Quán Trà Bên Bến ĐòC.22 / 34
Chương 22

Một lối lui có giá

Gió sông thốc từng cơn rười rượi vào bờ cát vắng khi ráng chiều đỏ quạch buông xuống, in bóng lão lái đò già đang dẫn theo một kẻ cúi gằm mặt tiến về quán trà.

Mặt nước Vọng Giang cuối ngày chuyển sang sắc lam sẫm pha màu chì đặc quánh, nặng nề trôi như dải lụa thô ai bỏ quên giữa hai bờ bãi hoang vu. Hơi lạnh đầu mùa từ mé bắc đã bắt đầu len lỏi theo từng đợt sóng vỗ ì oạp vào kè đá, mang theo mùi ngai ngái của phù sa nồng, mùi thối rữa nhè nhẹ của đám rêu rác mục dạt vào mép đăng đó và cả vị tanh tao quen thuộc của tôm cá nơi bến sông nước cạn. Trên con đường mòn lạo xạo sỏi sành dẫn từ bến đò ngang lên doi đất mé đông, Từ Bá chống cây gậy tre đực bước từng bước nặng nhọc. Cây gậy của lão làm bằng gốc tre già đực ngâm nước vôi ba năm, bóng loáng nước da nâu sẫm, mỗi lần nện xuống mặt đất pha sỏi lại phát ra một tiếng *cộc* trầm đục, dứt khoát.

Mỗi lần gót chân phải chạm đất, khóe mắt đầy vết chân chim của lão lại giật nheo lại một cái vì khớp gối sưng đỏ tấy lên dưới lớp quần vải chàm bạc thếch chắp vá chằng chịt. Cái rét luồn qua gấu quần ướt sũng mép sông buốt như kim châm rỉ máu vào tận tủy xương, nhưng bàn tay trái thô ráp như vỏ cây chò chỉ rừng sâu của lão vẫn bặm chặt lấy cổ tay người đi phía sau. Mười đầu ngón tay khẳng khiu, đầy sẹo xước và chai sạn của một đời cầm sào chống chèo bấu sâu vào da thịt kẻ nọ, nửa như lôi kéo xềnh xệch, nửa như muốn giữ cho một con thuyền sắp đứt dây neo khỏi bị dòng nước xoáy cuốn phăng xuống vực xoáy Ba Vũng.

Người đi sau lão không ai khác ngoài Lại Tam.

Mới chỉ qua một buổi trưa kể từ khi phiên công đường lâm thời của nha môn huyện bế mạc ở điếm sở bến đò, cái bộ dạng hống hách nghênh ngang thường ngày của gã trùm bến bãi đã hoàn toàn tan biến như bọt nước mùa lũ. Tấm áo vải bạt màu tro gã vẫn hay mặc để phanh ngực khoe vết xăm con mãng xà xanh lè giờ đây rách tơi tả sau mười trượng gỗ nghiến nện thẳng tay không chút nể nang. Dưới lớp vải bạt tưa chỉ, từng lằn roi trượng hằn sâu tím bầm, máu rỉ qua thớ vải đã khô se lại thành từng mảng đen cứng như vảy sáp, dính chặt vào da thịt non tơ đang lên cơn sốt hầm hập. Gã lê từng bước khập khiễng, bàn chân kéo lê trên cát làm bụi đất mỏng bốc lên mù mịt quanh mắt cá chân. Đầu gã gục sát vào hõm ngực, hai bờ vai so lại run bần bật như một kẻ trúng phong hàn, cố thu mình lại để mong giấu nổi bộ mặt bầm giập vào trong bóng tối nhá nhem đang từ từ bao trùm bến sông. Cả đời gã ngang dọc nơi đầu sóng ngọn gió bến Vọng Giang, sống bằng thói chẹt họng kẻ yếu, nạt nộ đàn bà con trẻ và đút lót cho đám sai nha sai dịch, chưa từng có một giây phút nào bẽ bàng, nhục nhã và trống rỗng đến cùng cực như lúc này. Mỗi bước chân gã bước đi dường như nặng hơn đeo đá tảng, gân cốt rệu rã tưởng chừng chỉ cần Từ Bá buông tay là gã sẽ ngã sấp mặt xuống vũng bùn tanh bên mép nước.

Cách đó chừng vài chục trượng, quán trà của ba chị em họ Liễu sừng sững bên doi đất cao, vững chãi dưới tán rặng sầu đâu đang bắt đầu trút lá.

Bên trong quán, ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc bệ gỗ dâu đã được khêu bấc cao hơn một đốt ngón tay, tỏa ra vầng sáng vàng óng ả, ấm áp lạ lùng, xua đi cái se lạnh buốt giá đang chực chờ nuốt chửng xóm bến. Làn khói lam mỏng mảnh từ chiếc lò đất nung giữa gian quán cuộn tròn theo rãnh hút gió khoét trên vách nứa, mang theo hương thơm mộc mạc mà quyến rũ của nước chè xanh gò Thanh Khê đang sôi tăm tắp, hòa cùng mùi gừng cay nồng và vị ngọt đậm của mật mía từ mẻ bánh nếp vừa mới được mở hé nắp chõ. Mùi hương ấy như một dải lụa ấm phủ lên không gian, chở che cho những kiếp người lao động lam lũ vừa dứt một ngày mưu sinh nhọc nhằn nơi mép nước.

Cánh tiểu thương và mấy người phu bến quen thuộc đang ngồi túm tụm quanh hai chiếc bàn tre dài ghép lại. Họ vừa nhấp từng ngụm nước đóm nóng hổi, vừa chuyền tay nhau những bát sành mẻ miệng đựng hạt dẻ nướng nổ lách tách, rôm rả bàn tán về sự kiện chấn động bến đò trưa nay. Ở cột lim đầu cầu tàu cách quán không xa, tấm bảng gỗ nghiến sơn vôi trắng tinh, bên trên khắc chìm bốn chữ "Công bình bến đò" và đóng dấu triện đỏ chót của nha môn huyện vừa được đóng đinh chết bằng đinh sắt mười phân, trở thành cái gai nhức nhối trong mắt đám côn đồ bến bãi và là chỗ dựa vững chãi chưa từng có cho dân buôn thúng bán mẹt bấy lâu nay.

Tiếng then cửa bằng thanh tre đực kêu *cọt kẹt* khô khốc khi Từ Bá dùng bờ vai gầy guộc đẩy mạnh cánh liếp bước vào.

Tiếng chuyện trò râm ran, tiếng cười ha hả của cánh đàn ông phu phen lập tức đứt phựt. Cả gian quán bỗng chốc im bặt như có một làn gió buốt giá từ ngoài sông thốc ngược vào bên trong.

Bác phu than A Sinh đang cầm bát trà đưa lên ngang miệng bỗng sững sờ, bàn tay bám đầy bụi than đen nhánh khựng lại giữa lơ lửng không trung. Đôi mắt mở to sau đôi mày rậm dính đầy muội than chiếu thẳng vào kẻ đang lết sau lưng lão lái đò. Ở chiếc bàn con nép sát góc quán, dì Tư bán tương nếp cùng thím Ba bán cau khô vô thức co rúm người lại, hai cánh tay bấu chặt lấy mép rổ sảo, đưa mắt nhìn nhau đầy hoang mang và cảnh giác tột độ. Tiểu Mãn đang lúi húi chụm thêm mấy thanh củi nhãn khô giòn dưới đáy lò đất nung liền bật dậy nhanh như một con sóc nhỏ, bước giật lùi về phía mép chiếc sập gụ con kê sát vách trong, nơi Liễu Thanh Du đang ngồi mài mực bên chiếc nghiên đá bìa xanh. Cậu bé Thanh Du ngẩng đầu lên, tay cầm thỏi mực Tàu dừng lại giữa chừng, ánh mắt trong veo nhưng chững chạc nhìn chằm chằm vào bóng hình tơi tả của gã trùm bến bãi.

Chỉ có Liễu Thanh Hà là vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh đến lạ thường.

Nàng đang đứng bên chiếc chậu đồng sáng loáng dùng để tráng bát đĩa, hai ống tay áo vải thô màu nâu nhạt được vén cao gọn gàng quá khuỷu tay, để lộ cẳng tay trắng nõn và thon thả. Thanh Hà từ tốn đặt chiếc muôi gỗ mun múc nước xuống mép chậu phát ra tiếng *cách* thanh mảnh. Nàng lấy một chiếc khăn vải bông sạch lau khô từng ngón tay mảnh dẻ, rồi mới thong thả ngẩng đầu lên. Đôi mắt nàng phẳng lặng như mặt gương nước hồ mùa thu, không gợn một tia thù hằn, cũng chẳng lộ vẻ hả hê đắc thắng, bình thản đón lấy cái nhìn trĩu nặng của lão lái đò già.

"Bá Từ..." Thanh Hà khẽ cất tiếng chào, giọng nói nhẹ nhàng, trong trẻo nhưng giữ vững một khoảng cách chừng mực, đĩnh đạc của một người làm chủ quán nước.

Từ Bá không vội đáp lời nàng ngay. Lão thở hắt ra một hơi dài đục ngầu hơi sương, dằn mạnh gốc gậy tre xuống nền đất nện phát ra tiếng *thình* khô khốc làm mấy hạt bụi đất bay là là mặt sàn. Lão quay ngoắt lại, cánh tay gân guốc giật mạnh cổ tay Lại Tam khiến gã lảo đảo trượt chân trên nền đất, rồi lão quát một tiếng trầm đục, âm vang như tiếng sấm rền ngầm dưới đáy sâu Vọng Giang:

"Còn đứng trơ cái xác mục ấy ra đó làm gì? Đầu gối mày đúc bằng gang thép nhà quan, hay cái mặt mày trơ trẽn dày hơn lớp gỗ ván thuyền mục mà chưa biết mình phải làm gì hả thằng khốn?"

Lại Tam run bắn người lên như con chim sẻ ướt nước mưa sa. Gã ngẩng khuôn mặt xám ngoét, bầm dập với một bên gò má sưng húp tím ngắt lên nhìn bao quát gian quán một lượt. Khi ánh mắt đục ngầu của gã chạm phải cái nhìn phẫn nộ hằn học của A Sinh, bắt gặp vẻ mặt sợ hãi lẫn căm hờn của những người đàn bà góa buôn thúng bán mẹt quanh năm chắt bóp từng đồng trinh, và cuối cùng dừng lại nơi đôi mắt bình thản nhưng thẳm sâu, uy nghiêm lạ thường của người góa phụ họ Liễu, toàn bộ chút sĩ diện hão huyền, chút kiêu ngạo hung tợn cuối cùng sót lại trong huyết quản gã bấy lâu nay bỗng chốc rạn vỡ, sụp đổ tan tành không còn một mảnh vụn.

Hai đầu gối Lại Tam mềm nhũn, run lẩy bẩy rồi đập mạnh xuống nền đất nện cứng ngắc, phát ra một tiếng *thịch* nặng nề đến nghẹt thở.

Trước mắt bao nhiêu con người lam lũ từng bị gã đè đầu cưỡi cổ, từng bị đám đàn em của gã giật từng xâu tiền, đạp đổ từng gánh hàng xuống bùn lầy, Lại Tam dập đầu sát đất, trán gã chạm hẳn vào lớp đất lạnh buốt vương vãi bụi than và vỏ trấu.

"Liễu nương tử... các bác, các cô, các chú..." Giọng gã khản đặc, méo mó, nghẹn ứ nơi cổ họng như một người đang bị hóc xương cá nhọn hoắt. "Tôi... thằng Tam này biết tội tày đình rồi! Bao năm qua tôi bị đồng tiền mỡ mờ mắt, cậy thế quan nha làm càn làm bậy, bóp nặn từng đồng tiền mồ hôi nước mắt của bà con nghèo bến đò này... Tôi lại còn ngậm máu phun người, đem lời đê tiện bôi nhọ thanh danh trong sạch của nương tử... Chiều nay quan trên đã giáng đòn trượng, nhưng nỗi nhục nhã này, cái tội nghiệt này, nếu tôi không đích thân lết đến đây dập đầu tạ tội trước mặt nương tử và bà con, thì thằng này có chết trôi dạt xác ngoài cửa bể Vọng Giang cũng không thể nào nhắm nổi mắt! Xin nương tử... xin các cô các bác... nhận cho một lạy này của kẻ hèn hạ!"

*Cộp!*

Tiếng trán nện xuống nền đất vang lên khô khốc, dội vào vách nứa.

*Cộp! Cộp!*

Hai tiếng nữa tiếp tục nện xuống, rành rọt, nặng trịch giữa gian quán lúc này chỉ còn nghe thấy tiếng than nổ lép bép trong lòng lò đất. Khi Lại Tam gượng ngẩng đầu lên, trên trán gã đã rách toác một vệt dài, máu đỏ tươi ứa ra hòa quyện cùng bụi đất nham nhở chảy dài xuống sống mũi, nhưng gã không dám đưa tay lên quệt.

Cả quán trà nín thở, bầu không khí đặc quánh như thể có thể dùng dao cắt ra được. Dì Tư khẽ bấu chặt lấy mép vạt áo nâu vá vai, thím Ba buông một tiếng thở dài thườn thượt đầy chua chát, còn bác phu than A Sinh thì siết chặt nắm đấm gân guốc, những đường gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay trần bám bụi đen kịt, nhưng tuyệt nhiên không một ai thốt ra nửa lời mạt sát hay chửi rủa hả hê.

Sự trừng phạt nơi công đường huyện nha dẫu có nghiêm minh, những ngọn trượng gỗ nghiến dẫu có xé toang da thịt kẻ thủ ác, cũng không thể nào sánh bằng cái khoảnh khắc bẽ bàng này: một kẻ từng quen thói hống hách, coi trời bằng vung, coi tính mạng của phu phen tiểu thương như rơm rác bèo bọt, nay phải quỳ mọp, phủ phục dập đầu đẫm máu dưới chân những con người khốn khổ mà gã từng chà đạp.

Từ Bá đứng tựa toàn bộ sức nặng cơ thể vào cây gậy tre đực, đôi mắt già nua hằn sâu những vết nứt nẻ của nắng gió sông nước nhìn trừng trừng xuống đỉnh đầu đẫm máu của Lại Tam. Ánh mắt lão sắc lạnh và nghiêm khắc tựa lưỡi dao chém sóng đầu mũi thuyền, nhưng ẩn sâu dưới đáy mắt đùng đục ấy lại le lói một đốm sáng xót xa, buồn bã của một bậc tiền bối từng chứng kiến bao lớp thanh niên ngụp lặn rồi chết chìm trong cái vũng bùn danh lợi bất lương nơi bến bãi. Lão không bước tới đỡ gã dậy, cũng không buông lời an ủi, chỉ cất giọng đanh thép, từng lời từng chữ như dùi gõ vào màng nhĩ:

"Dập đầu cho lắm vào cũng chẳng mài ra thành gạo thành cá mà ăn được! Đời thằng đàn ông, trót nhúng chân vào chàm thì phải biết dùng chính đôi tay mình mà cọ rửa cho sạch. Miệng mày nói tạ tội, thế còn mồ hôi nước mắt, tiền bạc cơm áo của người ta bị mày cướp bấy lâu nay thì tính thế nào? Mày tính phủi tay bằng mấy cái dập đầu chảy máu trán này sao?"

Toàn thân Lại Tam run rẩy dữ dội. Gã vội vã đưa đôi bàn tay bẩn thỉu luống cuống cởi nút thắt của chiếc bọc vải thô màu xám tro đeo chéo bên hông ra. Động tác giơ tay lên làm căng kéo những thớ thịt rách toác sau lưng, khiến gã nhăn nhúm mặt mày, miệng hít vào từng ngụm khí lạnh buốt răng. Gã cẩn trọng, run rẩy nâng chiếc bọc vải nặng trịch bằng cả hai tay, đặt lên mặt chiếc ghế tre thấp trước mặt Thanh Hà, run giọng thưa:

"Bẩm... bẩm Liễu nương tử, bẩm các cô các bác. Đây là mười hai quan tiền đồng... Tôi vét sạch toàn bộ số tiền dành dụm giấu dưới gầm ván thuyền bấy lâu nay, cộng với tiền tôi vừa bán đứt chiếc thuyền tam bản cũ nát cho lão lái buôn bên bến Vạn Chiều lúc xế chiều để gom góp mang tới đây trước. Quan nha xử tôi phải bồi hoàn đủ ba mươi hai quan sáu trăm văn tiền lệ phí thu sai cho bà con trong hạn mười ngày... Số tiền còn thiếu hai mươi quan sáu trăm văn nữa, xin trời đất thần sông chứng giám, tôi thề dù có phải đi bốc vác quằn lưng từ sáng sớm đến đêm khuya, bẻ từng đốt ngón tay đi làm thuê làm mướn kiếm ăn, tôi cũng sẽ nộp đủ từng đồng từng cắc cho điếm sở, tuyệt đối không dám trốn tránh hay thiếu hụt của bà con dù chỉ nửa xu!"

Thanh Hà đứng lặng, ánh mắt nàng dừng lại trên chiếc bọc vải thô bạc phếch dính đầy bụi cát và vài giọt máu khô. Nàng không vội vàng xua tay xí xóa để tỏ vẻ khoan hồng rộng lượng của một kẻ bề trên, nhưng nàng cũng không mảy may lộ ra chút thái độ hả hê hay khinh khi nào. Khuôn mặt nàng vẫn giữ nguyên nét trang nghiêm, thanh khiết. Nàng khẽ quay đầu sang phía chiếc sập gụ, cất giọng rành rọt:

"Thanh Du, mang bàn tính và mở cuốn sổ thu chi ra đây cho tỷ."

"Vâng, thưa tỷ."

Cậu thiếu niên mười ba tuổi lập tức đứng dậy. Dáng dấp của cậu mảnh khảnh trong manh áo vải mộc nhưng từng cử chỉ, bước đi lại đĩnh đạc và chững chạc vượt xa lứa tuổi. Cậu bê chiếc bàn tính bằng gỗ mun đã mòn nhẵn các góc cạnh cùng cuốn sổ cái bọc giấy bổi bìa xanh đặt ngay ngắn lên mặt bàn tre. Thanh Du nhẹ nhàng lật từng trang giấy bổi ngả vàng, nơi có kẹp những mảnh biên nhận bằng vỏ cây viết bằng than củi dính bùn đất mà cánh phu phen và tiểu thương đã ký gửi trong phiên xử sáng nay. Ngọn bút lông thỏ trong tay cậu chấm nhẹ vào đĩa mực tàu vừa mài sánh mịn, ngòi bút dừng lại trên trang giấy trắng tinh sương, sẵn sàng ghi chép.

Thanh Hà bước chậm rãi tới mép bàn, đôi bàn tay thon thả nhẹ nhàng mở nút thắt của bọc vải thô.

Tiếng tiền đồng va vào nhau lách cách, khô khốc, nặng nề và lạnh ngắt vang lên giòn giã trong gian quán. Nàng ngồi xuống chiếc ghế tre đối diện, cẩn thận tháo từng sợi dây chuối khô buộc các xâu tiền kẽm. Bằng động tác thành thạo và tỉ mỉ của một người từng quản xuyến sổ sách, từng hạt tiền, từng xâu tiền đồng xanh xao vì ten sét, từng đồng tiền bóng loáng vì thấm đẫm mồ hôi của những người lao động lam lũ lần lượt được nàng kiểm tra cẩn thận. Nàng xếp chúng thành từng cọc mười đồng ngay ngắn, phẳng phiu, chia thành từng hàng dài ngay trước mắt Lại Tam và mọi người trong quán.

Tiếng lách cách của tiền đồng đều đặn gõ vào sự tĩnh lặng nghẹt thở.

Một người phu thuyền lớn tuổi ngồi co ro phía sau bàn của A Sinh bỗng ngập ngừng lên tiếng, giọng run run:

"Liễu nương tử à... Dẫu sao thì thằng Tam này cũng đã chịu đủ mười trượng đòn đau nơi công đường, giờ lại biết đường vác cái mặt dập đầu van xin quỳ lạy thế này... Hay là... hay là nương tử rủ lòng thương tình, bớt xén cho gã một đôi phần? Người xưa vẫn bảo đánh kẻ chạy đi chứ ai nỡ đánh người chạy lại bao giờ... Tha cho gã một con đường, cũng là tích đức cho đời..."

Nghe thấy lời ấy như vớ được chiếc cọc giữa dòng nước lũ, Lại Tam vội ngước đôi mắt đỏ hoe, tròng mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm nhìn Thanh Hà với vẻ khẩn cầu tha thiết đến tột cùng.

Thanh Hà khẽ dừng tay trên một cọc tiền kẽm. Nàng từ tốn ngẩng đầu lên, ánh mắt trong trẻo quét qua người phu thuyền vừa lên tiếng, rồi nhìn khắp lượt cánh tiểu thương và phu bến đang có mặt trong quán. Nàng cất giọng rõ ràng, âm sắc trầm tĩnh, nhu hòa nhưng từng lời từng chữ lại kiên định, dứt khoát như đinh đóng chặt vào cột gỗ nghiến:

"Các bác, các chú có lòng thương xót đồng loại, điều đó là cái nghĩa, cái tình đáng quý ở đời. Nhưng tha thứ về mặt đạo lý không đồng nghĩa với việc xóa bỏ trách nhiệm tài chính. Số tiền này không phải là tiền riêng của một mình Liễu Thanh Hà tôi, mà là mồ hôi, nước mắt cay đắng, là tiền mua nắm gạo nuôi con mọn, mua thang thuốc cứu mẹ già của dì Tư, thím Ba, của sáu chị em tiểu thương Hội nữ thương Đông Tân và bao nhiêu bạn hàng khốn khó suốt hai năm trời qua. Nếu hôm nay tôi vì một lời van xin, vì mấy cái dập đầu mà tùy tiện xua tay xí xóa, thì sự nghiêm minh và công bằng của quan nha lập ra để làm gì? Nỗi oan ức và những gánh hàng rong bị hắt đổ tung tóe xuống bùn lầy của các chị em bến đò suốt thời gian qua sẽ tính cho ai đây?"

Nàng quay thẳng sang nhìn xoáy vào đôi mắt đang sụp mí đầy vẻ hổ thẹn của Lại Tam:

"Lại Tam, anh hãy lắng tai nghe cho thật rõ. Anh nợ một văn, tôi thu đủ một văn. Anh nợ ba mươi hai quan sáu trăm văn, sổ sách điếm sở và cuốn sổ thu chi của quán trà này sẽ ghi nhận không thiếu một hào. Hôm nay tôi đếm đủ mười hai quan tiền này, giao lại tận tay cho bác Kính trưởng điếm sở ngay trong tối nay để chia trả sòng phẳng cho từng người theo đúng danh sách đã điểm chỉ ban sáng. Một đồng tôi cũng không bớt, nửa xu tôi cũng không bớt. Bởi vì bớt một đồng của anh hôm nay, chính là Liễu Thanh Hà này đang cướp đi một miếng cơm manh áo của những người nghèo khổ nhất bến Vọng Giang!"

Lời nói của Thanh Hà thốt ra rành rọt, đanh thép mà thấu tình đạt lý, không hề vướng bận chút tư thù cá nhân hay sự hẹp hòi ti tiện. Từng câu từng chữ như ánh đuốc soi rọi vào tận ngóc ngách của sự công bằng.

Dì Tư nghe đến đó thì đưa góc khăn lau vội khóe mắt rơm rớm, khẽ gật đầu lia lịa; thím Ba thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được tảng đá đè nặng ngực bấy lâu; bác phu than A Sinh buông lỏng nắm đấm, đưa mắt nhìn Thanh Hà với vẻ kính nể khôn xiết.

Lại Tam run rẩy gục đầu xuống sâu hơn nữa, trán lại chạm vào nền đất lạnh:

"Nương tử... nương tử dạy chí phải! Thằng Tam này xin tâm phục khẩu phục... Không dám xin bớt một đồng nào nữa... Xin nương tử cứ đếm đủ, ghi sổ đủ cho tôi..."

Bên cạnh, Liễu Thanh Du thoăn thoắt gạt từng hạt bàn tính bằng gỗ mun kêu vang *lách cách, lách cách* giòn giã. Cậu bé chấm ngọn bút lông vào nghiên mực, cẩn thận nắn nót viết từng dòng chữ Hán ngay ngắn vào trang sổ cái: *Ngày mười tám tháng Mười, Lại Tam nộp đợt một mười hai quan tiền đồng bồi hoàn lệ phí thu sai cho bến đò ngang.* Viết xong, cậu thổi nhẹ cho mực mau khô, rồi xé một mảnh giấy bản làm biên lai đưa sang trước mặt Lại Tam:

"Anh điểm chỉ vào đây."

Lại Tam run rẩy đưa ngón tay cái bên phải, chấm ngập vào chiếc đĩa sành đựng mực chu sa đỏ chót, rồi ấn mạnh dấu vân tay của mình lên góc dưới tờ biên nhận, để lại một vết đỏ tươi sắc nét bên cạnh nét chữ mực nho sắc sảo của Thanh Du.

Sau khi số tiền đồng được xếp gọn gàng vào chiếc hòm gỗ nhỏ có khóa đồng, gian quán trà lại một lần nữa rơi vào một khoảng lặng trầm mặc, u hoài.

Lại Tam vẫn quỳ bất động trên nền đất nện, chiếc lưng áo rách toác rỉ máu run rẩy theo từng nhịp thở ngắt quãng. Mười hai quan tiền vừa giao nộp đã vét sạch sành sanh chút của cải tích cóp cuối cùng của gã. Chiếc thuyền tam bản duy nhất dùng để che mưa che nắng và chở hàng lậu đã bán đứt cho người ta, cái danh xưng trùm bến bãi hung bạo một thời nay tan tành như mây khói. Nhưng cay đắng hơn cả là sau lưng gã còn có bảy tám đứa lâu la nhỡ nhàng như thằng Cẩu Nhị, những đứa trẻ mồ côi hoặc thanh niên tứ xứ trôi dạt về bến sông Vọng Giang này không một tấc đất cắm dùi, không cha không mẹ, xưa nay chỉ biết bấu víu vào gã để kiếm miếng cơm qua ngày bằng thói ăn chặn, trấn lột và bảo kê.

Giờ đây, khi huyện nha đã cắm bảng nghiêm cấm, bến bãi siết chặt trật tự, con đường làm ăn bất chính bị chặn đứng hoàn toàn, chúng nó sẽ sống bằng gì? Đi đâu về đâu giữa mùa đông giá rét mướt đang tràn về? Cánh cửa bến bãi đã đóng sập trước mặt những kẻ mang vết nhơ tù tội và đòn roi.

Tiếng gậy tre của Từ Bá nện xuống sàn phá tan bầu không khí nặng nề. Lão chống gậy bước lên nửa bước, đôi mắt đùng đục nhìn Thanh Hà, rồi lại quay ra nhìn màn đêm đen kịt đang bao trùm lấy bến sông ngoài khung cửa liếp. Lão cất giọng khàn khàn, từng lời nặng trĩu suy tư:

"Thanh Hà này, chuyện tiền nong sòng phẳng như thế là phải đạo lắm, lão già này không có nửa lời bắt bẻ. Nhưng cái bến Vọng Giang này nó lạ lùng lắm cháu à, sóng nước thì sâu hun hút mà lòng người thì cạn trơ đáy cát. Đuổi cùng giết tuyệt một con chó đói thì dễ như trở bàn tay, nhưng làm sao để nó không cắn càn sang người khác, không biến thành loài thú dữ cướp giật ban đêm mới là cái đạo khó của bậc làm chủ. Thằng Tam này mang tội tày đình, quan huyện đã phạt trượng, dân nghèo đã đòi nợ. Nhưng dưới trướng nó còn dăm bảy thằng lâu la lít nhít, không nghề không ngỗng, không ruộng không vườn. Giờ bến bãi nghiêm ngặt, đường làm ăn càn quấy bị chặn đứng, nếu chúng nó không có một manh chiếu rách để nằm, không có một bát cháo hoa để húp qua ngày, thì chỉ ba bữa nửa tháng nữa thôi, cái bến này lại loạn cào cào lên vì trộm cắp vặt, rạch túi, cướp giật ban đêm. Đến lúc ấy, người chịu thiệt thòi khổ sở lại chính là bà con đi đò ngang và cái xóm quán ven sông của chúng ta."

Thanh Hà lặng lẽ lắng nghe từng lời của lão lái đò. Đôi mày thanh tú của nàng khẽ nhíu lại trong giây lát. Nàng hiểu sâu sắc những lời Từ Bá nói. Đó cũng chính là mối bận tâm canh cánh trong lòng nàng từ lúc bước chân ra khỏi sân điếm sở huyện nha hồi trưa nay. Đánh đổ một kẻ lộng quyền lấn lướt thì dễ, chỉ cần chứng cứ rành rành và một bản đơn từ đanh thép; nhưng làm sao để sắp xếp lại một trật tự mới bình yên, làm sao để những kẻ vừa bị tước đoạt nguồn sống phi pháp không biến thành những mầm mống tội ác mới trong đêm tối, đó mới là bài toán hóc búa cần giải quyết.

Từ Bá quay phắt sang nhìn Lại Tam, giọng lão chùng xuống nhưng vẫn ngập tràn sức nặng răn đe:

"Thằng Tam, tao hỏi mày: Mày sinh ra và lớn lên ở cái khúc sông Vọng Giang này, từ cái thuở còn cởi truồng lặn ngụp bắt hến cho đến khi mặt mày mọc râu rậm rạp, mày thuộc từng con nước ròng nước lớn, thuộc từng luồng gió bấc gió nồm, từng cồn cát rạn đá ở bến này hơn cả thuộc đường chỉ tay của mày. Đám đàn em của mày, đứa nào đứa nấy sức dài vai rộng, quen luồn lách qua các kho bãi, biết rõ thuyền buôn nào chở gạo, thuyền nào chở mắm, cập bến giờ nào nước đầy, khách buôn nào từ mạn ngược về cần chuyển đồ lên huyện lỵ... Tài năng bến bãi sông nước ấy của chúng mày sao không đem ra mà làm ăn đàng hoàng chân chính, mà lại đi đâm đầu vào cái nghề mạt hạng là ăn chặn từng xu từng hào của mấy người đàn bà góa buôn thúng bán mẹt hả?"

Lại Tam ngước khuôn mặt đầm đìa máu và bụi đất lên. Khóe mắt bầm tím của gã trào ra hai dòng nước mắt đùng đục, giọng nghẹn ngào, lắp bắp:

"Bá Từ... con... con biết tội của con rồi. Nhưng giờ bến tàu huyện nha đã cấm cửa lũ chúng con, chủ thuyền buôn lớn coi chúng con như quân trộm cắp cặn bã, chủ kho gạo kho muối thấy bóng chúng con là xua đuổi như xua đuổi tà ma quỷ ám... Giờ lũ chúng con dù có muốn đem cái thân này đi bốc vác, kéo thuyền kiếm bát cơm bát cháo qua ngày đoạn tháng này, liệu có ai dám thuê mướn, liệu có ai dám tin tưởng một thằng mang án phạt trượng, lưng đầy vết đòn thù như con nữa không bá ơi?"

Từ Bá im lặng không đáp. Lão thở dài một tiếng thật sâu, rồi từ từ chuyển ánh mắt đầy vẻ gửi gắm và tin cậy sang phía Thanh Hà:

"Thanh Hà, con bé này có cái tâm sáng như trăng rằm mà cái đầu lại tỉnh táo, sắc sảo nhất cái bến đò này. Lão già này cả đời chỉ biết chèo đò vượt sóng dữ, còn cái việc mở ra cho người ta một con đường đàng hoàng để sống lương thiện, lão muốn nghe một lời định đoạt từ cháu."

Không gian trong quán bỗng chốc lặng phắc. Mọi ánh mắt, từ bác phu than A Sinh chai sạn, dì Tư, thím Ba, cho đến cậu thiếu niên Thanh Du và cô bé Tiểu Mãn đều đổ dồn cả về phía người góa phụ trẻ tuổi.

Ánh sáng vàng ấm của ngọn đèn dầu lạc hắt lên gương mặt thanh tú của Thanh Hà, làm nổi bật đường nét kiên nghị nhưng nhu hòa nơi khóe môi nàng. Nàng không vội vàng trả lời ngay. Nàng với tay nhấc chiếc ấm đất bọc vải ủ ấm, từ tốn rót một bát nước chè xanh nóng hổi, bốc khói nghi ngút thơm lừng, rồi đẩy nhẹ chiếc bát sành về phía mép bàn tre, ngay trước mặt Lại Tam.

"Đứng dậy uống bát nước nóng đi đã," Thanh Hà cất tiếng, thanh âm bình thản lạ thường.

Lại Tam run rẩy ngẩng đầu lên, trừng trừng nhìn bát nước chè xanh trước mặt, dường như không dám tin vào đôi tai mình. Gã ngập ngừng hồi lâu, rồi run rẩy chống hai bàn tay xuống nền đất, gượng gạo đứng dậy. Nhưng vì vết thương trượng sau lưng co rút buốt nhức và hai khớp gối đã tê dại sau thời gian quỳ mọp, gã lảo đảo chực ngã, phải bám chặt lấy mép chiếc ghế tre mới đứng vững nổi. Gã bưng bát sành bằng cả hai bàn tay thô kệch đang run rẩy bần bật. Hơi nước chè nóng hổi bốc lên phả vào mặt làm sống mũi gã cay xè buốt nhói.

Bát nước chè xanh hai văn của quán trà họ Liễu – thứ nước đóm bình dị mà trước đây mỗi lần đi ngang qua gã đều nhổ bãi nước bọt khinh miệt, từng sai đàn em hăm he đập phá bàn ghế – giờ đây nâng trên đôi tay rớm máu của gã lại nặng tựa ngàn cân. Lại Tam run rẩy đưa bát lên miệng hớp một ngụm nhỏ. Vị chát thanh ban đầu đọng lại nơi đầu lưỡi, rồi nhanh chóng chuyển thành vị ngọt hậu sâu lắng, ấm áp nơi cuống họng, từ từ lan tỏa xuống lồng ngực đang run rẩy, xua tan đi phần nào vị đắng ngắt của nỗi tủi nhục đang bóp nghẹt trái tim gã.

Thanh Hà nhìn gã uống xong ngụm nước, mới chậm rãi cất giọng:

"Lời Bá Từ vừa dạy rất chí lý. Chặn đứng một con đường xấu mà không mở ra một con đường lương thiện thì cái bến sông này sẽ chẳng bao giờ có được sự bình yên thực sự. Quán trà của tôi không bao giờ là nơi dung dưỡng cho phường trộm cắp, nhưng tôi cũng không hẹp hòi đến mức xua đuổi những kẻ muốn hoàn lương bằng chính mồ hôi và sức lao động chân chính của mình."

Nàng bước ra mé hiên quán, đưa tay chỉ về phía dòng sông Vọng Giang đang chìm dần trong màn sương đêm mịt mùng:

"Mùa đông năm nay đến sớm hơn mọi năm, gió bấc đầu mùa đã bắt đầu tràn về buốt giá. Quán trà của tôi mỗi ngày cần từ bốn đến năm sọt than bùn khô nỏ để giữ lửa liên tục cho ba lò nước, lại cần thêm củi gộc nhãn già hong khói chở từ vùng thượng nguồn dãy Tây Lĩnh về để sưởi ấm cho khách và đồ bánh nếp gừng mật mía. Những chiếc thuyền chở củi than nặng trịch ấy thường chỉ cập bến vào lúc đêm khuya thanh vắng hoặc lúc tảng sáng mờ sương. Cánh phu bến cũ thì bận rộn khuân vác cho các chủ hàng lớn ở kho muối, kho gạo mạn trên, chẳng mấy ai chịu nhận dỡ những mẻ hàng vụn vặt, lấm lem bụi than bùn bẩn thỉu ấy. Nếu anh và đám anh em của anh chịu đem cái sức dài vai rộng, quen sóng quen gió ấy ra mà làm việc chân chính, tôi sẽ mở cho các anh một lối lui bằng bản giao kèo bốc dỡ đầu tiên này."

Lại Tam sững sờ như sét đánh ngang tai, hai con mắt mở to hết cỡ nhìn người đàn bà góa trẻ tuổi trước mặt:

"Liễu nương tử... nương tử... nương tử nói thật lòng sao? Nương tử không chê cười, vẫn chịu thuê mướn đám cùng đinh tay nhúng chàm như chúng tôi sao?"

"Tôi thuê sức lao động của các anh sòng phẳng, chứ tôi không ban ơn bố thí," giọng Thanh Hà đanh lại, nhấn mạnh từng tiếng rõ ràng. "Nhưng phàm đã làm việc với tôi thì mọi sự phải quang minh chính đại, rõ ràng như ban ngày. Giá cả bốc dỡ sẽ được niêm yết bằng thẻ tre công khai ngay trước cửa quán trà này, tính theo từng chuyến thuyền và từng sọt hàng cụ thể. Tuyệt đối không có chuyện tự ý nâng giá chẹt họng khách, không có chuyện vòi vĩnh đòi thêm tiền nước đóm, tiền thuốc lào hay tiền bồi dưỡng bến bãi. Làm đúng, làm đủ thì nhận đủ tiền công; làm ẩu, làm hư hao hàng hóa hay gian lận bớt xén thì trừ thẳng vào tiền công để bồi thường. Anh có bằng lòng với những điều ấy không?"

"Bằng lòng! Tôi xin bằng lòng! Thằng Tam này xin đội ơn nương tử vạn lần!" Lại Tam nghẹn ngào, hai đầu gối run rẩy lại chực quỵ xuống một lần nữa, nhưng Từ Bá đã nhanh như cắt giơ đầu gậy tre chặn ngang vai gã lại.

"Đừng có vội mừng mà quỳ lạy lung tung," Từ Bá hừ lạnh một tiếng qua kẽ răng. "Muốn làm ăn lâu dài, giữ được cái bát cơm nơi bến nước này thì không thể nói miệng khơi khơi được. Lời nói gió bay, chỉ có giấy trắng mực đen mới giữ được cái bụng người. Thanh Du, cháu lấy giấy bút ra đây, thảo ngay cho lão một bản quy ước vận chuyển và bốc dỡ bến bãi đàng hoàng!"

"Dạ, thưa bá, cháu đã chuẩn bị sẵn sàng rồi ạ," Thanh Du đáp rành rọt.

Cậu thiếu niên trải một tờ giấy bản dày dặn, trắng ngà lên mặt bàn gỗ dâu phẳng phiu. Dưới ánh sáng vàng vọt lung linh của ngọn đèn dầu lạc, bàn tay cầm ngọn bút lông thỏ của Thanh Du lướt đi thoăn thoắt. Từng nét chữ chân phương, vuông vắn và sắc sảo hiện lên đều đặn trên mặt giấy:

*BẢN QUY ƯỚC VẬN CHUYỂN VÀ BỐC DỠ HÀNG HÓA BẾN ĐÒ VỌNG GIANG*

Thanh Du vừa nắn nót viết từng dòng, vừa cất giọng dõng dạc đọc to từng điều khoản cho mọi người trong quán cùng nghe:

"Điều thứ nhất: Đội phu bốc dỡ do Lại Tam chịu trách nhiệm quản lý phải phân chia phiên làm việc công bằng, minh bạch cho toàn bộ anh em phu phen dưới quyền; cấm tuyệt đối việc ăn chặn tiền công nhật của người khác hoặc chia bè kéo cánh để tranh giành hàng hóa."

"Điều thứ hai: Giá bốc dỡ củi than, hàng hóa cho Quán trà họ Liễu và các tiểu thương ven bến đò ngang phải chiếu theo đúng đơn giá niêm yết công khai trên thẻ tre của quán: Củi gộc mười lăm văn tiền đồng một thuyền nhỏ; Than bùn hai văn tiền đồng một sọt lớn. Tuyệt đối nghiêm cấm việc tự ý đặt ra các khoản phụ thu, cấm đòi tiền bến bãi hay tiền uống nước thuốc lào của chủ hàng."

"Điều thứ ba: Nghiêm cấm mọi hành vi chửi bới, đe dọa, xô xát, giành giật khách qua sông hoặc tranh mối hàng của các thuyền buôn khác. Kẻ nào cố tình vi phạm sẽ lập tức bị gạch tên vĩnh viễn khỏi đội phu bốc dỡ và tước bỏ quyền hành nghề trên toàn bộ bến đò."

"Điều thứ tư: Mọi chuyến hàng sau khi bốc dỡ xong xuôi, chủ hàng và đại diện đội phu phải cùng nhau kiểm tra số lượng thực tế, viết giấy biên nhận ghi rõ ngày giờ, số tiền công và điểm chỉ làm chứng. Toàn bộ tiền công kiếm được sẽ được trích một nửa nộp thẳng vào quỹ bồi hoàn thiệt hại tại điếm sở bến đò theo đúng phán quyết của nha môn huyện, nửa còn lại phát tận tay cho phu khuân vác để nuôi thân."

Từng câu, từng chữ vang lên đanh thép, rành mạch giữa gian quán tĩnh mịch. Khi Thanh Du dứt lời hạ ngọn bút lông xuống giá, cả bác phu than A Sinh lẫn dì Tư, thím Ba đều gật đầu lia lịa, trong mắt lộ rõ vẻ thán phục khôn xiết.

Bản quy ước ấy không chỉ chặt chẽ về mặt lý lẽ, răn đe được thói hư tật xấu bấy lâu nay của đám côn đồ, mà còn thấu tình đạt lý đến mức mở ra một con đường sống thực tế, giúp Lại Tam có thể dựa vào sức mình mà trả hết món nợ ba mươi hai quan sáu trăm văn bồi hoàn cho bà con mà không bị dồn vào bước đường cùng sinh ra liều lĩnh.

"Anh đã lắng nghe và hiểu rõ toàn bộ các điều khoản chưa?" Thanh Hà nhìn thẳng vào Lại Tam, cất giọng hỏi.

"Rõ... tôi đã nghe rõ và ghi nhớ từng chữ một rồi ạ," Lại Tam đưa ống tay áo bẩn thỉu lên chùi vội khóe mắt ướt nhòe, giọng gã run lên bần bật.

"Nếu không còn điều gì thắc mắc hay khiếu nại, thì ký tên và điểm chỉ vào bản quy ước này."

Thanh Du đẩy tờ giấy bản phẳng phiu sang mép bàn phía Lại Tam, bên cạnh là chiếc đĩa sành đựng mực chu sa đỏ thắm đang tỏa mùi hương nồng hắc quen thuộc.

Lại Tam run rẩy đưa bàn tay chai sạn đón lấy ngọn bút lông thỏ từ tay cậu thiếu niên. Bàn tay thô kệch ấy của gã cả đời chỉ quen cầm gậy tre bọc đồng đập phá, quen xòe ngửa ra để giật tiền bảo kê của những người buôn bán yếu thế, nay lần đầu tiên phải cầm lấy ngọn bút lông mỏng manh mềm mại bỗng run rẩy dữ dội như cành cây trước gió bão. Gã gượng gạo nắn nót từng nét một, mồ hôi trên trán rịn ra hòa cùng máu khô chảy xuống khóe mắt cay xè. Trên nền giấy trắng ngà, hai chữ tên họ của gã hiện lên: *Lại Tam*. Chữ viết nguệch ngoạc, xiêu vẹo, méo mó như những bước chân tập tễnh của gã, nhưng đó là những nét chữ nghiêm chỉnh, đàng hoàng nhất mà cả cuộc đời ba mươi năm qua gã từng viết ra.

Sau đó, Lại Tam ấn mạnh đầu ngón tay cái dính đầy đất cát vào đĩa mực chu sa, rồi dằn mạnh xuống góc dưới bản quy ước bên cạnh chữ ký của mình.

Dấu điểm chỉ màu đỏ thắm in hằn sâu trên nền giấy bản trắng tinh sương, tươi rói và rực rỡ như một lời cam kết máu thịt để đổi thay một số phận lầm lạc.

Từ Bá đứng bên cạnh thở phào một hơi dài trút bỏ gánh nặng. Lão gật đầu hài lòng với Thanh Du, rồi quay sang nhìn con bé Tiểu Mãn đang đứng nép bên cột nhà:

"Tiểu Mãn, con mau ra chõ bánh lấy cho bác một đĩa bánh nếp gừng mật mía nóng hổi, thêm hai bát nước chè xanh mới hãm nữa nhé."

"Dạ! Con đi ngay ạ!" Con bé lanh lợi cất tiếng đáp lời, đôi mắt to tròn đen láy nhìn Lại Tam đã hoàn toàn trút bỏ vẻ sợ hãi ban đầu, đôi chân thoăn thoắt chạy ngay về phía chõ bánh đang nghi ngút khói nơi góc bếp.

Thanh Hà đứng dậy, nàng bước tới chiếc tráp gỗ hương nhỏ đặt trên kệ sau lưng, dùng chiếc chìa khóa đồng tra vào ổ khóa kêu *tạch* một tiếng thanh nhẹ. Nàng mở nắp tráp, lấy ra một xâu ba mươi văn tiền kẽm còn mới nguyên, được xâu bằng sợi lạt tre dẻo dai buộc nút đôi cẩn thận. Nàng bước lại bàn, đặt xâu tiền kẽm lên mặt bản quy ước vừa ráo mực, rồi đẩy nhẹ về phía Lại Tam:

"Đêm nay, thuyền củi chở mười lăm bó gỗ nhãn già hong khói từ bên bến Nam Kiều của người bác họ tôi sang sẽ cập bến Vọng Giang vào đúng giờ Tý. Đây là ba mươi văn tiền công ứng trước của tôi cho anh và đám Cẩu Nhị bốc dỡ toàn bộ số củi ấy lên bờ và xếp ngay ngắn vào chái bếp của quán trước lúc trời hửng sáng. Nhớ kiểm tra cho thật kỹ từng khúc gỗ, củi mục nát hay củi ngấm nước sông dứt khoát không được nhận bốc vào quán."

Lại Tam sững sờ trừng trừng nhìn xâu tiền kẽm sáng loáng nằm ngay ngắn trên mặt bàn tre, toàn thân gã khẽ chấn động mãnh liệt.

Ba mươi văn tiền đồng... Món tiền ấy thực sự chẳng phải là to tát gì, so với những xâu tiền hàng trăm văn lấp lánh mà trước đây gã từng ngang nhiên giật phắt trên tay những người khách bộ hành qua đò thì nó chẳng thấm tháp vào đâu. Nhưng chưa bao giờ trong suốt ba mươi năm cuộc đời trôi nổi nơi đầu sóng ngọn gió này, một đồng tiền lại có sức nặng khủng khiếp, đè nặng lên tâm can gã đến như thế. Đây tuyệt nhiên không phải là đồng tiền bẩn thỉu cướp bóc của kẻ yếu hèn, không phải đồng tiền cờ bạc bịp bợm thâu đêm suốt sáng nơi xóm vạn chài, mà là những đồng tiền công lương thiện đầu tiên gã được nhận bằng chính sự tin tưởng của người khác và bằng những giọt mồ hôi chân chính sắp sửa đổ xuống của bản thân mình.

Lại Tam run rẩy đưa cả hai bàn tay bám đầy đất cát và những vệt máu khô ra đón lấy xâu tiền. Mười đầu ngón tay gã run lẩy bẩy khi chạm vào sợi lạt tre dẻo dai. Nước mắt gã không kìm nén nổi nữa, cứ thế trào ra lã chã qua hai gò má bầm tím, nhỏ từng giọt lộp độp xuống mặt bàn gỗ dâu:

"Liễu nương tử... bác Bá... ơn sâu nghĩa nặng này của nương tử và bác, thằng Tam này xin khắc cốt ghi tâm đến muôn đời muôn kiếp! Đêm nay, dù trời có đổ mưa phùn gió bấc, dù có lạnh buốt thấu xương thịt, một thanh củi ướt cũng dứt khoát không thể lọt vào chái bếp của nương tử được!"

"Thôi, mau cất tiền vào túi rồi về thuyền mà tắm rửa qua loa, bôi nắm lá thuốc vào cái lưng nát ấy đi kẻo nhiễm phong hàn thì toi mạng," Từ Bá cất giọng khàn khàn, đưa bàn tay hộ pháp vỗ mạnh một cái thật đau lên bả vai Lại Tam khiến gã lảo đảo thụt lùi một bước. "Mày hãy nhớ kỹ lấy cái đêm hôm nay. Bước qua được cái ngưỡng cửa này thì mày là con người đàng hoàng, còn lùi lại một bước thì mày lại chìm nghỉm xuống đáy bùn Vọng Giang làm mồi cho tôm cá rỉa thịt. Đi đi!"

"Dạ! Con xin phép bác Bá, xin phép Liễu nương tử và bà con lối xóm con về!"

Lại Tam ôm chặt xâu ba mươi văn tiền vào sâu trong lồng ngực gầy guộc rách rưới, cúi gập người lùi dần từng bước ra khỏi cánh liếp quán trà, rồi xoay người hòa nhanh vào màn sương đêm đen kịt đang cuồn cuộn buông xuống bến sông. Tiếng bước chân gã bước đi trên con đường mòn sỏi sành dẫu vẫn còn tập tễnh vì những vết roi trượng nhức buốt, nhưng đã vững chãi và dứt khoát hơn rất nhiều so với cái bóng dáng lết thết, thảm hại lúc gã bước vào quán ban nãy.

Bên trong quán trà họ Liễu, bầu không khí ấm áp, thanh bình dần dần trở lại như vốn có.

Bác phu than A Sinh bưng bát nước chè xanh nguội uống ực một hơi cạn sạch, đoạn đứng dậy quệt ngang miệng, bật ra một tiếng cười sảng khoái:

"Liễu nương tử xử sự như thế, cánh phu phen cùng đinh chúng tôi phục sát đất! Có được bản quy ước rành mạch này đóng dấu đỏ, từ ngày mai trở đi cái bến đò ngang này thực sự phong quang, sáng sủa rồi. Chúng tôi đi bốc vác làm thuê cũng không còn nơm nớp lo sợ bị đám ong ve du côn quấy nhiễu, bắt chẹt từng đồng trinh nữa!"

"Phải đấy, nương tử thật có tấm lòng bồ tát cứu người, mà cái dạ lại cứng cỏi, sáng suốt như tảng đá hoa cương," dì Tư cũng vui vẻ góp lời, đoạn móc trong túi áo nâu lấy hai văn tiền nước đặt ngay ngắn lên mặt bàn rồi cùng thím Ba quẩy đôi gánh hàng không kẽo kẹt bước ra ngoài, rảo bước về phía bến đò ngang để kịp chuyến đò cuối cùng sang sông trước khi trời tối hẳn.

Khách khứa trong quán lần lượt lục tục tản dần về các xóm vạn chài ven sông. Con đường mòn đất nện chạy dọc theo triền đê chỉ còn lại tiếng gió bấc thổi vi vu qua những rặng tre ngà cọ xát vào nhau kẽo kẹt.

Liễu Thanh Du cẩn thận cuộn tròn bản quy ước bến bãi vừa ráo mực lại, cho vào bên trong một chiếc ống tre ngâm dầu bóng loáng chuyên dùng để đựng các giấy tờ giao kèo quan trọng của quán, đoạn cậu quay sang nhanh nhẹn thu dọn những chiếc bát sành trên mặt bàn. Cô bé Tiểu Mãn nhanh nhảu cầm chiếc giẻ lau bằng vải thô sạch sẽ miết mạnh lên mặt bàn tre, lau sạch bóng những giọt nước chè và bụi tro vương vãi. Vừa lau, con bé vừa ngước đôi mắt tròn xoe ngập tràn vẻ ngưỡng mộ nhìn Thanh Hà:

"Chị Thanh Hà ơi, thế từ ngày mai trở đi cái gã Cẩu Nhị dữ tợn với lão Lại Tam không bao giờ dám đến dọa nạt, đập phá quán mình nữa hả chị?"

Thanh Hà khẽ mỉm cười, nụ cười hiếm hoi nở trên môi làm bừng sáng cả gương mặt thanh tú sau một ngày dài căng thẳng. Nàng đưa bàn tay ấm áp vuốt nhẹ lọn tóc mai dính chút bụi tro bếp trên vầng trán bướng bỉnh của cô bé:

"Không dọa nạt nữa đâu. Từ ngày mai họ là phu bốc vác hàng hóa của quán mình rồi. Làm việc chăm chỉ thì có tiền công mua gạo, làm sai quấy thì bị phạt trừ tiền theo đúng quy ước. Em chỉ cần chăm chỉ lo đun nước chè cho đúng cữ, giữ lửa lò đất cho đều tăm tắp là được rồi."

"Vâng ạ! Em nhớ rồi chị!" Con bé toe toét cười rạng rỡ, để lộ hai chiếc răng sún ngộ nghĩnh rồi cắp chiếc giẻ lau chạy tót xuống góc bếp chuẩn bị ấm nước mới.

Thanh Hà bước chậm rãi ra ngoài hiên quán, đứng cạnh Từ Bá đang tựa lưng vào chiếc cột tre cái.

Gió sông lúc này đã đổi hẳn sang hướng đông bắc, từng cơn gió hun hút thốc ngược từ hạ lưu lên mang theo cái lạnh thấu xương của đợt rét đầu mùa tràn về sớm. Mặt nước Vọng Giang dưới chân doi đất cuộn lên những lớp sóng màu xám xịt, xô đẩy nhau đập ầm ầm vào những cọc đá kè chân bờ, phát ra những tiếng *bồm bộp* nặng nề, dồn dập như tiếng trống trận cầm canh.

Thanh Hà cúi xuống, ánh mắt nàng dừng lại nơi đôi chân trần của lão lái đò già. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ khe liếp, nàng thấy rõ khớp gối chân phải của lão đã sưng to như củ chuối, đỏ tấy lên dưới mép gấu quần vải chàm ướt sũng. Toàn bộ trọng lượng cơ thể già nua của lão đang phải dồn hết sang bên chân trái, bàn tay gân guốc bấu chặt vào thân gậy tre đực đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra để giữ thăng bằng.

"Bá Từ, cái khớp gối của bác lại sưng to hơn hồi chiều rồi phải không?" Thanh Hà lo lắng hỏi, giọng nàng chùng xuống đầy xót xa. "Trời trở lạnh nhanh quá, để cháu bảo Thanh Du nổi lửa đun ngay một nồi nước lá lốt già nấu với gừng và chút muối hạt, bác vào trong quán ngồi ngâm chân cho tan máu bầm, ấm khớp xương rồi hẵng về thuyền nghỉ ngơi."

Từ Bá xua xua bàn tay thô ráp, nụ cười hóm hỉnh phong trần quen thuộc thoáng hiện trên khuôn mặt già nua chằng chịt nếp nhăn và sạm đen vì nắng gió sông hồ. Nhưng nụ cười ấy chưa kịp nở trọn vẹn đã nhanh chóng bị dập tắt bởi một cơn đau buốt nhói chạy dọc từ khớp gối lên hông, khiến khóe miệng lão giật giật méo xệch:

"Ôi dào, cái của nợ này... cái khớp xương mục của thằng già này nó báo bão báo rét còn chuẩn xác hơn cả mấy ông quan coi thiên văn trên huyện nha nữa cháu à! Cứ mỗi bận gió bấc tràn về bến sông là nó lại trở chứng hành hạ như có dòi bò trong xương thế đấy, lão chịu mấy chục năm nay rồi, quen cái nết của nó rồi... Thôi, con thuyền tam bản của lão còn đang neo dưới mép nước kia kìa. Lão phải lội xuống kéo thêm sợi dây xích lòi tói buộc chặt mũi thuyền vào rễ cây đa cổ thụ, kẻo đêm nay nước thượng nguồn đổ về dâng cao, gió đổi chiều giật đứt dây neo thì con thuyền trôi mất tích ra cửa bể thì khốn nạn cả đời già."

Nói đoạn, lão chống mạnh cây gậy tre đực xuống nền đất, xoay người bước từng bước tập tễnh, khó nhọc xuống dốc đất trơn trượt dẫn ra bờ nước. Dáng lưng lão còng rạp xuống trước từng cơn gió buốt lạnh từ mặt sông Vọng Giang đang điên cuồng thổi thốc lên triền bờ cát.

Thanh Hà đứng lặng bên hiên quán vắng, hai bàn tay đan chặt vào nhau giấu trong ống tay áo ấm. Nàng đưa mắt dõi theo bóng lưng còng già nua, đơn độc của lão lái đò đang từ từ khuất dần vào màn sương xám đặc quánh nơi bờ sông mù mịt. Lòng nàng bỗng dâng lên một nỗi bất an mơ hồ khó tả khi nghĩ đến mùa đông dài dằng dặc khắc nghiệt phía trước, khi những đợt rét mướt cắt da cắt thịt sẽ trút xuống bến sông này.

Cơn gió đông đầu mùa rít qua khe liếp, mang theo tiếng ho khan nặng nhọc của lão lái đò già trong khoang thuyền buốt lạnh.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn