Quán Trà Bên Bến ĐòC.14 / 34
Chương 14

Khoảng cách với Hàn Thụy

Gió chiều từ mặt sông Vọng Giang thốc mạnh vào gian lều trà trống trải, mang theo hơi nước ngai ngái mùi rong rêu lẫn cái lạnh se sắt của buổi giao mùa làm chao đảo ngọn lửa trong lò đất nung đang nhen dở. Những phiến nan tre ghép vách đã ngả sang màu nâu sậm vì ám khói bếp qua bao mùa mưa nắng run lên bần bật dưới từng cơn gió giật. Tàn tro mịn màu xám nhạt từ miệng lò bay lả tả, cuốn thành từng vòng xoáy nhỏ rồi đậu lấm tấm lên mép tà áo vải thô màu nâu sồng của Liễu Thanh Hà.

Trên chiếc bàn con đóng bằng những thanh gỗ tạp mộc mạc, không khí dường như đông cứng lại sau lời nói dõng dạc, rành rọt của nàng. Cánh tay Hàn Thụy vẫn khựng lại giữa khoảng không gian chật hẹp, nơi túi trà cổ thụ phơi sương vừa bị nàng dứt khoát đặt trả lại. Túi vải gai thô mộc màu nâu nhạt, mép khâu bằng sợi chỉ lanh vụng về nhưng bên trong chứa đựng thứ kỳ trân dị bảo của núi rừng Tây Lĩnh — thứ trà búp mọc trên những thân cây cổ thụ ngàn năm quanh năm ngậm sương mù đỉnh núi, dẫu có đem trăm lạng bạc đến gõ cửa trang viên của phường buôn lớn chốn huyện thành cũng chưa chắc đổi được một vốc con con. Lúc này đây, túi trà nhỏ bé ấy lại như một tảng đá ngàn cân đè trĩu lên lòng bàn tay thô ráp, chai sần vì sương gió thương trường của người đàn ông.

Hàn Thụy sững sờ. Đôi mắt sâu thẳm vốn dĩ phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, từng điềm nhiên đối diện với bao phen lừa lọc của phường buôn giảo hoạt hay những cơn sóng dữ nơi thác ghềnh, bỗng chốc gợn lên từng đợt sóng xáo động dữ dội. Anh nhìn chăm chằm vào túi trà nằm chỏng chơ trên mặt bàn nứt nẻ, rồi từ từ ngước mắt lên nhìn thẳng vào gương mặt người phụ nữ đang đứng đối diện mình.

Nàng đứng đó, vóc dáng mảnh mai nép dưới lớp áo vải nâu đã sờn rách nơi mép vai, lưng thẳng tắp như thân trúc mọc nghiêng bên triền đá trước ngọn gió buốt từ lòng sông thổi tạt vào. Nhưng dưới hàng mi cong dài đang khẽ run rẩy và đôi môi mím chặt đến mức trắng bệch, anh đọc được tất cả những giông bão đang cuộn trào trong lồng ngực nàng: sự bàng hoàng, nỗi uất nghẹn và trên hết là một vết thương tự trọng sâu hoắm đang rỉ máu.

Anh đã sai lầm. Sự toan tính mà anh ngỡ là thiện ý, là tấm khiên vững chãi che mưa chắn gió, là sự nâng đỡ vụng về muốn san sẻ bớt nỗi nhọc nhằn trên đôi vai gầy guộc ấy, hóa ra lại chính là nhát dao sắc lẹm cứa nát điều duy nhất mà nàng nâng niu gìn giữ kể từ ngày dứt áo bước chân ra khỏi cánh cổng son ngột ngạt của nhà họ Phạm: sự độc lập tự chủ.

“Thanh Hà…” Giọng Hàn Thụy trầm xuống, khàn đục như tiếng sỏi đá cọ xát dưới đáy lườn thuyền khi mắc cạn nơi bãi bồi. “Nàng nghe ta nói đã… Ta thực sự không hề có ý xem thường nàng. Ta chỉ nghĩ…”

“Hàn nhị gia nghĩ gì?” Thanh Hà cất lời, giọng nàng không cao, không gắt gỏng, cũng chẳng hề có nửa phần chì chiết, nhưng sự lạnh lẽo xa cách trong từng âm tiết lại sắc nhọn hơn bất kỳ cơn thịnh nộ lôi đình nào. Nàng siết chặt hai bàn tay giấu sâu trong ống tay áo rộng, móng tay cắm sâu vào da thịt nơi lòng bàn tay để mượn nỗi đau thể xác mà ghìm lại giọt nước mắt đang chực trào ra nơi khóe mi.

“Hàn nhị gia nghĩ rằng một người đàn bà góa thân cô thế cô, dắt theo một đứa trẻ lang thang cơ nhỡ, ngày ngày chắt bóp từng đồng tiền kẽm rỉ sét thì việc được người ta lén bớt cho ba mươi văn trên một cân trà là ơn huệ trời ban, là điều đáng phải quỳ gối tạ ơn, phải không?”

Nàng hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng sau làn áo mỏng. Gió ngoài sông lại rít lên một hồi qua khe liếp nứa, thổi tro bếp bay mù mịt:

“Hôm ở đồi trà Tây Lĩnh, khi đứng trước mặt bà chủ Mộc Lan nếm ba bát trà nóng, ta đã ngỡ mình dùng chính cái tâm trong sạch, chính sự học hỏi nhọc nhằn thức khuya dậy sớm bấy lâu nay để giành lấy sự công nhận của tiền bối. Ta tự hào cõng hai mươi cân trà búp hè về bến Vọng Giang, ngẩng cao đầu tin rằng từng bát nước hai văn bán ra cho đám phu bến vác than, từng đồng tiền lời nhỏ giọt bỏ vào hũ là mồ hôi nước mắt chân chính của bản thân. Hóa ra… tất cả chỉ là một trò cười do ngài dựng sẵn! Nếu không có ba mươi văn trích từ cuốn sổ phụ bí mật của Hàn nhị gia lén lút bù vào giá gốc, liệu một kẻ trắng tay như Liễu Thanh Hà này có bao giờ chạm nổi vào một nắm búp tôm loại một của xưởng Mộc Lan?”

Nàng quay mặt đi, ánh mắt đau đớn hướng ra khoảng sông mờ mịt phía bến đò, nơi những con thuyền buôn đang vội vã hạ buồm neo đậu:

“Miệng lưỡi thế gian độc địa. Người ta vu cho ta dùng nhan sắc đổi lấy nguồn trà ngon, lời đàm tiếu của phường buôn cá chợ Đông Tân dẫu bẩn thỉu tanh tưởi đến đâu ta cũng chưa từng run sợ, bởi lòng ta ngay thẳng, từng nét mực trong sổ sách của quán đều phân minh minh bạch. Nhưng sự che chở giấu giếm này của ngài… lại biến những lời vu khống ấy thành sự thật! Ngài khiến ta cảm thấy bản thân mình thực sự hèn mọn, thực sự chỉ là một kẻ ký sinh bám víu vào bóng râm quyền thế của kẻ khác để kiếm chút cơm thừa canh cặn, trong khi miệng vẫn rao giảng về lòng tự trọng!”

Từng lời, từng chữ của nàng rơi xuống như những chiếc đinh găm thẳng vào tâm can Hàn Thụy. Bàn tay anh nắm chặt túi trà gai đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay. Anh muốn mở miệng phân trần, muốn nói với nàng rằng anh đã chứng kiến nàng thức trắng bao đêm bên ngọn đèn dầu tù mù để chọn từng cọng lá trà sâu, muốn bảo rằng anh xót xa khi thấy đôi bàn tay thon thả của nàng nứt nẻ vì nước lạnh mỗi sớm gánh nước từ gò Thanh Khê về đun trà, muốn giải thích rằng ba mươi văn ấy với Thương đoàn Tây Lĩnh chỉ là hạt cát giữa sa mạc nhưng có thể giúp chiếc hũ sành mang tên ‘Đón Thanh Du’ của nàng vơi bớt đi mấy tháng nhọc nhằn… Nhưng đứng trước đôi mắt trong vắt, quật cường và ngập tràn vết thương của nàng, mọi lời giải thích bỗng trở nên trơ tráo, ngụy biện và thảm hại.

Ở góc chái bếp, Tiểu Mãn nãy giờ nép mình sau chiếc lu sành đựng nước lớn, hai bàn tay nhỏ xíu bấu chặt lấy mép chiếc tạp dề vá víu. Đôi mắt con bé mở to tròn xoe, đong đầy nước mắt nhìn hai người lớn. Con bé không hiểu hết những chuyện sâu xa về sổ phụ hay giá trà, nhưng linh cảm nhạy bén của một đứa trẻ từng nếm mùi lưu lạc mách bảo nó rằng một điều gì đó vô cùng đổ vỡ đang diễn ra giữa hai người mà nó yêu quý nhất. Con bé nín thở, cắn chặt môi không dám gây ra một tiếng động nhỏ.

Đúng lúc bầu không khí ngột ngạt đến mức tưởng chừng chỉ cần một tàn lửa nhỏ cũng có thể làm bùng nổ gian lều tranh, thì từ phía hiên quán vang lên tiếng bước chân nặng nề, vững chãi giẫm trên nền đất sỏi phù sa pha cát. Một bóng người cao lớn, vạm vỡ che khuất luồng gió lạnh từ mặt sông thổi thốc vào cửa.

Lão lái đò Từ Bá cởi chiếc nón lá đã sờn rách vành, thong thả móc vào chiếc đinh gỗ đóng sẵn trên thân cột tre, rồi ung dung bước vào bên trong. Trên người lão phảng phất mùi khói thuốc rê nồng đậm, mùi nước sông Vọng Giang ẩm ướt quen thuộc và cái vị mặn mòi, phong trần của một kẻ đã dành hơn nửa đời người cầm mái chèo chống chọi với ba đào sóng gió.

Lão không vội vàng mở miệng tra hỏi, chỉ liếc mắt nhìn qua túi trà gai nằm im lìm trên bàn, nhìn sắc mặt trắng bệch không còn một giọt máu của Thanh Hà, rồi lại đưa mắt nhìn vẻ lúng túng, bất lực đến cùng cực của người đàn ông phong sương đứng trước mặt nàng. Đôi mắt kèm nhèm vì bụi nước nhưng sắc sảo tinh đời của lão già bến đò dường như đã thu trọn toàn bộ ngọn nguồn câu chuyện vào trong đáy mắt.

“Trời sắp đổi gió lớn rồi đấy, sông bắt đầu động đáy rồi,” Từ Bá chậm rãi lên tiếng, giọng nói trầm ấm, khàn đục như tiếng gỗ thông va vào nhau, vang lên phá tan cái thinh lặng buốt giá đang bủa vây gian lều. Lão tiến lại gần bếp lò, với tay nhặt lấy chiếc que gắp than bằng sắt rỉ, khẽ cời những thanh củi đượm trong đáy lò đất cho ngọn lửa le lói bùng lên le lói, liếm quanh thành ấm. “Gió chuyển hướng bấc sớm thế này, nước mưa nguồn từ trên các dãy núi cao mạn thượng xứ chắc chắn đang cuồn cuộn dồn về hạ lưu. Mấy đứa đứng trơ trơ ra đó làm cái trò gì? Tiểu Mãn, chạy lại đây chụm cho ông mấy thanh củi khô gác trên giàn bếp xuống mau. Hà con, đem cái ấm tích đất nung lại đây cho ta.”

Thanh Hà khẽ giật mình như vừa bừng tỉnh sau một cơn ác mộng. Theo thói quen kính cẩn bấy lâu, nàng vội vã cúi đầu đáp lí nhí: “Dạ, Từ Bá.”

Nàng quay người bước nhanh vào góc chái bếp, lấy chiếc gáo dừa múc nước ngọt từ chiếc lu giếng đá Thanh Khê đổ vào ấm tích, tỉ mỉ tráng qua một lượt rồi đổ nước đầy ba phần tư ấm, sau đó đặt ngay ngắn lên chiếc kiềng sắt ba chân trên miệng lò. Ngọn lửa đỏ liếm láp đáy ấm đen bóng, tỏa ra hơi ấm dịu nhẹ xua bớt phần nào cái lạnh đang bám chặt lấy da thịt nàng.

Từ Bá với tay lấy chiếc hộp thiếc tây đã móp méo đặt trên kệ gỗ — thứ trà xanh già lửa bình dân mà cánh phu thuyền và dân chèo đò vẫn hay uống để giữ ấm bụng qua những đêm trường canh nước. Lão bốc một vốc lá trà thô ráp thả thẳng vào trong lòng ấm. Nước sôi bùng lên ùng ục, bọt trắng sủi tăm cuộn lấy những búp trà già, mùi hương mộc mạc, chan chát, ngai ngái mùi khói củi lập tức bay bổng lan tỏa khắp gian lều, át đi vị tanh lạnh của bùn đất ngoài bến.

Lão kéo chiếc ghế dài đóng bằng tre cật cọt kẹt, dùng bàn tay hộ pháp vỗ mạnh xuống mặt giát tre: “Hai đứa ngồi xuống cả đi. Chuyện gì thì chuyện, trời có sập xuống đầu thì trước hết cũng phải ngồi xuống uống chung một tuần trà nóng đã. Dòng nước sông Vọng Giang này cuộn chảy nghìn năm qua, có khúc nào phẳng lặng từ đầu nguồn ra đến cửa biển đâu mà người trần mắt thịt chúng ta cứ đòi mọi bề phải tròn trịa suôn sẻ?”

Hàn Thụy khẽ thở dài một tiếng nặng trĩu. Anh cẩn thận đặt túi trà gai xuống góc mép bàn, chỉnh trang lại vạt áo rồi ngồi xuống đối diện với Từ Bá. Thanh Hà chần chừ trong giây lát, nhưng trước cái nhìn đầy uy nghiêm mà bao dung của người già bến nước, nàng khẽ cắn môi, kéo một chiếc đẩu gỗ nhỏ ngồi xuống góc bàn bên kia, cố ý giữ một khoảng cách chừng ba thước với Hàn Thụy. Nàng rủ mắt, nhìn chăm chú vào những đường vân gỗ nứt nẻ trên mặt bàn như muốn trốn tránh mọi ánh nhìn.

Từ Bá nghiêng chiếc ấm tích sứt vòi, rót dòng nước trà vàng sánh vào ba chiếc bát sành thô mộc mép đã mẻ vài chỗ. Nước trà xanh đậm ngả sắc nâu sẫm bốc khói nghi ngút, mang theo hơi ấm nồng nàn lan tỏa. Lão nâng bát trà của mình lên, không vội uống ngay mà áp hai lòng bàn tay chai sần vào thân bát để sưởi ấm, sau đó nhấp một ngụm lớn, nuốt đánh ực một cái rồi mới đặt bát xuống mặt bàn cái “cạch”.

“Hàn nhị gia,” Từ Bá cất tiếng, đôi mắt lão sáng quắc nhìn thẳng vào gương mặt góc cạnh của người thương nhân trẻ tuổi. “Cậu là người buôn lớn, quanh năm quen giao thiệp với các phường buôn lớn chốn thị thành, khế ước ký kết bằng ngàn vạn xâu tiền, đi lại có thuyền bè rầm rộ, có lái chính lái phụ dọn đường mở lối. Cái bụng của cậu muốn giúp đứa nhỏ này, lão già này nhìn qua một cái là biết ngay, không phải thứ bụng dạ gian tà buông lời ong bướm ong ve như lũ côn đồ bến bãi. Nhưng mà cậu Thụy này, cậu lăn lộn thương trường bao năm, cậu đã hiểu được mấy phần cái phận người trôi dạt ven sông này chưa?”

Hàn Thụy cúi gầm mặt, hai bàn tay siết chặt lấy thân bát trà nóng ran: “Xin Từ Bá chỉ bảo cặn kẽ cho. Quả thực là ta thiển cận, hành xử nông nổi chưa nghĩ chín chắn.”

Từ Bá khẽ lắc đầu, chòm râu hoa râm rung rinh theo nhịp thở dài. Ánh mắt lão chuyển sang nhìn Thanh Hà, trong ánh nhìn ấy đượm vẻ xót xa vô hạn nhưng cũng ngập tràn sự kính nể chân thành:

“Một người đàn bà góa dám dứt áo đoạn tuyệt bước ra khỏi cánh cổng nhà chồng, trong tay chỉ có manh áo vải rách với chút bạc vụn đổi được từ chiếc trâm cài tóc kỷ vật, dám dắt một đứa trẻ tha hương bước ra cái bến sông Vọng Giang này dựng lều lập nghiệp… nơi gió dập sóng vùi, đầy rẫy quân lừa lọc, trộm cắp, sẵn sàng nuốt tươi nuốt sống kẻ yếu thế… Cậu có biết điều mà nàng sợ hãi nhất trên đời này là gì không?”

Lão ngừng lại một nhịp, nhấp thêm một ngụm trà. Tiếng gió bấc rít qua khe cửa nghe u u như tiếng than vãn của dòng nước xiết, càng làm cho lời nói của lão thêm phần nặng trĩu:

“Nàng không sợ gian khổ! Nàng không sợ thức khuya dậy sớm gánh từng đôi thùng nước từ gò Thanh Khê về làm phồng rộp hai bờ vai mềm. Nàng cũng chẳng sợ bàn tay son trẻ bị chai sạn vì nhào bột làm bánh, bổ củi nhóm lò, hay bị đám lâu la cò bến của thằng Lại Tam ngày ngày lảng vảng hằm hè dọa nạt bắt nộp xâu phế. Cái điều mà một người đàn bà như con bé Hà sợ nhất trên cõi đời này… chính là lại một lần nữa rơi vào cảnh sống phụ thuộc vào người khác!”

Từng lời Từ Bá thốt ra như một hồi chuông gióng thẳng vào tâm trí Hàn Thụy, khiến lồng ngực anh thắt lại từng cơn.

“Ở cái chốn nhà chồng giàu sang quyền quý ấy, người ta cho nàng bát cơm đầy, cho nàng manh áo lụa ấm thân nhưng tước đoạt đi tiếng nói của một con người, biến nàng thành một cái bóng vô hình chỉ biết cúi đầu thuận phục,” Từ Bá tiếp tục, giọng lão chùng xuống nhưng rành rọt từng chữ. “Nàng dứt áo ra đây, dựng cái lều tranh dột nát mé đông này, sớm tối bán từng bát nước hai văn, chiếc bánh ba văn, là để tự mình tìm lại cái quyền được tự quyết định số phận, manh áo bát cơm của chính bản thân mình. Nàng làm vậy là để mai này có thể ngẩng cao đầu bước sang bến Nam Kiều đón đứa em trai ruột thịt về mà không phải quỳ lạy, van xin hay cúi mình trước bất kỳ ai! Cậu bớt cho nàng ba mươi văn một cân trà, với cậu là chuyện nhỏ như móng tay, là lòng tốt muốn dang tay che chở; nhưng với nàng, nó lại vô tình biến bao nhiêu công sức nàng dốc ra thẩm định ba bát trà trên đồi Tây Lĩnh thành trò giả dối, biến sự tự lập mà nàng liều mạng gây dựng thành một thứ ơn huệ ban phát từ lòng thương hại. Cậu thử nghĩ xem, làm sao con bé không uất nghẹn, làm sao nó không giận cho được?”

Thanh Hà cúi gục đầu xuống ngực. Hai hàng nước mắt kìm nén bấy lâu nay cuối cùng cũng không thể ngăn lại được nữa, lặng lẽ lăn dài trên gò má gầy guộc rồi nhỏ tong tong xuống mặt bàn tre xám xịt.

Những lời của Từ Bá đã chạm trúng vào góc khuất tăm tối và đau đớn nhất trong tâm can nàng. Nàng không phải kẻ vô ơn, nàng biết Hàn Thụy có ý tốt, nhưng cái cảm giác vừa thoát khỏi một cái lồng son lại lập tức bị chụp xuống bởi một cái lồng khác mang tên “sự chở che ngầm” khiến linh hồn nàng run rẩy vì sợ hãi. Nàng sợ sự ỷ lại, sợ cái cảm giác một ngày nào đó thức dậy nhận ra toàn bộ cơ nghiệp nhỏ bé của mình chỉ là một ảo ảnh do lòng từ tâm của người khác dựng nên.

Hàn Thụy ngồi chết lặng như một pho tượng đá. Bát trà trên tay anh nguội dần, nhưng trong lòng anh lại như có dầu sôi lửa bỏng thiêu đốt bởi nỗi ân hận tột cùng. Anh nhìn những giọt nước mắt lặng lẽ rơi của Thanh Hà, nhìn bờ vai gầy đang khẽ run rẩy sau manh áo thô, cảm thấy bản thân mình vừa vụng về, vừa thô bạo đến mức đáng trách. Anh đã đem cái thói quen quen tay sắp đặt trên bàn cờ làm ăn để áp đặt lên một tâm hồn vừa mới gượng dậy sau đổ vỡ.

Anh hít một hơi thật sâu, đặt bát trà xuống bàn, rồi dứt khoát đứng dậy. Anh lùi lại nửa bước, chỉnh lại vạt áo dài, rồi chắp hai tay lại, cúi người thật sâu trước mặt Thanh Hà theo đúng lễ nghi trang trọng nhất của một người đàn ông đối với một bậc chính nhân quân tử.

“Thanh Hà cô nương,” Hàn Thụy cất tiếng, giọng nói trầm tĩnh, vang rền nhưng chứa chan sự chân thành, không một chút ngụy biện, không một lời bào chữa vòng vo. “Là ta sai rồi. Ta chân thành tạ lỗi với nàng. Ta đã mang thói áp đặt trịch thượng của một kẻ quen mua bán lớn ra để đối đãi với phẩm giá và sự nỗ lực chân chính của nàng. Lòng tốt đặt không đúng chỗ, thiếu đi sự thấu hiểu và tôn trọng sâu sắc, chính là một sự xúc phạm tàn nhẫn. Nàng mắng ta đúng lắm, nàng trả lại túi trà này là hoàn toàn chính đáng. Mọi lỗi lầm ngày hôm nay, Hàn Thụy này xin hoàn toàn nhận lấy.”

Thanh Hà ngước mắt lên. Nhìn thấy người thương nhân cao lớn, kiêu hãnh của đất Tây Lĩnh đang cúi mình tạ lỗi trước một người đàn bà nghèo khổ nơi quán lá ven sông mà không chút ngần ngại hay giữ kẽ, cõi lòng đang dậy sóng cuộn trào của nàng bất giác chùng xuống. Sự cương nghị, dám làm dám chịu và thẳng thắn đến tận cùng của anh khiến nỗi uất ức trong lòng nàng vơi đi quá nửa.

Hàn Thụy từ từ đứng thẳng người dậy rồi ngồi lại xuống ghế tre. Anh không chạm vào bát trà nữa, ánh mắt anh nhìn đăm đắm vào đốm lửa đỏ bập bùng nơi đáy lò đất, dường như đang trôi dạt về một miền ký ức xa xôi, u tối mà anh đã cẩn thận chôn giấu suốt bao năm tháng phong sương.

“Nàng trách ta mang cái thói quen tự mình thu xếp mọi bề cho êm ấm mà không hề hỏi ý nàng… Nàng trách không sai một chữ nào.”

Giọng Hàn Thụy bỗng chốc chùng hẳn xuống, đượm vẻ tang thương của những vết thương lòng chưa bao giờ thực sự liền da. Ngay cả Từ Bá cũng khẽ thở dài, lặng lẽ rút chiếc tẩu thuốc ra, châm đóm hút từng ngụm khói mù mịt để lắng nghe.

“Cái thói quen ấy, nó như một chiếc dằm cắm sâu vào da thịt ta từ năm ta mười bốn tuổi,” Hàn Thụy chậm rãi kể, từng lời nói như rút ruột rút gan. “Năm xưa, nhà họ Hàn ở phủ Tây Lĩnh cũng từng là một gia đình kinh doanh trà có tiếng tăm lẫy lừng khắp vùng thượng lưu. Trên có mấy chục mẫu vườn trà cổ thụ bạt ngàn, dưới bến có đội thuyền buôn riêng ngày đêm xuôi ngược Vọng Giang. Cha ta là một người trượng nghĩa, thật thà và trọng chữ tín đến mức cả tin vào lòng người. Khi ấy, một người bạn chí cốt cùng hội buôn từ thuở hàn vi gặp cơn nguy khốn vì một chuyến hàng lớn bị kẹt lại nơi cửa ải phía bắc do chiến sự. Người đó tìm đến tận nhà ta, quỳ dưới chân cha ta mà khóc lóc thảm thiết, cầu xin một con đường sống.”

Hàn Thụy siết chặt hai bàn tay lại, các khớp xương kêu răng rắc:

“Cha ta thương bạn như anh em ruột thịt. Ông không những dốc cạn toàn bộ số bạc tích cóp bao năm trong nhà ra cho vay, mà còn đứng ra lấy toàn bộ gia sản, vườn tược và nhà cửa của họ Hàn để ký giấy bảo lãnh miệng cho một món nợ ngút trời tại tiền trang lớn nhất phủ thành. Cha ta tin vào lời hứa miệng của người huynh đệ kết nghĩa, tin vào câu thề ‘sống chết có nhau, hoạn nạn cùng chia sẻ’. Nhưng rồi… chuyến hàng kia gặp nạn thật hay giả chẳng ai hay biết, ta chỉ biết rằng ngay trong một đêm mưa gió bão bùng, người bạn kia đã âm thầm ôm trọn số bạc khổng lồ rồi dắt díu cả gia quyến cao chạy xa bay bặt vô âm tín.”

Thanh Hà ngẩn người lắng nghe, lồng ngực nàng khẽ nhói lên. Nàng nhìn những đường nét góc cạnh đượm vẻ khắc khổ trên gương mặt anh, lần đầu tiên nhận ra đằng sau vẻ ngoài tháo vát, tự tin và vững chãi của một người nắm quyền điều hành Thương đoàn Tây Lĩnh lại là một quá khứ đầy máu và nước mắt đến nhường này.

“Sáng hôm sau, chủ nợ kéo đến chật kín sân,” Hàn Thụy cười chua chát, nụ cười méo mó nơi khóe miệng. “Quan nha mang trát tới niêm phong toàn bộ nhà cửa, vườn tược bị phát mãi, gia sản cơ nghiệp gầy dựng qua ba đời đổ sụp tan tành chỉ trong chớp mắt. Cha ta từ một thương nhân danh giá bỗng chốc trở thành kẻ nợ nần chồng chất, bị cả phường buôn xỉ vả là đồ ngu muội, đần độn. Ông uất ức đến mức thổ huyết ngay tại sân nhà, nằm liệt giường trên một manh chiếu rách rưới nơi xóm lao động tồi tàn ven sông. Cho đến tận hơi thở cuối cùng, mắt ông vẫn mở trừng trừng nhìn lên mái rạ thủng lỗ chỗ, không sao nuốt trôi được cục tức nghẹn ứ nơi cổ họng. Mẹ ta vì đau buồn, cùng quẫn và kiệt sức cũng nuốt lệ theo cha chỉ ít tháng sau đó.”

Một cơn gió mạnh thổi thốc qua, ngọn lửa trong lò đất nung bùng lên rồi lụi tàn, để lại những đốm than đỏ rực lập lòe trong bóng chiều tà đang buông xuống.

“Năm mười bốn tuổi, ta trở thành một đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ, không chốn dung thân,” giọng Hàn Thụy run rẩy, nhưng ánh mắt anh lại rực lên một thứ ánh sáng lạnh lẽo. “Ta phải đi làm phu kéo thuyền trên chính khúc sông Vọng Giang này. Nàng có từng thấy cảnh phu kéo thuyền ngược dòng chưa? Những sợi dây thừng bện bằng vỏ tre gai cọ xát vào da thịt, cứa nát bờ vai đến rỉ máu, mồ hôi chảy vào vết thương buốt đến tận óc. Ta bốc vác từng sọt trà lá vụn nơi bến bãi, cúi đầu nhận từng đồng bạc cắc bố thí để kiếm một bát cháo hoa cầm hơi qua ngày đoạn tháng. Suốt hơn mười năm trời lăn lộn từ chân phu thuyền ngoi lên làm tiểu lại, rồi chấp sự, rồi mới ngồi được vào vị trí chưởng quỹ của thương đoàn hôm nay, ta đã nếm trải đủ mọi đòn thù, mọi sự tráo trở, lừa lọc tanh tưởi nhất của thương trường.”

Anh ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Thanh Hà, ánh mắt không còn vẻ kiêu hãnh của một thương nhân thành đạt, mà chỉ còn sự trần trụi của một linh hồn mang đầy sẹo:

“Kể từ ngày tự tay chôn cất cha mẹ với hai bàn tay trắng nơi gò đất hoang, ta đã tự thề với trời đất: trên cõi đời này, tuyệt đối không bao giờ tin vào những lời hứa hẹn miệng mơ hồ, không bao giờ cho phép bất kỳ sự nhập nhằng nào tồn tại trong công việc làm ăn. Và điều tệ hại nhất… là ta luôn mang một nỗi ám ảnh bệnh hoạn, rằng nếu ta không tự tay mình sắp đặt, nếu ta không giang tay che chắn trước mọi hiểm nguy rình rập, thì những người xung quanh ta, những người mà ta quan tâm… sẽ lại một lần nữa rơi vào thảm cảnh tan gia bại sản, vùi thây nơi đáy vực như cha mẹ ta năm xưa.”

Hàn Thụy ngừng lại, lồng ngực anh phập phồng:

“Khi nhìn thấy nàng cặm cụi thức khuya dậy sớm nơi quán lá này, khi nhìn thấy nàng vì ba mươi văn tiền mà phải đắn đo từng bữa ăn đạm bạc cho con bé Tiểu Mãn, ta lại nhìn thấy bóng dáng cơ hàn, khốn quẫn của chính mình năm mười bốn tuổi. Ta sợ bến sông này sẽ nuốt chửng lấy nàng. Ta sợ mùa nước lũ sắp tới sẽ cuốn phăng đi chút sản nghiệp mỏng manh như cánh chuồn chuồn mà nàng vừa gầy dựng được. Thế nên ta đã làm cái điều xuẩn ngốc nhất: ta tự ý trích tiền túi bù vào giá trà, tự cho mình cái quyền được thu xếp mọi bề sau lưng nàng. Ta ngỡ đó là sự bảo bọc, chở che… nhưng hóa ra lại là sự trịch thượng ngu xuẩn, dẫm đạp lên chính điều mà ta khâm phục nhất ở nàng. Ta thành thật xin lỗi nàng, Thanh Hà.”

Gian lều tranh chìm vào một khoảng lặng dài dằng dặc. Tiếng củi nổ lách tách trong lò và tiếng gió rít qua liếp nứa dường như càng làm cho sự thinh lặng thêm phần sâu thẳm.

Cơn giận dữ và uất nghẹn trong lòng Thanh Hà đã tan biến tự lúc nào. Nàng nhìn người đàn ông trước mặt, thấy rõ những vết thương hằn sâu trong tâm khảm anh qua từng câu chữ. Nàng và anh, thoạt nhìn như hai con người thuộc về hai thế giới hoàn toàn cách biệt: một bên là chưởng quỹ nắm trong tay quyền sinh sát về khế ước của một thương đoàn lớn, một bên là người góa phụ nghèo bán từng bát nước hai văn nơi góc bến đò hiu quạnh. Nhưng hóa ra, sâu thẳm bên trong bản ngã, họ lại giống nhau đến đau lòng.

Cả hai đều là những cánh bèo trôi giạt từng bị số phận xô ngã xuống bùn đen nhơ nhuốc. Cả hai đều nếm trải đến tận cùng cái cảm giác cay đắng của sự bất lực khi bị tước đoạt quyền tự chủ, và đều mang trong mình một nỗi sợ hãi khắc khoải trước sự bấp bênh của kiếp người.

Chỉ có điều, nàng chọn cách tự vệ bằng cách dựng lên những bức tường tự trọng gai góc, thà chịu đói chịu khổ chứ quyết không nhận lấy sự thương hại của bất kỳ ai; còn anh lại chọn cách tự vệ bằng việc cố gắng kiểm soát mọi thứ, muốn giang đôi cánh quyền lực của mình ra để bao bọc tất cả trong vòng an toàn tuyệt đối. Hai mảnh tổn thương ấy vô tình va đập vào nhau, tạo thành một vết rạn nứt đau đớn.

Thanh Hà khẽ thở dài một hơi thật nhẹ, nỗi nghẹn ứ nơi cuống họng dần tan biến. Nàng với tay nâng bát trà đã vơi một nửa lên, chậm rãi nhấp một ngụm. Vị chát đậm đà của lá trà già lửa đọng lại nơi đầu lưỡi, tê rần, nhưng chỉ một thoáng sau, một vị ngọt thanh khiết, nồng nàn từ từ dâng lên nơi cuống họng, ấm áp và bền bỉ lạ kỳ.

“Hàn nhị gia,” Thanh Hà cất tiếng, giọng nàng đã lấy lại vẻ trầm tĩnh, trong trẻo và điềm đạm thường ngày, nhưng ánh mắt nhìn anh lại ánh lên sự cương quyết, minh bạch không chút mập mờ. “Chuyện quá khứ đau thương của gia đình ngài, ta xin được chia sẻ từ tận đáy lòng. Nhưng ngài cũng thấy đấy, chính vì cha ngài từng ngã xuống trước sự nhập nhằng không văn tự, nên hơn ai hết, ngài phải hiểu rằng sự rành mạch, sòng phẳng đối với một người buôn bán nó thiêng liêng đến nhường nào.”

Nàng đặt bát trà xuống bàn, nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của anh:

“Ta không giận vì ngài có ác ý. Ta giận vì ngài đã xem nhẹ sức chịu đựng và năng lực tự đứng trên đôi chân mình của ta. Ngài muốn giúp ta, tấm lòng ấy ta xin ghi nhận. Nhưng cách giúp đỡ duy nhất mà Liễu Thanh Hà này có thể đón nhận từ ngài… chính là sự tôn trọng và một mối quan hệ làm ăn hoàn toàn sòng phẳng, bình đẳng giữa hai bên.”

Hàn Thụy chăm chú lắng nghe, không bỏ sót một chữ nào: “Nàng cứ nói, ta xin rửa tai lắng nghe.”

Thanh Hà đứng dậy, bước lại chiếc bàn con kê sát vách nứa phía trong. Nàng cẩn thận mở chiếc hòm gỗ nhỏ, lấy ra cuốn sổ tay bìa vải xanh quen thuộc, một phiến nghiên mực đá nhỏ cùng một tờ giấy bổi phẳng phiu đã được cắt xén ngay ngắn. Nàng quay lại bàn, đặt tờ giấy bổi và nghiên mực trước mặt Hàn Thụy, rồi thong thả mài mực:

“Hôm nay có Từ Bá làm chứng, ta muốn lập với ngài hai nguyên tắc rõ ràng.”

Từ Bá ngồi dựa lưng vào vách nứa, gật gù nhả một làn khói thuốc trắng mờ, im lặng theo dõi từng cử chỉ dứt khoát của nàng.

“Nguyên tắc thứ nhất,” Thanh Hà cất giọng rành rọt, từng lời rơi xuống mặt bàn chắc nịch như đá tảng. “Từ nay về sau, giữa Thương đoàn Tây Lĩnh và Quán trà Thanh Hà, cũng như giữa cá nhân ngài và ta, tuyệt đối không bao giờ tồn tại bất kỳ khoản bù trừ ngầm, ưu ái giấu giếm hay cuốn sổ phụ nào nữa hết. Mua bán hoàn toàn theo đúng giá cả của thị trường. Một đồng tiền hàng đổi lấy đúng một đồng giá trị thực tế. Nếu trà búp hè nõn tôm của xưởng Mộc Lan có giá xuất xưởng là một trăm tám mươi văn một cân, ta có đủ tiền thì mua loại một, ta eo hẹp thì ta lùi lại mua loại hai giá một trăm hai mươi văn, hoặc loại ba giá tám mươi văn. Ta bán bát nước hai văn cho người lao động nghèo nơi bến sông, họ uống bằng sự an lòng thì ta cũng phải mua lá trà bằng sự thanh thản trong tâm mình. Buôn bán ngay thẳng thì tâm mới an, tâm có an thì quán nước này mới mong đứng vững trước sóng gió bến bãi.”

Hàn Thụy nhìn vào gương mặt kiên định của nàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười nhẹ nhõm hiếm hoi: “Được. Lời nàng nói rất có lý. Ta xin cam kết trước mặt Từ Bá, Thương đoàn Tây Lĩnh từ nay sẽ cung ứng trà cho quán của nàng theo đúng giá niêm yết xuất xưởng tại các đồn điền, phẩm cấp thế nào định giá thế ấy, tuyệt đối không bớt một văn, không thêm một hào.”

“Nguyên tắc thứ hai,” ngón tay thon thả của Thanh Hà chỉ thẳng vào tờ giấy bổi trắng đặt trên bàn. “Khoản tiền chênh lệch ba mươi văn một cân cho hai mươi cân trà búp hè mà ngài đã tự ý xuất tiền túi bù vào sổ cho xưởng bà Mộc Lan hôm trước, tổng cộng là sáu trăm văn tiền kẽm. Số tiền đó hiện tại quán của ta chưa thể trích ra để hoàn trả ngay một lần cho ngài, bởi ta còn phải giữ lại số vốn ít ỏi để xoay vòng mua củi đóm, bột mì và chắt bóp từng đồng vào hũ để chuẩn bị sang Nam Kiều đón em trai ta. Nhưng Liễu Thanh Hà này tuyệt đối không bao giờ nhận không của ai một đồng một cắc nào hết. Hôm nay, ta lập văn tự nợ sáu trăm văn này với ngài.”

Nàng nhìn thẳng vào mắt anh, giọng nói đanh lại: “Thời hạn thanh toán là trong vòng hai tháng. Mỗi phiên chợ bến sông họp vào ngày mùng một và rằm, ta sẽ trích tiền lời ra trả dần cho ngài năm mươi văn, kèm theo tiền lãi tính theo mức lãi suất công bằng mà phường buôn bến sông vẫn áp dụng.”

Hàn Thụy giật mình, vội vàng xua tay: “Thanh Hà, sáu trăm văn đó là do ta tự ý làm, nàng hà tất phải…”

“Nếu Hàn nhị gia không chịu nhận lại sáu trăm văn này theo văn tự nợ rõ ràng,” Thanh Hà lập tức ngắt lời anh, ánh mắt kiên quyết không nhượng bộ nửa phân, “thì ngay sáng sớm ngày mai, ta sẽ đóng gói toàn bộ hai mươi cân trà búp hè kia mang trả lại thuyền buôn của ngài, và từ nay về sau, quán nước nhỏ bé này tuyệt đối không bao giờ nhập thêm một ngọn trà nào từ Thương đoàn Tây Lĩnh nữa!”

Từ Bá ngồi bên cạnh nãy giờ im lặng quan sát, bỗng ngửa cổ bật cười ha hả. Tiếng cười sảng khoái, hào sảng của lão già bến đò vang vọng khắp gian lều tranh, làm rung rinh cả những chùm ngô khô treo lủng lẳng trên xà nhà:

“Hàn nhị gia ơi là Hàn nhị gia! Cậu đã thấy rõ bản lĩnh của con bé này chưa? Lão đã bảo rồi mà, cái cốt cách của con bé Hà này nó cứng như đá hoa cương chìm dưới đáy sông Vọng Giang vậy, cậu muốn dùng tiền bạc hay sự che chở để uốn cong nó là chuyện không bao giờ làm được đâu! Cậu nhận đi! Nhận lấy bản văn tự nợ này đi cho con bé nó được thanh thản cái bụng, nhận để cho cái tình, cái nghĩa và cái sự tôn trọng giữa hai người không bị mấy đồng bạc vụn làm cho vẩn đục!”

Hàn Thụy nhìn ngọn lửa bướng bỉnh nhưng ngời sáng trong đôi mắt Thanh Hà, rồi lại nhìn nụ cười từng trải của Từ Bá. Cuối cùng, anh khẽ thở dài một tiếng đầy thán phục, gật đầu thật mạnh: “Được. Ta nghe nàng. Ta nhận bản văn tự nợ này.”

Thanh Hà khẽ mỉm cười, một nụ cười nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được tảng đá ngàn cân đè nặng trong lồng ngực. Nàng cầm cây bút lông thỏ, chấm đẫm vào nghiên mực đen bóng, rồi nắn nót đặt bút viết từng nét chữ chân phương, ngay ngắn lên mặt tờ giấy bổi thô ráp. Từng hàng chữ hiện lên rành mạch: ghi rõ ngày tháng năm, tên người vay là Liễu Thanh Hà, người cho vay là Hàn Thụy, số tiền nợ là sáu trăm văn tiền kẽm do thanh toán chênh lệch tiền trà búp hè, thời hạn trả góp định kỳ mỗi phiên chợ năm mươi văn, kèm theo lãi suất tượng trưng hai phân mỗi tháng theo đúng lệ buôn bán ven sông.

Viết xong xuôi, nàng mở chiếc hộp gỗ con lấy ra miếng sáp chu sa đỏ thắm, ấn ngón tay trỏ của mình vào rồi điểm chỉ thật đậm bên cạnh chữ ký ngay ngắn của mình. Xong xuôi, nàng xoay tờ giấy lại, đẩy nhẹ sang phía trước mặt Hàn Thụy: “Mời Hàn nhị gia ký tên và điểm chỉ.”

Hàn Thụy đón lấy ngọn bút lông từ tay nàng. Trong khoảnh khắc chuyển giao ngọn bút, đầu ngón tay thô ráp của anh vô tình chạm nhẹ vào những ngón tay mềm mại nhưng đã chớm chai sạn của Thanh Hà. Một luồng hơi ấm khẽ thoáng qua da thịt, khiến tim của cả hai người bất giác khẽ lỡ đi một nhịp. Thanh Hà vội rụt tay lại áo, đôi gò má khẽ ửng lên một vệt hồng nhạt dưới ánh lửa bập bùng.

Hàn Thụy nhanh chóng thu liễm tâm thần, cúi đầu đặt bút ký tên mình xuống góc dưới của tờ văn tự. Hai chữ “Hàn Thụy” hiện lên với những nét bút phóng khoáng, gân guốc và dứt khoát như thân tùng đứng trên vách đá ngắm gió gào. Ký xong, anh cũng ấn ngón tay cái vào miếng chu sa đỏ, dứt khoát điểm chỉ bên cạnh chữ ký của mình.

“Văn tự này làm thành hai bản giống hệt nhau, mỗi bên giữ một bản để làm bằng chứng,” Thanh Hà cầm tờ giấy lên, khẽ thổi nhẹ cho lớp mực tàu mau khô, rồi cẩn thận gấp lại một bản đưa cho Hàn Thụy. Bản còn lại, nàng nâng niu cất kỹ vào giữa những trang của cuốn sổ tay bìa vải xanh.

Ánh mắt nàng sau đó bất giác dừng lại nơi góc bàn, nơi túi trà cổ thụ phơi sương bằng vải gai vẫn đang nằm lặng lẽ trong bóng chiều.

Hàn Thụy nhận thấy ánh mắt của nàng, liền chủ động đưa tay cầm túi trà lên, nhưng lần này giọng điệu của anh đã hoàn toàn thay đổi. Không còn vẻ áy náy hay sự bao bọc vụng về của kẻ bề trên, mà hoàn toàn là phong thái đĩnh đạc, khiêm nhường của một người bạn trà chân thành:

“Còn về nửa cân trà cổ thụ phơi sương này… Ta xin lấy danh dự của họ Hàn và sự chứng giám của thần sông Vọng Giang ra thề với nàng: đây hoàn toàn là tấm lòng riêng của bà chủ Mộc Lan gửi tặng cho nàng, tuyệt đối không dính dáng đến một đồng tiền bạc hay sự sắp đặt nào của thương đoàn.”

Anh đưa túi trà ra giữa bàn, nhẹ nhàng nói tiếp: “Hôm ấy ở xưởng trà, khi nàng nhấp ba bát trà nóng và chỉ ra chính xác bát trà thứ hai bị nhiễm hơi ẩm mốc do kho trung chuyển của Trà lâu Nghênh Xuân bảo quản cẩu thả, bà Mộc Lan đã vô cùng kính phục. Bà ấy nói rằng suốt hai mươi năm làm nghề sao trà ở đất Tây Lĩnh, hiếm có người trẻ tuổi nào sở hữu được chiếc lưỡi tinh tế và cái tâm với trà sâu sắc đến như vậy. Nửa cân trà này là búp của cây trà cổ thụ trăm năm trên đỉnh núi Sương Mù, bà ấy tự tay hái và sao suốt ba ngày đêm, chỉ để dành tặng cho người thực sự hiểu được cái hồn của trà. Nếu hôm nay nàng vì giận ta mà từ chối món quà tao nhã này, thì chẳng phải là nàng đang phụ mất tấm chân tình của một bậc tiền bối trong nghề trà hay sao?”

Từ Bá cũng gật gù phụ họa, tiếng tẩu thuốc rít lên giòn giã: “Thằng Thụy nó nói đúng đấy Hà con. Con Mộc Lan trên đồi Tây Lĩnh tính tình gàn dở có tiếng khắp cả hạt Thanh Lâm này, đến quan tri huyện ngồi kiệu tám người khiêng lên tận xưởng mua trà nõn tôm nó còn chẳng thèm mở cửa tiếp đón tử tế. Nó đã chủ động tặng trà cho ai thì đó là vì nó nể phục cái tài, cái đức của người đó. Mày cứ nhận lấy đi, giữ lấy mà làm mẫu để học hỏi tay nghề sao trà của tiền bối, sau này còn đãi những người khách thực sự biết thưởng thức trà ngon.”

Thanh Hà đưa mắt nhìn túi trà gai thô mộc, rồi lại ngước lên nhìn thẳng vào đôi mắt chân thành của Hàn Thụy. Nàng nhận thấy trong ánh mắt anh giờ đây không còn sự áy náy dằn vặt hay vẻ muốn dang tay bảo bọc nữa, mà chỉ có sự trân trọng thuần khiết giữa hai con người cùng chung một niềm say mê nghề nghiệp.

Nàng khẽ mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ như đóa hoa quỳnh nở muộn trong đêm sương. Nàng vươn hai tay ra, cung kính đón lấy túi trà gai từ tay Hàn Thụy: “Nếu đã là tấm lòng của bà chủ Mộc Lan dành cho kẻ hậu bối, Liễu Thanh Hà này xin phép được trân trọng đón nhận. Đa tạ Hàn nhị gia đã cất công làm người chuyển giao.”

Tiếng “Hàn nhị gia” lần này thốt ra từ khóe môi nàng không còn mang theo sự mỉa mai, cay đắng hay xa cách lạnh lùng như trước, mà đượm vẻ tôn trọng đúng mực của một người chủ quán nhỏ đối với một thương nhân lớn. Giữa họ, khoảng cách vật lý và những giới hạn của lễ giáo phong kiến vẫn được giữ gìn một cách cẩn trọng, không ai bước qua lằn ranh ấy; nhưng sâu thẳm dưới đáy lòng, một sự thấu hiểu sâu sắc, một niềm tin cậy vững chãi như bàn thạch đã lặng lẽ đâm chồi bén rễ, vượt xa thứ tình cảm che chở nông cạn ban đầu.

Tiểu Mãn thấy không khí căng thẳng trong quán đã hoàn toàn tan biến, liền vui mừng lon ton chạy lại gần bàn. Con bé hai tay bưng chiếc siêu đất sôi sùng sục, khéo léo châm thêm nước vào ấm trà cho Từ Bá, nụ cười tươi tắn như hoa nở lại bừng sáng trên gương mặt nhỏ nhắn còn lấm lem tro bếp.

“Chị Thanh Hà ơi!” Con bé lanh chanh cất tiếng hỏi, đôi mắt lấp lánh niềm vui. “Thế chiều muộn hôm nay chị em mình có làm mẻ bánh hoa hòe nữa không chị?”

Thanh Hà quay sang nhìn con bé, đưa tay vuốt lại mấy sợi tóc mai lòa xòa trước trán nó, ánh mắt ngập tràn vẻ dịu dàng: “Có chứ. Lát nữa chị em mình nhặt sạch hoa hòe khô, đãi bột cho thật mịn. Mấy chú phu bến lát nữa bốc xong chuyến than cuối cùng chắc chắn sẽ ghé sang uống tuần trà đậm, trời lạnh thế này phải có bánh hoa hòe nóng hổi vừa ra lò cho người ta ăn lót dạ ấm bụng chứ.”

Hàn Thụy ngồi tựa lưng vào mép bàn, lặng lẽ ngắm nhìn nàng sắp xếp công việc quán xá, khóe môi anh bất giác cong lên một nụ cười ấm áp, an lòng. Anh chợt nhận ra rằng, vẻ đẹp cuốn hút và làm say đắm lòng người nhất của người phụ nữ này hoàn toàn không nằm ở nhan sắc mong manh cần sự che chở, mà chính là ở cái thần thái tự tin, quật cường khi nàng tự mình làm chủ số phận giữa muôn trùng sóng gió cuộc đời.

Bất chợt, Từ Bá đang bưng bát trà kề lên miệng bỗng khựng lại. Lão ngừng uống, nghiêng đầu về phía bờ sông, đôi mày rậm bạc phếch nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm trên trán.

“Khoan đã…” Lão già bến đò lẩm bẩm trong cổ họng, ánh mắt lóe lên sự cảnh giác cao độ.

Lão đặt phắt bát trà xuống mặt bàn tre, đứng bật dậy bước nhanh ra mé hiên quán, hướng mắt nhìn về phía lòng sông mênh mông.

Thanh Hà và Hàn Thụy cũng giật mình buông dở công việc trong tay, linh cảm có điều chẳng lành liền vội vã rảo bước theo sau lão ra mép bờ bến.

Gió sông lúc này đã đổi hẳn sang hướng đông bắc, từng cơn gió thốc giật liên hồi làm phần phật tà áo và rít lên từng hồi ghê rợn qua rặng phi lao ven bờ. Mặt sông Vọng Giang rộng mênh mông ngút tầm mắt chỉ trong vòng chưa đầy nửa canh giờ ngắn ngủi đã biến đổi một cách kinh hoàng. Dòng nước xanh biếc, hiền hòa của mùa hạ bỗng chốc ngả sang một màu đỏ quạch phù sa, đặc quánh như bùn lầy, cuộn lên những lớp sóng ngầu bọt trắng xóa gầm gào giận dữ.

Rác rưởi, cành cây gãy nát, những mảng bèo tây khổng lồ và những khúc gỗ mục từ cánh rừng đại ngàn xa xôi bắt đầu trôi dạt dập dềnh, lao vun vút lướt qua bến đò với tốc độ chóng mặt cuốn theo dòng nước xiết.

“Nước nguồn đổ về rồi!” Từ Bá trầm giọng xuống, trong mắt lão lóe lên sự căng thẳng tột độ mà hiếm khi người ta thấy ở một tay chèo lão luyện bốn mươi năm trên sông. “Mưa lớn dữ dội trên thượng nguồn dãy Tây Lĩnh từ đêm qua, nay toàn bộ túi nước khổng lồ bắt đầu dồn ứ đổ ập về hạ lưu bến Vọng Giang này rồi!”

Chưa dứt lời lão, từ phía chòi canh đê cao nghễu nghện dựng bằng những thân gỗ lim ở đầu bến đò, tiếng kẻng đồng bỗng khua lên những hồi dồn dập, chói tai, xé toạc cả không gian buổi chiều tà đang chìm dần vào bóng tối mịt mùng.

“Keng! Keng! Keng! Keng!”

Tiếng la hét thất thanh của đám phu tuần bến vang vọng theo chiều gió:

“Nước thượng nguồn đổ về! Mực nước chạm cọc vàng rồi!”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn