Quán Trà Bên Bến ĐòC.16 / 34
Chương 16

Bếp chung trên gò

Mưa như trút nước đập ràn rạt lên những tầng mái ngói mũi hài rêu phong của Miếu Gò Cao, hòa cùng muôn vàn tiếng gào khóc, tiếng gọi bầy tao tác và bước chân rầm rập của đám đông dân bến đò đang ướt sũng chen chúc tìm chốn dung thân. Từng luồng gió chướng rít giật điên cuồng từ phía lòng sông sâu hoắm thốc ngược lên triền gò, vặn xoắn những cành thị khẳng khiu hàng trăm năm tuổi, bẻ gãy từng nhánh gỗ mục rớt đập lộp độp xuống mặt sân lát gạch vồ và đá ong loang lổ bùn non đỏ quạch. Hơi nước dày đặc bốc lên từ mặt đất lạnh quyện với mưa nguồn cuồn cuộn che khuất hoàn toàn tầm mắt, biến toàn bộ cảnh sắc bến Vọng Giang thành một màn sương mù xám xịt, ngập ngụa trong tiếng sóng gầm gào như muốn nuốt chửng cả doi đất cao.

Thanh Hà buông vội chiếc đũa cả to bản bằng gỗ nghiến đang khuấy dở nồi bột nếp trên góc kiềng đá, hai mắt mở to căng ráo nhìn trừng trừng qua bức màn mưa xối xả, hướng thẳng vào một bóng hình liêu xiêu vừa run rẩy đặt bước chân lên bậc thềm đá cuối cùng dẫn vào sân tế. Giữa đám người tơi tả, bồng bế đùm túm dạt lên từ mé sông, đứa trẻ ấy trơ trọi một thân một mình với manh áo nâu chắp vá đã rách toang một bên nách, lộ ra mảng da thịt xám ngoét vì rét buốt. Hai bờ vai gầy guộc nhô cao run rẩy bần bật như chiếc lá tre khô trước cơn lốc dữ. Đất sét đỏ quánh từ những bãi lò gạch trũng thấp ven sông Nam Kiều dường như đã ăn sâu vào từng kẽ móng tay, bám chặt vào ống chân trần gầy rộc và lem luốc thành từng vệt khô khốc trên đôi gò má hóp sâu, làm đôi mắt to tròn vốn dĩ trong trẻo nay trũng xuống đầy vẻ hãi hùng.

"Thanh Du!"

Tiếng gọi thảng thốt xé toạc màn mưa đặc quánh như cắt đứt cả tiếng gầm rú của dòng nước xiết. Thanh Hà thậm chí không kịp với tay giữ lấy chiếc áo tơi lá cọ vừa tuột khỏi bờ vai, nàng nhấc bổng vạt váy vải thô nhung nhúc bùn non lội thẳng qua khoảng sân lầy lội, trơn trượt như đổ mỡ. Đôi bàn chân trần mảnh dẻ giẫm miết lên lớp sỏi đá dăm sắc nhọn buốt giá, nhưng dường như mọi cảm giác đau đớn trên da thịt đều biến mất hoàn toàn trước bóng hình đứa em trai duy nhất. Nàng lao vụt tới, dang rộng hai cánh tay gầy gò mà siết chặt lấy thân hình nhỏ bé đang lạnh buốt, cứng đờ như một tảng băng trôi giữa dòng nước độc.

"Chị... chị Hai..."

Thanh Du sững sờ, chiếc tay nải bằng vải vụn rách bươm trên tay cậu tuột xuống, rơi tõm vào vũng nước bùn đục ngầu dưới chân. Giọng nói non nớt nghẹn đặc lại nơi cuống họng, đôi môi thâm sì tím ngắt run lên bần bật không thốt nổi trọn vẹn một câu. Rồi như một con đê vỡ òa sau chuỗi ngày nén nhịn, hai bàn tay khẳng khiu, đầy sẹo xước của cậu bé níu chặt lấy vạt áo ướt đẫm của Thanh Hà. Thằng bé gục đầu vào hõm vai nàng, toàn thân co rúm lại, phát ra từng tiếng nấc nghẹn ngào rung bần bật từng thớ thịt vì cái lạnh thấu tận xương tủy và nỗi kinh hoàng chất chứa suốt mấy ngày đêm chạy lũ vượt sông.

Thanh Hà ghì chặt em trai vào lòng, bàn tay thô ráp của người phụ nữ dãi dầu mưa nắng run run vuốt ve mái tóc rối bù, bết dính nước mưa chua loét và bùn đỏ của cậu. Trái tim nàng đau nhói từng cơn như bị muôn ngàn mũi kim châm cào xé nát ruột gan. Thằng bé đã gầy rộc đi quá nhiều so với lần nàng lặn lội sang mé Nam Kiều tìm gặp cách đây nửa năm; từng đốt xương sườn gồ lên nham nhở sau làn áo cánh ướt sũng dính chặt vào da thịt, hai bờ vai nhỏ bé trĩu nặng dấu vết cọ xát của những đòn gánh nặng nhọc quá sức với tuổi mười ba. Nàng vội vàng gỡ tấm khăn choàng bằng vải thô sờn rách quấn quanh cổ mình, tỉ mỉ trùm kín đầu và gáy cho em, vừa ra sức xoa nắn hai bàn tay buốt giá như cành củi khô của cậu vừa dồn dập hỏi trong tiếng thở dốc:

"Sao em lại ở đây? Nam Kiều xa ngái như thế, bến bãi ngập lụt trắng xóa, bác họ đâu mà lại để em lưu lạc đến tận gò miếu này một mình thế này?"

Thanh Du nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra từng tiếng lách cách rợn người. Cậu hít một hơi dài đầy mùi khói ẩm và bùn lầy, cố nén cơn co giật nơi lồng ngực gầy guộc để cất lời:

"Bác họ... bác ép em phải theo chiếc thuyền chở ba mươi bao lúa giống của làng Nam Kiều vượt sông sang huyện giao cho kho hàng họ Trương... Thuyền vừa chống sào ra đến chỗ hợp lưu ngã ba sông thì gặp đúng lúc con nước xiết từ thượng nguồn Lạc Thủy đổ ập về dữ dội. Sóng lừng đánh bạt cả mũi thuyền, nước sông ngầu đỏ tràn vào khoang ầm ầm như thác đổ. Mấy bác phu chèo sợ vỡ be thuyền nên đành liều mạng chặt đứt dây neo, để mặc thuyền trôi dạt vào mé doi đất gò miếu này lánh nạn... Em chen chúc chạy theo dòng người dạt lên triền đồi, áo quần ướt sạch, tay nải trôi mất phân nửa... em không ngờ... không dám ngờ lại gặp được chị ở chốn này..."

"Được rồi, tai qua nạn khỏi là tốt rồi. Có chị ở đây, sống chết gì chị em ta cũng có nhau, không ai có thể bắt nạt em được nữa." Thanh Hà khẽ vỗ về sau lưng em trai, hốc mắt nàng nóng rực nhưng ánh nhìn lại đanh lại, ánh lên nét quật cường kiên định đến lạ thường.

Nàng nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của Thanh Du, dắt cậu len lỏi qua đám đông phu phen, đàn bà con trẻ đang chen chúc ngồi co ro run rẩy dưới mái hiên ngoài chái miếu, tiến thẳng vào gian chái đông—nơi mấy hôm trước nàng cùng mấy người phu bến quen biết đã dọn dẹp tạm bợ, lấy mấy tấm phên nứa cũ rách dựng lên một góc che chắn gió mùa.

Vừa thấy bóng Thanh Hà dắt theo một thiếu niên ướt sũng, rách rưới bước vào, Tiểu Mãn đang ngồi lom khom bên cạnh bếp trấu lập tức buông chiếc que cời, bật dậy thoăn thoắt. Đôi mắt lanh lợi, sắc sảo của con bé đảo nhanh qua bộ dạng thảm hại của Thanh Du, không cần một lời nhắc nhở nào từ phía Thanh Hà, Tiểu Mãn đã nhanh tay giật lấy chiếc chiếu cói rách nhưng may mắn còn khô ráo nhất trong góc xép trải rộng ra thềm gạch đá ong.

"Anh mau ngồi thụp vào đây! Cởi ngay manh áo ướt nhẹp kia ra kẻo tà khí ngấm vào phổi thì toi mạng bây giờ!" Tiểu Mãn vừa nói vừa nhanh nhẹn giật lấy chiếc áo tơi khô dệt bằng lá cọ già nàng vừa hong bên đống than hồng ban nãy, khoác trùm kín lấy tấm lưng trơ xương của Thanh Du, đoạn lại thoăn thoắt cầm chiếc bát sành mẻ miệng, múc một muôi nước cháo bột nếp loãng hãy còn nghi ngút khói đưa tới tận tay cậu: "Mau húp từng hớp nhỏ cho ấm lại cái bụng đã, có gì từ từ hẵng nói!"

Thanh Du ngơ ngác nhìn cô bé trạc tuổi mình nhưng cử chỉ tháo vát, dứt khoát lạ thường, rồi lại rụt rè đưa mắt nhìn sang chị gái. Trong ánh mắt cậu thoáng gợn lên vẻ bối rối, tự ti đến tội nghiệp khi nhìn lại bản thân lấm lem bùn đất, nhếch nhác như một đứa ăn mày giữa một góc chái miếu dẫu chật chội nhưng lại ngăn nắp, tinh tươm hơn hẳn cảnh tượng hỗn độn ngoài sân.

"Đây là Tiểu Mãn, phụ việc sớm tối cùng chị ở quán trà dưới bến đò Vọng Giang." Thanh Hà dịu giọng giải thích, nàng đỡ lấy chiếc bát sành từ tay Tiểu Mãn, tự tay đặt cẩn thận vào hai lòng bàn tay đang run rẩy của em trai: "Uống đi em, cháo nếp còn nóng lắm. Tiểu Mãn nhanh mồm nhanh miệng nhưng tốt bụng lắm, không phải e ngại đâu."

Thanh Du lí nhí thốt lên lời cảm ơn líu ríu trong cổ họng rồi mới run rẩy đón lấy bát sành, cúi đầu húp từng ngụm cháo nóng hổi. Nhìn từng giọt nước cháo ấm nóng thấm dần vào cổ họng em trai, làm sắc mặt xám ngoét của cậu dần hồi lại chút huyết sắc nhợt nhạt, lòng Thanh Hà mới lắng xuống được một nhịp. Nàng ngồi quỳ một chân xuống nền chiếu bên cạnh em, nhẹ nhàng đưa tay vén ống tay áo nâu rách bươm của Thanh Du lên để kiểm tra xem trên người cậu có vết thương tích nào do va quẹt sóng gió hay không.

Thế nhưng, khoảnh khắc nhìn rõ bàn tay và cánh tay của em trai trần trụi dưới ánh sáng nhợt nhạt hắt ra từ đống lửa, sống mũi Thanh Hà cay xè, nước mắt trào ra nơi khóe mi mà nàng không sao ngăn lại được.

Đôi bàn tay của một đứa trẻ mới mười ba tuổi—đôi bàn tay mà ba năm trước cha nàng còn cầm tay nắn nót từng nét chữ vuông vức, mực đen trên giấy hoa tiên ở lớp học thầy đồ thôn Đoài—nay đã biến dạng đến mức thảm thương, xót xa. Lòng bàn tay chằng chịt những lớp chai sần thô ráp, vàng xỉn vì quanh năm suốt tháng phải bốc vác từng tảng đất sét nung lò và kéo dây chão tải những bao lúa nặng trĩu. Trên các đầu ngón tay khẳng khiu, những vết nứt nẻ sâu hoắm như rãnh cày ứa máu tươi, nay bị nước lũ ngâm suốt nửa ngày trời đã trương phềnh, trắng bệch ra như thịt thối. Đau đớn hơn cả, một bên cùi chỏ và cẳng tay của cậu bé còn hằn rõ hai vệt bầm tím bầm đen kéo dài—dấu vết không thể nhầm lẫn của những trận đòn roi bằng đóm tre hay cán chổi đót mà kẻ làm công thường phải gánh chịu. Lời hứa hẹn ngon ngọt của người bác họ Liễu Đức Thuận ngày trước về việc cưu mang cháu mồ côi ăn học hóa ra chỉ là một trò dối trá bỉ ổi; ông ta đã đối xử với cốt nhục nhà họ Liễu chẳng khác nào một đứa tôi đòi, một con trâu con ngựa kéo cày không công nơi góc lò gạch tối tăm.

Thanh Du nhận ra ánh mắt xót xa ngấn lệ của chị gái, cậu bé giật mình, vội vã rụt tay lại, cố giấu biến đôi bàn tay tật nguyền xuống dưới vạt áo tơi lá cọ, đầu cúi gằm xuống mặt chiếu, lí nhí thanh minh:

"Chị Hai... em không sao thật mà, không đau đớn gì đâu. Đi phu bến với làm việc lò gạch thì đứa nào tay chân chẳng nứt nẻ chai sần như thế này... Em... em chỉ sợ mình làm gánh nặng cho chị thôi. Chị ở đây buôn bán một thân một mình đã chật vật đủ đường. Lần này thuyền dạt vào đây, đợi nước lũ rút bớt em lại phải tìm cách theo thuyền lúa quay về bến Nam Kiều nộp mạng cho bác họ... Nếu em trốn ở lại, bác ấy kéo người sang bến đò quậy phá, bắt vạ đòi tiền chuộc thân thì chị biết lấy gì mà xoay xở..."

