẻm cùng kiệt, trong khi một kẻ luôn nỗ lực không ngừng nghỉ để đưa ẩm thực bản địa vươn ra thế giới như tôi lại không bao giờ có được nó? Sự đố kỵ hèn hạ ấy đã biến tôi thành một kẻ mù quáng. Tôi đã vứt bỏ bài học đầu tiên về lòng khiêm nhường mà thầy từng dạy để biến thành một con kền kền săn đuổi hư danh.”

Nhiên đứng chết lặng. Từng lời nói của Lam tựa như những mảnh ghép thất lạc bấy lâu nay trong ký ức của cô, đang chầm chậm xoay chuyển và khớp lại một cách hoàn hảo đến rợn ngợp.

Người thầy nghiêm khắc, kiệm lời, mang đôi mắt chất chứa nỗi buồn sâu kín nhưng sở hữu một trái tim nhân hậu vô bờ bến… Hóa ra, trước khi đột ngột rút lui vào bóng tối và biến mất không để lại một dấu tích bốn năm về trước sau biến cố cái chết của mẹ cô, dấu chân của ông đã từng in dấu trên cuộc đời của biết bao người trẻ tuổi yêu nghề, gieo vào tâm hồn họ những hạt mầm kiên định của tình yêu đối với đất trời xứ lạnh.

Để chứng minh cho những lời mình nói, Diệp Lam chậm rãi đặt chiếc ba lô vải bạt lên mặt quầy gỗ. Cô kéo khóa chiếc ngăn phụ phía trước, hai bàn tay nâng niu lấy ra một cuốn sổ tay khổ nhỏ.

Đó là một cuốn sổ bìa bọc da bò màu nâu sẫm đã ngả sang màu đen mun ở các góc mép vì thời gian và sự cọ xát. Những trang giấy bên trong quăn queo, ố vàng loang lổ bởi những giọt mồ hôi, những vệt nước mưa và cả những vệt bột khô bám chặt vào từng thớ giấy qua nhiều năm tháng lăn lộn trong các gian bếp.

Lam cẩn thận dùng đầu ngón tay lật mở trang bìa lót bên trong của cuốn sổ tay, rồi nhẹ nhàng xoay ngược nó lại, hướng về phía Lạc Nhiên:

“Tôi biết những tổn thương và đổ vỡ mà tôi đã gây ra cho cô và tiệm bánh đêm nay không thể nào chỉ dùng vài ba câu xin lỗi suông là có thể xóa sạch được. Nhưng tôi muốn cô hiểu rằng, tôi thực sự tôn trọng người thầy ấy, và tôi thực lòng tôn trọng tay nghề của cô. Cuốn sổ tay này là toàn bộ những ghi chép học việc tỉ mỉ nhất của tôi trong suốt hai tuần được thầy Bách trực tiếp chỉ dạy năm xưa. Cô hãy nhìn vào góc dưới của trang giấy này đi.”

Lạc Nhiên nén một tiếng thở dồn, cô hơi cúi người xuống về phía trước. Ánh mắt cô lập tức bị hút chặt vào góc dưới cùng bên phải của trang giấy dó ngả màu nâu nhạt.

Ở nơi đó, nổi bật trên nền giấy thô ráp là một con dấu mộc hình tròn được in bằng thứ mực đỏ tía đã hơi phai màu theo năm tháng. Vòng tròn ngoài cùng bao bọc lấy một họa tiết được chạm khắc thủ công vô cùng tinh xảo: hình ảnh một nhánh hoa mimosa cách điệu với những chùm hoa tròn nhỏ li ti kết lại thành từng dải mềm mại, uốn lượn ôm lấy một thân cành thanh mảnh, và ở phần cuống cành bên dưới có một nét móc nhẹ sắc sảo tựa như hình một ngọn sóng ngầm.

Đó chính là con dấu mộc cá nhân bằng gỗ đào mà thầy Trần Bách luôn mang theo bên mình, thứ chỉ được ông dùng để đóng dấu xác nhận và ký tặng cho những học trò mà ông thực sự công nhận về mặt tư chất và đạo đức làm nghề.

Nhiên nín thở hoàn toàn. Trái tim cô như ngừng đập trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Ngón tay trỏ của cô run rẩy đưa ra, chạm nhẹ lên bề mặt trang giấy sần sùi, chầm chậm miết dọc theo từng đường nét của nhánh hoa mimosa in trên giấy. Ký hiệu này… hình ảnh cách điệu vừa mềm mại vừa kiên cường này…

“Thầy Bách rất hiếm khi chịu sử dụng con dấu này,” Lam khẽ giải thích, giọng cô nhỏ dần, trang nghiêm như thể đang thuật lại một lời sấm truyền thiêng liêng. “Thầy từng nói với chúng tôi rằng, nhánh hoa mimosa hoang dại chính là biểu tượng cho sức sống bền bỉ và kiêu hãnh nhất của vùng đất cao nguyên sương mù này. Dù cho mùa đông có khắc nghiệt, giá buốt đến đâu, dù đất đai trên sườn dốc có cằn cỗi, xói mòn thế nào, loài hoa dại ấy vẫn âm thầm bám rễ, để rồi khi gió lạnh tràn về lại bung nở những chùm hoa vàng rực rỡ và tỏa ra một thứ hương thơm ngai ngái nhưng kiên cường không gì dập tắt nổi. Và trước khi khóa học kết thúc, trước ngày thầy hoàn toàn cắt đứt mọi liên lạc với giới đầu bếp ở Đà Lạt để lùi sâu vào bóng tối, thầy đã từng nhắc đến một nơi chốn bí mật…”

Lồng ngực Nhiên thắt lại, tiếng máu chảy rần rật bên hai thái dương tựa như tiếng trống trận dồn dập:

“Nơi chốn nào? Thầy… thầy đã nói những gì?”

Diệp Lam nhìn thẳng vào đôi mắt đang mở to của Nhiên, chậm rãi phát âm từng chữ một cách rõ ràng và rành mạch nhất:

“Thầy từng nói rằng, toàn bộ những chủng men hoang dã quý giá và thuần khiết nhất mà thầy dày công phân lập suốt nửa cuộc đời mình—những mẻ men mang theo hương thơm của thảo mộc rừng già và sức sống của các loài hoa chịu lạnh—đều bắt nguồn từ một căn nhà kính thực nghiệm cũ kỹ. Đó là một nhà kính trồng thảo mộc đã bị bỏ hoang từ thời thuộc địa, nằm khuất sâu trên sườn đồi Mimosa, gần một khúc quanh hiểm trở nhìn thẳng xuống thung lũng sâu phía nam thành phố. Thầy bảo nơi đó có một tiểu khí hậu vô cùng kỳ lạ, là nơi hội tụ nhiều sương đêm và giữ được độ ẩm của đất tốt nhất vùng, là nơi duy nhất mà các bào tử men sống có thể ngủ đông qua nhiều năm tháng mà không bao giờ bị thoái hóa hay biến chất. Thầy nói… nếu sau này có một ai đó thực sự hiểu được cái 'đạo' của người thợ làm bánh, người đó sẽ tìm thấy câu trả lời cho sự kiên định của đời mình ở chính căn nhà kính hoang phế ấy.”

Những lời nói của Diệp Lam rơi vào tâm trí Nhiên như một tia sét rạch toang màn sương mù u tối đang bủa vây lấy linh hồn cô suốt bốn năm đằng đẵng qua.

*Đồi Mimosa… Nhà kính thảo mộc bỏ hoang…*

Hình ảnh mẩu giấy báo cũ ố vàng lót dưới đáy chiếc giỏ tre đựng quýt rừng của ông tài xế xe tải tên Lộc mà cô vô tình tìm thấy cách đây không lâu lập tức bùng cháy dữ dội trong tâm trí Nhiên. Trên mẩu giấy báo ấy, dòng chữ viết tay bằng mực bút máy màu xanh lam quen thuộc của thầy Bách: *“Gửi anh Bách mẻ men sấy đồi Mimosa”* cùng con dấu vuông mờ nhạt của quán Cà phê Ban Mai!

Tất cả những chi tiết rời rạc ấy không hề là sự ngẫu nhiên hay trùng hợp vô tình của số phận.

Thầy Bách chưa từng bao giờ rời bỏ cõi đời này. Thầy vẫn luôn ở đó, hiện diện một cách âm thầm, lặng lẽ lẩn khuất giữa những triền đồi ngập tràn hoa dại và sương mù của Đà Lạt, gắn chặt sinh mệnh của mình với căn nhà kính cổ kính rêu phong và những mẻ men thảo mộc chưa từng bao giờ tắt đi hơi thở sự sống.

Nhưng điều đang khiến cho toàn bộ cơ thể của Lạc Nhiên run rẩy dữ dội hơn bất cứ thứ gì trên đời lúc này, chính là hình ảnh con dấu tròn in nhánh hoa mimosa đang nằm trên trang sổ tay của Diệp Lam.

Hơi thở của Nhiên trở nên dồn dập, đứt quãng. Cô đột ngột ngẩng phắt đầu lên, buông thõng hai tay, bỏ mặc Lam và Thịnh đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra. Không thốt thêm một lời nào, Nhiên xoay người, vội vã lao về phía chân cầu thang gỗ dẫn lên căn gác xép tối tăm phía trên tiệm bánh.

Tiếng bước chân gấp gáp của cô nện trên từng bậc thang gỗ thông cũ kỹ vang lên dồn dập: *thình thịch, thình thịch, thình thịch*.

Thịnh khẽ biến sắc vì lo lắng. Anh bước vội theo sau cô gái lên tới tận chiếu nghỉ của cầu thang, nhưng anh dừng chân lại ở đó. Đôi mắt anh chan chứa sự quan tâm đầy tế nhị, anh không bước chân vào không gian riêng tư của cô gái nhỏ, mà chỉ đứng tựa vào tay vịn cầu thang để canh chừng, sẵn sàng đỡ lấy cô nếu cơn kiệt sức khiến cô ngã quỵ.

Trên căn gác xép chật hẹp thoang thoảng mùi hương thảo khô và mùi gỗ mốc, ánh sáng vàng yếu ớt từ một bóng đèn dây tóc đơn độc hắt lên những thanh xà gồ mái nhà. Nhiên quỳ sụp hai đầu gối xuống sàn gỗ trước chiếc giường đơn trải nệm cũ. Hai bàn tay cô run bần bật, vội vã luồn sâu vào khoảng tối dưới gầm chiếc tủ quần áo bằng ván ép, kéo ra một chiếc hộp thiếc hình chữ nhật đã rỉ sét nham nhở ở các góc mép.

Chiếc hộp thiếc đựng bánh quy cũ kỹ từ thời thơ ấu—nơi cô cất giấu những báu vật đau đớn nhất của cuộc đời mình: bức ảnh chụp chung duy nhất của hai mẹ con dưới giàn hoa tigôn, chiếc khăn tay thêu màu chàm đã bạc màu mà thầy Bách từng dùng để lau nước mắt cho cô trong đám tang, và bức thư định mệnh mà suốt bốn năm ròng rã trôi qua, cô chưa từng một lần có đủ dũng khí để xé mở phong bì ra xem.

Nắp hộp thiếc bật mở với một tiếng *két* khô khốc, rợn người.

Bàn tay Nhiên run rẩy nâng phong bì thư màu nâu nhạt nằm dưới đáy hộp lên. Chiếc phong bì bằng chất liệu giấy thô dày dặn, các góc mép đã sờn rách, mềm oặt đi vì thời gian và vì vô số những đêm dài cô từng lấy nó ra, áp lên ngực khóc nức nở rồi lại sợ hãi cất giấu trở lại vào bóng tối.

Và ngay chính giữa nắp phong bì gấp lại, một miếng sáp niêm phong màu đỏ sẫm như máu khô vẫn còn nguyên vẹn, cứng cáp và bất động suốt bốn năm qua.

Nhiên đưa phong bì thư lại gần bóng đèn dây tóc trên trần nhà, nheo mắt nhìn trừng trừng vào vết hằn sâu hoắm nằm trên bề mặt lớp sáp đỏ.

Một luồng hơi lạnh chạy dọc suốt sống lưng cô, khiến toàn bộ chân tơ kẽ tóc trên người cô đồng loạt dựng đứng lên.

Trên mặt miếng sáp đỏ thẫm ấy, hoa văn dập nổi hiện lên rõ mòn mọt, sắc nét đến từng chi tiết nhỏ nhất: một vòng tròn bao bọc lấy một nhánh hoa mimosa cách điệu với những chùm hoa tròn li ti kết chùm mềm mại quanh một thân cành thanh mảnh, và ở phần đuôi cành bên dưới là một nét móc nhẹ hình ngọn sóng ngầm.

Nó trùng khớp hoàn hảo, không sai lệch dù chỉ một phần mười milimét với con dấu mộc in mực đỏ tía trên cuốn sổ tay học việc của Tạ Diệp Lam dưới quầy.

Con dấu của thầy Bách. Con dấu biểu tượng của nhà kính thảo mộc trên sườn đồi Mimosa.

Hai cánh tay của Nhiên run rẩy không sao kìm nén được nữa. Cô ôm chặt chiếc phong bì niêm phong sáp đỏ vào trước lồng ngực mình, gập người xuống sát mặt sàn gỗ, hai mắt nhắm nghiền lại. Những giọt nước mắt kìm nén suốt một đêm dài căng thẳng, sợ hãi, giận dữ và tủi nhục rốt cuộc cũng vỡ òa ra, tuôn rơi lã chã, lăn dài trên đôi gò má tái nhợt và thấm ướt một mảng áo trước ngực.

Suốt bốn năm trời đằng đẵng qua, cô tự giam cầm linh hồn mình trong căn tiệm bánh nhỏ bé nơi hẻm cụt này. Cô trốn chạy ánh mặt trời rực rỡ, trốn chạy toàn bộ thế giới ngoài kia, trốn chạy quá khứ trong nỗi mặc cảm tội lỗi tột cùng. Cô luôn đinh ninh và tự dằn vặt bản thân rằng chính sự bồng bột, ích kỷ và cố chấp của mình trong cái đêm mưa định mệnh năm ấy đã gián tiếp gây ra tai nạn cướp đi sinh mạng của người mẹ kính yêu, và cũng chính sai lầm ấy đã khiến người thầy mà cô hằng tôn sùng phải thất vọng đến mức bỏ đi không một lời từ biệt. Cô ngỡ rằng thầy Bách đã ghê tởm cô, ruồng bỏ cô, trừng phạt cô bằng một sự im lặng tàn nhẫn và vĩnh viễn cắt đứt mọi mối dây liên hệ.

Thế nhưng, con dấu này… lời trăn trối của thầy về căn nhà kính thảo mộc… và bức thư niêm phong sáp đỏ mà thầy đã lặng lẽ để lại trên bàn bếp trước khi biến mất…

Tất cả những điều đó chứng minh rằng thầy chưa từng một giây một phút nào ruồng bỏ cô!

Thầy không hề quay lưng lại với đứa học trò nhỏ dại. Thầy đã để lại một lối đi bí mật, một ngọn hải đăng le lói giữa đêm giông bão, kiên nhẫn chờ đợi suốt từng ấy năm trời cho đến ngày cô thực sự trưởng thành, cho đến ngày cô đủ dũng khí để vượt qua nỗi sợ hãi tột cùng mà đối diện với sự thật và đón nhận di sản thực sự của ông.

Dưới nhà, tiếng bước chân khẽ khàng của Lam và tiếng thở trầm ấm, vững chãi của Thịnh vọng lên qua những kẽ hở của sàn gỗ thông, xua tan đi sự lạnh lẽo cô quạnh vốn đã bao trùm lấy căn gác xép suốt bao mùa đông.

Tiếng móng vuốt cào nhẹ trên gỗ vang lên. Con mèo Mè từ từ bước lên từng bậc cầu thang, lách qua hai ống quần của Thịnh, tiến lại gần nơi Nhiên đang quỳ. Nó áp cái đầu tròn xoe lông lá của mình vào mu bàn tay đẫm nước mắt của cô, khẽ cất lên những tiếng kêu *gừ… gừ…* trầm ấm, đều đặn và khoan khoái. Cái đuôi đen của nó khẽ quấn quanh cổ tay cô, như một lời nhắc nhở dịu dàng rằng màn đêm tăm tối nhất đã đi qua, và cô không còn phải đơn độc một mình trên con đường phía trước nữa.

Nhiên hít một hơi thật sâu, luồng không khí thơm mùi thảo mộc khô tràn vào lồng ngực làm dịu đi cơn đau thắt. Cô đưa tay áo quẹt khô những giọt nước mắt còn đọng trên má, rồi cẩn thận, nâng niu đặt bức thư niêm phong sáp đỏ trở lại vào trong lòng chiếc hộp thiếc.

Thế nhưng, lần này cô không đậy kín nắp hộp lại nữa. Cô để chiếc nắp thiếc mở hé một nửa, để ánh sáng vàng từ bóng đèn có thể rọi vào bên trong.

Nhiên chống tay đứng dậy. Đôi chân cô dù vẫn còn mỏi nhừ sau một đêm kiệt sức, nhưng từng bước chân bước xuống cầu thang gỗ giờ đây lại vô cùng vững vàng, thanh thản và dứt khoát.

Dưới quầy bánh, Tạ Diệp Lam vẫn đứng yên ở vị trí cũ kiên nhẫn chờ đợi, hai bàn tay đan chặt vào nhau với ánh mắt ngập tràn vẻ áy náy và hồi hộp lo âu. Khi nhìn thấy Nhiên bước xuống với đôi mắt tuy còn đỏ hoe vì nước mắt nhưng đã lấy lại được vẻ trong trẻo, sâu lắng và một sự kiên định lạ thường, Lam khẽ thở phào nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong lồng ngực cô dường như vừa được nhấc bỏ.

“Nhiên… em không sao chứ?” Thịnh bước lại gần bên cạnh, giọng anh trầm ấm, chan chứa sự chở che mộc mạc của một người anh lớn.

Nhiên ngước nhìn Thịnh, khẽ gật đầu, rồi cô quay sang nhìn thẳng vào Diệp Lam. Trên khóe môi của người thợ làm bánh trẻ tuổi thoáng nở một nụ cười mờ nhạt nhưng vô cùng thanh thản và nhẹ nhõm:

“Tôi không sao đâu. Cảm ơn cô, cô Lam. Cuốn sổ tay của cô… và những điều cô vừa kể về thầy Bách, đã giúp tôi tìm lại được một thứ quý giá mà suốt bốn năm qua tôi ngỡ rằng mình đã đánh mất vĩnh viễn.”

Diệp Lam cúi đầu thật sâu một lần nữa, giọng cô nghẹn ngào nhưng chân thành đến tận đáy lòng:

“Tôi không làm gì to tát cả, tôi chỉ đang trả lại những gì vốn dĩ thuộc về người kế thừa thực sự của thầy Bách mà thôi. Tôi xin lấy danh dự của một người thợ bánh ra để bảo đảm với cô, từ nay về sau, Nhóm Bếp Mới và những kẻ hiếu kỳ trên mạng sẽ không bao giờ dám bén mảng đến làm phiền sự yên bình của tiệm bánh này nữa. Tôi hứa đấy.”

Đúng lúc ấy, chiếc đồng hồ quả lắc bằng đồng cổ kính treo trên vách tường gỗ thông buông ra ba tiếng chuông trầm đục: *boong… boong… boong…*

Ba giờ sáng.

Thời khắc tiệm bánh Lúc Nửa Đêm phải chính thức khép lại một ngày làm việc theo đúng quy ước bất di bất dịch đã đến.

Diệp Lam cúi chào tạm biệt hai người rồi lặng lẽ đẩy cửa bước ra ngoài con hẻm, bóng dáng mảnh khảnh của cô nhanh chóng tan biến vào màn sương đêm đang bắt đầu loãng dần. Thịnh tiến lại gần cánh cửa ra vào, đưa tay kéo chốt thanh then cài bằng sắt dày cộp, khóa chặt cánh cửa lại, ngăn cách hoàn toàn không gian ấm cúng, thơm mùi bột mì bên trong với cái lạnh cắt da cắt thịt của phố núi bên ngoài.

Nhiên bước lại gần khung cửa sổ kính, đưa tay lau đi một mảng hơi nước mờ mịt để nhìn ra đầu hẻm Hoa Đăng.

Phía chân trời đằng sau những rặng thông điệp trùng xa xăm, bóng tối đen đặc quánh của đêm muộn đang dần dần rạn vỡ, chuyển dịch sang một gam màu lam thẫm tĩnh lặng và bao la của khoảnh khắc trước lúc rạng đông.

Lần đầu tiên sau bốn năm ròng rã tự giam mình trong ca làm việc đơn độc từ mười hai giờ đêm đến ba giờ sáng, Lạc Nhiên không còn cảm thấy nỗi sợ hãi run rẩy khi nhìn về phía màn đêm đang sắp sửa tàn lụi nữa.

Bởi vì sâu thẳm trong thâm tâm mình, cô biết rằng, cánh cửa dẫn đến nơi ẩn náu của quá khứ, nơi cất giữ câu trả lời cho toàn bộ những nỗi đau của đời cô, không hề nằm ở một nơi xa xôi vô định nào cả.

Nó đang nằm ngủ vùi trên con dốc sương mù ngập tràn sắc hoa dại của ngọn đồi Mimosa.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn