Thành Phố Trên Mây Hay Mất ĐồC.1 / 9
Chương 1

Kiện hàng không chịu đi tiếp

Buổi sáng ở Vân Thành bao giờ cũng bắt đầu bằng tiếng chiếc ấm đồng da cóc huýt sáo cãi nhau chí choác với người chủ nhà đang ngái ngủ bên dãy ban công gỗ sồi, trong khi Nhi vừa dùng hai ngón tay miết chặt mối gút trên quai chiếc túi bưu tá bằng da bò sáp, vừa chăm chú kiểm tra sợi chỉ niêm phong đang phát ra ánh lân tinh xanh biếc trên bưu kiện đầu tiên của ngày mới.

Mặt trời trên biển mây thức dậy sớm hơn nhiều so với những cư dân còn đang vùi mình dưới lớp chăn dệt bằng sợi bông mây ấm sực. Khi vầng dương đỏ ối vừa nhô lên khỏi ngấn sương xa tít tắp, từng vạt nắng non màu mật ong loãng đã lách qua những khe hở giữa các tấm ván sàn thông đỏ, rọi nghiêng nghiêng xuống khoảng sân sau của Bưu Cục Gió. Đó là một tòa nhà ba tầng cổ kính xây cất từ thứ gỗ thiết mộc ngâm dầu và những thanh giằng hợp kim sáng bóng, có phần mái hiên cong vút vươn dài ra ngoài không trung tựa hệt như nắp của một chiếc phong bì khổng lồ đang hé mở để đón lấy từng ngọn gió từ bốn phương tám hướng thổi về.

Nơi đây lúc nào cũng chìm trong một sự hỗn loạn quen thuộc, êm đềm và đầy nhịp điệu. Hệ thống ống đồng dẫn thư dùng áp suất khí nén chạy ngoằn ngoèo khắp các bức tường thỉnh thoảng lại rùng mình một cái, hắt hơi đánh *phụt* thật to, nhả ra một cuộn giấy da bay là là giữa đám bụi mây li ti trước khi rơi trúng chiếc giỏ mây của một nhân viên bưu tá đang trực ca. Phía góc sân rợp bóng cây mây cẩm thạch, trạm sạc điện sấm liên tục phát ra những chuỗi tiếng nổ tanh tách giòn giã; từng tia chớp tím tí hon nhảy nhót quanh những thanh đồng tiếp điện, nơi bầy thoi liên lạc cơ khí đang cắm phần đuôi xẻ rãnh vào ổ sạc, lim dim đôi mắt thấu kính để sưởi ấm toàn bộ khối động cơ tinh xảo bên trong sau một đêm dầm mình trong sương lạnh của tầng không.

Nhi khẽ kéo vành chiếc mũ bưu tá may bằng vải bố thô xuống thêm một đốt ngón tay để ngăn vạt nắng ban mai chọc thẳng vào khóe mắt. Mười ba tuổi, vóc người mảnh khảnh nhưng đôi chân thoăn thoắt, cô bé luôn lấy làm hãnh diện rằng mình sở hữu đôi mắt tinh tường nhất trong toàn bộ lứa bưu tá tập sự của năm nay, cùng hai lá phổi đủ khỏe khoắn để chạy một mạch qua ba ngàn bậc thang gỗ nối giữa các tầng nổi của thành phố mà lồng ngực chẳng cần phải phát ra một tiếng thở dốc nào.

“Kiểm tra dung lượng trữ điện: chín mươi sáu phần trăm. Cánh trái: khớp cầu hợp kim đạt độ trơn trượt chín mươi hai phần trăm, ghi nhận dấu hiệu khô dầu hạt cải mức độ nhẹ. Khẩu độ quang học: thông suốt không vật cản. Toàn bộ hệ thống sẵn sàng khởi hành theo đúng tinh thần Quy chế Vận hành Thiết bị Cơ khí Tự hành số không-không-bốn ban hành mùa sương năm ngoái!”

Một giọng nói the thé, đanh gọn, mang theo âm sắc kim khí khô khốc và kiểu cách đến buồn cười vang lên ngay sát bên tai cô bé. Ríu – chú chim máy có bộ lông ghép từ hàng trăm phiến đồng mây mỏng tang, dát mịn như cánh ve sầu – nghiêng nghiêng chiếc đầu tròn xoe. Bên trong hốc mắt chú, một cụm thấu kính quang học ba tầng bắt đầu xoay rè rè để điều chỉnh tiêu cự từ xa về gần. Ríu đập phành phạch đôi cánh kim loại tạo nên một luồng gió cục bộ lành lạnh làm bay tung mấy lọn tóc mai lơ thơ trước trán Nhi, rồi vụng về đáp xuống mỏm đệm vai trên chiếc áo khoác bưu tá dày cộp của cô, các móng vuốt bằng đồng bấm lách cách vào đường chỉ may viền.

“Ríu này, tớ van cậu đấy, bớt trích dẫn mấy cái quy chế mà cậu tự xào xáo lại trong bộ nhớ đi chép miệng đi,” Nhi bật cười giòn tan, bàn tay vỗ nhẹ vào chiếc hông bằng kim loại mát lạnh của chú chim máy rồi đưa tay xốc lại dây đeo chiếc túi bưu tá nặng trịch bên hông. “Sáng hôm nay lộ trình của chúng ta dễ thở lắm, chỉ có ba kiện hàng ca sớm thôi. Kiện đầu tiên nhẹ tênh, là một gói vật tư cơ khí nhỏ cần chuyển gấp về mạn khu cư xá thợ máy phía đông. Cậu liệu mà bay bám sát theo vai tớ, tuyệt đối không được sà vào mấy chậu cây mây của các cô bác bên đường để vờ vịt bắt sâu rởm nữa đâu đấy nhé.”

Ríu lập tức phồng căng khoang ức bằng đồng mạ bóng loáng lên, các khớp bánh răng bên trong lồng ngực cọ xát vào nhau kêu tanh tách đầy vẻ bị xúc phạm ghê gớm:

“Đó không phải là hành vi bắt sâu rởm! Đó là hoạt động trinh sát và tuần tra bảo đảm an toàn hành lang bay tự nguyện thuộc cấp độ bưu tá danh dự! Cô bé Nhi, cô đang bộc lộ sự thiếu tôn trọng sâu sắc và có hệ thống đối với một sản phẩm cơ khí chuẩn mực, được lắp ráp tỉ mỉ bởi chính đôi bàn tay tài hoa của Phường Thợ Chắp đấy nhé!”

Nhi không buồn đôi co tiếp với cái loa phát thanh bướng bỉnh ấy. Cô bé nâng gói hàng nhỏ bọc giấy dầu màu nâu nhạt đang cầm trên tay lên ngang tầm mắt. Gói hàng chỉ nhỉnh hơn một ổ bánh mì lúa mạch, được buộc chặt bằng sợi dây gai bện ba cạnh, bên trên dập một con dấu sáp màu lam biếc mang biểu tượng một cánh buồm no gió cuộn tròn giữa hai vòng tròn đồng tâm. Ngay dưới con dấu, một dòng mực nho màu chàm ghi rõ mã hiệu bảo dưỡng kỹ thuật khẩn cấp: *VT-Đ-07-K*.

Từ ngay chính giữa nút thắt dây gai kiên cố, một sợi chỉ ma thuật màu xanh ngọc bích, mỏng mảnh và trong suốt tựa hồ một sợi tơ nhện dệt từ ánh trăng, đang nhẹ nhàng vươn dài ra ngoài không gian. Sợi chỉ ấy không chịu tác động của những cơn gió sớm đang thổi phần phật quanh sân bưu cục; nó lơ lửng giữa tầng không, khẽ rung rinh nhịp nhàng như chiếc râu của một loài côn trùng tò mò, hướng chiếc mũi nhọn vô hình thẳng tắp về phía đông của thành phố.

“Đi nào, Ríu. Trước khi chuông điểm tám giờ gõ là kiện này phải nằm trên bàn thợ rồi.”

Hai đứa rời khỏi khoảng sân sau lát ván của Bưu Cục Gió, sải bước qua cánh cổng vòm bằng sắt uốn để bước thẳng lên cây cầu treo lớn lát gỗ thông nối liền khu hành chính với các dãy phố dân cư.

Buổi sớm mai ở mạn đông Vân Thành luôn khoác lên mình một vẻ đẹp lãng đãng, vừa hư ảo lại vừa ngập tràn hơi thở ấm áp của đời sống trần tục. Ngay dưới chân họ, lớp mây tầng thấp cuộn tròn lại thành từng tảng lớn mềm mại như những cuộn len xốp trắng phau, bồng bềnh trôi dạt và nâng đỡ trọn vẹn toàn bộ mạng lưới dầm gỗ, khung thép và những thanh giằng hợp kim sáng lấp lánh của thành phố nổi. Dọc theo hai bên hành lang gỗ rộng thênh thang, các hộ gia đình đã bắt đầu đem những chậu mây nuôi trong nhà ra đặt dọc theo lan can để đón lấy từng giọt nắng sớm.

Mây nuôi trong các chậu gốm tráng men màu lam xôm xốp, ẩm ướt và rung rinh như những khối thạch sống; cứ mỗi bận một luồng gió biển mây từ phía vực sâu ùa qua, chúng lại phì phì nhả ra từng cụm khói mỏng màu trắng sữa, tỏa ra mùi hương thanh khiết của những cơn mưa rào đầu mùa hòa lẫn mùi rêu đá ẩm ướt. Lũ trẻ con chuẩn bị đến trường đi ngang qua đó cứ chốc chốc lại không kiềm chế được tính tò mò, thò những ngón tay nhỏ xíu vào bóp bóp nắn nắn khối mây mềm như thể đang nghịch một nắm bột bánh bao chưa hấp chín, rồi khúc khích cười vang khi lớp bọt mây vỡ tan ra làm mát rượi cả lòng bàn tay.

Những chiếc cầu thang dây bện bằng xơ mây rừng đung đưa nhịp nhàng theo từng nhịp thở của bầu không khí sớm. Cứ mỗi lần gió biển mây thốc mạnh vào sườn dốc của các giàn nổi, hàng trăm bậc thang treo lại phát ra những âm thanh *lách cách, kẽo kẹt* nối tiếp nhau, ngân nga tựa hồ một bản hòa tấu khổng lồ không bao giờ dứt của gỗ và gió. Phía trên cao, cư dân sinh sống ở các tầng ban công nhô ra ngoài khoảng không đang kéo những sợi dây ròng rọc bằng đồng, đưa từng chiếc rổ mây đựng đầy bánh mì nướng giòn rụm xuống cho những người hàng xóm ở tầng sàn phía dưới. Tiếng dao thớt va chạm lanh canh trên những bàn bếp mở, tiếng cười nói râm ran chào hỏi nhau qua lại giữa các giàn treo, hòa cùng mùi bơ cháy thơm lừng và hương cà phê mây ngai ngái xộc thẳng vào cánh mũi, làm bừng tỉnh mọi giác quan của người đi đường.

Nhi rảo bước thoăn thoắt, đôi giày da đế mềm của cô bé gõ đều đặn những nhịp *cộp, cộp* vui tai lên mặt sàn gỗ thông nhẵn bóng. Sợi chỉ ma thuật màu xanh biếc trên bưu kiện duỗi thẳng tắp ra phía trước, tỏa ra một vầng sáng dịu nhẹ dẫn đường, vạch ra một đường cong vô hình lượn lờ qua các ngã ba cầu treo, rồi khéo léo lách qua những lối đi rợp bóng mát của các giàn hoa mây tím ngắt đang độ trổ bông.

Làm một bưu tá chuyển phát nhanh ở Vân Thành là một công việc đầy vất vả nhưng cũng ngập tràn sự thư thái, phần lớn là nhờ vào sự diệu kỳ của sợi chỉ dẫn đường này. Chừng nào địa chỉ ghi trên bì thư hay nhãn kiện hàng vẫn còn giữ nguyên sự kết nối hoàn hảo với hệ thống sổ bộ địa bạ trung tâm của thành phố, thì sợi chỉ ma thuật – vốn được tiếp năng lượng từ mạng lưới các trụ neo không gian khổng lồ – sẽ luôn làm tròn bổn phận của một người dẫn đường mẫn cán nhất. Nó sẽ dẫn người đưa thư đi xuyên qua những mê cung cầu treo chằng chịt, lách qua những con hẻm hẹp chỉ vừa một người lách vai, và tìm đến tận bậc thềm của căn nhà nhận hàng, bất chấp việc những tầng phố xá trên mây này có thể xoay chuyển góc nghiêng hay đung đưa hàng mét mỗi khi có luồng gió lớn quét qua.

Thế nhưng, ngay khi Nhi vừa rẽ ngoặt vào đầu một con phố lát ván quen thuộc – tuyến đường trục dẫn thẳng vào cụm cư xá dành cho thợ máy và công nhân cơ khí của khu vực phía đông – một sự việc vô cùng kỳ quặc bỗng nhiên xảy ra.

Sợi chỉ ma thuật màu xanh ngọc bích trên gói hàng bọc giấy nâu đột ngột giật bắn lên một cái thật mạnh, tựa hồ như chiếc râu tơ của nó vừa va phải một bức tường đá vô hình chắn ngang giữa lối đi.

Nhi lập tức khựng bước lại, đế giày trượt nhẹ một đoạn ngắn trên thanh ván sàn còn đẫm sương sớm.

Vầng sáng xanh ngọc bích êm dịu thường ngày bỗng nhiên chuyển sang nhấp nháy liên hồi, chập chờn như ánh lửa của một ngọn đèn dầu sắp cạn bấc trước cơn gió lộng. Rồi ngay trước đôi mắt mở to đầy kinh ngạc của cô bé, sợi chỉ dẫn đường không còn giữ được hình dáng thẳng tắp kiêu hãnh hướng về phía trước nữa. Thay vì vươn dài chỉ lối, nó bắt đầu co giật từng chập, uốn éo quằn quại như một con sâu rơm bị ai đó chạm nhẹ đầu ngón tay vào lưng. Trong chớp mắt, toàn bộ sợi tơ sáng ấy tự động thu mình lại, cuộn tròn thành một búi chỉ tròn vo, nhỏ cỡ quả táo dại, lơ lửng xoay tít thò lò ngay phía trên nút thắt dây gai của bưu kiện. Búi chỉ cứ quay cuồng tại chỗ một cách tuyệt vọng, phát ra những chuỗi âm thanh *xì xì* khe khẽ giống như giọt nước rơi vào chảo gang nóng, nhất quyết không chịu duỗi đầu nhọn ra bất kỳ phương hướng nào trong không gian nữa.

“Ủa? Lại cái trò gì thế này?”

Nhi chớp mắt liên hồi, bước thêm một bước rồi đưa bàn tay rảnh rỗi quơ quơ quanh khoảng không gian trống rỗng ngay phía trước búi chỉ ma thuật. Chẳng có gì ở đó cả, tuyệt đối không có mạng nhện, không có bẫy dây, cũng chẳng có bức màn phong ấn hay chướng ngại vật nào ngoại trừ luồng gió sớm lạnh buốt đang lùa qua từng kẽ ngón tay thon thả của cô bé.

Điều trớ trêu nhất là, ngay trước mắt cô, chỉ cách vị trí cô đang đứng chừng hai mươi bước chân ngắn ngủi, ngôi nhà số 14 sơn màu xanh da trời vẫn đang sờ sờ ngự trị ở đó, bình thản và vững chãi giữa ánh ban mai. Hàng rào gỗ thông quét vôi trắng bao quanh khoảng sân nhỏ vẫn có vài thanh gỗ bị tróc sơn ở góc dưới bên phải, để lộ ra những thớ gỗ nâu sẫm mộc mạc; chiếc chuông gió đan bằng những vỏ ốc mây màu xà cừ treo lủng lẳng dưới mái hiên vẫn đang va vào nhau lanh canh những chuỗi âm thanh vui tai khi gió luồn qua.

Đó chính là tư gia kiêm xưởng cơ khí nhỏ của bác thợ máy phụ trách tổ bảo trì các chi tiết neo giữ của mạn đông, một người quen cũ mà Nhi đã từng ghé giao thư tín và phiếu lĩnh vật tư không dưới ba lần trong suốt mùa sương vừa qua. Căn nhà nằm ngay đó, số nhà rõ ràng, mắt thường có thể nhìn thấy từng chậu cây lá bạc xếp ngay ngắn trên bậu cửa sổ, vậy mà sợi chỉ bưu cục lại nhất quyết đình công, hành xử như thể toàn bộ khoảnh đất cùng ngôi nhà ấy đã hoàn toàn bốc hơi khỏi cõi thực và biến thành một khoảng chân không rỗng tuyếch.

“Cảnh báo! Ghi nhận lỗi định vị không gian cấp độ hai!”

Ríu lập tức giương thẳng hai cánh kim loại lên trời, các khớp bánh răng bên trong chú kêu rè rè rộn rạo. Chiếc đầu tròn xoe của chú chim máy xoay tít một vòng ba trăm sáu mươi độ quanh trục cổ, thấu kính quang học ba tầng co giãn liên tục đánh *tạch, tạch, tạch* để chụp lại quang cảnh xung quanh. Chú vỗ cánh bay vút lên cao chừng hai sải tay, chao đảo một đường lượn ngắn vụng về trong gió rồi đáp phịch xuống đỉnh một chiếc cột mốc dựng bằng gỗ bên mép đường vỉa hè.

“Cảnh báo khẩn cấp!” Ríu gào lên bằng cái giọng the thé qua chiếc loa màng đồng. “Căn cứ theo khoản ba Điều chín thuộc Quy định Giao thông và Dẫn hướng Đô thị... à không, Quy chuẩn Trật tự Hàng hải Tầng trời số bảy... khoan đã, đợi một chút để tái lập chỉ mục dữ liệu!”

Ríu nghiêng hẳn đầu sang một bên, trong lồng ngực chú bỗng vang lên một chuỗi âm thanh rọt rẹt, lạch cạch kéo dài như thể có ai đó đang xáo tung một đống đĩa đồng ghi âm cũ kỹ bị kẹt cứng trong hộc tủ. Sau chừng ba giây ậm ừ kèm theo tiếng rè rè chói tai của chiếc loa phóng thanh bị nghẹt bụi, chú chim máy bỗng ưỡn ngực ra phía trước, cất giọng vô cùng dõng dạc, chậm rãi và mang một vẻ nghiêm túc đến mức nực cười:

“Căn cứ theo Điều mười hai, Khoản bốn của Quy định Vệ sinh Hè phố và Ban công Nhà nổi thuộc Phân khu Ba: Nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi phơi thảm lau chân có độ ẩm vượt quá bốn mươi phần trăm tại các ngã tư có luồng gió hút mạnh, nhằm mục đích tối thượng là ngăn chặn nguy cơ nước bẩn nhỏ giọt xuống đỉnh đầu của những người đi bộ đang lưu thông ở tầng sàn bên dưới!”

Nhi thở dài thượt một hơi dài thườn thượt, đưa hai ngón tay lên day day nhẹ vào hai bên thái dương đang giật giật vì ngán ngẩm.

“Ríu ơi là Ríu, tớ xin cậu đấy. Chúng ta đang đứng trơ trọi giữa đường vì sợi chỉ dẫn đường bị đứt tín hiệu định vị, chứ có ai ở đây mượn cậu kiểm tra độ ẩm thảm lau chân đâu cơ chứ?”

“Âm thanh bộ nhớ cơ sở dữ liệu gốc không bao giờ sai lệch!” Chú chim máy lập tức đập mạnh đôi cánh bằng phiến đồng vào hai bên mạn sườn, phát ra những tiếng va đập lách cách đanh giòn để bảo vệ luận điểm của mình. “Đoạn ghi nhớ này đã được ta trích xuất nguyên văn từ tệp lưu trữ hành chính ngày mười bốn của tháng trước! Rõ ràng đây là một sự điều chỉnh cần thiết của các cấp có thẩm quyền đối với trật tự đô thị!”

Nhi không buồn tốn hơi sức để tranh cãi với cái khối óc bánh răng lộn xộn ấy nữa. Cô bé hạ gói hàng xuống, cẩn thận kẹp nó vào nách rồi bước từng bước chậm rãi lại gần chiếc cột mốc chỉ tên phố dựng ngay sát mép vỉa hè gỗ.

Đó là một cột trụ vuông vức đẽo bằng thân gỗ thiết mộc đen bóng, có tuổi đời dễ chừng cũng ngót nghét vài chục năm, trên đỉnh được đóng chặt một tấm biển kim loại hình chữ nhật đúc bằng hợp kim đồng mây. Thứ kim loại đặc trưng này của Vân Thành nhẹ hơn đồng đỏ thông thường gấp ba lần nhưng lại sở hữu độ bền bỉ đáng kinh ngạc, không bao giờ bị rỉ xanh hay xỉn màu trước sự bào mòn của sương gió mặn mòi, chuyên dùng để khắc tên đường phố, số nhà và đóng dấu các mốc trắc địa quan trọng trên các tầng nổi. Bình thường, tấm biển này luôn sáng rực dưới nắng với bốn chữ cái được đúc nổi vô cùng sắc nét và ngay ngắn: PHỐ HOA GIÓ.

Thế nhưng lúc này, khi Nhi bước đến thật gần và ngước mắt nhìn lên, đôi mắt hạt huyền của cô bé bỗng mở to hết cỡ, toàn bộ cơ mặt cứng đờ ra vì sững sờ.

Chữ cái cuối cùng trong tên con phố – chữ “Ó” tròn trĩnh, đẫy đà với chiếc dấu sắc vểnh lên một cách kiêu hãnh – đã hoàn toàn biến mất sạch trơn.

Nó không phải là bị một kẻ phá hoại nào đó dùng đục hay dao nạy ra, bởi trên mặt tấm kim loại chẳng hề có lấy một vết trầy xước hay dấu cạy phá nào của công cụ cơ khí. Nó cũng không phải là bị cưa trộm hay rơi rụng do những chiếc đinh ốc giữ chân chữ bị rơ lỏng theo thời gian, bởi chữ trên biển hiệu này vốn được đúc liền một khối với phần mặt bảng từ trong lò luyện kim.

Ngay tại vị trí mà chữ “Ó” đáng lẽ phải ngự trị, giờ đây chỉ còn trơ lại một khoảng trống phẳng lì, nhẵn thín đến mức kỳ dị. Bề mặt kim loại ở chỗ đó nhẵn bóng một cách hoàn hảo, không một tì vết, trơn láng như thể ngay từ cái ngày phôi đồng mây này được rót vào khuôn đúc, người thợ cả chưa từng khắc họa hay nung chảy bất kỳ một nét chữ nào tại vị trí ấy vậy.

Và điều khiến sống lưng Nhi khẽ lạnh toát đi chính là những gì đang bao bọc lấy khoảng trống ấy.

Men theo đường viền tròn vo vô hình của chữ cái vừa biến mất là một lớp bụi mỏng màu bạc lấp lánh. Lớp bụi ấy mịn màng đến khó tin, phát ra những tia sáng li ti huyền ảo dưới ánh nắng sớm rực rỡ, tựa như thứ bột phấn lân tinh rơi rớt lại từ đôi cánh của một con bướm đêm khổng lồ vừa quẹt qua tấm biển hiệu rồi biến mất vào thinh không.

Nhi ngập ngừng giơ ngón tay trỏ của bàn tay phải lên. Cô bé nín thở, cẩn thận chạm nhẹ phần đệm thịt của đầu ngón tay vào mép viền của khoảng trống trơn nhẵn ấy.

Cảm giác đầu tiên ập đến là một luồng hơi lạnh buốt. Lớp bụi bạc mát rượi, mềm mịn như thứ phấn rôm hảo hạng nhất, bám dính lấy đầu ngón tay cô. Khi vừa tiếp xúc với thân nhiệt của da người, những hạt bụi bạc li ti ấy lập tức tỏa ra một làn ánh sáng lân tinh mờ ảo, lay động nhè nhẹ như những đốm lốm đốm của đom đóm mùa hạ, rồi từ từ chìm sâu dần vào từng thớ da thịt của Nhi mà không để lại bất kỳ một cảm giác bết dính, nhờn rít hay mùi vị lạ lùng nào.

“Nhìn cho kỹ này, Ríu,” Nhi hạ giọng thì thầm, âm điệu chùng hẳn xuống, xen lẫn giữa sự tò mò mãnh liệt và một nỗi âu lo mơ hồ đang dâng lên trong đáy mắt. “Mất chữ thật rồi. Biển tên con phố này bị mất mất chữ cái cuối cùng rồi.”

Ríu nghiêng chiếc đầu máy sang một góc bốn mươi lăm độ, thấu kính mắt chớp chớp liên tục, quét từng đường tia sáng màu đỏ mờ dọc theo khoảng trống kim loại nhẵn thín. Chú chim dường như chẳng hề cảm nhận được sự bất thường ghê rợn đang ẩn giấu trong khoảng trống ấy, trái lại, chú lại ưỡn ức đồng lên cao hơn nữa, phát ra những tiếng cạch cạch đầy vẻ tự mãn của một viên chức già cả đời chỉ biết đến các thông tư hành chính:

“Một hiện tượng đơn giản như hạt kê mây non! Rõ ràng là ban quản lý đô thị tầng trên đang triển khai Nghị định Tiết kiệm Hợp kim Đồng Mây giai đoạn ba một cách quyết liệt! Việc chủ động lược bỏ các nguyên âm không thiết yếu ở phần đuôi của danh từ riêng sẽ giúp cắt giảm tải trọng tĩnh của toàn bộ cột biển hiệu xuống đúng không phẩy không không ba phần trăm. Đây là một sáng kiến kỹ thuật mang tính đột phá nhằm gia tăng sức nâng tĩnh học cho toàn bộ thành phố, đề nghị nhân viên bưu tá không suy diễn lung tung làm ảnh hưởng đến tiến độ giao thư!”

“Tiết kiệm cái đầu bọc đồng của cậu ấy!” Nhi gắt khẽ, trừng mắt lườm chú bạn đồng hành lắm lời. “Cậu không hiểu nguyên lý hoạt động của mạng lưới bưu cục à? Chỉ cần một chữ cái trên biển tên phố bị biến mất, toàn bộ mạng sổ bộ ma thuật kết nối với các trụ neo sẽ lập tức ghi nhận rằng địa chỉ này không còn toàn vẹn nữa! Thảo nào sợi chỉ bưu cục lại đình công rồi tự cuộn tròn thành một búi giẻ! Đối với sợi chỉ ma thuật, ‘Phố Hoa Gi’ hoàn toàn không phải là ‘Phố Hoa Gió’, nó không thể tìm thấy cái tên cụt lủn ấy trong danh bạ định vị không gian!”

Những quy tắc vận hành của Bưu Cục Gió nghiêm ngặt và cứng nhắc đến mức phát bực: sợi chỉ ma thuật dẫn đường vận hành dựa trên nguyên lý đồng điệu tuyệt đối giữa những dòng ký tự được ghi chép trong sổ bộ phép thuật trung tâm và các mốc thực địa tồn tại ngoài đời thực. Một cái tên phố bị sứt mẻ một góc, một con số nhà bị mưa gió làm mờ đi một nét, hay tệ hại hơn là một chữ cái bốc hơi không còn một manh giáp như thế này, sợi chỉ dẫn đường sẽ ngay lập tức tự động khóa tín hiệu định vị. Đó là cơ chế an toàn tối cao nhằm ngăn chặn việc bưu tá giao nhầm các bưu kiện quan trọng vào tay người khác, hoặc tồi tệ hơn là bước hụt chân vào những khoảng không gian bị nứt gãy giữa các tầng mây.

Nhi cúi đầu nhìn búi chỉ ma thuật màu xanh ngọc bích vẫn đang lơ lửng xoay tít thò lò và rỉ rả phát ra những tiếng *xì xì* bất lực trên gói hàng, rồi cô lại ngước mắt nhìn về phía ngôi nhà số 14 sơn màu lam nhạt đang nằm cách đó chỉ vài chục bước chân.

Nếu lúc này là một người phát thư máy móc, hoặc tệ hơn là rơi vào tay Tít – cậu bạn bưu tá tập sự cùng khóa với Nhi, người lúc nào cũng kè kè cuốn cẩm nang quy chế bên hông và chỉ chăm chăm làm đúng từng dấu chấm phẩy để tích lũy điểm thi đua – thì chắc chắn mọi chuyện đã diễn ra theo một kịch bản vô cùng quen thuộc: người ta sẽ lập tức quay gót trở lại, mang kiện hàng quay về nộp cho phòng xử lý sự cố kỹ thuật của Bưu Cục Gió, kèm theo một lá đơn tường trình dài ngoằng gồm năm trang giấy nộp sang cho Cục Ngăn Nắp để yêu cầu họ cử thợ đúc kim hoàn xuống hiện trường kiểm tra và làm lại biển tên đường.

Và cái quy trình hành chính rườm rà ấy, Nhi biết quá rõ, sẽ phải mất ít nhất là mười ngày làm việc trôi qua, phải luân chuyển qua bốn phòng ban khác nhau và chờ đợi không dưới sáu con dấu phê duyệt đỏ chót.

Thế nhưng kiện hàng nhỏ bọc giấy nâu này lại dán mã hiệu *VT-Đ-07-K*. Chữ “K” màu đỏ tươi in đậm kia là ký hiệu kỹ thuật tối khẩn, biểu thị cho các cụm linh kiện thay thế dành riêng cho việc bảo trì cơ cấu hãm của Neo Gió Thứ Bảy – chiếc neo khổng lồ cắm sâu nhất xuống đáy vực mây ở khu vực phía đông này, chiếc neo mà Nhi vẫn thường nghe những người thợ già ở bến tàu nhắc tới bằng những cái lắc đầu đầy lo lắng mỗi khi gió mùa đổi hướng. Người thợ máy ở căn nhà số 14 đang cần gói linh kiện này gấp hơn bao giờ hết để kịp thời siết lại những vòng bi hãm trước khi chuông trưa vang lên và các luồng gió chướng bắt đầu gầm thét.

“Kệ xác sợi chỉ,” Nhi lẩm bẩm một mình, ánh mắt kiên định lóe lên sau vành mũ bố thô. “Mình có mắt để nhìn, có chân để bước, và quan trọng nhất là mình nhớ như in con đường này.”

Cô bé nhìn thẳng vào ngôi nhà phía trước. Làm sao cô có thể nhầm lẫn được cơ chứ? Vết sơn màu xanh lam bị tróc một mảng lớn có hình thù giống hệt một con cá chép béo tròn ở góc phải hàng rào gỗ kia chính là “chiến tích” do bàn đạp chiếc xe trượt gió của Nhi vô tình quẹt phải vào một buổi chiều mùa thu năm ngoái; chiếc chuông gió bằng vỏ ốc mây treo trước hiên nhà kia luôn phát ra đúng một nốt *Mi* hơi khàn và nghẹt tiếng, chỉ vì có một hạt cát biển mây cứng đầu bị kẹt sâu trong khe vỏ ốc mà chính tay cô từng mượn kẹp tóc cạy mãi không ra; và trên bậu cửa sổ bằng gỗ dẻ gai kia, chậu cây lá bạc quen thuộc vẫn nằm nghiêng nghiêng một góc ba mươi độ để hứng trọn vạt nắng đầu ngày.

Không cần đến sự chỉ đường của sợi chỉ ma thuật đang dỗi hờn, Nhi sải những bước chân dứt khoát và nhẹ nhàng trên mặt ván gỗ, đi thẳng một mạch tới trước cánh cổng rào của ngôi nhà số 14.

Cô bé vươn tay nhấc chiếc búa gõ cửa bằng đồng thau đúc hình một chiếc đuôi cá vẫy ngược, gõ dứt khoát ba tiếng *cốc, cốc, cốc* vang rền và quen thuộc vào mặt gỗ dày.

Chỉ vài giây sau, tiếng then cài bằng sắt bên trong lách cách trượt ra. Cánh cửa gỗ mở toang, để lộ ra vóc dáng vạm vỡ của một người đàn ông trung niên với gương mặt sạm nắng gió. Bác thợ máy khoác trên mình chiếc tạp dề bằng da bò thuộc dính đầy những vệt dầu mỡ máy đen nhánh, mái tóc hoa râm bù xù như tổ quạ, và trên vầng trán nhăn nheo vẫn còn vắt vẻo một chiếc kính lúp gập ba tầng chuyên dụng của thợ sửa đồng hồ và cơ khí chính xác.

“Bác thợ máy ơi! Bưu Cục Gió giao vật tư kỹ thuật chuyển phát khẩn cấp đây ạ!” Nhi nở một nụ cười rạng rỡ như nắng sớm, hai tay nâng gói hàng bọc giấy dầu đưa ra phía trước một cách cung kính.

Người đàn ông thở phào ra một hơi dài thượt, bờ vai căng cứng của bác chùng xuống như thể vừa trút bỏ được một khối đá nặng ngàn cân đè nặng trên ngực suốt từ nửa đêm:

“Trời phật phù hộ, may mắn quá chừng! Cả buổi sáng ta cứ đứng ngồi không yên, chỉ sợ gió chướng nổi sớm làm bưu cục hoãn các chuyến chuyển phát mạn đông này chứ! Cụm vòng đệm hãm này mà không được đưa về kịp trước mười giờ sáng thì cái guồng quay của trục phụ dưới trạm neo số Bảy kẹt cứng ngắc mất thôi, lúc đó thì cả góc thành phố này tha hồ mà chao đảo!”

Bác vội vã đón lấy kiện hàng từ tay cô bé, nhanh nhẹn rút mẩu bút chì mộc cài sau vành tai đầy dầu mỡ ra, ký xoẹt một nét chữ ngoằn ngoèo nhưng dứt khoát vào cuốn sổ biên nhận mà Nhi vừa chìa tới.

Ngay khoảnh khắc những ngón tay thô ráp của người nhận chạm vào nút thắt dây gai, điều kỳ diệu lại diễn ra: búi chỉ ma thuật màu xanh ngọc bích đang cuộn tròn bỗng nhiên giãn bung ra, rồi biến thành một làn khói sáng mong manh, bay vút lên không trung tựa như một vệt sương sớm rồi tan biến hoàn toàn vào ánh nắng ban mai rực rỡ. Thủ tục chuyển phát bưu kiện đã chính thức hoàn tất – đúng người, đúng địa chỉ thực tế, và đúng thời gian quy định, bất chấp sự cố sợi chỉ dẫn đường đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa ở đầu phố.

“Cảm ơn cháu nhiều lắm nhé, cô bé bưu tá cừ khôi nhất của Bưu Cục Gió!” Bác thợ máy cười xòa, để lộ hàm răng ám khói thuốc lá mây, vẫy vẫy tay chào Nhi rồi vội vã ôm ghì lấy gói hàng quay tót vào gian xưởng bên trong, đóng sầm cánh cửa gỗ lại để bắt đầu công việc cân chỉnh cơ khí đầy gấp rút.

Nhi đứng lại trên bậc thềm gỗ thông một thoáng. Nụ cười tươi tắn trên khóe môi cô bé dần dần lắng xuống, nhường chỗ cho một nét đăm chiêu, nghiêm nghị hiếm thấy trên gương mặt của một cô bé mười ba tuổi.

Cô bé không vội vã quay gót rời đi ngay. Chờ cho tiếng bước chân dồn dập cùng những âm thanh kim loại va đập leng keng của bác thợ máy khuất hẳn sau gian buồng trong, Nhi mới bước lùi lại mép vỉa hè, đưa mắt nhìn quanh quất khắp con phố nhỏ. Giờ này, con phố vẫn còn chìm trong sự tĩnh mịch của buổi sớm, chỉ có tiếng gió mây thổi xào xạc qua những giàn dây leo tím ngắt và tiếng Ríu đang lách cách dùng mỏ rỉa lại mấy sợi lông bằng phiến đồng trên khớp cánh.

Nhi thò bàn tay nhỏ nhắn vào sâu bên trong túi áo ngực của chiếc áo khoác bưu tá, cẩn thận rút ra một cuốn sổ tay bìa da nhỏ chỉ cỡ bằng lòng bàn tay. Cuốn sổ có lớp bìa may bằng da cừu non cũ kỹ, bốn góc mép đã sờn rách và bóng loáng lên theo năm tháng – một cuốn sổ ghi chép hoàn toàn riêng tư mà cô bé luôn cẩn mật giấu kín, tuyệt đối chưa từng để lộ cho bà ngoại Tâm hay bất kỳ ai trong ban điều hành bưu cục nhìn thấy dù chỉ một lần.

Nhi sợ lắm. Một nỗi sợ rất trẻ con nhưng cũng vô cùng chân thật: cô bé sợ rằng nếu mình đem chuyện này báo cáo lên ban giám đốc, rằng trên các tuyến đường giao hàng thường nhật của cô liên tục xuất hiện những địa chỉ bị lỗi ma thuật kỳ lạ, những tấm biển tên phố bỗng nhiên bị khuyết mất chữ cái, hay những bậc thang gỗ bỗng dưng không cánh mà bay... thì ban điều hành – hay nghiêm khắc hơn là chính bà ngoại Tâm – sẽ lập tức ra quyết định thu hồi quyền tự do chọn tuyến giao hàng của cô. Họ sẽ bắt cô phải ngồi lỳ trong căn phòng phân loại thư từ ngột ngạt đầy bụi giấy ở tầng trệt bưu cục, hoặc tệ hơn là chỉ giao cho cô những tuyến đường ngắn ngủn, an toàn và tẻ ngắt quanh khu vực quảng trường trung tâm lát đá hoa cương.

Đối với Nhi, việc mỗi buổi sáng được mang túi hàng chạy nhảy trên những cây cầu treo lộng gió khắp các tầng mây của Vân Thành, được hít thở bầu không khí mặn mòi sảng khoái và khám phá từng ngóc ngách bí ẩn của thành phố nổi này chính là toàn bộ niềm vui sống của cô bé. Cô không thể để bất kỳ quy chế cứng nhắc nào cướp mất bầu trời của mình được.

Nhi quay gót, bước nhanh trở lại chân chiếc cột mốc tên phố ở đầu đường.

Đứng trước tấm biển bằng hợp kim đồng mây nhẵn bóng, Nhi quỳ một bên đầu gối xuống mặt sàn gỗ thông còn lành lạnh. Cô bé mở cuốn sổ tay bìa da ra, cẩn thận lật qua từng trang giấy thô màu ngà đã ken dày những dòng chữ viết tay nắn nót, ghi chép lại toàn bộ những điều kỳ quặc và bất thường mà cô đã âm thầm chứng kiến trong suốt hai tuần lễ vừa qua:

Một chiếc móc treo đèn lồng công cộng bằng sắt rèn ở ngõ Gió Lộng đã biến mất không dấu vết vào một sáng thứ Ba, để lại trên cây cột gỗ một vệt bụi bạc tròn vo trơn nhẵn;

Tiếng chuông điểm nửa giờ của tháp chuông nhà thờ Phường Thợ Mộc bỗng dưng câm bặt suốt ba ngày liền, mặc cho quả lắc bằng đồng nặng hàng tạ bên trong vẫn miệt mài gõ nhịp vào không khí mà không phát ra một âm vang nào;

Hai bậc thang bằng gỗ mun đen nhánh ở nhịp cầu thang xoắn ốc số Ba nối giữa tầng sàn và giàn treo hàng hóa bỗng dưng bốc hơi sạch trơn trong một đêm không trăng, khiến người ta phải bắc tạm một tấm ván thông để đi qua...

Tất cả những sự biến mất kỳ lạ ấy đều có chung một đặc điểm nhận dạng duy nhất.

Nhi đưa ngón tay trỏ ra, một lần nữa cẩn thận quẹt nhẹ vào phần viền của khoảng trống kim loại trơn láng nơi chữ “Ó” từng tồn tại. Một lớp bụi bạc mịn màng, mát lạnh lập tức bám chặt vào đầu ngón tay cô. Nhi cẩn thận đưa ngón tay ấy áp chặt lên góc trên cùng của một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ tay.

Lớp bụi bạc dính chặt vào những thớ giấy thô ráp, tỏa ra một ánh lân tinh màu kim loại nhàn nhạt, lấp la lấp lánh dưới ánh nắng ban mai rực rỡ tựa như những vảy sao trời rơi rụng.

Ngay bên cạnh vệt bụi bạc lấp lánh ấy, Nhi rút mẩu bút chì mộc nhỏ xíu cài bên mép gáy sổ, cắn nhẹ đầu chì rồi nắn nót ghi lại từng dòng chữ rõ ràng, mạch lạc:

*“Ngày 12 tháng Gió Trong. Đầu Phố Hoa Gió (nay biển hiệu chỉ còn trơ lại chữ PHỐ HOA GI).*

*Chữ Ó bị biến mất hoàn toàn. Bề mặt kim loại nhẵn thín, trơn láng tuyệt đối, không có bất kỳ dấu vết nào của cưa, đục hay lực tác động cơ học. Viền quanh khoảng trống có lớp bụi bạc mịn, phát quang nhẹ khi chạm vào da rồi tự tiêu biến.*

*Sợi chỉ ma thuật bưu cục mang số hiệu 42 từ chối nhận diện địa chỉ, tự động cuộn tròn và mất phương hướng định vị.”*

Ghi chép xong xuôi, Nhi ghé môi thổi nhẹ một hơi cho bay bớt những hạt bụi giấy thừa bám trên mặt trang, rồi cẩn thận gấp cuốn sổ tay bằng da cừu lại. Cô bé nhét sâu cuốn sổ vào chiếc túi may ngầm bên trong ngực áo, kéo khóa đồng lại cẩn thận rồi dùng bàn tay vỗ nhẹ lên ngực để đoan chắc rằng nó đã nằm yên vị ở đó.

Ríu từ trên đỉnh cột mốc vỗ cánh bay là là xuống, đôi móng vuốt kim loại bập trúng chóc vào cầu vai áo của Nhi, chiếc đầu máy tròn xoe lại nghiêng nghiêng dòm ngó với vẻ nghi kỵ tột độ:

“Hành vi tự ý ghi chép, lập hồ sơ và lưu trữ tài liệu trắc địa ngoài luồng mà không thông qua sự phê chuẩn bằng văn bản của bộ phận văn thư lưu trữ là hành vi vi phạm nghiêm trọng điều... ực... điều khoản nào đó nằm ở trang bốn mươi bảy của cẩm nang hướng dẫn thực tập sinh!”

“Cậu mà chịu khó giữ im lặng một chút thì trên cõi đời này chẳng có ai rảnh rỗi bảo rằng cậu là một con chim máy bị hỏng hóc đâu,” Nhi thì thầm qua kẽ răng, bàn tay đưa lên vỗ nhẹ vào chiếc mỏ kẹp bằng đồng mát lạnh của chú chim để dỗ dành. “Đi thôi nào, chúng ta còn hai kiện hàng nặng nữa cần phải giao xong xuôi trước khi hồi chuông trưa của quảng trường bắt đầu đổ đấy.”

Nhi đứng thẳng dậy, xốc lại quai chiếc túi da bò nặng trịch trên vai, hít một hơi thật sâu bầu không khí ngập tràn mùi gió biển mây rồi chuẩn bị xoay gót bước nhanh về phía cây cầu treo lát ván nối sang dãy phố tiếp theo.

Thế nhưng, ngay vào chính khoảnh khắc gót giày da của cô bé vừa nhấc khỏi mặt ván sàn thông đỏ, một âm thanh vô cùng lạ lùng bỗng nhiên vang lên từ ngay phía sau lưng cô.

*Tách... khục.*

Đó là một tiếng nấc khô khốc, nghẹn ngào, ngắn ngủn và đanh gọn đến rợn người, tựa như âm thanh của một chiếc lò xo thép bị bẻ gập đột ngột bên trong một chiếc hộp kim loại kín bưng.

Nhi giật thót mình, toàn thân cứng đờ lại trong nửa nhịp thở trước khi quay phắt người lại nhìn về phía phát ra tiếng động.

Ngay dưới chân chiếc cột mốc tên phố vừa bị khuyết chữ, cạnh bờ rào gỗ của ngôi nhà số 14, bác thợ máy trung niên lúc nãy vừa mới bước trở ra mái hiên để nhặt chiếc giẻ lau dính dầu mỡ mà bác vô tình đánh rơi ngoài bệ cửa sổ.

Bên hông chiếc tạp dề da của bác, chiếc đồng hồ quả quýt bằng vỏ đồng mây buộc vào sợi dây xích bạc đang đung đưa nhịp nhàng theo từng bước chân bác di chuyển.

Nhi nín thở, đôi mắt tinh tường với thị lực phi thường của cô bé dán chặt vào mặt kính tròn cong vút của chiếc đồng hồ quả quýt ấy.

Bên trong mặt số tráng men trắng muốt, chiếc kim giây màu đen mảnh mai như một sợi tóc vừa đột ngột giật lùi về phía sau một khoảng cách cực nhỏ, chỉ bằng một phần mười vạch chia độ. Nó nấc lên một tiếng *khục* khô khốc, khựng cứng đờ lại giữa hai vạch khắc thời gian, rồi bỏ lỡ đúng một nhịp tích tắc bất thường của dòng chảy thời gian trước khi nặng nhọc, khó nhọc nhích tiếp một bước đi về phía trước.

Không gian xung quanh dường như cũng lạnh buốt đi một cách đột ngột trong đúng một cái chớp mắt mong manh ấy.

Và ngay trên đỉnh của chiếc cột mốc bằng gỗ thiết mộc mang tấm biển đồng đã mất chữ, một làn bụi bạc mỏng manh, lơ lửng giữa thinh không bỗng khẽ xoay tròn thành một vòng xoáy tí hon, rồi lặng lẽ trôi dạt theo từng đợt gió sớm đang thổi qua thành phố nổi.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn