Thầy Cũng Phải Đứng Cuối Hàng Giải Trình
Tiếng gậy trúc lộc cộc gõ từng nhịp khô khốc xuống nền đá hoa cương lạnh lẽo của Kho Lưu Chứng Bạch Đăng. Âm thanh ấy va đập vào những vách đá cổ kính, dội lại giữa không gian kín bưng, nặng nề như tiếng búa gõ niêm phong một nấm mồ đã vùi sâu dưới lòng đất suốt mười năm ròng rã.
Mộc Tri Hối dừng lại trước chiếc bàn tra cứu bằng sa thạch xám. Đôi bàn chân đi đôi giày vải sờn rách cắm chặt xuống mặt đá ẩm ướt, tựa hồ như toàn bộ trọng lượng của thân xác già nua và nỗi ô nhục cả một đời vừa dồn hết xuống hai gót chân run rẩy. Trước mặt ông, xấp tài liệu ố vàng mang mã hiệu lưu trữ BĐ-K-009 đang nằm im lìm dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu cá tra. Những mép giấy da dê qua năm tháng đã quăn queo, rạn nứt như da rắn lột, phơi bày những con số kiểm toán sắc lạnh cùng chính nét thủ bút cứng cáp mà ông từng tự hào khắc sâu vào từng trang sổ sách của Bổ Thiên Môn.
Gió lạnh từ khe cửa đá chưa khép chặt phía xa luồn qua những dãy kệ huyền thiết cao ngất ngưởng. Nó thổi thốc qua từng tầng hồ sơ cũ kỹ, cuốn theo mùi ẩm mốc ngột ngạt của bột giấy mục, mùi hăng nồng của mực tùng yên trộn bột chu sa đã khô khốc từ một thập kỷ trước, cùng hơi thở buốt giá của một rạng sáng không có mặt trời. Đĩa đèn dầu cá chập chờn, bấc đèn cháy xèo xèo phả ra làn khói xám mỏng manh, hắt bóng chiếc áo bào màu chàm vá víu chằng chịt của ông lên vách đá xám xịt. Cái bóng khổng lồ, méo mó, run rẩy theo từng cơn gió lọt, trông giống hệt như một vết rách đen ngòm không bao giờ có thể vá lành trên bức tường thành kiên cố của Tiên Minh.
Mộc Tri Hối đứng đó, hai bờ vai hơi so lại dưới lớp vải thô thô kệch. Trước mặt ông lúc này không phải là chiếc bàn hội thẩm uy nghiêm của Nha Kiểm Soát Tiên Minh, không phải là những cặp mắt soi mói của các vị đại tài phán trên đài cao, cũng chẳng phải đao kiếm sáng quắc của đám hộ vệ chấp pháp sẵn sàng băm vằn thây kẻ phản nghịch. Trước mặt ông chỉ có bốn đứa trẻ. Bốn sinh mệnh mà chính tay ông đã nhặt về từ đống gạch ngói vụn nát sau những trận bão cát, bốn đứa con mà ông đã dùng từng muỗng cháo loãng nấu chung với rễ rau rừng trên đỉnh đồi Vá Áo để mớm cho chúng lớn khôn từng ngày.
Hàn Khuyết vẫn ngồi bệt dưới chân chiếc giá sách bằng huyền thiết lạnh ngắt. Hai bàn tay hắn buông thõng trên hai đầu gối, các khớp ngón tay tím tái vì cái lạnh thấu xương của hầm đá. Thanh kiếm gãy nằm chỏng chơ bên cạnh, lưỡi thép xám ngoét phản chiếu ánh lửa tù mù, để lộ những vết mẻ lởm chởm như răng cưa. Đôi mắt của một gã kiếm tu thường ngày lúc nào cũng sáng quắc như sao băng, thích vênh váo khoe mẽ từng đường kiếm hoa mỹ trước mặt sư đệ sư muội, giờ đây chỉ còn lại một sự đờ đẫn, trống rỗng đến cùng cực. Niềm tin về một đạo tâm thuần khiết, thanh cao không vướng bụi trần của hắn dường như đã bị bẻ gãy gập cùng với thanh kiếm ấy, vỡ vụn dưới sức nặng của những trang giấy đóng dấu đỏ thẫm trên bàn.
Tạ Vân Cơ đứng tựa lưng vào góc bàn tra cứu bên mép trái. Cả người nàng căng cứng như một sợi dây cung kéo quá đà. Những ngón tay thanh mảnh vốn quen cầm kìm kẹp, búa con và thước cặp huyền thiết vi sai — những ngón tay có thể nắn chỉnh từng bánh răng linh cơ nhỏ bằng hạt vừng với độ chính xác tuyệt đối — lúc này đang bấu chặt lấy vạt áo chàm đến mức các khớp ngón trắng bệch, không còn một giọt máu. Khóe môi dưới của nàng bị cắn chặt đến mức rướm máu tươi, từng giọt đỏ sẫm nhỏ xuống cổ áo mà nàng dường như chẳng hề hay biết. Nàng nhìn vào tập hồ sơ, ánh mắt vừa căm phẫn vừa hoảng loạn, như thể toàn bộ thế giới cơ quan chuẩn xác mà nàng dành cả tuổi trẻ để tôn thờ vừa bị một bàn tay vô hình nghiền nát thành mớ phế liệu han gỉ.
Phùng Dược quỳ một chân trên nền đá, hai tay ôm khư khư chiếc hòm thuốc bằng gỗ đào trước ngực như ôm lấy chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa biển dông bão. Mùi thảo dược thanh đắng từ hòm thuốc tỏa ra, quẩn quanh nơi cánh mũi, nhưng không sao át đi được mùi tanh nồng của tội lỗi đang bao trùm gian phòng. Đôi mắt y hoe đỏ, ầng ậc nước, chốc chốc lại ngước lên nhìn bóng lưng còng của sư phụ. Ánh nhìn ấy ngập tràn vẻ ngơ ngác, tuyệt vọng, như một đứa trẻ thơ ngây đang cố chấp chờ đợi một lời phủ nhận, chờ đợi ông quay lại mắng mỏ rằng các con đã nhầm rồi, rằng tất cả những dòng chữ kia chỉ là trò giả mạo bẩn thỉu của kẻ thù dựng lên để bôi nhọ Bổ Thiên Môn.
Thế nhưng, Lâm Tiểu Nghiệp thì không chờ đợi điều đó.
Cậu thiếu niên đứng sừng sững ngay đối diện chiếc bàn đá, khoảng cách giữa cậu và Mộc Tri Hối chỉ vỏn vẹn ba bước chân. Cậu không lùi lại nửa tấc, hai bờ vai gầy gò dưới lớp áo vải gai giữ thẳng tắp, và khóe mắt cậu khô khốc, không có lấy một giọt nước mắt thừa thãi. Trong lồng ngực cậu, khí tức của Luyện Khí tầng hai sơ kỳ đang cuộn xoáy dữ dội, từng đợt linh lực mỏng manh va đập hỗn loạn vào thành kinh mạch nghẽn tắc, mang lại cảm giác buốt rát như thể có hàng ngàn mũi kim sắt đang đâm xuyên từ bên trong.
Và sâu trong thức hải của cậu, nơi mà không một ai trong căn phòng đá này có thể chạm tới, tiếng chuông báo động đỏ rực từ Hệ Thống Hoàn Nghiệp vẫn đang dội lên từng hồi nhức nhối, dồn dập như tiếng trống trận báo tử. Những vệt sáng đỏ lòm quét qua tâm trí cậu, hiển thị dòng cảnh báo lạnh lùng không chút cảm xúc: *Chỉ số gắn kết bản môn sụt giảm nghiêm trọng. Tỷ lệ sụp đổ niềm tin nội bộ chạm mốc cực hạn chín mươi chín phần trăm. Cấu trúc danh phận Chưởng môn đứt gãy. Nguy cơ Bổ Thiên Môn giải thể toàn diện: Cận kề.*
Từng tiếng chuông vô hình ấy giáng thẳng vào thần hồn Lâm Tiểu Nghiệp, khiến thái dương cậu giật giật đau đớn. Nhưng ánh mắt cậu vẫn găm chặt vào người đàn ông già nua trước mặt, không rời dù chỉ một cái chớp mắt.
Mộc Tri Hối chậm rãi thở ra một hơi dài, luồng khí trắng đục tan biến vào không gian buốt giá. Đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ với những vết sẹo do lửa lò rèn và dăm gỗ cứa sâu suốt mấy mươi năm của ông run rẩy vươn ra. Đầu ngón tay trỏ mang vết chai dày cộm khẽ chạm vào mép tờ giấy da dê trên cùng của tập tài liệu BĐ-K-009.
Nơi ấy, dấu triện hình chiếc kim khâu bằng huyền thiết luồn sợi chỉ ngũ sắc vá trời — biểu tượng thiêng liêng về sự sửa chữa, sự bù đắp những khuyết thiếu của thế gian mà Bổ Thiên Môn tôn thờ qua bao thế hệ — vẫn nằm chình ình ở góc dưới. Mực chu sa pha linh huyết đã khô lại qua mười năm, biến thành một màu nâu thẫm như vệt máu đông của một vết thương hoại tử. Nó nằm cạnh chữ ký bay bướm, sắc sảo đầy uy quyền của Ty chủ Tống Duy Cẩn, và nét bút tròn trịa, nắn nót sặc mùi tính toán buôn bán của Lục Kim Toán thuộc Hội Thương Phù.
"Nét chữ này..."
Giọng Mộc Tri Hối cất lên. Nó khàn đặc, vỡ vụn ra từng mảng giữa sự tĩnh lặng ngột ngạt của kho đá, nghe như tiếng hai hòn sỏi thô ráp cọ xát vào nhau dưới đáy giếng cạn. Ông không ngẩng đầu lên, ánh mắt dán chặt vào dấu triện bản mệnh của chính mình, nhưng từng âm tiết phát ra từ lồng ngực già nua đều nặng trịch như chì đúc:
"...Chính là thủ bút của ta."
Tiếng hít sâu nghẹn ngào của Phùng Dược vang lên như một tiếng nấc cụt giữa đêm thanh vắng. Bàn tay ôm hòm thuốc của y run bắn, khiến những lọ sứ đựng đan dược bên trong va vào nhau lách cách rợn người.
Ở góc kệ sắt, Hàn Khuyết bật ra một tiếng cười khẩy. Tiếng cười đắng ngắt, the thé, ngắn ngủi rồi tắt lịm ngay nơi cuống họng, để lại gương mặt tái nhợt như xác chết của gã kiếm tu.
Mộc Tri Hối nhắm nghiền đôi mắt lại. Những nếp nhăn sâu hoắm nơi đuôi mắt và khóe miệng ông giật giật liên hồi, làn da đồi mồi xám xịt như tro tàn lò rèn vừa lụi:
"Mười năm trước... đúng vào mùa thu năm ấy, ngay sau khi đợt bão linh khí thứ tư càn quét qua dải biên thùy nam Vân Châu, ta đã đích thân ký vào bản biên bản thỏa hiệp này. Ta đồng ý hoãn công bố kết quả kiểm toán độc lập đối với toàn bộ công trình đập chắn Bình Kiếp. Không có bất kỳ trưởng lão Tiên Minh nào dùng kiếm kề vào cổ ta. Không có bùa chú mê hồn nào khống chế thần trí ta, và cũng không có ai điểm huyệt ép ta phải hạ bút. Chính bàn tay này... chính ngón tay này của ta, đã rót linh lực bản mệnh vào con dấu của tổ sư, rồi ấn chặt xuống mặt giấy da dê này."
Ông ngừng lại một nhịp, lồng ngực phập phồng nặng nhọc như thể đang phải kéo một cỗ xe đá ngàn cân leo dốc:
"Năm đó, sau khi bão tan, ta theo lệnh điều phối của Tiên Minh tiến hành thẩm định kỹ thuật đập chắn. Khi lật mở các hầm dự trữ ngầm dưới chân móng, ta bàng hoàng phát hiện số liệu vật tư thực tế và sổ sách điều phối chênh lệch một khoảng cách không tưởng tượng nổi. Theo tiêu chuẩn an toàn cấp quốc gia của công trình phòng hộ địa mạch, kho dự phòng chiến lược của đập Bình Kiếp bắt buộc phải tích trữ đủ ba triệu viên linh thạch trung phẩm nguyên khối và năm vạn cụm van tiết lưu bằng hợp kim titan-chu sa để ứng phó khi tâm bão quét qua. Thế nhưng... các con có biết trong kho ngầm lúc đó thực chất có những gì không?"
Khóe mắt Mộc Tri Hối giật mạnh, giọng ông run lên vì căm hờn hòa lẫn nỗi nhục nhã:
"Chỉ có ba mươi vạn viên linh thạch hạ phẩm phẩm cấp rách nát, nhiều viên đã bị hút cạn linh khí chỉ còn là đá vôi vụn bở! Toàn bộ số linh thạch trung phẩm thượng hạng và hàng vạn cụm van titan đã bị Hội Thương Phù của Lục Kim Toán, dưới sự bảo trợ ngầm của một mạng lưới quan chức Tiên Minh, rút ruột sạch trơn để tuồn ra chợ đen thu lợi hàng triệu tử kim tệ. Đập chắn Bình Kiếp khi ấy, bên ngoài thì đồ sộ nguy nga như một ngọn núi thép, nhưng bên trong ruột rỗng tuếch, giòn rụm chẳng khác nào một chiếc bánh xốp ngâm nước. Ta căm phẫn tột cùng. Ta thức trắng ba đêm gom góp toàn bộ bằng chứng, lập hồ sơ kiểm toán sai lệch, dự định sáng hôm sau sẽ nộp thẳng lên Nha Kiểm Soát Tiên Minh tại kinh đô... Thế nhưng, ngay trong đêm mưa trước ngày khởi hành, Tống Duy Cẩn đã đích thân đến tìm ta."
Không khí trong kho dường như đông cứng lại thành băng. Tạ Vân Cơ cắn chặt môi, mắt trừng trừng nhìn sư phụ.
"Hắn đến một mình, không mang theo binh lính hộ vệ, không dùng đao to búa lớn để đe dọa tước đoạt mạng sống của ta." Mộc Tri Hối cười chua chát, nụ cười méo mó trên gương mặt già nua: "Hắn chỉ mang theo một chiếc hòm gỗ mun. Bên trong chiếc hòm đó không phải vàng bạc hay đan dược hối lộ, mà là sổ bộ cấp phát lương thực và ngân sách trợ cấp tu chân mùa đông của ba mươi hai môn phái nhỏ bé, hạ đẳng nằm rải rác dọc theo dải đồi hoang biên giới. Hắn ngồi đối diện ta, đặt từng phong bì thư mang dấu triện đỏ của Nha Tài Chính lên bàn trà. Hắn rành rọt phân tích cho ta nghe: nếu ta công bố tập hồ sơ này, vụ bê bối sẽ làm rung chuyển toàn bộ Vân Châu, ngân sách của Tiên Minh sẽ lập tức bị đóng băng để phục vụ điều tra, và việc đầu tiên bọn họ làm để 'ưu tiên khắc phục khủng hoảng' chính là cắt bỏ toàn bộ viện trợ lương thực, linh thạch sưởi ấm cho các tông môn rách nát ở vùng rìa."
Mộc Tri Hối mở bừng mắt ra. Đôi tròng mắt đục ngầu của ông vằn lên những tia máu đỏ lòm, như thể ngọn lửa thiêu đốt mười năm trước lại một lần nữa bùng cháy trong tâm can:
"Hắn nhìn thẳng vào mắt ta và nói rằng, nếu ta kiên quyết tố giác, đồi Vá Áo của Bổ Thiên Môn sẽ bị liệt vào danh sách phế tích nguy hiểm có nguy cơ sụp đổ, tông môn lập tức bị thu hồi môn bài, bị xóa tên khỏi sổ bộ các phái tu chân. Và bốn đứa trẻ mồ côi mà ta vừa mới nhặt về từ đống gạch vụn sau bão... bốn đứa trẻ không có hộ tịch, không có căn cốt thượng thừa, không có người bảo trợ pháp lý... sẽ ngay lập tức bị quy vào diện dân vô gia cư lưu lạc và bị tống thẳng vào các trại lao dịch khổ sai của Tiên Minh ở mỏ đá phương Bắc!"
Lồng ngực Mộc Tri Hối dập dồn, hơi thở rít qua kẽ răng như tiếng bễ lò rèn rách gió:
"Ta nhìn thấy các con khi ấy... Đứa thì sốt rét co giật nằm co ro trong góc bếp dột nát, tấm chăn bông rách tơi tả không đủ che kín đôi chân tím tái. Đứa thì gãy lìa cánh tay phải, xương đâm trồi qua da mà ta không có nổi ba đồng bạc vụn để mua một nắm bột nối xương Tục Cốt Tán. Đứa thì đói lả, bụng trướng to vì phải nhai rễ chuối rừng và đất sét trừ bữa... Tống Duy Cẩn bảo ta: chỉ cần ký vào biên bản hoãn công bố năm năm, hắn sẽ dùng quyền hạn của Ty Định Nghiệp để bảo đảm dòng linh thạch và lương thực trợ cấp cho ba mươi hai môn phái nghèo kia không bị cắt giảm một hạt, và đồi Vá Áo sẽ có đủ gạo, đủ áo ấm, đủ thuốc men để các con sống sót qua mùa đông buốt giá năm ấy."
Ông gục đầu xuống, hai bàn tay buông thõng bên hông, giọng nói chìm nghỉm vào nỗi đắng cay muôn phần:
"Ta đã sợ hãi. Lòng can đảm cả đời làm thợ của ta đã tan biến trước sự an nguy của các con. Ta sợ các con chết đói trước mắt mình, sợ cái môn phái rách rưới này biến mất không một dấu tích... Cho nên, ta đã cầm bút lên. Ta đã tự huyễn hoặc bản thân rằng mình chỉ đang lùi lại năm năm, rằng sau năm năm khi các con đã lớn khôn, khi ta tìm được chỗ dựa vững chắc hơn, ta sẽ lật lại bản án này. Nhưng... các con ơi, một khi đã quỳ xuống nhượng bộ trước cái ác, thì cái giá phải trả sẽ không bao giờ dừng lại! Năm năm biến thành mười năm. Bản biên bản hoãn công bố đó đã trở thành chiếc gông cùm khóa chặt miệng ta, và sự im lặng hèn hạ của ta đã biến thành tấm lá chắn kiên cố nhất, che chở cho bọn chúng ngang nhiên bòn rút từng giọt linh lực, từng giọt tủy sống của hàng trăm, hàng ngàn phu mỏ mỏ Hồi Thanh suốt cả một thập kỷ qua..."
"Đủ rồi."
Một thanh âm lạnh ngắt, dứt khoát như một nhát dao chém đứt sợi dây thừng căng hết cỡ, đột ngột cắt ngang lời trần tình của Mộc Tri Hối.
Căn phòng đá rơi vào một khoảng lặng chết chóc.
Lâm Tiểu Nghiệp bước lên nửa bước. Khoảng cách giữa hai người giờ đây chỉ còn lại hai bước chân. Đôi mắt đen láy của cậu thiếu niên nhìn thẳng vào đôi mắt già nua, đục ngầu ngập tràn tội lỗi của sư phụ mình. Cậu không hề gào thét, không đập bàn gõ ghế, nhưng từng con chữ cậu thốt ra đều mang theo một sức nặng khủng khiếp, sắc lẹm và lạnh giá như những mảnh sắt tiện văng ra từ đe búa:
"Sư phụ. Người đừng đem chúng con ra làm cái cớ để biện hộ cho sự hèn nhát của mình."
Thân hình Mộc Tri Hối chấn động dữ dội. Ông ngẩng phắt đầu lên, gương mặt nhăn nheo co rúm lại như vừa bị một báng súng nện thẳng vào giữa ngực. Ông lảo đảo lùi lại nửa bước, chiếc gậy trúc trên tay run rẩy chạm vào mép đá phát ra tiếng *cộc* khô khốc.
"Tiểu Nghiệp... đệ đừng nói thế..." Phùng Dược run rẩy cất tiếng van lơn, hai hàng nước mắt rốt cuộc đã trào ra khỏi mi, chảy dài trên đôi gò má tái mét. Y vươn một tay định níu lấy vạt áo Lâm Tiểu Nghiệp: "Sư phụ làm vậy... người cũng là vì chúng ta..."
"Để ta nói!"
Lâm Tiểu Nghiệp không quay đầu lại, nhưng bàn tay cậu dứt khoát gạt nhẹ tay Phùng Dược ra. Ánh mắt cậu vẫn găm chặt trên gương mặt Mộc Tri Hối, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập:
"Sư phụ, từ ngày đầu tiên con được người cõng lên đỉnh đồi Vá Áo, từ khi con cầm chiếc búa con đầu tiên học cách gõ phẳng một tấm sắt cong vênh, người đã dạy con điều gì? Người dạy rằng người nghèo như chúng ta có thể mặc áo vá, ăn cơm độn, nhưng cái nết thì không được rách rưới! Người bảo một cỗ máy dù vĩ đại đến đâu, chỉ cần một con ốc lệch ren, một bánh răng nứt vỡ mà cố tình che giấu, thì sớm muộn gì nó cũng sẽ nổ tung và nghiền nát tất cả những kẻ đứng xung quanh!"
Tiểu Nghiệp giơ cánh tay gầy guộc lên, ngón tay run rẩy vì phẫn nộ chỉ thẳng vào bản biên bản ố vàng trên bàn đá:
"Người dạy con rằng hễ gây ra họa thì phải ngẩng cao đầu đứng tên gánh vác! Năm con mười hai tuổi, bất cẩn làm vỡ chiếc vạc gang đúc linh dược duy nhất của môn phái, người đã bắt con phải nhịn ăn cơm trắng ba tháng liền, ngày ngày đi gánh nước thuê cho phường nhuộm dưới chân núi để kiếm từng đồng bạc vụn chuộc lại chiếc vạc khác. Khi con đụng vào giếng Đậu Vân, khi hệ thống trói buộc linh hồn con, ép con phải ký tên bằng máu tươi vào khế ước chịu phạt, kinh mạch bị bế tắc, linh lực cắn xé da thịt đau đớn đến chết đi sống lại... người đứng bên cạnh nhìn con và bảo rằng: Đó là cái giá phải trả để học cách làm một người tu tiên có trách nhiệm với từng nét bút của chính mình!"
Giọng nói của thiếu niên nghẹn lại, một luồng khí tức uất ức dâng trào nơi cuống họng, khiến đôi mắt cậu đỏ rực:
"Vậy còn người thì sao?! Tại sao người luôn miệng dạy chúng con phải biết chịu phạt, phải biết đứng tên dưới sai lầm của mình, trong khi bản thân người lại chọn cách cúi đầu, ngậm miệng che giấu tội ác suốt một thập kỷ ròng rã?! Người bảo người làm thế là để bảo vệ chúng con ư? Người bảo vệ chúng con bằng cách biến chúng con thành những kẻ sống sót nhờ vào những đồng linh thạch bẩn thỉu, nhờ vào những bát cơm nấu từ máu và linh lực bị cưỡng bức trích xuất của những người phu mỏ khốn khổ ở Hồi Thanh sao?!"
Tiểu Nghiệp bước thêm một bước, áp sát chiếc bàn đá, từng lời nói như sấm sét nổ tung bên tai người thợ già:
"Nếu như sự sinh tồn của Bổ Thiên Môn này... nếu như con đường tu tiên của bốn huynh đệ chúng con bắt buộc phải được xây dựng trên sự đồng lõa nhục nhã với lũ sâu mọt đục khoét đập chắn, thì cái danh xưng Bổ Thiên này rốt cuộc có ý nghĩa gì?! Nó khác gì một trò hề bẩn thỉu lừa mình dối người?! Môn phái như thế này thì khác gì lũ phường săn vô lại chuyên hút máu người ngoài kia?!"
Không gian trong Kho Lưu Chứng Bạch Đăng như bị rút cạn toàn bộ dưỡng khí. Lời chất vấn của Lâm Tiểu Nghiệp đanh thép, trần trụi và tàn nhẫn, bóc trần toàn bộ lớp vỏ bọc đạo mạo của sự hy sinh mà Mộc Tri Hối đã cố bấu víu vào suốt mười năm qua.
Tạ Vân Cơ không kìm được nữa, nàng gục đầu vào cánh tay tựa trên bàn đá, vai run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột. Những giọt nước mắt ấm nóng nhỏ xuống mặt đá lạnh ngắt, loang ra thành những vệt sẫm màu.
Phía sau, Hàn Khuyết vẫn cúi gầm mặt. Bàn tay trái của gã siết chặt thành nắm đấm, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đến mức máu ứa ra từ kẽ ngón tay, chảy dài xuống cẳng tay tím tái. Hắn hiểu từng lời Tiểu Nghiệp nói. Nỗi đau đớn của Tiểu Nghiệp cũng chính là sự sỉ nhục đang cào xé tâm can hắn. Bao năm qua, dù phải mặc áo vá, dù thanh kiếm gỉ sét không có tiền mài giũa, bọn họ vẫn luôn tự hào rằng mình là đệ tử của Bổ Thiên Môn — một môn phái nghèo nhưng ngẩng cao đầu giữa trời đất. Giờ đây, niềm kiêu hãnh duy nhất nuôi dưỡng đạo tâm của bọn họ đã bị chính bàn tay của người thầy tôn kính đập tan thành từng mảnh vụn.
Trước cơn thịnh nộ rực lửa và nỗi thất vọng tột cùng của đứa đệ tử mà mình hết lòng yêu quý, Mộc Tri Hối không hề né tránh.
Ông không rơi một giọt nước mắt nào để mong cầu sự tha thứ hay thương hại. Ông cũng không đem mười năm công ơn dưỡng dục, mười năm bón từng thìa cháo, lau từng giọt mồ hôi sốt rét ra để phản bác hay áp đặt luân thường đạo lý lên đầu đứa trẻ.
Gương mặt già nua đầy vết sẹo của ông dần lấy lại vẻ tĩnh lặng kỳ lạ. Đó là sự tĩnh lặng tột cùng của một người thợ già sau khi đã nhìn thấy toàn bộ cỗ máy mục ruỗng của đời mình sụp đổ — một sự bình thản bi tráng của kẻ đã gánh trên lưng một tảng đá tội lỗi quá nặng suốt mười năm, nay rốt cuộc cũng có thể tự tay đặt nó xuống bàn cân công lý.
"Con nói đúng, Tiểu Nghiệp."
Mộc Tri Hối cất lời. Thanh âm của ông đã ngừng run rẩy, trở nên phẳng lặng, trầm đục nhưng kiên định lạ thường:
"Sai lầm... dù có được khoác lên tấm áo hoa mỹ của tình thương, hay nhân danh sự sinh tồn của bất kỳ ai... thì đến cuối cùng, bản chất của nó vẫn là một tội ác. Nghiệp quả của thế gian này không bao giờ tự động tiêu biến chỉ vì kẻ gây ra nó có một hoàn cảnh đáng thương. Ta đã dành cả đời để dạy các con phải biết đối diện với lỗi lầm, nhưng chính ta... lại là kẻ hèn nhát nhất, dùng các con làm bình phong để trốn tránh trách nhiệm suốt mười năm qua."
Ông hít sâu một hơi, xoay người lại nhìn kiểm sổ viên Nghiêm Túc.
Nghiêm Túc từ nãy đến giờ vẫn đứng bất động bên cạnh giá sách. Tay y vẫn cầm cuốn sổ công vụ bìa đen, ngòi bút lông sói dừng lại giữa không trung, nhưng trong đôi mắt sắc lạnh thường ngày của viên chức kiểm toán Tiên Minh nay đã cuộn trào những gợn sóng phức tạp khó tả.
"Nghiêm kiểm sổ viên." Mộc Tri Hối gọi tên y một cách rành rọt, trang nghiêm: "Lấy giấy da dê và mực chu sa theo đúng quy chuẩn tố tụng đặc biệt của Nha Kiểm Soát Tiên Minh ra đây."
Nghiêm Túc khẽ chấn động mi mắt. Sự chuyên nghiệp của một viên chức pháp lý lập tức kéo y trở về với thực tại. Không nói một lời thừa thãi, y mở chiếc hòm hồ sơ bằng huyền thiết khóa ba lớp đặt bên chân, rút ra một tờ giấy da dê thượng hạng màu vàng nhạt, viền quanh bởi hoa văn chín cánh hoa sen của Nha Kiểm Soát — loại giấy chuyên dụng chỉ dành riêng cho các phiên giải trình trọng án trước Đại Hội Đồng. Y cẩn thận đặt tờ giấy lên mặt bàn sa thạch, rồi lấy ra một nghiên mực đá đen cùng một thỏi chu sa nguyên chất pha linh chu sa lỏng.
Mộc Tri Hối kéo chiếc ghế gỗ mộc sần sùi lại gần bàn. Ông đặt cây gậy trúc sang một bên, chậm rãi ngồi xuống. Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn đèn dầu cá, lưng ông bất giác giữ thẳng tắp — tư thế quen thuộc của một người thợ sửa chữa bậc thầy đang chuẩn bị đối diện với lỗi hỏng hóc chí mạng nhất trong toàn bộ cuộc đời hành nghề của mình.
Ông nâng cây bút lông sói lên, chấm đẫm vào nghiên mực chu sa đỏ thẫm.
Không một chút chần chừ, đầu bút lông hạ xuống mặt giấy da dê, vạch ra những nét chữ cứng cỏi, dứt khoát như đục đá.
Từng dòng chữ viết tay mang linh lực bản mệnh dần dần hiện ra trên nền giấy nhạt. Mộc Tri Hối không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào: ngày, tháng, giờ giấc chính xác của từng cuộc gặp gỡ trong bóng tối giữa ông và Tống Duy Cẩn mười năm trước; những lời đe dọa cụ thể về sổ cấp phát lương thực của ba mươi hai môn phái biên thùy; số liệu chi tiết về ba mươi vạn viên linh thạch mục nát so với ba triệu viên linh thạch trung phẩm theo quy chuẩn an toàn; và cả vai trò làm cầu nối trung gian trục lợi, phân tán tang vật của Lục Kim Toán cùng Hội Thương Phù. Từng thông số kỹ thuật của các van titan-chu sa bị đánh tráo, từng điều khoản thoái thác trách nhiệm trong bản biên bản BĐ-K-009 đều được ông tái hiện lại với độ chính xác cơ học tuyệt đối của một cựu giám sát viên công trình Tiên Minh.
Căn phòng đá chỉ còn lại tiếng ngòi bút sột soạt cào trên mặt giấy da dê thô ráp và tiếng thở nặng nề của những người có mặt.
Đến cuối trang văn bản, nơi dành cho phần kết luận và quy trách nhiệm, ngòi bút của Mộc Tri Hối dừng lại một thoáng. Mực chu sa đọng lại thành một giọt tròn đỏ thắm trên đầu lông sói. Ông không hề do dự, đặt bút viết tiếp những dòng chữ rành rọt cuối cùng:
*«Người giải trình: Mộc Tri Hối, Chưởng môn đời thứ bảy của Bổ Thiên Môn. Nay xin tự nguyện tuyên bố đình chỉ toàn bộ chức vụ chưởng môn, tự tay giao nộp ấn triện bản mệnh của tông môn, chấp nhận tiếp nhận sự điều tra độc lập không điều kiện từ Nha Kiểm Soát Tiên Minh, và sẵn sàng chịu mọi phán quyết hình sự, hình phạt phong tỏa kinh mạch và kỷ luật địa mạch theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.»*
Viết xong chữ cuối cùng, Mộc Tri Hối buông bút lông xuống.
Không cần dùng dao trích máu, ông đưa ngón tay trỏ bàn tay phải lên miệng, dùng hàm răng đã lung lay cắn mạnh vào đầu ngón tay. Máu tươi ấm nóng lập tức ứa ra, đỏ tươi và nồng đượm linh lực bản mệnh của một tu sĩ cả đời gắn bó với đất đá và kim loại.
Ông ấn mạnh đầu ngón tay đẫm máu xuống góc dưới bên phải tờ giấy da dê, ngay cạnh chữ ký của mình.
*Xoẹt!*
Một vệt sáng màu đỏ thẫm bùng lên từ dấu vân tay dính máu, khóa chặt tờ văn bản bằng ấn ký linh hồn không thể chối bỏ hay làm giả.
Mộc Tri Hối dùng cả hai bàn tay nâng tờ giấy giải trình còn ướt đẫm máu tươi lên, hướng về phía Nghiêm Túc:
"Bản giải trình tự nguyện này, cùng với toàn bộ hồ sơ gốc BĐ-K-009, ta xin chính thức bàn giao lại cho cậu. Từ giờ phút này trở đi, ta không còn là Chưởng môn của Bổ Thiên Môn nữa. Ta chỉ là một đương sự mang trọng tội đang chờ ngày ra trước Đại Hội Đồng Tiên Minh để chịu phán quyết."
Nghiêm Túc hít sâu một hơi buốt lạnh vào lồng ngực. Đôi bàn tay vốn luôn cầm bút kiểm toán chuẩn xác đến từng phân ly của y khẽ run lên một nhịp khó nhận ra khi vươn ra đón nhận tờ văn bản đẫm máu. Y cẩn thận trải tờ giấy lên mặt bàn, rút từ thắt lưng ra một chiếc ấn vuông bằng huyền thiết bóng loáng — ấn kiểm toán viên chấp pháp của Nha Kiểm Soát.
*Cộp!*
Tiếng kim loại va đập dứt khoát vang lên giữa kho đá. Dấu ấn màu mực đen nhánh đè lên góc dưới của tờ giải trình, phát ra một luồng linh quang màu lam nhạt khóa chặt toàn bộ chuỗi pháp lý:
"Hồ sơ giải trình tự nguyện tiếp nhận điều tra của đương sự Mộc Tri Hối đã được thụ lý theo Điều 8 Luật Kiểm toán Tiên Minh. Quyền miễn trừ tư pháp của chức vị Chưởng môn Bổ Thiên Môn... chính thức bị đình chỉ kể từ thời khắc này."
Lâm Tiểu Nghiệp đứng nhìn tờ giấy da dê đỏ rực màu máu tươi trên bàn. Trái tim cậu như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, đau đớn đến nghẹt thở. Cậu muốn mở miệng nói một điều gì đó, nhưng cổ họng đắng ngắt, không thốt nên lời. Sự căm giận trong lòng cậu đối với sự lừa dối suốt mười năm qua không hề biến mất, nhưng khi tận mắt nhìn thấy người thầy già nua, người cha nuôi dưỡng mình tự tay ký vào bản án định tội chính mình, không một lời van xin, không một lời trốn tránh... nỗi đau đớn trong lòng cậu càng thêm quặn thắt. Vết rạn nứt giữa họ đã mở ra thành một hố sâu ngăn cách, một vực thẳm của pháp lý và đạo lý mà không thể chỉ bằng một tờ giấy hay vài giọt máu là có thể lập tức hàn gắn lại như xưa.
Trong lúc sự im lặng ngột ngạt đang bóp nghẹt gian phòng, một tiếng thở dài thườn thượt, già nua bỗng vang lên từ chiếc bàn con trong góc tối phía sau giá sách.
*Cạch.*
Lão thủ kho Vệ Lưu Đăng chậm rãi gõ chiếc tẩu thuốc bằng đồng hun xuống chiếc đĩa sứ sứt mẻ. Tàn thuốc lá xám ngoét rơi lả tả xuống mặt bàn. Làn khói thuốc màu xanh nhạt tan dần trong không khí ẩm buốt, để lộ gương mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rễ cây già và đôi mắt đục ngầu, mệt mỏi của lão.
Lão chống hai tay lên gối, đứng dậy một cách khó nhọc. Từng khớp xương của ông lão thủ kho phát ra những tiếng kêu *răng rắc* khô khốc khi lão bước từng bước nặng nề về phía bàn tra cứu.
"Lão Mộc đã tự tay viết bản giải trình rồi..."
Vệ Lưu Đăng lẩm bẩm, giọng nói khàn khàn đặc sệt khói thuốc:
"Vậy thì cái thân già mục nát này... cũng không thể tiếp tục giả điếc giả mù thêm được nữa."
Nói đoạn, bàn tay gầy trơ xương của lão thò vào trong lớp áo bông sờn rách trước ngực. Lão rút ra một tấm thẻ bài bằng gỗ thị đã nhẵn bóng vì mồ hôi tay suốt bốn mươi năm qua — tín vật thủ kho tối cao của Kho Lưu Chứng Bạch Đăng — rồi ném mạnh nó lên mặt bàn đá sa thạch. Tấm thẻ bài nảy lên vài nhịp, va vào xấp hồ sơ BĐ-K-009 phát ra tiếng kêu khô khốc.
Không dừng lại ở đó, Vệ Lưu Đăng tự tay với lấy một tờ giấy công văn trắng từ tập tài liệu của Nghiêm Túc, cầm lấy cây bút lông sói mà Mộc Tri Hối vừa buông ra.
"Mười năm trước, chính mắt ta đã nhìn thấy Lão Mộc ký vào cái thứ rác rưởi này. Chính tay ta đã nhận lệnh, đem bản sao biên bản bẩn thỉu đó nhét vào hòm sắt lưu trữ dưới đáy kho."
Bàn tay già nua của Vệ Lưu Đăng run rẩy, nhưng ngòi bút vẫn găm sâu vào mặt giấy:
"Suốt mười năm qua, ta tự an ủi cái lương tâm rách nát của mình rằng ta chỉ là một kẻ giữ kho hèn mọn. Chức trách của một kẻ giữ kho là 'Lưu chứng bất xuất', là bảo vệ an toàn cho văn bản, tài liệu không bị mối mọt, không bị cháy nát. Ta tự nhủ mình không nhận một đồng hối lộ nào của Lục Kim Toán, không ăn chênh lệch một hạt gạo hay một viên linh thạch nào của đám thương buôn, thì cái thân này vẫn là một kẻ thanh cao, trong sạch..."
Lão thủ kho đột ngột gõ mạnh chuôi bút xuống mặt bàn, cất lên tiếng cười the thé đầy cay đắng và tự giễu:
"Nhưng ta đã nhầm! Cái thứ gọi là 'cầu an', cái thứ gọi là 'chỉ làm tròn phận sự của mình' mà người đời vẫn thường ca tụng... thực chất chỉ là một dạng đồng lõa hèn hạ và đê tiện nhất với cái ác! Biết rõ đập chắn rỗng ruột, biết rõ hàng vạn sinh linh hạ lưu có thể bị chôn vùi trong bùn đất nếu dông bão ập tới, biết rõ hàng trăm phu mỏ đang bị rút cạn tủy sống từng ngày... mà ta vẫn ôm khư khư cái kho giấy lộn này suốt mười năm trời, chỉ để đổi lấy một chén cơm nguội và sự an toàn hèn mọn cho bản thân mình! Sự câm lặng của ta... nhơ nhuốc chẳng kém gì chữ ký của Lão Mộc!"
Ngòi bút của Vệ Lưu Đăng vạch một nét ký sắc nhọn, rồi lão cũng không ngần ngại cắn rách đầu ngón tay cái của mình, ấn mạnh một dấu vân tay đẫm máu xuống dưới:
"Bản tự kiểm điểm về hành vi bao che, không tố giác tội phạm và bất tác vi trong thi hành công vụ của thủ kho Vệ Lưu Đăng. Ta xin giao nộp toàn bộ chìa khóa cấm chế, các trận bàn phong tỏa của Kho Lưu Chứng Bạch Đăng, tự nguyện tiếp nhận thẩm tra và chịu mọi hình phạt của Nha Kiểm Soát cùng với Lão Mộc."
Hai bản tự thú đẫm máu tươi nằm cạnh nhau trên xấp tài liệu kiểm toán BĐ-K-009.
Màn sương mù dối trá che phủ suốt mười năm qua đã bị xé toạc hoàn toàn. Sự thật trần trụi, nhơ nhuốc và tàn nhẫn phơi bày ra đó dưới ánh đèn dầu le lói, không còn chừa lại một kẽ hở nào để bất kỳ ai có thể lẩn tránh hay tự lừa dối bản thân mình nữa.
Bầu không khí trong nội bộ Bổ Thiên Môn chùng xuống tận đáy vực sâu. Sự tổn thương lòng tin giống như một vết chém sâu hoắm đang rỉ máu, biến khoảng cách giữa bốn huynh đệ trở nên xa xăm, lạnh lẽo. Bọn họ đứng đó, trong cùng một căn phòng đá, nhưng dường như mỗi người đã bị giam cầm trong một ốc đảo cô độc của sự hoang mang và đau đớn. Dù cho Mộc Tri Hối và Vệ Lưu Đăng đã chọn cách đối diện với pháp luật, nhưng sự thật nghiệt ngã rằng nền móng môn phái mà bọn họ nương tựa bấy lâu nay từng được dựng lên từ một sự thỏa hiệp hèn hạ là điều không thể nào xóa nhòa trong một sớm một chiều.
Nhìn bốn đứa đệ tử vẫn đứng chết lặng trong sự bàng hoàng và cay đắng, Mộc Tri Hối khẽ tựa lưng vào mép bàn sa thạch, hai bờ vai run lên khe khẽ. Đôi mắt đục ngầu của ông nhìn ra khoảng tối sâu thẳm ngoài cửa kho đá, giọng nói trầm xuống, mang theo một sự cảnh báo u ám và nghiêm trọng chưa từng có:
"Ta biết... các con khinh bỉ ta. Và ta hoàn toàn đáng bị như thế. Nhưng trước khi lính chấp pháp của Nha Kiểm Soát ập tới áp giải ta đi, có một điều tối quan trọng mà các con bắt buộc phải hiểu rõ... về Tống Duy Cẩn."
Tiểu Nghiệp khẽ giật mình, ngẩng đầu lên. Hàn Khuyết và Tạ Vân Cơ cũng khẽ động đậy mi mắt, hướng ánh nhìn nặng trĩu về phía người thầy già.
"Các con đừng lầm tưởng Tống Duy Cẩn là hạng sâu mọt tham ô trục lợi tầm thường như tên gian thương Lục Kim Toán."
Mộc Tri Hối trầm giọng, trong đáy mắt ông lóe lên một nỗi sợ hãi nguyên thủy — nỗi sợ hãi xuất phát từ những ký ức kinh hoàng mười năm trước:
"Lục Kim Toán chỉ muốn tiền bạc, muốn linh thạch, muốn quyền lực thế tục. Loại tiểu nhân đê tiện đó thực ra rất dễ đối phó, bởi vì lòng tham của hắn có giới hạn cụ thể, có thể dùng lợi ích lớn hơn để mua chuộc hoặc dùng vũ lực để trấn áp. Nhưng Tống Duy Cẩn... hắn nguy hiểm hơn Lục Kim Toán gấp mười vạn lần! Bởi vì cả cuộc đời hắn, mọi tội ác mà hắn gây ra, đều được thực hiện nhân danh một thứ mà hắn tuyệt đối tin tưởng... thứ mà hắn gọi là 'đại nghĩa'."
Phùng Dược khẽ nấc lên một tiếng, ngập ngừng hỏi qua làn nước mắt:
"Đại nghĩa... là sao cơ ạ?"
"Hai mươi năm trước, trong trận đại bão linh khí hủy diệt quét qua toàn bộ nam Vân Châu, Tống Duy Cẩn khi ấy mới chỉ là một viên chức nhỏ phụ trách hậu cần." Giọng Mộc Tri Hối chùng xuống, đượm vẻ bi thương tột cùng: "Vợ của hắn — Liễu An — là một y tu dân sự tình nguyện tham gia đội cứu hộ tiền tuyến. Năm đó, vì sự quan liêu, tắc trách và hỗn loạn trong điều phối vật tư của Tiên Minh, trạm cứu hộ nơi Liễu An phụ trách hoàn toàn bị cô lập giữa tâm bão. Bọn họ thiếu thốn thuốc men, không có trận pháp phòng hộ dự phòng, các đường dây liên lạc địa mạch bị cắt đứt sạch trơn. Liễu An đã kiệt sức vì cố duy trì kết giới cứu lấy hàng trăm người dân tị nạn, và cuối cùng... nàng đã chết ngay trước mắt Tống Duy Cẩn, thi thể bị bão linh khí nghiền nát thành tro bụi mà hắn không thể làm được gì."
Mộc Tri Hối siết chặt bàn tay gầy gò thành nắm đấm:
"Cái chết tàn khốc của vợ đã bẻ gãy hoàn toàn tâm trí Tống Duy Cẩn. Hắn không phát điên theo kiểu gào thét cuồng loạn, mà nỗi đau buồn tột cùng không được giải tỏa đã biến thành một nỗi ám ảnh bệnh hoạn, lạnh lùng và điên cuồng ăn sâu vào tủy sống. Từ đống tro tàn của trận bão năm ấy, hắn tự thề với vong linh vợ rằng hắn phải xây dựng bằng được Bình Kiếp Đại Trận — một tấm khiên bất khả xâm phạm, một bức tường thành vĩ đại che chắn cho toàn bộ Vân Châu, để không một cơn bão linh khí nào có thể cướp đi sinh mạng của bất kỳ ai thêm một lần nào nữa."
Mộc Tri Hối nhìn thẳng vào mắt Lâm Tiểu Nghiệp:
"Nhưng cũng chính vì thế, hắn đã biến thành một con quỷ mang gương mặt của đấng cứu thế! Hắn tin rằng để đạt được mục tiêu vĩ đại đó, bất kỳ cái giá nào phải trả trên cõi đời này cũng đều là xứng đáng! Hắn coi việc cấu kết với Lục Kim Toán để luân chuyển dòng tiền, coi việc cưỡng bức trích xuất linh lực của hàng ngàn phu mỏ mỏ Hồi Thanh, coi việc bịt miệng ta và chôn vùi sự thật về sai phạm kỹ thuật... tất cả chỉ là những 'tổn thất thứ cấp chấp nhận được'! Hắn sẵn sàng nghiền nát bất kỳ ai, sẵn sàng giẫm đạp lên bất kỳ môn phái nào dám cản đường hắn, bởi vì trong tâm trí cuồng tín của hắn, hắn không hề làm điều đó vì bản thân mình... mà là đang làm điều đó để 'cứu vớt nhân gian'!"
Lâm Tiểu Nghiệp rùng mình ớn lạnh. Lưng áo cậu ướt đẫm mồ hôi lạnh tự lúc nào.
Cậu chợt nhớ lại bức thư mạ vàng dát ngọc với những dòng chữ nắn nót, tao nhã cùng lời mời "hợp tác kiểm toán" đầy vẻ ân cần mà Tống Duy Cẩn đã gửi tới cậu trước đó. Một kẻ phản diện tham lam vàng bạc thì có thể dùng luật pháp để vạch trần lòng tham của hắn; nhưng một kẻ sẵn sàng lấy danh nghĩa cứu thế, lấy sự an nguy của hàng triệu sinh linh ra để hợp thức hóa mọi tội ác tàn độc nhất — đó mới chính là bức tường thành kiên cố, đen tối và nguy hiểm nhất mà Bổ Thiên Môn từng phải đối mặt.
"Chỉ còn đúng sáu ngày nữa thôi..." Mộc Tri Hối cất giọng run rẩy: "...Siêu bão Địa Sát sẽ chính thức đổ bộ vào Vân Châu. Bình Kiếp Đại Trận hiện tại là tấm khiên duy nhất có thể bảo vệ Thành Thiên Bình. Tống Duy Cẩn biết rõ điều đó hơn bất kỳ ai. Cho nên, hắn tuyệt đối sẽ không từ bất kỳ một thủ đoạn tàn độc nào để bịt miệng những ai dám đe dọa đến sự vận hành của trận pháp..."
Lời của Mộc Tri Hối còn chưa dứt, bên ngoài hành lang đá dẫn vào Kho Lưu Chứng bỗng nhiên vang lên những tiếng rít xé gió chói tai đến rợn người!
*Vút! Vút! Vút!*
Hàng loạt luồng linh áp sắc bén, lạnh lẽo thấu xương như hàn băng từ bốn phương tám hướng đột ngột ập tới, đè bẹp luồng không khí ẩm mốc trong gian kho đá. Ngọn lửa nhỏ nhoi trên đĩa dầu cá tra lập tức phụt tắt, chìm nghỉm vào bóng tối. Toàn bộ cấm chế phòng thủ bằng sa thạch quanh các dãy kệ rung chuyển dữ dội, phát ra những tiếng *răng rắc* ken két như sắp nứt toác.
Từ trong bóng tối sâu thẳm của lối đi, hơn mười bóng đen mặc trường bào huyền sắc thêu phù văn xích sắt bằng chỉ bạc — trang phục đặc trưng của đội chấp pháp trực thuộc Tổng đàn Ty Định Nghiệp — đồng loạt lướt ra như những bóng ma. Kiếm quang màu xanh lam lạnh buốt tuốt khỏi vỏ, tạo thành một vòng vây khép kín, phong tỏa hoàn toàn lối thoát duy nhất của căn phòng.
Một thanh âm the thé, lạnh lùng và vô cảm như tiếng hai thanh kim loại ma sát vào nhau vang lên từ kẻ dẫn đầu, xuyên thủng màn đêm:
"Phụng lệnh khẩn cấp của Ty chủ Ty Định Nghiệp Tống Duy Cẩn! Lâm Tiểu Nghiệp can dự vào hành vi phá hoại an ninh hệ thống phòng hộ địa mạch liên khu, cấu kết đánh cắp bí mật cơ mật quốc phòng cấp một! Lệnh triệu tập đặc biệt: lập tức tra còng khóa linh, áp giải Lâm Tiểu Nghiệp về phủ nha thẩm vấn ngay trong đêm!"