Thanh Hà nhìn thấu tận tâm can của đứa em trai bé bỏng. Thằng bé hiểu chuyện đến mức khiến người ta phải đứt từng khúc ruột. Nó sợ nàng khổ, sợ sự xuất hiện đói rách của mình sẽ làm phiền lụy đến chị, sợ những món nợ miệng truyền kiếp mà lão Liễu Đức Thuận từng dùng để trói buộc hai chị em sẽ biến thành tai họa giáng xuống quán trà nhỏ bé của nàng. Nếu lúc này nàng chỉ biết buông lời than khóc, ôm ấp xót thương như bao người phụ nữ yếu đuối khác, thì sự thương hại ấy sẽ chỉ vô tình cứa sâu thêm vào lòng tự trọng vốn đang bị chà đạp tơi bời của một đứa trẻ đang gắng gượng đứng thẳng lưng làm một đấng nam nhi.

Nghĩ đến đó, Thanh Hà dứt khoát đưa tay quệt nhanh giọt nước mắt vương trên khóe mắt, hít một hơi thật sâu để lấy lại sự điềm tĩnh thường ngày. Nàng đứng thẳng dậy, bước chân vững chãi tiến về phía chiếc rương gỗ nhỏ được bọc vải dầu cẩn thận—vật dụng duy nhất nàng kịp nhờ mấy anh em phu bến khiêng từ quán trà ven sông lên gò miếu từ chiều hôm trước. Mở khóa đồng lách cách, nàng cẩn thận bưng ra một chiếc nghiên mực bằng đá xanh sứt một góc, một thỏi mực tàu đã mài dở, cây bút lông cán trúc thân quen và cuốn sổ cái đóng bằng giấy bổi vàng dày dặn—cuốn sổ nàng vẫn dùng để ghi chép từng đồng tiền mua lá trà, mua mật mía và công xá gánh nước hàng ngày.

Nàng quay lại, đặt chiếc rương gỗ nằm ngang làm bàn, rồi trịnh trọng đặt nghiên mực, cây bút và cuốn sổ giấy bổi ngay ngắn trước mặt Thanh Du. Ánh mắt nàng nhìn thẳng vào mắt em trai, nghiêm nghị mà chan chứa sự tin cậy tuyệt đối:

"Thanh Du, chuyện về Nam Kiều hay ở lại gò miếu này, đợi qua cơn cuồng nộ của trời đất rồi chị em ta sẽ tính toán cho rành rẽ từng phân từng tấc, không việc gì phải sợ hãi lão Thuận ấy nữa. Nhưng trước mắt, ngay trên gò miếu này, chị đang rất cần sự giúp đỡ của một người có chữ nghĩa, có tâm tính cẩn trọng."

Thanh Du ngẩn ngơ ngước đôi mắt tròn xoe nhìn chị, nét mặt đầy vẻ ngỡ ngàng.

Thanh Hà chỉ tay ra khoảng sân tế nhốn nháo bên ngoài hiên miếu, nơi hàng trăm con người đang chen lấn trong mưa gió, tiếng chửi bới, tiếng khóc than xé lòng không ngớt vọng lại:

"Em nhìn xem, nước sông Vọng Giang đang dâng cao ngập trắng cả bến bãi, quan trên đã hạ lệnh cấm tuyệt đối đò ngang đò dọc vượt sông. Người tị nạn dạt lên miếu này mỗi lúc một đông, từ dân thuyền chài, phu bốc vác cho đến khách buôn nhỡ độ đường, nhưng gạo củi tích trữ trên gò lại có hạn vô cùng. Bác Từ lái đò và ban phường bảo muốn đứng ra lập bếp chung để nấu cháo phát chẩn cho bà con, nhưng nếu không có người đứng ra ghi chép danh tính, rà soát nhân khẩu từng xóm, từng thuyền cho rành mạch thì kẻ mạnh sẽ cướp phần của kẻ yếu, phát trước phát sau sẽ sinh ra cảnh hỗn loạn, giẫm đạp cướp bóc lẫn nhau. Chị và Tiểu Mãn phải canh giữ bếp lửa, đun nước ngọt và lo liệu củi khô, không thể vừa đong đếm vừa viết lách được. Em có thể thay mặt chị cầm lấy cây bút này, ngồi giữ cuốn sổ danh sách cứu trợ này thật công tâm, minh bạch được không?"

Nhìn cuốn sổ giấy bổi phảng phất mùi rơm khô mộc mạc và cây bút lông cán trúc đã mòn vẹt đầu quen thuộc, ánh mắt đượm buồn, u uất của Thanh Du bỗng bừng sáng lên một tia lửa rạng rỡ. Đó không phải là sự ban ơn rẻ rúng, càng không phải là sự thương hại của kẻ bề trên, mà là một sự ủy thác đầy tôn trọng của một người chị dành cho một người đàn ông trong gia đình. Cậu bé khẽ rướn người, bờ vai gầy thẳng tắp lên một cách kiêu hãnh. Hai bàn tay nứt nẻ, chai sần run run nhưng vô cùng cẩn trọng đón lấy cây bút lông, giọng nói của cậu đã tan hết vẻ rụt rè hèn mọn ban nãy:

"Chị Hai cứ tin ở em! Ngày trước thầy đồ ở trường làng thôn Đoài từng khen em tính toán sổ sách đâu ra đấy, chữ viết vuông vắn không xiêu vẹo. Em nhất định sẽ ghi chép từng họ tên, từng miệng ăn, đếm từng bát cháo phát ra, không để sót một cụ già con trẻ nào và cũng tuyệt đối không để kẻ nào thừa cơ gian lận cướp phần!"

"Tốt lắm, em trai của chị phải như thế." Thanh Hà mỉm cười, đặt bàn tay ấm áp vỗ nhẹ lên bờ vai áo tơi của em trai, trong lòng như trút được một tảng đá ngàn cân.

Đúng lúc ấy, từ phía triền dốc đá dẫn từ bờ sông lên sân miếu bỗng nhiên vang lên những tiếng la hét thất thanh, hòa lẫn với tiếng sóng vỗ gầm thét dữ dội vào vách đá. Nước lũ từ thượng nguồn sông Lạc Thủy sau mấy ngày mưa xối xả nay đã thực sự đạt đến đỉnh điểm cuồng nộ. Dòng nước đỏ ngầu phù sa cuồn cuộn như muôn ngàn con trâu điên lồng lộn, nhấn chìm toàn bộ những dải bãi bồi, ruộng ngô và vườn dâu mé đông sông Vọng Giang trong biển nước mênh mông. Đứng từ trên sân miếu cao nhìn xuống, những gian lều cỏ, quán nước thấp bé ven bến đò—trong đó có túp lều tranh xiêu vẹo, nơi chôn giấu bao giọt mồ hôi và nước mắt khởi nghiệp của Thanh Hà suốt những tháng ngày qua—giờ chỉ còn nhô lên vài chóp mái rạ tả tơi, dập dềnh bất lực giữa muôn trùng sóng đỏ. Chiếc cọc gỗ đo mực nước ven bờ bến đò đã bị dòng lũ cuốn phăng, nhấn chìm mất dạng từ bao giờ.

Gió lạnh rít từng hồi qua khe cửa miếu, mang theo hơi nước buốt giá như dao cứa vào da thịt. Đám đông người tị nạn trên sân miếu bắt đầu chao đảo trong hoảng loạn tột cùng. Trẻ con khóc thét ngằn ngặt vì lạnh buốt và đói lả, người già ho hen sặc sụa từng cơn trong làn gió chướng, từng tốp người ướt như chuột lột co ro nép vào nhau dưới những mái hiên dột nát, run rẩy cầu khấn trời phật. Lương khô, bánh khảo mang theo từ dưới thuyền đã bị ướt sũng hoặc rữa nát thành bùn từ sớm. Nồi cháo bột nếp nhỏ xíu mà Thanh Hà bắc trên kiềng đá góc đông nãy giờ chỉ như muối bỏ bể, chẳng thấm tháp vào đâu so với hàng trăm con người đang đói lả, tuyệt vọng ngóng đợi từng ngụm nước ấm.

Giữa lúc tình cảnh hỗn loạn ngàn cân treo sợi tóc ấy, từ phía con đường mòn cheo leo nơi sườn đồi phía tây—hướng độc đạo dẫn từ bến đò dành cho khách buôn giàu có sang bờ bên kia—bỗng rộ lên tiếng bước chân rầm rập và tiếng quát tháo của một toán người đông đúc đang kéo lên miếu.

Đi đầu là sáu gã gia nhân lực lưỡng mặc áo cộc vải thô nhuộm màu xanh sẫm đồng bộ, vai kề đòn khiêng hai chiếc chảo gang khổng lồ đen trũi—loại chảo đại chuyên dùng để nấu nước trà và hấp hàng trăm chiếc bánh phục vụ cho các đại tiệc thưởng trà của những lầu trà bề thế bậc nhất vùng. Đi ngay phía sau toán gia nhân là một người phụ nữ trùm tấm áo tơi may bằng lụa dầu chống nước màu cánh gián đắt tiền. Dáng người bà ta cao ráo, thắt đáy lưng ong, gương mặt sắc sảo như dao khắc dẫu lúc này đã lấm lem vài vệt bùn non và mái tóc vấn trễ nải dính bết nước mưa, nhưng đôi mày phượng và khóe môi mỏng vẫn toát lên vẻ kiêu kỳ, ngạo nghễ quen thuộc.

Đó không phải ai khác, chính là Tống Kim Phượng—nữ chủ nhân khét tiếng đầy bản lĩnh của Trà lâu Nghênh Xuân lừng danh bên bờ tây sông Vọng Giang.

Theo sát gót bà ta là hai gã phu thuyền vạm vỡ đang è cổ còng lưng khênh một bao tải lớn bằng vải bố thô buộc túm miệng, mép bao bục ra để lộ những hạt gạo trắng ngà, mẩy căng của loại gạo tám thơm thượng hạng dành riêng cho giới nhà giàu. Tuy nhiên, tình cảnh của đoàn tùy tùng Trà lâu Nghênh Xuân lúc này cũng chẳng lấy gì làm vẻ vang, đĩnh đạc. Nước lũ dâng ngập bờ tây quá nhanh và bất ngờ đã tràn thẳng vào tầng trệt của lầu trà tráng lệ, cuốn trôi nhiều bàn ghế quý và buộc toàn bộ người của Nghênh Xuân phải tháo chạy tán loạn lên gò cao lánh nạn. Số củi lửa quý giá mà họ vội vã vơ vét mang theo đã bị sóng đánh ướt sũng dọc đường; mấy bó củi xoan non ngậm đầy nước lũ khi được đám gia nhân cố nhóm thử nơi góc hiên tây chỉ bốc lên những cuộn khói đen sì, nồng nặc mùi ẩm mốc làm cay xè mắt mũi chứ tuyệt nhiên không bốc nổi một ngọn lửa. Mấy gã gia nhân lực lưỡng sau một quãng đường dài vật lộn với sóng gió nay đã kiệt sức, người nào người nấy bải hoải ngồi thụp xuống bậc thềm đá hoa cương, thở hồng hộc, chẳng ai còn đủ hơi sức hay uy thế để đứng ra tổ chức nấu nướng giữa đám đông phu bến nghèo đói đang trừng trừng dán những ánh mắt gườm gườm, thèm thuồng vào bao gạo trắng ngần kia.

Tống Kim Phượng đứng trơ trọi giữa chái miếu phía tây, nhìn đám đông dân tị nạn đang bắt đầu nhốn nháo, rồi lại nhìn hai chiếc chảo gang nằm chơ vơ bên đống củi ướt nhẹp đang ngùn ngụt khói cay, đôi lông mày lá liễu của bà ta nhíu chặt lại đầy vẻ bực bội và lo âu khôn xiết. Có gạo ngon thượng hạng, có chảo gang khổng lồ trong tay, nhưng lại thiếu củi khô nhóm lửa, thiếu nguồn nước ngọt thanh sạch và thiếu cả sự phối hợp điều hành, thì đống gạo trắng kia chẳng mấy chốc sẽ biến thành mồi lửa châm ngòi cho một cuộc cướp bóc hỗn loạn của đám cùng đinh đang bên bờ vực chết đói.

Thanh Hà đứng bên chái miếu đông, lặng lẽ thu trọn toàn bộ tình cảnh ngặt nghèo ấy vào tầm mắt. Nàng đọc rõ từng nét biến đổi tâm lý trên gương mặt sắc sảo nhưng đang dần lộ vẻ hoang mang của đối thủ lớn nhất đời mình. Trong tâm trí nàng, không hề có một chút hả hê hay ý nghĩ trả thù những mưu toan ép giá, hạ bệ buôn bán mà Nghênh Xuân từng giáng xuống quán trà nhỏ của nàng mấy tháng qua. Nàng hiểu rõ một điều cốt tủy: trước cơn thịnh nộ vô tình của trời đất, mạng sống của con người là điều duy nhất đáng giá.

Thanh Hà quay sang khẽ gật đầu ra hiệu cho Tiểu Mãn canh chừng nồi cháo nếp, dịu giọng dặn Thanh Du ngồi giữ yên nghiên mực, rồi tự mình chỉnh trang lại vạt áo cánh thô, ngẩng cao đầu rảo bước đĩnh đạc băng qua khoảng sân gạch, tiến thẳng về phía chái miếu tây nơi Tống Kim Phượng đang đứng.

Thấy bóng Thanh Hà tiến lại gần, mấy gã gia nhân áo xanh của Trà lâu Nghênh Xuân lập tức cảnh giác, tay nắm chặt lấy đòn gánh toan bước lên che chắn trước bao gạo, nhưng Tống Kim Phượng đã giơ bàn tay thon dài lên ngăn lại. Ánh mắt phượng của bà ta khẽ nheo lại, nhìn chằm chằm vào người góa phụ trẻ tuổi nghèo khó đối diện—kẻ mà chỉ mới mấy ngày trước còn bị chiêu bài giảm giá trà búp thượng hạng của bà ta dồn ép đến mức suýt chút nữa phải dẹp tiệm đóng cửa.

"Liễu chưởng quỹ," Tống Kim Phượng cất giọng lạnh nhạt, nhưng trong âm sắc đanh thép thường ngày không giấu nổi một sự khản đặc vì mệt mỏi và gió lạnh: "Mưa to gió lớn thế này, cô Liễu cất công lội bùn sang tận đây, là để tận mắt xem Trà lâu Nghênh Xuân chúng tôi rơi vào cảnh bẽ bàng đấy à?"

"Tống tỷ đùa rồi," Thanh Hà bình thản đáp lời, ánh mắt nàng trong vắt, thẳng thắn mà không hề vương một chút mỉa mai hay cay nghiệt: "Nước sông Vọng Giang cuộn sóng dâng cao ba trượng, nó đâu có biết phân biệt bờ đông hay bờ tây, người sang hay kẻ hèn. Dưới chân gò miếu này, túp lều tranh rách nát của tôi hay trà lâu ba tầng sơn son thếp vàng của tỷ thì lúc này cũng đều chìm sâu dưới đáy bùn như nhau cả thôi."

Tống Kim Phượng thoáng im lặng, bờ môi mỏng khẽ mím chặt lại, ngón tay vô thức siết nhẹ dải lụa thắt lưng.

Thanh Hà đưa tay chỉ về phía góc hiên chái đông của mình, nơi bếp lửa nhỏ vẫn đang bập bùng tỏa ra làn hơi ấm áp, thẳng thắn đưa ra lời đề nghị:

"Tống tỷ có hai chiếc chảo gang đại, có thể nấu một mẻ cháo đủ cho cả trăm con người lót dạ, lại có sẵn nửa bao gạo tám thơm thượng phẩm. Nhưng củi của tỷ ngậm nước lũ, gia nhân của tỷ thì kiệt lực không thể đứng ra xốc vác việc chia phát giữa chốn hỗn quân hỗn quan này. Bên quán nhỏ của tôi may mắn dọn lên gò từ sớm, hiện tại đang có sẵn hai sọt củi gộc khô hong khói đượm lửa vô cùng, ba chum nước ngọt lấy từ giếng đá gò Thanh Khê không dính một hạt phù sa, lại còn nguyên năm củ gừng già ủ trà giải cảm và hai hũ mạch nha hoa lúa. Nếu Tống tỷ bằng lòng, chuyện ân oán buôn bán dưới bến sông xin hãy gác lại sau lưng, chúng ta hãy cùng nhau dựng chung một bếp lửa lớn ngay giữa gian tiền tế của ngôi miếu này."

Kim Phượng thoáng sững sờ, hàng mi cong vút run rẩy. Bà ta ngước nhìn theo hướng tay Thanh Hà chỉ, quả nhiên thấy hai sọt củi gộc bằng gỗ nhãn khô khốc được chùm kín bằng vải dầu cẩn thận, ngọn lửa nơi chiếc kiềng ba chân bên kia đang bốc cháy đỏ rực, xua tan cái lạnh ẩm ướt xung quanh. Mùi gừng già thơm nồng, ấm áp thoang thoảng theo gió bay sang tận chái tây này.

"Cô muốn chia phần công xá thế nào?" Bản năng sắc bén của một con buôn lọc lõi nơi thương trường bến bãi khiến Tống Kim Phượng buột miệng gặng hỏi, giọng điệu vẫn giữ vẻ đề phòng cố hữu.

Thanh Hà khẽ lắc đầu, một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản thoáng hiện trên gương mặt thanh tú lấm tấm vài giọt mưa:

"Nơi cửa miếu linh thiêng lánh nạn này, mạng người là lớn nhất, không có chỗ cho việc tính toán lời lỗ hay chia chác thiệt hơn. Trà lâu Nghênh Xuân góp chảo lớn và gạo trắng, Quán trà Thanh Hà góp củi khô, gừng già, nước ngọt và mạch nha. Em trai tôi biết chữ nghĩa sẽ ngồi giữ sổ kiểm soát nhân khẩu cho công bằng, Tiểu Mãn cùng mấy thị tỳ của tỷ phụ trách chia phát cháo và nước. Mục đích duy nhất đêm nay là giữ cho toàn bộ dân bến đò Vọng Giang này—cả người bờ đông lẫn bờ tây—sống sót qua cơn bão lũ mà không một ai phải chịu cảnh đói rét hay giẫm đạp lên nhau vì một miếng ăn. Tống tỷ thấy lời tôi nói có phải lẽ không?"

Lời nói của Thanh Hà rành mạch, đanh thép, từng câu từng chữ đều đĩnh đạc và quang minh chính đại đến mức khiến một người đàn bà kiêu kỳ, đa nghi như Tống Kim Phượng cũng không thể tìm ra một kẽ hở nào để bắt bẻ hay hoài nghi. Nhìn đám trẻ nhỏ tím tái đang ôm lấy bắp chân mẹ chúng run lẩy bẩy ngoài sân gạch, rồi nhìn lại đôi bàn tay thô ráp dính muội than nhưng ánh mắt sáng ngời, kiên định lạ thường của người góa phụ trẻ tuổi kia, sự kiêu hãnh cố chấp và bức tường ngăn cách trong lòng bà chủ Trà lâu Nghênh Xuân rốt cuộc cũng hoàn toàn sụp đổ.

Kim Phượng thở dài một hơi thật khẽ buông xuôi, rồi dứt khoát hất cằm, cất giọng sang sảng ra lệnh:

"Được! Cứ theo đúng lời Liễu muội mà làm! Mấy đứa bay đâu, còn không mau tỉnh táo lại! Khiêng ngay hai chiếc chảo gang sang chái giữa, vác bao gạo lại đổ vào thau sạch giao cho cô Hà điều phối!"

Giao ước cứu trợ chung được xác lập chỉ trong gang tấc giữa hai người đàn bà từng coi nhau như nước với lửa nơi bến sông.

Chẳng mấy chốc, khu vực gian tiền tế của Miếu Gò Cao đã biến thành một công trường cứu trợ ấm áp, khẩn trương và trật tự hiếm thấy giữa chốn hoang tàn mưa bão. Mấy bác phu bến khỏe mạnh cùng đám gia nhân áo xanh của Nghênh Xuân đồng lòng xắn tay áo, hò dô khiêng những tảng đá xanh phẳng phiu dưới chân cột miếu kê thành một bệ bếp kép kiên cố, vững chãi ngay khoảng đất trống có mái hiên che chắn. Hai sọt củi gộc khô hong khói của Thanh Hà lập tức phát huy tác dụng thần kỳ; từng thanh củi nhãn, củi nghiến chắc nịch bén lửa đỏ au, ngọn lửa bùng lên rừng rực như rồng cuộn, liếm trọn lấy hai đáy chảo gang khổng lồ đen nhánh, phát ra những tiếng nổ "lách tách" vui tai, tỏa ra luồng hơi nóng nồng nàn đẩy lùi toàn bộ không khí ẩm mốc, xua tan cái giá lạnh thấu xương đang bao trùm ngôi miếu cổ.

Nước giếng đá gò Thanh Khê trong vắt, ngọt lành được múc đầy hai lòng chảo lớn, chẳng mấy chốc đã sôi ùng ục, sủi bọt trắng xóa dưới sức nóng ngùn ngụt. Từng gáo gạo tám thơm mẩy hạt của Nghênh Xuân được đong đếm cẩn thận, rải đều tay vào mặt nước sôi. Thanh Hà trực tiếp đứng ở vị trí đầu bếp chính; nàng thoăn thoắt dùng con dao bài sắc ngọt bổ từng nhánh gừng già đập dập, thả vào nồi nước trà xanh búp hè nấu riêng bên cạnh, lại dùng chiếc muôi gỗ lớn khuấy đều chảo cháo đang lục bục nở bung hoa, thêm vào đó hai muỗng mạch nha hoa lúa vàng óng sánh mịn để cháo thêm đậm đà và bồi bổ khí huyết cho người đuối sức. Mùi thơm ngọt lành, bùi béo của gạo mới quyện chặt với vị cay nồng ấm áp của gừng già và hương cốm ngào ngạt từ lá trà xanh búp sấy khô bốc lên nghi ngút, cuộn tròn trong làn khói lam chiều, lan tỏa khắp các gian ngách của ngôi miếu, khiến cho hàng trăm đôi mắt mệt mỏi, tuyệt vọng của đám đông tị nạn bỗng chốc sáng bừng lên niềm hy vọng sống sót.

Ngay trước bậc thềm đá dẫn vào chái giữa, Liễu Thanh Du ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế con bên cạnh chiếc thùng gỗ làm bàn. Manh áo tơi khô quấn quanh bờ vai gầy guộc, nhưng tấm lưng cậu bé thẳng tắp như một cây trúc non, gương mặt non nớt lộ rõ nét nghiêm trang, chững chạc lạ thường. Cậu cẩn thận mài thỏi mực đen nhánh trên nghiên đá sứt, đầu ngọn bút lông thoăn thoắt chấm mực rồi hạ bút viết từng nét chữ chân phương, rành mạch lên trang giấy bổi vàng ngà.

"Bác tên gì? Đi từ thuyền nào sang? Dưới trướng có bao nhiêu nhân khẩu cả thảy?" Thanh Du cất giọng trong trẻo, rành rẽ hỏi han từng người đang đứng trước mặt.

"Tôi... tôi là Trần Lão Lục, thuyền chài xóm dưới bến Vọng Giang, đi cùng mẹ già tám mươi tuổi với hai đứa cháu nhỏ côi cút..." Người đàn ông làm nghề chài lưới ướt sũng, run rẩy cất giọng khai báo.

Thanh Du nhanh tay lia ngọn bút lông trên trang giấy bổi: *Trần Lão Lục - thuyền chài xóm dưới - bốn khẩu (một già lão, hai ấu tử, một tráng đinh)*. Viết xong rành mạch, cậu bé xé một mảnh cật tre nhỏ đã được vót nhẵn, dùng bút lông quệt mực đỏ đánh dấu số thứ tự trao tận tay người phu chài, lễ phép dặn dò:

"Bác cầm lấy thẻ tre này, mời cụ bà và hai em nhỏ vào mé chái đông ngồi sát bên đống than hồng sưởi ấm trước. Chị cháu và cô Tống chưởng quỹ đã định ra quy lệ rõ ràng: cháo nóng và nước trà gừng giải cảm sẽ được chia phát theo đúng thứ tự ưu tiên: người già, trẻ nhỏ và người đau ốm được nhận trước; các bác tráng đinh khỏe mạnh xin vui lòng lùi lại phía sau nhận lượt kế tiếp. Bác cứ yên tâm, gạo và củi đã được tính toán chu toàn cho toàn bộ gò miếu, tuyệt đối không ai bị bỏ sót một bát nào đâu ạ!"

Quy tắc phân minh, rành mạch cùng giọng điệu chững chạc, đàng hoàng đầy sức thuyết phục của Thanh Du khiến cả đám đông phu thuyền đang nhốn nháo chen lấn bỗng chốc im phăng phắc. Lòng tự trọng được phục hồi và tinh thần trách nhiệm trước công việc chung đã biến cậu bé làm thuê câm lặng nơi lò gạch hôm nào trở thành một người điều phối đắc lực, tự tin. Từng người một tự giác nhìn nhau rồi lùi lại, xếp thành một hàng dài ngay ngắn dọc theo hiên miếu, không còn cảnh xô đẩy, chen lấn hay giẫm đạp tranh giành như lúc ban chiều.

Tiểu Mãn cùng hai thị tỳ của Trà lâu Nghênh Xuân đứng túc trực hai bên mép chảo lớn, thoăn thoắt múc từng gáo cháo hoa sánh mịn, rắc thêm chút muối hột và gừng già giã nhỏ vào từng chiếc bát sành, cẩn thận trao tận tay từng cụ già run rẩy và những đứa trẻ đang đói lả. Từng bát nước trà gừng ủ mạch nha nóng hổi, bốc khói thơm nồng được chuyển tiếp ra ngoài sân; ai nấy đón nhận bằng hai bàn tay run bần bật, húp một ngụm là luồng hơi nóng bừng lên nơi cuống họng, mồ hôi toát ra đầm đìa xua tan đi cơn cảm lạnh ngấm ngầm mùa lũ.

Đứng một bên khoanh tay quan sát, Tống Kim Phượng không giấu nổi sự kinh ngạc sâu sắc trong ánh mắt. Bà ta nhìn cuốn sổ ghi chép mực đen ngay ngắn, thẳng hàng của Thanh Du, rồi lại nhìn cung cách điều phối nhịp nhàng, công bằng tuyệt đối mà Thanh Hà đang bao quát toàn bộ gian tế. Kim Phượng thầm nghĩ trong bụng, nếu đổi lại là chính bản thân bà ta đứng ra phát chẩn với đám gia nhân kiêu ngạo của Nghênh Xuân, chưa chắc đã có thể duy trì được một trật tự quy củ và nhận được sự phục tùng, nể trọng từ đám đông phu bến vốn ngang tàng bặm trợn này như cách mà người góa phụ trẻ tuổi kia đang làm.

Đang lúc dòng người đang trật tự tuần tự tiến bước nhận cháo, bỗng nhiên từ phía cuối hàng có tiếng xôn xao to tiếng, kèm theo tiếng xô đẩy thô bạo.

Một người đàn ông trung niên dáng người phốp pháp, đẫy đà, mặc áo gấm viền lụa màu mận chín, bên ngoài khoác chiếc áo tơi làm bằng da rái cá sang trọng bước những bước chân nặng nề, thô bạo lách qua dòng người đang đứng xếp hàng. Gã này chính là Tiền Mậu, chủ một trang hiệu buôn tơ lụa có tiếng ở phố huyện, cùng ba gã gia nhân lực lưỡng dạt vào gò miếu lánh nạn từ hồi xế chiều. Ngửi thấy mùi cháo hoa và trà gừng thơm lừng ngào ngạt bốc lên từ chảo gang, cái bụng phệ của gã cồn cào không chịu nổi cơn đói khát, bèn ngang nhiên chen ngang hàng lối, giơ tay gạt phắt một người đàn bà nghèo đang bế đứa con nhỏ sang một bên khiến chị ta suýt ngã nhào xuống vũng bùn, rồi hùng hổ bước thẳng tới trước chiếc thùng gỗ ghi sổ của Thanh Du.

Gã thò bàn tay hộ pháp đeo đầy nhẫn ngọc vào bọc áo, móc ra hai xâu tiền kẽm còn mới tinh, ước chừng hai mươi văn tiền đồng sáng loáng, ném đánh "xoảng" một tiếng thật mạnh lên mặt cuốn sổ giấy bổi của Thanh Du.

"Này thằng nhãi con! Ghi chép cái gì mà lề mề, rách việc thế hả!" Tiền Mậu lớn giọng hống hách, mặt ngửa lên trời hất hàm về phía Thanh Hà và Kim Phượng đang đứng bên bếp lửa: "Mấy người đàn bà đứng nấu nướng vất vả, ta đây không ăn không của ai bao giờ! Ta trả đứt hai mươi văn tiền đồng này! Liệu hồn múc ngay cho ta một âu cháo đầy, đặc quánh nhất, lại múc riêng một bát trà gừng đặc mang lại gian chính trên điện cho cả nhà ta dùng trước! Nhanh cái tay lên, hai mươi văn này ngoài chợ mua được cả một thúng gạo ngon đấy, liệu mà phục vụ cho chu tất!"

Tiếng kim loại va đập chát chúa lên mặt bàn làm ngòi bút lông trên tay Thanh Du giật nảy, vẩy ra một giọt mực đen tròn trĩnh trên trang giấy bổi. Cậu bé nhìn hai xâu tiền đồng sáng loáng nằm chỏng chơ đè lên những dòng họ tên người nghèo khó vừa ghi, rồi ngước nhìn khuôn mặt phì nộn đầy vẻ trịch thượng, khinh người của gã phú thương, đôi mày non nớt khẽ nhíu chặt lại.

Đám đông phu phen và những người tị nạn nghèo khổ đứng phía sau lập tức xôn xao, những ánh mắt ghen tị lẫn phẫn uất bắt đầu bốc lên hừng hực. Tiếng xì xào bàn tán nổi lên khắp nơi; nếu như kẻ có tiền vung bạc ra là được quyền chen ngang cướp lấy phần cháo đặc nhất, thì cái gọi là giao ước công bằng, trật tự nãy giờ chẳng hóa ra chỉ là trò hề mị dân hay sao?

Thanh Hà dừng chiếc muôi gỗ trên tay, đôi mắt nàng lạnh lùng nhìn thẳng vào mặt gã phú thương béo tốt. Nhưng chưa kịp để nàng bước tới lên tiếng, Thanh Du đã đĩnh đạc đứng thẳng dậy. Cậu bé không hề tỏ ra sợ hãi trước thân hình đồ sộ của gã thương nhân; cậu dùng đầu cán trúc của cây bút lông khẽ khàng gạt hai xâu tiền kẽm rơi sang một bên mép bàn, cất giọng rành rọt, dứt khoát vang vọng khắp gian miếu:

"Thưa ông, ở đây là cửa miếu lánh nạn, không phải tửu lầu hay quán cơm ngoài phố chợ để ông mang tiền ra vung vẩy mua bán. Cuốn sổ này ghi danh cứu tế đồng bào trong cơn hoạn nạn mùa lũ, chỉ có thứ tự người già yếu nhận trước, trai tráng thanh niên nhận sau, tuyệt đối không có mục nào dành cho người trả tiền để chen ngang cướp lượt. Ông muốn có cháo ăn ấm bụng, xin mời quay lại cuối hàng xếp lượt như tất cả mọi người ở đây!"

"Mày... cái thằng ranh con rách rưới này hỗn xược!" Tiền Mậu đỏ mặt tía tai vì bị một đứa trẻ mười ba tuổi làm mất mặt trước bàn dân thiên hạ, gã giận dữ gầm lên, giơ bàn tay hộ pháp toan chộp lấy cổ áo Thanh Du: "Mày có biết tao là ai không hả? Tao bỏ tiền tươi thóc thật ra mua chứ có thèm ngửa tay xin không của chúng mày đâu mà lên mặt dạy đời tao!"

"Dừng tay lại!"

Hai tiếng quát sắc lạnh, đanh thép gần như đồng thanh vang lên từ hai phía bếp lửa.

Thanh Hà bước nhanh tới, thân hình mảnh dẻ đứng chắn ngay trước mặt em trai, ánh mắt nàng sắc như dao cạo nhìn xoáy thẳng vào mặt Tiền Mậu:

"Tiền lão gia, hai chảo cháo này được nấu bằng gạo của Trà lâu Nghênh Xuân, củi nước của Quán trà Thanh Hà, là để giữ lấy mạng sống cho nạn dân bến đò trong cơn bão lũ ngặt nghèo, không phải để làm giàu hay chiều chuộng thói trọc phú hống hách của kẻ có tiền! Hai mươi văn tiền của ông ở chốn này to tát lắm sao? Ngoài kia có bao nhiêu người vừa mất trắng cả cơ nghiệp, nhà cửa ruộng vườn chìm sâu dưới đáy sông kia kìa! Ông muốn ăn một bát cháo nóng thì hãy tự trọng mà bước về cuối hàng, còn nếu muốn dùng đồng tiền dơ bẩn để giẫm đạp lên sự sống và trật tự của người khác, mời ông bước ngay ra ngoài mưa gió mà gặm bạc trừ bữa!"

Tiền Mậu nghẹn họng, lúng búng trong cổ trước khí thế đanh thép, không chút sợ sệt của người góa phụ trẻ tuổi. Gã bèn quay ngoắt sang nhìn Tống Kim Phượng, hy vọng người phụ nữ mở trà lâu lớn chuyên tiếp đón khách sang trọng nhiều tiền như bà ta sẽ biết điều mà đứng về phía gã:

"Tống chưởng quỹ! Bà mở cửa buôn bán trà lâu ở bến sông này bao năm nay, há lại để một con góa phụ mở quán cóc ven sông cùng một thằng nhãi ranh không cha không mẹ lên mặt dạy đời ta sao? Bát cháo này nấu bằng gạo trắng của Nghênh Xuân bà, bà nói một lời công đạo xem!"

Tống Kim Phượng thong thả chỉnh lại mép vạt áo tơi lụa dầu màu cánh gián, gương mặt quý phái không hề gợn lên một chút biểu cảm nể nang. Bà ta nhếch mép, nhìn Tiền Mậu bằng nửa con mắt, giọng nói lạnh tanh như băng tuyết nhưng uy lực vô cùng:

"Tiền lão gia, ngày thường ông mang bạc nén đến Trà lâu Nghênh Xuân của ta, tiêu một lượng bạc ta tiếp ông như thượng khách trên lầu cao. Nhưng hôm nay trên đỉnh Miếu Gò Cao này, ta và Liễu chưởng quỹ đã có giao ước chung lưng đấu cật cứu người. Gạo của ta hay củi nước của cô Hà gom lại là để giữ mạng cho người bến sông này, không bán cho kẻ vô lễ cậy tiền khinh người! Liễu muội và em trai cô ấy nói không sai một chữ nào cả. Ông muốn giữ lấy chút thể diện cuối cùng của một chủ hiệu tơ lụa thì lui về sau xếp hàng cho tử tế, bằng không, đừng trách mấy gã gia nhân Nghênh Xuân của ta ném toàn bộ hành lý của ông xuống chân đồi cho nước cuốn trôi!"

Mấy gã gia nhân áo xanh lực lưỡng của Trà lâu Nghênh Xuân lập tức bước rầm rập lên phía trước một bước, khoanh hai cánh tay hộ pháp đứng sừng sững bên cạnh hai người phụ nữ. Phía sau lưng họ, đám đông phu thuyền, phu bốc vác tay lăm lăm đòn gánh và mái chèo cũng gườm gườm tiến lại gần, tạo thành một bức tường người vững chãi như bàn thạch bao quanh gian tế.

Tiền Mậu run lên bần bật, mặt cắt không còn một giọt máu. Biết mình đã đụng phải bức tường thép của sự đoàn kết nơi đường cùng, gã luống cuống thò tay vơ vội hai xâu tiền kẽm nhét tọt vào bọc áo, lủi thủi cúi gằm mặt bước thụt lùi từng bước về phía cuối hàng dài, không dám ho he thêm nửa lời.

Một trật tự công bằng, nghiêm minh tuyệt đối được thiết lập vững chắc giữa chốn lánh nạn hoang tàn ngập tràn mưa bão. Đám đông người tị nạn nhìn hai nữ chủ nhân của hai quán trà vốn dĩ đối địch gay gắt nay cùng chung một tiếng nói đanh thép để bảo vệ lẽ phải và sự công bằng cho người nghèo, trong lòng dấy lên niềm cảm phục khôn xiết. Những tiếng xì xào, hỗn loạn ban nãy lắng xuống hoàn toàn, không gian miếu cổ chỉ còn lại tiếng bước chân tuần tự tiến bước, tiếng húp cháo xì xụp ấm lòng của những mảnh đời khốn khó và tiếng ngòi bút lông của Thanh Du rào rạt lướt đi trên những trang giấy bổi thơm mùi mực mới.

Đêm dần buông xuống bao trùm toàn bộ không gian bến Vọng Giang. Gió lũ ngoài sông gầm thét dữ dội hơn gấp bội phần, từng đợt sóng bạc đầu đục ngầu phù sa cuộn trào quăng quật điên cuồng vào chân sườn đồi, cuốn phăng những mảng đất lở ầm ầm rơi tõm xuống dòng nước sâu thăm thẳm. Nhưng bên trong Miếu Gò Cao, ánh lửa bập bùng từ hai chiếc chảo gang lớn vẫn rực hồng cả một góc sân, tỏa ra luồng hơi ấm nồng nàn che chở, sưởi ấm cho hàng trăm con người đang nương tựa vào nhau vượt qua cơn đại nạn sinh tử.

Thanh Hà đứng bên cạnh Tống Kim Phượng, lặng lẽ ngắm nhìn bóng dáng em trai đang thoăn thoắt chấm mực, lưng thẳng tắp ghi từng dòng tên người dân dưới ánh lửa bập bùng, lòng nàng dâng lên một cảm giác nhẹ nhõm, tự hào và kiên định chưa từng có. Bão lũ cuồng nộ có thể cuốn phăng túp lều tranh ven sông, nhưng tuyệt đối không thể cuốn trôi đi lòng tự trọng, tình thân ruột thịt và ý chí vươn lên của hai chị em nàng.

Đúng lúc đó, giữa tiếng mưa rơi gầm rú xối xả của màn đêm mịt mùng, một tràng tiếng đập cửa miếu thình thình bỗng vang lên dồn dập, gấp gáp như sấm sét giáng mạnh xuống mặt gỗ nghiến. Tiếng la hét hỗn loạn, thảng thốt từ ngoài cổng chính vọng vào, át cả tiếng gió bão gầm gào:

"Mở cửa! Mau mở cửa ra! Chúng tôi có người đang nguy kịch, cần thuê thuyền lớn qua sông ngay trong đêm! Mau lên!"

Cánh cửa gỗ lim dày cộp của ngôi miếu cổ rung chuyển bần bật dưới những cú đập như búa bổ. Qua khe then cửa hé mở trong cơn mưa mù mịt, một toán người mặc áo tơi đen kịt đang đứng chật ngoài sân tế, bàn tay người dẫn đầu giơ cao một vật kim loại sáng loáng, lấp lánh ánh bạc lạnh tanh dưới ánh chớp rạch ngang trời.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn