Hội trà đầu xuân
Tiết trời đầu xuân ấm áp xua tan sương giá, cờ phướn ngũ sắc phấp phới bay rợp hai bờ bến Vọng Giang trong ngày hội thi trà thường niên do huyện Thanh Lâm tổ chức.
Từ tờ mờ sáng, khi mặt sông còn bảng lảng một dải hơi sương mỏng manh như tấm sa dệt vội từ ngàn con sóng ngầm, tiếng trống hội từ phía điếm sở tuần đinh đã gióng lên từng hồi giòn giã, thúc giục lòng người rộn rã bước chân. Khắp triền đê thoai thoải dẫn xuống bến ngang, người xe qua lại nườm nượp không ngớt, tiếng bánh xe nghiến trên sỏi lạo xạo hòa trong tiếng cười nói xôn xao. Dân chài từ các bãi bồi hạ lưu chèo những con thuyền thoi chở đầy hoa đào rừng nở muộn, bạn hàng thịt cá từ chợ Đông Tân tất tả quẩy những đôi gánh trĩu hạt sương, phu bến ai nấy đều thay chiếc áo chẽn mới tinh tươm bằng vải mộc chưa phai màu hồ, tụ họp đông nghịt quanh bãi đất bồi đầu bến đò.
Sau những tháng ngày vất vả gồng mình chống chọi với cơn đại hồng thủy làm ngập ngụa xóm bãi và những phiên xử rúng động nha môn vào cuối năm cũ—những biến cố tưởng chừng đã vắt kiệt sinh lực của dải đất ven sông này—ngày hội thi trà đầu xuân năm Ất Dậu như một làn gió lành thổi bừng lên sinh khí mới cho toàn hạt. Người ta đổ về đây không chỉ để xem tài pha trà, bình trà của những tay danh gia cự phách, mà còn để hít thở bầu không khí thái bình, nhìn ngắm mảnh đất sau hoạn nạn đang từng ngày thay da đổi thịt.
Khu đất trống đầu bến đò được đích thân quan Huyện lệnh chọn làm trường thi đã được dọn dẹp sạch bóng từ ba ngày trước. Đất bãi bồi vốn nhão nhoét phù sa nay được rải một lớp cát vàng mịn màng, nện chặt phẳng phiu như sân đình. Người ta dựng lên một dãy rạp thi bề thế bằng tre nứa già ngâm kỹ, lợp mái tranh dày dặn phẳng phiu và căng những tấm rèm lụa viền đỏ trang nghiêm để chắn những cơn gió thốc từ mặt sông thổi thốc vào. Mười chiếc bàn dài bằng gỗ gụ đánh xi bóng loáng, phủ khăn gấm điều thêu hoa văn sóng nước được xếp thành hình cánh cung mềm mại hướng thẳng ra dòng Vọng Giang lộng gió, tượng trưng cho mười cơ sở trà danh tiếng nhất được huyện nha đích thân lựa chọn và phát thiệp mời mạ vàng.
Nằm ở vị trí trung tâm của cánh cung, rực rỡ và lộng lẫy nhất chính là rạp thi của Trà lâu Nghênh Xuân.
Tống Kim Phượng xuất hiện giữa tiếng xì xào trầm trồ, thán phục xen lẫn vị nể của khách bộ hành và dân thị tứ. Hôm nay, bà chủ Nghênh Xuân khoác trên mình chiếc áo tràng dài chấm gót bằng gấm màu hoàng yến dệt nổi hoa mai chìm, vạt áo viền chỉ kim tuyến lấp lánh dưới ánh nắng sớm. Mái tóc đen nhánh của bà ta được chải mượt mà, búi cao thành hình đóa phù dung kiêu sa, cài một chiếc trâm ngọc bích chạm hình phượng hoàng ngậm hạt châu. Phong thái sắc sảo, đĩnh đạc và ánh mắt kiêu hãnh của Tống Kim Phượng khiến bà ta tựa như một bậc phu nhân quyền quý bước ra từ lầu son gác tía nơi kinh kỳ chứ không phải một thương gia chốn bến sông lấm láp.
Dưới trướng bà ta, bốn gã tiểu nhị mặc áo vải xanh viền trắng sạch sẽ, đầu đội khăn xếp ngay ngắn, thoăn thoắt bày biện dàn trà cụ tinh xảo chưa từng thấy bên bến Vọng Giang. Từng động tác của đám gia bộc đều răm rắp theo quy củ nghiêm ngặt, tuyệt không một tiếng va chạm loảng xoảng thừa thãi.
Trên mặt bàn phủ gấm biếc của Nghênh Xuân là bộ ấm chén bằng đất tử sa Nghi Hưng màu gan trâu bóng loáng, mịn màng không tì vết, quai ấm uốn lượn hình cành mai thanh thoát, vòi ấm vươn cao như cổ chim phượng. Bên cạnh, chiếc lò đồng nạm bạc chạm trổ hình song long hí châu đặt trên đế gỗ mun đang tỏa ra những đốm lửa xanh biếc, lặng lẽ không một sợi khói từ loại than hoa cây dẻ rừng đắt đỏ—thứ nhiên liệu chuyên dùng trong các phủ đệ vương tôn công tử nhằm giữ trọn độ thuần khiết của nước sôi mà không vương mùi khói tạp.
Tống Kim Phượng đứng thẳng lưng, khóe môi khẽ nhếch một nụ cười tự tin. Hai cánh tay thon thả, trắng ngần lấp ló sau cổ tay áo gấm uyển chuyển vươn ra, ngón tay búp măng nhẹ nhàng vén dải lụa mỏng phủ trên chiếc tráp gỗ sơn son thếp vàng đặt trang trọng giữa bàn.
Nắp tráp vừa mở, bên trong lộ ra những bông cúc tiến vua sấy lạnh vàng rực như những đốm nắng đầu xuân, cánh hoa khô cong mà vẫn giữ nguyên vẹn hình hài mười sáu cánh đều tăm tắp, xen lẫn với từng búp bạch trà phủ một lớp lông tơ mịn trắng xóa như tuyết đọng đầu cành.
“Xin kính mời các bậc thức giả và chư vị đồng đạo trông lại! Đây là món ‘Hoàng Cúc Ngọc Lộ’ do Nghênh Xuân chúng tôi khổ công thu hái và chưng cất suốt mùa đông giá rét vừa qua,” Tống Kim Phượng cất giọng trong trẻo, ngân vang khắp một khoảng rạp thi, lấn át cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân bến.
Từng động tác của bà chủ Nghênh Xuân mượt mà, uyển chuyển như một vũ điệu chốn cung đình. Bà dùng chiếc thìa bạc nạm ngọc múc từng bông cúc hoàng yến đặt cẩn trọng vào lòng chiếc chén tống bằng sứ thấu quang trong suốt. Kế đó, một tay bà giữ nhẹ vạt áo thụng, tay kia nghiêng vòi chiếc ấm bạc đun sôi già, rót một dòng nước từ trên cao đổ thẳng xuống lòng chén. Dòng nước sôi tinh khiết tựa như một dải lụa trắng xóa, xoáy tròn cuộn lấy những cánh hoa khô, đánh thức toàn bộ hương sắc bị phong kín suốt mùa đông dài.
Ngay tức khắc, một mùi thơm nồng nàn, sang trọng, ngọt ngào và ngát xa thoang thoảng bay khắp gian rạp thi, lan tỏa ra cả khoảng sân bãi bồi đầu bến. Mùi hương ấy lập tức hút trọn vẹn ánh mắt cùng những cái gật gù tán thưởng của đám chức sắc nha môn, mấy viên chánh tổng ngồi ở hàng ghế đầu và những tài tử giai nhân đang đứng thưởng lãm.
Ngay bên cạnh gian rạp hoa lệ, rực rỡ sắc màu ấy, Quán trà Thanh Hà lại mang một phong thái hoàn toàn khác biệt.
Không có lò đồng nạm bạc, không có chén ngọc mỏng tang hay bàn ghế sơn son thếp vàng, gian thi của Thanh Hà chỉ đơn sơ với một mặt bàn gỗ mộc mạc được lau chùi sạch bong tới từng thớ vân gỗ chàm già, phủ bên trên một tấm vải thô màu nâu nhạt do chính tay những người phụ nữ trong xóm chài dệt từ sợi bông quê nghèo. Thanh Hà vận bộ áo nâu sồng giản dị, vạt áo cài khuy vải ngay ngắn, cổ tay áo được bó gọn gàng bằng dải vải gai để tiện bề thao tác. Mái tóc dài đen mượt của nàng được búi gọn gàng sau gáy, cài bằng chiếc trâm gỗ trơn bóng—vật kỷ niệm duy nhất cha nàng để lại. Gương mặt nàng điềm tĩnh, làn da trắng ngần nổi bật trên nền áo nâu thô, đôi mắt trong veo phẳng lặng như mặt nước giếng sâu không gợn sóng, tuyệt nhiên không hề vương chút bối rối hay tự ti trước sự phô diễn hào nhoáng của đối thủ sát vách.
Tiểu Mãn sáng nay được mặc chiếc áo hoa cúc mới tinh bằng vải bông ấm áp do chính tay chị Thục tỉ mẩn cắt may tặng từ trước Tết. Mái tóc tơ của em thắt hai bím con con lúc lắc theo từng nhịp cử động, đôi mắt hạt nhãn lanh lợi liên tục đưa mắt quan sát xung quanh, đôi tay nhỏ thoăn thoắt dùng chiếc quạt nan phe phẩy nhịp nhàng cho chiếc lò đất nung bọc đai sắt.
Bên cạnh em, Liễu Thanh Du đứng nghiêm cẩn trong bộ áo vải nho sinh màu xám tro giặt hồ thẳng nếp. Cậu thiếu niên ngày nào còn ốm yếu, xanh xao nay đã chững chạc, đôi vai vuông vức, ánh mắt sáng ngời vẻ tự tin của một người đã trải qua sóng gió cuộc đời. Thanh Du cẩn thận đặt từng chiếc thẻ tre mộc khắc tên quán trà và từng chiếc đĩa gốm mộc mạc đựng bánh ngay ngắn lên mặt bàn theo đúng thứ tự mà tỷ tỷ đã dặn dò.
Thanh Hà đem đến hội thi hôm nay những vật dụng mộc mạc nhất, gần gũi nhất với đời sống của người dân bến sông, nhưng mỗi một thứ đồ vật ấy lại chứa đựng trọn vẹn sự tinh túy, chắt chiu của đất trời Vọng Giang.
Đó là chiếc ấm đất nung màu da chuông do chính tay lão thợ gốm làng cổ ven sông tạo tác từ thứ đất sét vàng dẻo quánh, chiếc ấm ấy đã qua hàng trăm lần đun củi giữ nhiệt trên bếp lửa quán nghèo, thành ấm đã ngấm đượm phong vị của hàng vạn tuần trà, chỉ cần đổ nước sôi vào là tự khắc tỏa ra phong vị ấm áp thân quen.
Bên cạnh chân bàn là chiếc chum sành da lươn được chằng dây thừng bọc vải dầu kín mít. Bên trong chiếc chum ấy là thứ nước ngọt lành vô giá mà đích thân Thanh Hà và lão lái đò Từ Bá đã dùng gàu đồng múc từ mạch đá ngầm sâu nhất của giếng gò Thanh Khê từ lúc canh tư sáng nay—thời khắc mà trời đất còn giao hòa âm dương, khi ngọn sương mai tinh khôi nhất còn đọng trên từng ngọn cỏ mật ven đồi.
Còn về phần lá trà thi thố, nàng không chọn những loại trà quý hiếm từ kinh kỳ hay trà ướp hương ngoại lai đắt đỏ. Nàng chọn chính mẻ búp non đầu xuân vừa được những thương lái quen thuộc gùi từ vùng đồi cao ráo Tây Lĩnh xuống bến sông vào chiều hôm trước—những búp trà một tôm hai lá mập mạp, xanh mướt, cong vút như ngọn giáo non, còn vương nguyên vẹn hương nắng sớm của núi rừng và thoang thoảng mùi cốm ngô tươi mới sau những ngày đông ủ mầm trong giá rét.
Kèm theo ấm trà xanh dân dã là những chiếc khay gỗ mộc xếp đều tăm tắp từng chiếc bánh đậu xanh hoa mai do chính tay Thanh Hà thức trọn đêm qua để nhào bột, đổ khuôn. Những chiếc bánh nhỏ nhắn, vuông vắn bốn góc uốn lượn hình năm cánh mai vàng ươm, mặt bánh mịn màng như thoa một lớp phấn mịn, thơm nức mùi đậu rang vừa độ. Bánh của nàng tuyệt nhiên không dùng đến một giọt mỡ lợn béo ngậy hay dầu bóng bẩy như lối làm bánh chốn thị thành, mà hoàn toàn dựa vào độ bùi béo tự nhiên của từng hạt đậu xanh lòng vàng quê mẹ và một lượng rất ít đường phèn kết tinh nghiền nhỏ thành bột mịn.
“Tỷ tỷ, than củi nhãn đã bén đều rồi, tàn than đỏ rực không khói, nước trong chiếc ấm đất bắt đầu reo tiếng mắt cua rồi ạ,” Tiểu Mãn ghé sát tai Thanh Hà, khẽ thì thầm bằng chất giọng phấn khởi, đôi má ửng hồng vì hơi ấm tỏa ra từ lò than nung.
Thanh Hà mỉm cười dịu dàng, khẽ vỗ nhẹ lên vai em gái rồi gật đầu:
“Được rồi, nhấc ấm đất ra khỏi miệng lò nửa khắc, đặt lên miếng bấc rơm để hơi nóng dịu bớt. Búp trà xuân này non mềm, vừa hái khỏi cành hôm qua, nếu trút nước sôi sùng sục vào ngay sẽ làm cháy mất lá non, nước trà sẽ bị nồng đỏ và bay mất hương cốm thanh tao tự nhiên của đồi núi.”
Tiểu Mãn vâng lời, thoăn thoắt dùng đôi kẹp tre lót vải nhấc chiếc ấm đất nung đặt sang một bên bếp, ánh mắt long lanh chăm chú nhìn từng động tác chuẩn bị của chị mình.
Đúng giờ Thìn, tiếng thanh la bằng đồng từ phía lễ đài vang lên một hồi ba tiếng đanh gọn, trầm hùng, xé toang màn sương sớm còn sót lại trên mặt sông. Viên giám khảo điều hành cất tiếng hô vang, tuyên bố giờ phút thẩm định chính thức bắt đầu. Ban thẩm định của hội thi gồm những nhân vật có uy tín bậc nhất hạt Thanh Lâm bắt đầu chậm rãi tiến vào rạp để tuần tra, quan sát nghi thức và nếm thử phẩm trà của từng quán.
Dẫn đầu đoàn thẩm định là Thư lại Vũ Chính An—người nổi tiếng mẫn cán, nghiêm minh của huyện nha, theo sau là hai vị bô lão râu tóc bạc phơ am tường phong vị ẩm thực cổ truyền của huyện lỵ, và đặc biệt nhất là Hàn Thụy—người được Huyện lệnh đích thân mời ngồi vào vị trí thẩm định chuyên môn cao nhất về phẩm cấp trà.
Hôm nay, Hàn Thụy vận chiếc áo dài màu chàm bằng lụa mộc dệt tay, thắt lưng lụa đen buộc lỏng, phong thái trầm tĩnh, đĩnh đạc và ánh mắt sắc bén, tinh tường như ánh kiếm thu giấu vào trong bao vỏ gỗ mun. Từ lúc bước chân vào khuôn viên rạp thi trước sự chứng kiến của hàng ngàn cặp mắt, anh tuyệt nhiên giữ một khoảng cách độc lập và nghiêm ngặt với Thanh Hà. Anh không hề đưa mắt tìm kiếm hình bóng nàng giữa đám đông, cũng không để lộ ra bất kỳ một cử chỉ hay nét mặt quen biết nào. Khuôn mặt tuấn tú của anh phẳng lặng như mặt nước hồ mùa đông, hoàn toàn chuyên tâm vào trọng trách của một vị giám khảo công minh trước sự mục kích của trăm họ đôi bờ Vọng Giang.
Thanh Hà nhìn bóng lưng vững chãi, thẳng tắp của Hàn Thụy, trong lòng nàng không hề có một chút hụt hẫng hay chạnh lòng, mà ngược lại, dâng lên một niềm an tâm và tôn trọng sâu sắc. Nàng hiểu rõ hơn ai hết, sự nghiêm cẩn và công bằng không thiên vị của anh chính là sự bảo chứng lớn nhất cho danh dự của nàng và uy tín của quán trà nhỏ bên bến sông. Nàng muốn bước lên đỉnh vinh quang bằng chính đôi bàn tay lam lũ, bằng tài nghệ chắt chiu qua bao năm tháng khổ ải, bằng mồ hôi và hương vị thực sự nơi đầu lưỡi của người thưởng trà, chứ không bao giờ muốn nương tựa vào sự nâng đỡ hay thiên vị của một bóng tùng quân.
Ban thẩm định dừng chân lại trước rạp thi của Trà lâu Nghênh Xuân đầu tiên.
Tống Kim Phượng nở một nụ cười rạng rỡ, cúi mình thi lễ vô cùng đoan trang rồi đích thân bưng chiếc khay bạc nạm xà cừ, kính cẩn dâng lên bốn chén trà hoa cúc bằng gốm sứ trắng mỏng tang như vỏ trứng vịt trời. Nước trà trong chén có màu vàng mơ óng ả, trong suốt không một hạt bụi, những cánh hoa cúc ngậm nước xòe tròn đều đặn như những đóa hoa đang độ bung nở rực rỡ nhất giữa lòng hồ tĩnh lặng. Mùi hương ngào ngạt, quý phái của hoa cúc quyện với vị thanh ngọt của bạch trà xộc thẳng vào khứu giác, khiến người đứng cách xa vài bước cũng phải ngây ngất.
Thư lại Vũ Chính An nâng chiếc chén mỏng bằng hai tay, đưa lên mũi hít nhẹ một hơi dài, rồi nhấp một ngụm nhỏ. Ông nhắm mắt lại, lắng nghe từng đợt phong vị lan tỏa trên đầu lưỡi rồi khẽ gật đầu tán thưởng:
“Hương thơm lộng lẫy, ngào ngạt mà không gắt. Nghi thức pha trà, dâng chén chuẩn mực, khoan thai tựa như chốn quan gia đất kinh kỳ. Trà lâu Nghênh Xuân quả nhiên không hổ danh là chốn dừng chân tao nhã bậc nhất của giới tài tử giai nhân hạt ta.”
Hai vị bô lão đi cùng cũng liên tục gật gù, vuốt chòm râu bạc tấm tắc khen ngợi sắc nước vàng mơ và kỹ thuật hãm hoa điêu luyện.
Đến lượt Hàn Thụy, anh đón lấy chén trà từ khay bạc, nâng lên ngang tầm mắt để quan sát độ trong suốt của nước trà dưới ánh nắng ban mai, rồi khẽ hít một hơi nhẹ để thẩm định hương tơ ẩn sâu bên dưới lớp hương cúc nồng nàn. Anh nhấp một hớp nhỏ, ngậm lại trong khoang miệng, đảo nhẹ trên vòm họng để đầu lưỡi tiếp xúc trọn vẹn với từng tầng vị, rồi nhổ nhẹ vào chiếc âu đồng chuyên dụng do tiểu đồng đi sau bưng đỡ.
Khuôn mặt anh vẫn giữ vẻ điềm đạm, lạnh tanh như tượng đá, không lộ chút biểu cảm vui buồn. Anh cất giọng trầm bổng, nhận xét rành rọt từng lời:
“Nước trà xử lý nhiệt độ rất khéo, dùng nước sôi già để đánh thức hoa nhưng không làm nát cánh, bớt được vị đắng chát tự nhiên của nhụy cúc, đồng thời tôn được hậu vị ngọt mát thanh tao của bạch trà vùng duyên hải. Lò đồng nạm bạc giữ nhiệt than rất đều, trình tự dâng chén đoan trang, đúng khuôn thước của nghệ thuật ẩm trà cung đình lưu truyền từ xưa.”
Tống Kim Phượng nghe những lời nhận xét chuẩn xác và đầy sức nặng ấy thì lòng mừng khấp khởi. Bà ta nở nụ cười mãn nguyện, khẽ cúi đầu tạ lễ, khóe mắt sắc sảo không giấu nổi vẻ đắc ý khẽ liếc nhanh sang phía gian hàng mộc mạc của Thanh Hà ở ngay sát vách.
Đoàn thẩm định chậm rãi bước tiếp sang rạp của Quán trà Thanh Hà.
Trước mặt các vị giám khảo lúc này không có chén ngọc mỏng manh, không có khay bạc sáng lóa hay hương hoa ngào ngạt vương giả. Trên mặt bàn phủ vải thô nâu chỉ có bốn chiếc bát gốm tráng men dong riềng mộc mạc—thứ bát gốm dày dặn, miệng hơi loe màu xanh rêu pha xám mà những người phu bốc vác, những bác chèo đò bến sông vẫn quen tay cầm nắm mỗi sớm mai đón khách. Nhưng sự mộc mạc ấy lại sạch sẽ và tinh khiết đến lạ lùng, từng chiếc bát đều được tráng qua nước sôi, lau khô ráo, không vướng một hạt bụi trần hay một vệt nước ố.
Thanh Hà bước ra phía trước, hai tay đan vào nhau trước bụng, cung kính nghiêng mình hành lễ theo đúng phong thái của một người con gái vùng đồng bằng ven sông. Giọng nói của nàng cất lên dịu dàng, trong trẻo nhưng mạch lạc, rõ ràng từng lời, mang theo sự tự tin từ tận đáy lòng:
“Kính thưa các vị giám khảo, thưa toàn thể chư vị tiền bối. Quán trà Thanh Hà hôm nay xin dâng một ấm trà xuân búp non hái sớm từ dãy Tây Lĩnh, hãm bằng nước mạch đá ngầm giếng gò Thanh Khê trong ấm đất nung, dùng kèm bánh đậu xanh hoa mai ít đường.”
Nói đoạn, nàng trở về vị trí bên chiếc bàn gỗ. Tay áo nâu sồng được vén lên để lộ cổ tay thon gầy nhưng từng đường gân, từng khớp xương lại toát lên sự chuẩn xác đến kinh ngạc. Nàng nhấc chiếc ấm đất nung màu da chuông bằng một tay, tay kia đỡ nhẹ dưới đáy ấm bằng một tấm lót bấc nhỏ. Dòng nước trà màu xanh ánh vàng mật ong chầm chậm chảy ra từ vòi ấm đất, tạo thành một đường cong mềm mại rót nghiêng theo thành bát gốm men dong riềng mà không hề bắn tung tóe dù chỉ một giọt nhỏ ra mặt bàn.
Khi dòng nước xanh biếc vừa chạm đáy bát gốm, một làn khói trắng mỏng tang, nhẹ tênh bốc lên, mang theo hương thơm ngát dịu dàng của cốm non, hương của sương sớm đọng trên búp trà xanh và một thứ phong vị ngọt ngào, tinh khiết của đất trời vùng cao đến ngỡ ngàng. Mùi hương ấy không sực nức, không lấn lấn át không gian như hương hoàng cúc, mà nó len lỏi nhẹ nhàng vào từng hơi thở, khiến lồng ngực người ta bỗng chốc nhẹ bẫng, sảng khoái như vừa bước chân vào một cánh rừng trà bạt ngàn sau cơn mưa xuân.
Thư lại Vũ Chính An cúi đầu nhìn chăm chú vào bát trà gốm trước mặt. Sắc nước trong veo như mắt mèo, màu xanh ánh vàng mật ong sáng rực dưới ánh nắng mai, tuyệt nhiên không một gợn cặn hay vụn lá. Từng búp trà non mềm mại như ngọn giáo xanh chầm chậm xoay tròn theo dòng xoáy nước rồi chìm dần xuống đáy bát, cánh lá duỗi ra nguyên vẹn, tươi tắn như vừa mới được hái khỏi cành cách đây vài khoảnh khắc, không hề bị cháy sém hay dập nát bởi nhiệt độ quá gắt.
Ông đưa hai tay nâng chiếc bát gốm mộc mạc lên sát mũi, hít một hơi sâu để cảm nhận trọn vẹn làn hơi ấm thanh khiết, rồi khẽ nhấp ngụm đầu tiên.
Đôi mày của viên thư lại nha môn khẽ nhướng lên đầy kinh ngạc. Vị chát nhẹ đầu lưỡi tựa như một thoáng gió thoảng qua, lập tức tan biến trong chớp mắt, nhường chỗ cho một vị ngọt thanh khiết, sâu thẳm lan tỏa khắp chân răng và cuống họng, đọng lại một cảm giác sảng khoái, nhuận mát lạ thường xua tan toàn bộ cảm giác mệt mỏi của buổi sớm.
“Nước... thứ nước này tuyệt nhiên không vướng một chút mùi bùn tanh của sông nước, ngọt lịm như giọt sương đọng trên vách đá ngàn năm,” Vũ Chính An tấm tắc khen ngợi, vẻ mặt thư thái lộ rõ sự xúc động.
Ông đặt bát trà xuống, đưa tay nhón lấy một cánh bánh đậu xanh hoa mai vàng ươm trên chiếc đĩa gốm mộc. Chiếc bánh nhỏ nhắn vừa chạm vào đầu lưỡi đã tan mịn ra như tuyết đầu mùa, vị bùi béo mộc mạc, đậm đà của đậu xanh quê hòa quyện nhịp nhàng với độ ngọt thanh khiết dịu nhẹ của đường phèn, không hề lấn át đi hương vị của trà xuân mà ngược lại, như một chất xúc tác kỳ diệu, tôn vị ngọt hậu của ngụm trà trong cổ họng lên gấp bội phần.
“Bánh này thanh tao quá! Vị ngọt không hề gắt cổ, không ngậy mỡ béo, ăn vào khiến người ta thấy tâm can bình ổn, ngũ tạng thư thái, đầu óc sáng suốt vô cùng!”
Hai vị bô lão của huyện sau khi uống cạn bát trà cũng đưa mắt nhìn nhau, đồng thanh gật đầu tán thưởng: “Tuyệt phẩm! Lâu lắm rồi mới lại được uống một bát trà có được cái hồn cốt chân quê mộc mạc mà đạt đến độ tinh diệu nhường này. Bát trà này đích thực là dành cho người sành sỏi, biết trân quý cái gốc của trời đất!”
Đến lượt Hàn Thụy, không khí dường như chùng xuống một nhịp. Hàng trăm con mắt của dân chúng đứng vây quanh đều đổ dồn vào từng cử chỉ của vị thương nhân trẻ tuổi lừng danh. Hàn Thụy chậm rãi bước tới, đưa hai tay đón lấy bát trà gốm từ tay Thanh Hà.
Khoảnh khắc những đầu ngón tay thô ráp của anh thoáng chạm vào những ngón tay mềm mại của nàng qua thành bát đất ấm áp, một luồng điện nhẹ như chạy qua tim cả hai người. Ánh mắt họ giao nhau trong một thoáng chốc ngắn ngủi. Nhưng trong mắt Hàn Thụy lúc này không có sự yếu mềm của tình cảm riêng tư lấn át, chỉ có sự nghiêm cẩn tột cùng, sự tôn kính sâu sắc của một bậc thầy về trà đang đứng trước một tuyệt phẩm ẩm thực được tạo nên từ tâm huyết và linh hồn của người nghệ nhân.
Anh nâng bát trà lên, khẽ nhấp một ngụm nhỏ. Anh không vội nuốt ngay mà ngậm lại trong miệng đúng ba nhịp thở, để từng giọt nước trà len lỏi qua từng kẽ răng, để vị chát dịu và hậu vị ngọt sâu lắng của búp trà non Tây Lĩnh hòa quyện cùng sự mềm mại của làn nước giếng gò Thanh Khê đánh thức toàn bộ giác quan.
Hàn Thụy khẽ nhắm mắt lại, rồi từ từ mở ra. Bằng kiến thức lão luyện và nhãn quan sắc bén của một chưởng quỹ buôn trà dạn dày sương gió khắp các nẻo đường sông nước, anh trầm ngâm cất lời, từng câu từng chữ đều đanh thép, chuẩn xác như chiếc thước đo của người thợ mộc tài ba:
“Cái quý của ấm trà này nằm ở ba chữ: Chuẩn, Tinh và Chân.
Chuẩn là ở chỗ người pha biết hạ nhiệt độ nước sôi xuống vừa đúng tám phần mười mới hãm trà, dùng ấm đất nung giữ nhiệt tầng sâu, giữ cho búp non không bị nát, giữ trọn diệp lục tươi mới và hương cốm tự nhiên của núi đồi.
Tinh là ở nguồn nước giếng đá ong, nước mềm, ngọt hậu, lọc sạch mọi tạp chất của phù sa bến bãi, làm nổi bật phong cốt thanh cao của giống trà đồi Tây Lĩnh mà không làm mất đi bản sắc mộc mạc của nó.
Còn Chân... chính là ở tấm lòng của người làm bánh pha trà. Không mượn hương hoa quý, không dùng mùi xạ hương hay những vật dụng cầu kỳ để đánh lừa khứu giác của thế gian, mà hoàn toàn để cho lá trà tự cất lên tiếng nói chân thực của núi rừng, của sương sớm và bàn tay lao động cần lao.”
Lời nhận xét đanh thép, phân minh, thấu tình đạt lý của Hàn Thụy vang lên giữa rạp thi khiến hai vị bô lão đi cùng đều gật đầu lia lịa, nở nụ cười tâm đắc. Đám đông người xem bên ngoài hàng rào dải lụa cũng bắt đầu xì xào đồng tình, tiếng trầm trồ tán thưởng nổi lên như ong vỡ tổ.
Vũ Chính An không giấu nổi sự hài lòng, lập tức mở cuốn sổ thẩm định bọc da dê trên tay, cẩn thận chấm ngọn bút lông vào nghiên mực chu sa đỏ rực, ghi lại những con số điểm chuẩn xác tuyệt đối cho từng tiêu chí khắt khe: sắc nước trong trẻo, hương búp thuần khiết, vị hậu ngọt sâu và sự hòa hợp tinh tế đến từng phân ly của đĩa bánh đậu xanh hoa mai.
Sau gần hai canh giờ làm việc miệt mài, nếm thử và cân nhắc kỹ lưỡng từng ấm trà, từng loại bánh mứt của mười rạp thi danh tiếng trải dài hai bên bờ sông, hồi trống bế mạc rền vang từng nhịp báo hiệu giờ khắc công bố kết quả chung cuộc đã đến.
Lúc này, mặt trời đã lên cao quá ngọn sào, tỏa ánh nắng xuân ấm áp nhuộm vàng mặt nước sông Vọng Giang. Đám đông phu bến, thợ chèo đò, bạn hàng cá thịt và tiểu thương các chợ đã kéo về vây kín vòng trong vòng ngoài khu đất bồi đầu bến.
Bác phu than A Sinh trên trán còn vệt than mờ chưa kịp rửa, chiếc áo chẽn đẫm mồ hôi, đang đứng tựa vào chiếc đòn gánh ngóng chờ từng lời của quan lại; lão lái đò Từ Bá hai tay chống chặt lên chiếc gậy gỗ nghiến mòn vẹt, đứng ngay đầu thềm rạp thi, ánh mắt chan chứa niềm tự hào, hy vọng và sự che chở nhìn về phía bóng dáng nhỏ nhắn của Thanh Hà; Đỗ Nguyệt Nương cùng mấy chị em trong Hội nữ thương chợ Đông Tân đứng chen chúc ở hàng đầu, tay nắm chặt vạt áo tứ thân, hồi hộp đến mức nín thở không dám chớp mắt.
Thư lại Vũ Chính An bước lên chiếc bục gỗ cao dựng giữa trường thi, hai tay mở rộng tờ trát công bố chính thức của huyện nha Thanh Lâm có đóng dấu triện chu sa đỏ rực lấp lánh dưới nắng. Ông hắng giọng một tiếng thật vang, tiếng nói dõng dạc, uy nghiêm át cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân bến cát:
“Chiếu theo kết quả chấm điểm độc lập, công tâm và nghiêm cẩn của Ban thẩm định Hội thi trà đầu xuân năm Ất Dậu, nha môn huyện Thanh Lâm xin long trọng công bố:
Giải Nhất về ‘Nghệ thuật trình bày và Lễ nghi ẩm trà’ thuộc về: Trà lâu Nghênh Xuân của bà chủ Tống Kim Phượng!”
Một tràng pháo tay giòn giã vang lên từ phía đám thị dân quyền quý, các phú thương và đám chức sắc huyện thành. Tống Kim Phượng nở nụ cười rạng rỡ, bước lên đài cao nhận tấm biển sơn son thếp vàng từ tay quan Thư lại. Tuy nhiên, dù nụ cười vẫn nở trên môi, đôi mắt sắc sảo của bà ta vẫn không ngừng liếc nhìn về phía tờ trát trên tay viên thư lại, chờ đợi giải thưởng quan trọng nhất—giải thưởng mang tính quyết định linh hồn của hội thi năm nay.
Vũ Chính An giơ cao cánh tay áo ra hiệu cho đám đông giữ trật tự. Cả bãi bồi ven sông bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng gió xuân xào xạc thổi qua những rặng tre bên bờ nước. Ông hít một hơi thật sâu, rồi cất cao giọng hơn nữa, tiếng nói sang sảng vang xa khắp đôi bờ:
“Và giải thưởng vinh dự nhất của hội thi năm nay—Giải Đặc biệt về ‘Độ tinh khiết của nước vị’ cùng danh hiệu ‘Trà quán bình dân được yêu thích nhất bờ sông Vọng Giang’ thuộc về: Quán trà Thanh Hà của Liễu nương tử!”
Lời phán vừa dứt, một thoáng im lặng sững sờ bao trùm khắp rạp thi trong chớp mắt, rồi ngay lập tức vỡ òa thành một tràng reo hò rầm trời dậy đất, làm rung chuyển cả một khúc sông.
“Hay lắm! Thật là xứng đáng!”
“Trời phật có mắt! Quán trà của người nghèo bến đò chúng ta đoạt giải rồi bà con ơi!”
Bác phu than A Sinh phấn khích giơ cao chiếc đòn gánh lên trời, nhảy cẫng lên như một đứa trẻ; đám phu bốc vác vung nón lá reo hò vang dội, tiếng vỗ tay rầm rập như sấm dậy; Tiểu Mãn ôm chầm lấy cổ Thanh Du khóc nấc lên giữa gian lều thi, những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên đôi gò má đỏ ửng vì xúc động; lão lái đò Từ Bá khẽ đưa mu bàn tay thô ráp, chai sần quệt ngang khóe mắt hoe đỏ, chòm râu bạc rung rung trong làn gió sớm. Đỗ Nguyệt Nương đứng bên ngoài dải lụa vỗ tay bôm bốp, cười rạng rỡ đến mức chảy cả nước mắt, tự hào như chính bản thân mình vừa giành được vinh quang tột bậc.
Thanh Hà đứng lặng giữa gian rạp thi đơn sơ của mình. Hai bàn tay nàng khẽ siết chặt lấy dải tạp dề bằng vải thô. Một cảm giác xúc động mãnh liệt dâng trào nơi lồng ngực làm sống mũi nàng cay xè, khóe mắt ngân ngấn nước.
Bao nhiêu ký ức đắng cay, tủi nhục bỗng chốc ùa về như một cuốn phim quay chậm: từ cái ngày nàng bị ruồng bỏ, bị đuổi ra khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng giữa trời đông giá rét; những ngày tháng cùng các em cặm cụi dựng lại túp lều hoang tàn rách nát ngập đầy rác rưởi bên bến sông; từng đồng tiền kẽm chắt chiu từ những bát chè xanh giá một xu; từng gánh nước nặng trĩu đè oằn vai giữa đêm khuya thanh vắng từ gò xa gánh về; rồi những đêm thức trắng đối phó với sự quấy phá, hăm dọa của phường cò bến lưu manh; và đỉnh điểm là cơn đại hồng thủy hung tợn cuốn trôi đi tất cả sản nghiệp chắt bóp bấy lâu...
Vượt qua tất cả những phong ba bão táp ấy, cuối cùng thì tay nghề chân chính, sự nhẫn nại phi thường và tấm lòng kiên định với nghề của nàng đã được đền đáp xứng đáng. Nàng đã được công nhận đàng hoàng, danh chính ngôn thuận, ngẩng cao đầu giữa trời đất bao la của bến Vọng Giang này.
Bên rạp thi đối diện, Tống Kim Phượng sững sờ đứng chôn chân tại chỗ. Tấm biển sơn son thếp vàng trên tay bà ta bỗng chốc trở nên nặng trĩu như một tảng đá.
Bà chủ Nghênh Xuân chầm chậm cúi đầu, nhìn xuống chén trà hoa cúc cung đình cầu kỳ, vương giả của mình, rồi lại đưa mắt nhìn sang chiếc bát gốm men dong riềng mộc mạc bên bàn thi của Thanh Hà—nơi dòng nước trà xanh biếc vẫn còn bốc làn khói mỏng nghi ngút, tỏa ra hương cốm non mộc mạc, ngọt ngào, thứ hương vị thuần khiết của cội nguồn mà không một thứ hoa cỏ, kỳ trân dị bảo nào có thể lấn át hay che đậy nổi.
Một thoáng bẽ bàng, chua chát và cả sự kiêu ngạo cố hữu thoáng vụt qua trên gương mặt sắc sảo của người đàn bà từng trải. Nhưng rồi, rất nhanh chóng, những nét sắc lạnh ấy dần dần tan biến, nhường chỗ cho sự thán phục, trầm trồ và thấu hiểu sâu sắc của một người buôn trà lão luyện, cả đời gắn bó với từng lá trà ngọn nước.
Tống Kim Phượng hít một hơi thật sâu, ngẩng cao đầu, khẽ chỉnh lại vạt áo gấm màu hoàng yến cho ngay ngắn. Bà ta bước lại bên chiếc bàn phủ gấm của mình, tự tay dùng chiếc ấm tử sa Nghi Hưng rót ra một chén trà xuân thơm ngát.
Trước sự kinh ngạc tột độ của hàng trăm con mắt đang đổ dồn vào, Tống Kim Phượng bưng chén trà bằng hai tay, chầm chậm bước qua lằn ranh vô hình ngăn cách giữa hai gian rạp thi, tiến thẳng về phía chiếc bàn gỗ mộc mạc của Thanh Hà.
Đám đông phu bến và bạn hàng chợ bỗng chốc nín thở. Tiếng reo hò im bặt. Người ta ngỡ rằng một màn đôi co, gièm pha cay nghiệt quen thuộc giữa hai thế lực đối đầu bên bến sông lại sắp sửa bùng nổ như những lần va chạm trước.
Thế nhưng, Tống Kim Phượng dừng bước ngay trước mặt Thanh Hà. Bà ta không hề cao giọng, cũng không lộ vẻ khinh miệt, mà cung kính nâng chén trà ngang ngực, ánh mắt nhìn thẳng vào Thanh Hà—một ánh mắt chân thành, thấu suốt mà chưa từng ai nhìn thấy ở bà chủ lầu Nghênh Xuân kiêu kỳ.
“Liễu nương tử,” Tống Kim Phượng cất giọng đĩnh đạc, từng tiếng vang lên rõ ràng giữa không gian tĩnh lặng. “Trước đây, Nghênh Xuân ta cậy có lầu cao rèm gấm, cậy có bạc vạn chống lưng và những bộ trà cụ sang quý nhập từ đất kinh kỳ mà nhìn nhận tay nghề, nhìn nhận cái quán trà nhỏ ven sông của cô có phần thiển cận, hẹp hòi. Hôm nay, tận mắt chứng kiến cô pha trà, tận miệng nếm chén trà xuân của cô, thấy được cái cách cô điều hòa ngọn lửa củi, giữ nhiệt ấm đất nung và trân quý từng giọt nước ngọt lành của giếng đá gò Thanh Khê, ta mới thực sự hiểu ra... vì sao khách buôn vãng lai lẫn phu bến cùng khổ qua sông đều chỉ một lòng hướng về quán trà của cô.”
Thanh Hà thoáng chút ngỡ ngàng trước thái độ của đối thủ, nhưng bản tính khiêm nhường và đôn hậu vốn có khiến nàng nhanh chóng lấy lại sự bình tĩnh. Nàng cúi đầu đáp lễ một cách trang trọng, rồi tự tay nâng chiếc bát gốm tráng men dong riềng đựng dòng trà xanh thơm ngát của mình lên đối diện:
“Tống nương tử quá khen rồi. Nghệ thuật trình bày tao nhã và nghi thức ẩm trà đoan trang của Nghênh Xuân là điều mà những quán trà dân dã ven sông như chúng tôi còn phải học hỏi và kính nể rất nhiều. Khách sang trọng, phong lưu tìm đến Nghênh Xuân để thưởng ngoạn cảnh đẹp thanh tao, còn người lao động vất vả, khách lỡ đường ghé Thanh Hà chỉ mong tìm được một bát nước ấm lòng sau chuyến đò ngang gió rét. Đôi bờ Vọng Giang này rộng lớn mênh mông, mỗi người một phận sự, mỗi quán một phong vị riêng, cốt sao giữ trọn được chữ tín, chữ tâm với khách thưởng trà... đó mới là điều quý giá nhất của nghề này.”
Tống Kim Phượng khẽ mỉm cười—một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản hiếm thấy gạt bỏ đi lớp mặt nạ sắc lạnh thường ngày:
“Nói hay lắm! Một lời này của cô thực sự đáng giá ngàn vàng. Sau ngày hội thi hôm nay, Nghênh Xuân và Thanh Hà chúng ta sẽ cạnh tranh sòng phẳng bằng tài nghệ, bằng phẩm trà sạch và sự tử tế của người làm nghề, tuyệt đối không dùng đến những chiêu trò hạ lưu, mờ ám làm vấy bẩn danh tiếng của nghề trà bên dòng Vọng Giang nữa!”
Hai chiếc chén—một chén bằng đất nung mộc mạc men dong riềng của chốn bến bãi hàn vi, một chén bằng đất tử sa Nghi Hưng quý giá của lầu son gác tía—khẽ chạm nhẹ vào nhau giữa làn gió xuân lồng lộng.
Một tiếng “leng keng” giòn tan, thanh thoát vang lên giữa đất trời, trong trẻo như tiếng chuông khánh xua tan đi mọi hiềm khích, đố kỵ bấy lâu. Hai người phụ nữ tài ba của bến sông, một sang trọng kiêu kỳ, một bình dị kiên định, cùng ngửa cổ uống cạn chén trà xuân trong sự ngỡ ngàng rồi vỡ òa thán phục của toàn thể chức sắc lẫn thứ dân đôi bờ.
Hàn Thụy đứng trên đài thẩm định nhìn xuống khung cảnh ấy, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười hiếm hoi. Nụ cười ấy ấm áp, rạng rỡ và tràn đầy niềm tự hào khôn xiết.
Anh nhìn người con gái trong bộ áo nâu sồng giản dị đang đứng giữa muôn ngàn tiếng vỗ tay tán thưởng, lòng thầm nhủ: nàng đã thực sự làm được. Nàng đã không còn là một cánh bèo lênh đênh trôi dạt vô định ven sông nước sau cơn dông bão của số phận nữa; bằng chính đôi bàn tay lao động chai sần, bằng khối óc mẫn tuệ và một tấm lòng kiên định không tì vết, nàng đã cắm rễ thật sâu vào mảnh đất phù sa màu mỡ này, hiên ngang đứng vững vàng giữa muôn trùng sóng gió cuộc đời.
Hội trà bế mạc trong tiếng trống dong cờ mở, tiếng chiêng đồng rộn rã và những lời chúc tụng kéo dài không dứt của dân bến đò. Người ta xúm xít vây quanh gian lều của Thanh Hà, người đòi mua bằng được vài gói bánh đậu xanh hoa mai mang về làm quà đầu xuân cho con trẻ, người nằng nặc xin nàng nếm thử một bát nước trà hãm từ giếng đá ong Thanh Khê, khiến gian lều nhỏ rộn ràng, tấp nập chẳng khác nào ngày hội lớn của cả làng.
Giữa lúc đám đông đang ồn ào chúc tụng, chen lấn nói cười, một bóng người khoác chiếc áo tơi kết bằng lá sồi thô kệch, đầu đội chiếc nón lá rộng vành lấm lem bụi đường bỗng lách qua hàng rào phu bến, lặng lẽ tiến lại gần phía sau rạp thi của Thanh Hà.
Người phụ nữ ấy khẽ tháo chiếc nón lá xuống, để lộ gương mặt góc cạnh sạm màu nắng gió của miền sơn cước, đôi lông mày rậm và ánh mắt sắc sảo, kiên nghị tựa như ánh mắt của loài chim ưng trên đỉnh núi cao—đó không phải ai xa lạ mà chính là Trần Mộc Lan, bà chủ của những đồi chè độc lập lừng danh trên rặng núi cao Tây Lĩnh.
Thanh Hà đang cúi người cẩn thận thu dọn chiếc ấm đất nung vào tráp thì bất ngờ bị một bàn tay thô ráp, chai sần túm lấy cổ tay kéo nhẹ một cái. Nàng giật mình quay ngoắt lại, mắt mở to kinh ngạc:
“Mộc Lan tỷ tỷ? Sao tỷ lại lặn lội xuống bến vào đúng lúc này?”
Trần Mộc Lan không trả lời ngay. Bà đảo cặp mắt cảnh giác nhìn quanh một lượt, thấy đám thương nhân Tây Lĩnh và người nhà của các trà lâu lớn nhỏ trong huyện thành vẫn đang mải mê vây quanh chiếc bảng điểm son của quan huyện để bàn tán về kết quả, bà liền kéo vội Thanh Hà nép sâu vào sau tấm rèm vải bạt ở góc khuất phía sau rạp trà.
Bà ghé sát tai nàng, giọng nói hạ xuống thật trầm nhưng dồn dập, căng thẳng tột cùng như tiếng trống trận thúc giục nơi chiến hào:
“Thanh Hà, nghe ta nói đây! Vụ trà xuân năm nay trên núi cao có biến động kinh thiên động địa! Cả cái vùng rừng thẳm Tây Lĩnh này chỉ còn sót lại duy nhất ba cây trà cổ thụ ngàn năm tuổi mọc chênh vênh trên vách đá Mây Rủ, búp non ngậm sương trời vừa mới nứt nanh sáng sớm hôm nay. Mụ Tống Kim Phượng của Nghênh Xuân từ nửa tháng trước đã ngầm cho quản gia mang theo năm mươi lượng bạc trắng nguyên bảo lên tận trại của ta, đòi đặt cọc mua đứt toàn bộ sản lượng của ba cây trà ấy trong suốt mười năm tới...”
Nói đến đây, Trần Mộc Lan siết chặt lấy hai bờ vai gầy nhưng cứng cỏi của Thanh Hà, đôi mắt bà rực lên ngọn lửa kiên quyết, sắc sảo như muốn truyền hết sức mạnh của núi rừng sang cho nàng:
“...Nhưng ta đã từ chối thẳng thừng! Trà quý tựa như ngọc quý nơi thâm sơn, chỉ gả cho người biết trọng nguồn nước và thương lấy từng lá trà non. Ba cây cổ thụ đó, ta chỉ muốn giao trọn cho muội!”