Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiC.17 / 38
Chương 17

Lời Khai Của Người Thầy

Ngọn đèn dầu hạt cải trong gian nhà chờ Bến Lau Tàn phả ra thứ mùi khét ngột ngạt của bấc lụa cháy dở lẫn với mỡ cá ôi, hắt bóng Vũ Kính xiêu vẹo, kéo dài ngoằng ngoẵng lên vách ván ghép loang lổ ngấn bùn của những mùa lũ trước.

Gian nhà chờ im ắng đến rợn ngợp. Ngoài hiên, hơi nước từ sông Dạ Thủy sau một đêm mở nước vẫn chưa chịu tan, quẩn quanh như một tấm vải liệm ẩm ướt trùm lên rặng lau xơ xác. Từng giọt nước ngưng tụ trên mép mái tranh mục nát, trĩu nặng rồi rơi buông lơi, nện những tiếng “tong... tong...” buốt lạnh xuống phiến đá xanh kê chân cột cái. Phiến đá ấy qua mấy mươi năm đã lõm xuống một vệt tròn nhẵn thín, xám xịt như màu mắt của một kẻ chết chìm.

Bên trong, không khí quánh đặc lại giữa mùi khói dầu cay sè và vị chua nồng của hũ rượu nếp cất dở đã nguội ngắt từ canh hai. Trên mặt bàn gỗ tạp thô mộc—thứ gỗ vớt từ xác những chiếc thuyền đắm được xẻ vội, mặt bàn chằng chịt những vết cứa dao khắc ranh giới nước lên xuống qua từng con trăng—một cuốn sổ bến khổ rộng bọc da bò cũ kỹ nằm trơ trọi. Da bò đã mòn vẹt bốn góc, lộ ra lớp xơ gai bên trong cáu bẩn vì mồ hôi tay của biết bao thế hệ giữ bến. Nhưng tệ hại hơn cả, gáy sổ đã bị bóc rời. Những sợi chỉ lanh ngâm nhựa thông dùng để đóng gáy bị tước tơ xơ xác, vương vãi trên mặt gỗ như những cái chân nhện gãy vụn sau một trận cào xé dữ dội.

Trình Dạ bước qua ngưỡng cửa gỗ lim mục rỗng một góc, bước chân anh đặt xuống sàn ván nhẹ bẫng, không làm vấy lên một tiếng kẽo kẹt nào dù lớp gỗ sàn đã oằn xuống theo năm tháng. Bụi đường từ nội thành Lạc Châu bám xám xịt trên vạt áo chàm thô của anh, viền thành những vệt mốc trắng ở bờ vai, hòa lẫn với mùi tanh nồng ngai ngái của bùn rãnh cống ngầm phường gốm còn bám chặt nơi gấu quần túm gọn. Anh không kéo chiếc ghế đẩu chân tiện đối diện ra ngồi, mà chỉ đứng sừng sững bên mép bàn, tựa như một cây sào cắm sâu vào dòng xoáy. Bóng anh cao lớn, sẫm đặc, trùm kín lấy nửa thân người còng rạp của vị trưởng bến già.

Vũ Kính không ngẩng đầu lên. Hai bàn tay gầy guộc như hai nhánh rễ cây khô, nổi đầy những đốm đồi mồi xám xịt của ông đang ghì chặt lấy chiếc chén sành sứt mẻ men da lươn. Nước rượu bên trong lạnh tanh, chẳng còn lấy một chút hơi ấm, bề mặt đóng một lớp váng mỏng manh tựa như da trăn vừa lột dạt vào bờ cỏ. Ánh mắt ông dán chặt vào lớp váng mỡ nhờ nhờ ấy, bất động, đờ đẫn, tựa hồ sợ rằng chỉ cần bản thân chớp mắt hay thở mạnh một nhịp, hình ảnh phản chiếu méo mó, nhăn nhúm của chính mình dưới đáy chén sành sẽ vỡ tan ra thành từng mảnh vụn không thể nào chắp vá.

Trình Dạ chầm chậm cởi chiếc bọc vải thô màu nâu sồng đeo chéo bên hông. Anh làm việc đó một cách ung dung, nhẫn nại, không có lấy nửa phần hấp tấp. Từng cử động của những ngón tay gân guốc đều chuẩn xác, cẩn trọng hệt như cái cách anh vẫn thường tháo từng nút dây chằng đò bằng da trâu mỗi độ nước âm từ thượng nguồn đổ về cuồn cuộn.

Vật đầu tiên anh lấy ra khỏi bọc vải và đặt xuống mặt bàn là một đoạn dây đò ba tao đã cũ mòn. Sợi dây bện bằng vỏ cây dâu rừng phơi khô chín lượt sương muối, ngâm qua nước ngải đen rồi mới se lại, nay đã ngả sang màu xám tro của đá ngầm đáy sông. Trên thân đoạn dây ấy, ba nút thắt ngược quấn tréo ba vòng nổi gồ lên như những khối u xương xơ xác. Chúng thắt chặt đến mức thớ vỏ dâu rừng lún sâu vào nhau, tạo thành những nếp gấp chết—thứ ký hiệu độc môn bí truyền mà chỉ những người chèo đò cổ xưa của đất Dạ Thủy mới dùng đến khi phải chở một vị khách bị tước đoạt danh phận, vượt qua luồng nước âm ngoài sự kiểm soát của quan phủ.

Vật thứ hai là một tập nhật ký hành trình bảo danh, bản sao mà Đỗ Từ Uyên vừa mới bí mật trao lại cho anh trong góc tối sâu nhất của Tàng Danh Các. Bìa tập sách bọc bằng da cá trắm đen bóng, lạnh ngắt và phẳng lì, vẫn còn mang theo cái hơi lạnh thấu xương của những phiến đá hoa cương nguyên khối xây nên tòa tháp chứa hồ sơ sinh mệnh của cả vùng Lạc Châu.

Âm thanh khô khốc, nặng trịch vang lên khi tập nhật ký chạm xuống mặt bàn gỗ tạp khiến cho mí mắt nhăn nheo của Vũ Kính khẽ giật bắn một cái.

"Trưởng bến," Trình Dạ lên tiếng. Giọng anh trầm đục, phẳng lặng như mặt nước lờ đờ trước giờ con nước xoay dòng, nhưng từng âm tiết rọi vào gian phòng nhỏ hẹp lại giống như những nhát đục sắt nện thẳng vào thớ gỗ mục. "Mười hai năm trước, vào đúng đêm rằm tháng Bảy, cuốn sổ bến của Bến Lau Tàn đã bị thiếu mất ba trang. Không phải do lũ cuốn trôi làm rách mép, cũng không phải do lũ mọt sông ăn mục chân giấy. Ba trang giấy lau ngâm nước âm dày dặn ấy đã bị ai đó dùng một lưỡi dao trổ cực sắc rạch sát mép gáy, rồi sau đó tỉ mỉ rút từng sợi chỉ khâu lanh đem đi đốt thành tro."

Ngón tay trỏ của Trình Dạ trượt trên mặt bàn gỗ gồ ghề, đẩy đoạn dây đò ba tao cũ kỹ trườn đi một tấc, chạm khẽ vào mép cuốn sổ bến đã bung gáy của Vũ Kính.

"Ba dấu vết độc lập," Trình Dạ nói tiếp, giọng anh mỗi lúc một đanh lại, lạnh lùng như sắt nguội. "Quy tắc thép của Hội Giữ Bến ba trăm năm qua chưa từng có tiền lệ thay đổi: bất kỳ một chuyến đò nào xuất bến, dù là hợp lệ theo lệnh của Ty Danh Tịch hay là một chuyến đò bất thường trong đêm mở nước, đều bắt buộc phải để lại ba dấu vết đối chứng không thể làm giả. Vệt dầu cháy của cây đèn nghê treo ở kho cũ mang cặn rễ ngải cứu hun khói, con đã đối chiếu với vết muội đóng trên kèo nhà đêm qua, hoàn toàn trùng khớp. Ba nút thắt ngược trên đoạn dây dâu rừng này khớp từng cữ đo với khoảng cách những chuyến đò đặc biệt mà cha con từng giấu mẹ con để mở luồng. Hai dấu vết vật chất ấy vẫn còn nằm nguyên vẹn ở Bến Lau Tàn này, rêu phong không che nổi, nước lũ không cuốn trôi được. Nhưng dấu vết thứ ba... dòng ghi chép giờ xuất bến bằng mực chu sa và con dấu triện xác nhận người sang sông, đã biến mất hoàn toàn cùng với ba trang sổ bị bóc rách."

Trình Dạ hơi cúi người xuống, hai bàn tay anh chống thẳng lên mặt bàn gỗ thô mộc. Đôi mắt đen thẳm, sâu hun hút như lòng vực Dạ Thủy găm chặt vào đỉnh đầu bạc trắng, xơ xác của người đàn ông già nua đang ngồi còng rạp trước mặt—người đã từng cầm tay anh, dạy cho anh từng nhát sào cắm xuống bùn, từng cách lắng nghe tiếng nước róc rách dưới lườn thuyền để đoán luồng đá ngầm suốt mười hai năm đằng đẵng qua:

"Ai là người có đủ quyền hạn để đụng vào cuốn sổ bến này sau khi cha con chèo thuyền ra sông và không bao giờ trở về nữa? Ai là người đã ký xác nhận vào bản báo cáo kiểm kê gửi lên Hội năm đó, rằng Bến Lau Tàn 'khuyết một chuyến xuất bến do thời tiết dòng âm biến động dữ dội'? Thầy hãy nói cho con biết đi... ba trang sổ đó hiện giờ đang nằm ở đâu?"

Sự im lặng trong gian nhà chờ như một sợi dây thừng ẩm ướt bị kéo căng ra hết mức, chực chờ đứt phựt để quất vào da thịt. Chỉ có tiếng tim đèn dầu hạt cải thỉnh thoảng lại lách tách nổ một tiếng nhỏ nhoi, phả thêm một làn khói vàng đục cay sè vào không khí đặc quánh.

Đôi vai gầy guộc của Vũ Kính run lên bần bật dưới lớp áo vải gai mỏng tang dính đầy vết cáu vàng. Ông không nâng chén rượu lên để uống, mà từ từ buông lỏng những ngón tay đang ghì chặt lấy vành sành. Những ngón tay co quắp, sần sùi với những khớp xương to bè vì cả đời chống sào cào nhẹ lên mặt gỗ tạp, để lại những vệt móng tay mờ nhạt trên lớp bụi bặm chưa ai lau dọn.

Một hơi thở dài nặng nhọc, khê nồng mùi rượu chua và đờm đặc thoát ra từ lồng ngực lép kẹp của người đàn ông đã bước qua hơn sáu mươi mùa nước lũ. Ông gục đầu xuống thấp hơn nữa, thấp đến mức chòm râu bạc lưa thưa gần như chạm vào lớp váng mỏng manh trong lòng chén rượu sứt.

"Dạ à..." Giọng Vũ Kính khản đặc, vỡ vụn ra từng mẩu như tiếng những vỏ ốc chết khô bị bánh xe nghiền nát dưới bãi cát ven đê. "Ngươi không nên đi đến Tàng Danh Các làm gì. Ngươi lại càng không nên... mang những thứ này quay trở về cái chốn này."

"Con phải biết cha con đã đi đâu," Dạ đáp lại, từng lời nhả ra dứt khoát như những nhát rìu chém vào gỗ lim. "Con phải biết vì sao người đàn ông họ Tống kia lại mang trên thân thể mình tấm vé bảo danh mang nợ của cha con suốt mười hai năm trời, trong khi cả vùng Lạc Châu này, từ quan chức Ty Danh Tịch cho đến đám chèo đò hạ lưu, ai ai cũng đinh ninh rằng Trình Hoài đã chết chìm dưới đáy Dạ Thủy từ cái đêm giông bão đó."

Vũ Kính nhắm nghiền hai mắt lại. Những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt ông giật giật liên hồi, như thể mỗi một hình ảnh hiện về từ tầng sâu ký ức đều là một nhát dao rạch vào da thịt đã cằn cỗi.

"Ông ấy không hề chết chìm vào đêm hôm đó," Vũ Kính thì thào, âm thanh nhỏ đến mức chỉ đủ cho hai người nghe thấy giữa tiếng gió rít từng cơn qua khe ván hở. "Ít nhất... ông ấy không hề chết chìm theo cái cách mà Hội Giữ Bến đã viết trong tờ biên bản tử tuất cấp cho mẹ con ngươi."

Vị trưởng bến già khó nhọc ngẩng đầu lên. Đôi mắt từng một thời tinh tường luồng lách, nhìn thấu đáy nước Dạ Thủy trong những đêm tối tăm không trăng không sao của người giữ bến kỳ cựu giờ đây đỏ ngầu những tia máu vỡ, phủ một lớp màng đục nhờ nhờ—dấu vết không thể xóa nhòa của một kẻ mang trong mình vết thương tâm thức sâu hoắm không bao giờ liền da.

"Đêm rằm tháng Bảy năm đó," ánh mắt Vũ Kính dừng lại trên đoạn dây đò mang ba nút thắt ngược, đồng tử co thắt lại như thể đang nhìn thấy những đốm lửa ma trơi lập lòe trên mặt bãi tha ma. "Mưa tầm tã như trút nước từ trên đỉnh trời đổ xuống. Nước Dạ Thủy không rút theo lệ thường của những kỳ trăng tròn mà cuồn cuộn dâng ngược lên tận mép đê quai, đỏ quạch và sủi bọt như máu loãng. Cha ngươi... Trình Hoài gõ cửa trạm phân hội của ta vào đúng khắc thứ ba của canh ba. Người ông ấy ướt sũng từ đầu đến chân, bùn non bết chặt từ ngực áo chàm xuống tận mắt cá chân. Nhưng trên lưng ông ấy đêm đó không phải là lưới đò, cũng không phải là hòm đồ nghề giữ bến gia truyền của nhà họ Trình. Ông ấy cõng một người."

Trình Dạ vô thức siết chặt nắm tay, những khớp ngón tay trắng bệch ra:

"Người họ Tống?"

"Khi đó ta làm sao biết được người đó họ gì hay tên gì," Vũ Kính cay đắng lắc đầu, khóe môi méo xệch. "Hắn bị bọc kín mít trong một tấm chiếu rách ngâm nước âm lạnh buốt, toàn thân cứng đờ như khúc gỗ mục, hơi thở yếu ớt đến mức ta tưởng chừng ông ấy vừa vớt lên một cái xác chết trôi từ luồng nước xoáy. Nhưng trên hai cổ tay hắn... trên cổ tay hắn hằn sâu những vết bầm tím đen của khóa chỉ—thứ pháp khí trói buộc linh lực và gông cùm kinh mạch mà chỉ có đám chấp pháp của Ty Phòng Vệ Nội Bộ thuộc Huyền Đăng Môn mới có quyền dùng đến. Trình Hoài đặt người đó xuống sàn buồng trong của ta. Tay ông ấy run lẩy bẩy, trên đầu ngón tay cái bên phải vẫn còn rỉ máu tươi ròng ròng—thứ máu vừa mới ấn điểm chỉ lên tấm vé bảo danh bằng giấy lau xơ xác."

Vũ Kính dừng lại một nhịp dài, bàn tay khô khốc của ông run rẩy chộp lấy chiếc chén sành sứt mẻ. Ông ngửa cổ, nuốt ực một ngụm lớn thứ rượu nếp chua loét, lạnh ngắt như muốn dùng cái vị cay xè, đắng chát của men rượu cũ để đè nén cơn run rẩy đang từ tận tủy sống dâng lên làm nghẹn ứ cuống họng.

"Hoài ghé sát tai ta, thở dốc mà bảo: 'Kính huynh, đệ vừa cướp người này ra khỏi ngục đá ngầm dưới chân đê quai. Bọn chúng đang dùng cấm thuật tách danh để biến người này thành vật mồi ổn định móng Đập Khóa Mạch. Lệnh bài truy nã nội bộ của Huyền Đăng Môn đã phát ra khắp các trạm tuần tra rồi. Đệ phải đưa người này sang bờ ngay trong đêm nay, trước khi luồng nước âm khép lại.'"

Vũ Kính nhắm mắt, từng thớ cơ trên khuôn mặt già nua co rút lại khi nhớ về những chi tiết của đêm định mệnh mà ông đã chôn chặt dưới đáy lòng suốt một trăm bốn mươi bốn kỳ trăng tròn khuyết.

"Ta đã mắng ông ấy. Ta chửi thẳng vào mặt ông ấy là một kẻ điên rồ! Dính dáng vào chuyện thanh trừng nội bộ của tiên môn là tự rước lấy tai họa tru diệt cả dòng họ. Bến Lau Tàn là bến gia truyền bao đời nay của họ Trình, ông ấy còn có bà Lê An, còn có cả ngươi... khi đó ngươi mới chỉ là một đứa trẻ mười tuổi đầu, chân còn chưa đứng vững trên mạn đò, tay còn chưa biết cầm sào ngược dòng nước xiết! Nhưng Hoài nắm chặt lấy cổ tay ta. Bàn tay ông ấy lúc đó lạnh buốt như băng tuyết, nhưng ánh mắt nhìn ta thì rực cháy một thứ kiên định đến mức điên dại. Ông ấy bảo ta: 'Nếu đệ không chở chuyến này, người này sẽ bị xóa sạch danh tính khỏi cõi trời đất. Không phải là chết một cách bình thường đâu, Kính huynh à! Bọn chúng muốn biến một con người đang sống sờ sờ thành một mớ tro tàn vô danh để trộn vào vôi vữa xây móng đập. Nếu những người giữ bến như chúng ta nhắm mắt làm ngơ, cúi đầu trước việc một kẻ sống bị tước đoạt danh phận ngay trên dòng sông này, thì lời thề giữ bến ba trăm năm qua của tổ tiên để lại chỉ là một trò hề dối trá!'"

"Và cha con đã cầu xin thầy điều gì?" Trình Dạ gặng hỏi, lồng ngực anh thắt nghẹn lại. Trước mắt anh như hiện lên bóng lưng ướt đẫm bùn đất của người cha năm nào giữa đêm giông bão mịt mùng.

"Ông ấy quỳ sụp xuống trước mặt ta," giọng Vũ Kính nghẹn lại, hai hàng nước mắt đục ngầu, vàng vọt rỉ ra từ khóe mắt khô cằn như đất nứt hạn hán. "Trình Hoài cả đời kiêu hãnh, ngẩng cao đầu đi giữa sóng gió, chưa từng cúi đầu trước bất kỳ một tên quan chức nào của Ty Danh Tịch hay bất kỳ một tên chấp sự áo trắng nào của tiên môn. Nhưng đêm đó, ông ấy quỳ xuống trên nền đất ẩm, dập đầu ba cái thật mạnh trước ta. Ông ấy xin ta hãy lập một bản báo cáo khuyết chuyến đò. Ông ấy bảo ta hãy dùng dao trổ bóc sạch ba trang sổ bến của đêm đó đi. Hãy ghi vào sổ kiểm kê hành chính rằng đêm rằm tháng Bảy nước lũ dòng âm dâng quá dữ dội, Bến Lau Tàn phải đóng luồng, không mở bất kỳ tuyến xuất bến nào cả."

"Để làm gì?" Ánh mắt Trình Dạ sắc như dao cạo găm thẳng vào ông lão.

"Để đánh lạc hướng Huyền Đăng Môn!" Vũ Kính đập mạnh lòng bàn tay khẳng khiu xuống mặt bàn gỗ tạp. Âm thanh chát chúa vang lên, làm chiếc chén sành nảy lên một cái, mấy giọt rượu chua sánh ra ngoài mép bàn. "Ngươi có hiểu mạng lưới truy lùng của Bạch Huyền khủng khiếp và dày đặc đến mức nào không? Ty Phòng Vệ Nội Bộ kiểm soát toàn bộ các trạm chuyển dịch từ ngã ba sông cho tới cửa biển. Nếu trong sổ bến của Hội Giữ Bến xuất hiện dù chỉ một dòng ghi nhận có đò rời Bến Lau Tàn vào giờ đó, chúng sẽ lập tức hạ ngục phong tỏa toàn bộ khúc hạ lưu sông Chết, bủa lưới sắt vây bắt con đò của Hoài ngay giữa dòng nước âm cuồn cuộn! Hoài muốn tạo ra một khoảng trống hành chính, một sự chậm trễ trong việc đối chiếu hồ sơ giữa sổ sách của Hội Giữ Bến và trạm kiểm soát của Ty Danh Tịch. Ông ấy cần vài ba canh giờ quý báu để đưa người trốn thoát qua nhánh rẽ của sông Chết trước khi tin tức kịp truyền về tổng viện Lạc Châu!"

Trình Dạ đứng lặng đi giữa gian nhà chờ lạnh lẽo. Anh nhìn chăm chú vào cuốn sổ bến bị bóc gáy nằm trơ trọi trên bàn. Những mảnh ghép rời rạc, chắp vá trong tâm trí anh suốt những ngày qua—từ những lời khai đứt quãng của Tống Yên trong ngục tối, tập nhật ký bìa da cá trắm của cha ở Tàng Danh Các, cho đến những bản thảo tính thuế bí mật mà Phạm Lục lén lút thu thập—bỗng chốc khớp nối lại với nhau một cách hoàn hảo thành một bức tranh tàn khốc, đẫm máu.

Cha anh không hề lén lút trốn chạy vì tham vàng bỏ ngãi. Ông đã dấn thân vào một cuộc đào tẩu tuyệt vọng, dùng chính danh dự nghề nghiệp của đời chèo đò và đem cả mạng sống của mình ra đặt cược, chỉ để mở ra một con đường sống mong manh cho một nạn nhân của cấm thuật Đoạt Danh tàn độc.

Nhưng rồi, một câu hỏi khác lại bùng lên như một đốm than hồng âm ỉ cháy trong lồng ngực Trình Dạ. Anh nghiến chặt răng, quai hàm bạnh ra, nhìn thẳng vào người thầy già đã dạy dỗ mình suốt mười hai năm qua:

"Nếu như cha con chỉ xin thầy đánh lạc hướng trong vài ba canh giờ... thì tại sao sự im lặng này lại kéo dài suốt mười hai năm? Tại sao sau khi trạm đò ở nhánh sông Chết bị người của Huyền Đăng Môn san phẳng thành bình địa, sau khi cha con không bao giờ quay trở lại bến nước này nữa, thầy vẫn tiếp tục giấu kín chuyện đó? Thầy để mặc cho mẹ con mỏi mòn chờ đợi bên bến nước này ròng rã hơn bốn ngàn ngày đêm! Thầy để mặc cho cả vùng Lạc Châu này đồn đại rằng Trình Hoài là một kẻ chèo đò vụng về, tham lam mở bến ngoài luồng rồi bị nước âm cuốn trôi mất xác! Tại sao hả Trưởng bến?"

Câu hỏi của Trình Dạ như một nhát roi quất thẳng vào linh hồn cằn cỗi của Vũ Kính. Lưng ông còng rạp xuống sâu hơn nữa, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy mép chiếc áo cộc bằng vải thô như muốn xé toạc nó ra.

"Vì Hội Giữ Bến, Dạ à!" Vũ Kính ngẩng phắt đầu lên. Trong giọng nói của ông lúc này không chỉ có nỗi đau đớn bị dồn nén mà còn bùng lên cả một sự sợ hãi tột cùng, thứ nỗi sợ đã tích tụ, gặm nhấm tâm can ông qua hơn một thập kỷ. "Vì sự tồn tại của cái bến sông này! Vì mạng sống của mẹ con ngươi, và vì mạng sống của hàng trăm gia đình chèo đò khác đang cắm sào sinh sống dọc theo lưu vực con sông Dạ Thủy này!"

Vũ Kính chống hai tay xuống bàn, lảo đảo đứng bật dậy. Chiếc ghế đẩu chân tiện phía sau bị chân ông hất đổ nghiêng ra sàn ván, phát ra một tiếng “cành cạch” khô khốc, trơ trọi giữa gian phòng tĩnh mịch. Ông rướn người qua mặt bàn, dí sát khuôn mặt già nua đầy những vết sẹo nước ăn vào sát mặt Trình Dạ:

"Ngươi nghĩ Hội Giữ Bến của chúng ta là cái gì? Ngươi nghĩ cái bản Minh ước tự quản ba trăm năm kia là một bức tường thành bằng đồng vách sắt vững chãi không thể lay chuyển sao? Sai rồi! Sai bét rồi con ơi! Nó chỉ là một tờ giấy lau mỏng dính, mục nát, được giữ lại nhờ vào sự nhân nhượng giả tạo và những toan tính chính trị của đám tiên môn và quan phủ mà thôi! Huyền Đăng Môn từ lâu đã thèm khát thâu tóm toàn bộ các bến đò dọc sông Dạ Thủy. Chúng muốn biến dòng nước âm này thành công cụ riêng của chúng, muốn toàn quyền kiểm soát xem ai được sang bờ, ai phải ở lại, và ai... phải bị xóa bỏ hoàn toàn khỏi cõi nhân gian này!"

Hơi thở của Vũ Kính trở nên dồn dập, đứt quãng, lồng ngực gầy guộc phập phồng kịch liệt dưới làn áo gai mỏng:

"Đêm rằm tháng Bảy năm đó, khi trạm đò bí mật ở nhánh sông Chết bị san phẳng, ta đã biết kế hoạch của cha ngươi hoàn toàn thất bại. Hoài đã mất tích không một dấu vết, còn người khách kia thì bị bắt lại đem về ngục đá. Nếu lúc đó ta đem bản báo cáo thật nộp lên, nếu ta đứng ra thừa nhận rằng người giữ Bến Lau Tàn đã lén lút mở đò chở một 'mẫu thể thí nghiệm' của Viện Nghiên Cứu Bảo Danh trốn chạy... ngươi có biết hậu quả gì sẽ giáng xuống cái bến sông này không?"

Vũ Kính cười gằn một tiếng, nụ cười méo mó chua chát tựa như ngậm phải quả bồ hòn đắng ngắt:

"Huyền Đăng Môn sẽ lập tức chụp chiếc mũ 'đồng mưu phản nghịch, phá hoại an ninh giao giới thủy mạch' lên đầu toàn thể Hội Giữ Bến! Chúng sẽ viện dẫn điều lệ khẩn cấp thời chiến để tước bỏ hoàn toàn quyền tự quản ba trăm năm của hội. Mọi con đò, mọi người chèo đò từ thượng nguồn đổ xuống hạ lưu sẽ bị đặt dưới sự kiểm soát quân sự của Ty Phòng Vệ Nội Bộ. Bến Lau Tàn của nhà họ Trình các ngươi sẽ là nơi đầu tiên bị san phẳng, đốt trụi! Mẹ con ngươi sẽ bị tống vào ngục tối để tra khảo bằng những thuật tra tấn linh hồn tàn độc nhất nhằm truy tìm tung tích những kẻ liên quan! Bốn mươi dặm đê quai, mười hai bến đò tự quản độc lập sẽ biến mất vĩnh viễn chỉ trong vòng một đêm duy nhất!"

Vũ Kính từ từ hạ giọng xuống. Đôi mắt mờ đục của ông đờ đẫn nhìn qua khung cửa sổ hé mở, hướng về khoảng sương mù xám xịt đang bốc lên từ mặt bến nước:

"Ta là Trưởng bến, Trình Dạ. Trách nhiệm của ta không phải là làm một người anh hùng nghĩa hiệp để rồi chết một cái chết vinh quang bên cạnh bạn mình. Trách nhiệm của ta là giữ cho những ngọn đèn dẫn lối trên các con đò của Hội Giữ Bến còn được thắp sáng mỗi đêm! Ta phải bảo vệ sự tồn tại của cả một hệ thống này, bảo vệ chén cơm manh áo của hàng ngàn con người sống nhờ vào dòng nước Dạ Thủy. Ta đã chọn sự hèn nhát, ta đã chọn sự im lặng! Ta đã nuốt sự thật đẫm máu ấy vào sâu trong bụng, chấp nhận để mặc cho người đời sỉ vả Trình Hoài là một kẻ bạc mạng, chết chìm nơi đáy sông vì tham lam... chỉ để đổi lấy việc Hội Giữ Bến giữ được quyền tự quản mong manh thêm mười hai năm nữa..."

"Và để che giấu một sự thật nhức nhối như thế," Trình Dạ lạnh lùng cất lời, từng tiếng nói sắc bén như lưỡi sào xé toạc làn nước xiết, "người giữ danh buộc phải trả giá bằng chính danh phận và ký ức của mình. Thầy đừng nói với con rằng thầy chỉ đơn giản là bóc đi ba trang sổ bến rồi dùng ngọn bút lông đặt xuống vài dòng báo cáo dối trá là có thể êm thấm mọi bề. Thủ tục kiểm kê dòng âm của cõi này không bao giờ chấp nhận những lời nói dối suông trên mặt giấy lau!"

Vũ Kính khựng phắt lại. Lời nói của Trình Dạ hệt như một mũi tên tẩm độc bắn trúng vào tử huyệt sâu kín nhất, đau đớn nhất mà ông đã gồng mình phong kín suốt một trăm bốn mươi bốn kỳ trăng.

Toàn thân vị trưởng bến già bỗng chốc cứng đờ. Khuôn mặt nhăn nheo của ông tái nhợt đi, trắng bệch ra như màu da của một người chết trôi vừa được vớt từ đáy vực sâu lên. Đôi môi thâm xì mấp máy run rẩy, hồi lâu không thể thốt ra thành tiếng.

"Quy tắc của người giữ danh: muốn neo giữ một mắt xích bảo chứng giả tạo, người đó buộc phải dùng một ký ức có thật của chính bản thân mình đem ra thế chấp," Trình Dạ bước lại gần thêm một bước, ánh mắt anh nhìn xoáy vào huyệt thái dương của Vũ Kính—nơi có những đường gân xanh ngoằn ngoèo đang giật giật từng cơn bất thường dưới lớp da mỏng dính. "Bản báo cáo khuyết chuyến đò của thầy gửi lên Hội Giữ Bến và Ty Danh Tịch mười hai năm trước... thầy đã dùng cái gì để neo nó lại trong trận pháp lưu trữ? Thầy đã hiến tế ký ức thiêng liêng của ai để bảo chứng cho sự biến mất hoàn toàn của cha con?"

Một giọt mồ hôi lạnh ngắt rịn ra từ trán Vũ Kính, lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm trên gò má rồi rơi tõm xuống chén rượu nguội tanh tưởi trên bàn.

"Ta..." Vũ Kính thở hắt ra một hơi, thanh âm như tiếng gió rít qua kẽ lá rách. Toàn thân ông rũ xuống, bao nhiêu gân cốt, sinh lực dường như bị một bàn tay vô hình rút cạn sạch trong khoảnh khắc. "Ta không còn cách nào khác... Dạ à... Ta thực sự không còn con đường nào khác để đi..."

Ông từ từ đưa hai bàn tay run rẩy lên, ôm chặt lấy đầu mình. Những ngón tay xương xẩu, đen đúa cào cấu vào mái tóc bạc xơ xác như muốn bấu víu, muốn giữ lại những mảnh ký ức đang rạn nứt và tan biến dần bên trong thức hải.

"Khi lập biên bản khuyết chuyến đò gửi vào đại trận lưu trữ của Hội," giọng Vũ Kính nghẹn ngào, méo mó vì một nỗi đau đớn tột cùng xuất phát từ sâu trong linh hồn, "Minh ước Giữ Bến đòi hỏi một điểm neo ký ức bản mệnh để xác thực rằng người lập báo cáo không hề làm sai lệch luồng sinh tức của bến đò. Hoài đã đi mất dạng, không có mặt ở đó để dùng chân danh đối chất. Để bảo chứng tuyệt đối rằng chuyến đò đêm rằm tháng Bảy đó 'thực sự chưa từng tồn tại' trong thực tại hành chính... ta buộc phải dùng bí thuật Kết Danh của hội, tự tay cắt đứt một phần ký ức cốt lõi của chính bản thân mình đem hiến vào mắt trận."

"Thầy đã hiến tế ai?" Trình Dạ hỏi, giọng anh run lên một thoáng khi chạm đến cái giá lạnh lùng, tàn nhẫn của quy luật bảo danh cõi âm.

"Em trai ta..." Vũ Kính bỗng nấc lên một tiếng nghẹn ngào, rồi bật khóc. Những giọt nước mắt già nua, đục ngầu tuôn rơi lã chã trên đôi gò má nhăn nheo như vỏ cây thông. "Vũ Trực... đứa em ruột duy nhất của ta trên cõi đời này... đứa em đã chết đuối trên dòng Dạ Thủy cách đây hai mươi năm... Ta đã dùng toàn bộ ký ức thật về nó để làm vật thế chấp cho bản báo cáo dối trá đó."

Gian nhà chờ dường như sụp đổ trong một hố sâu tuyệt vọng và bi ai.

Theo quy luật sắt đá của cõi âm và thuật bảo danh: người giữ danh buộc phải dùng ký ức chân thực nhất của mình để neo giữ một thực tại bị bóp méo; và một khi ký ức cốt lõi đã bị dâng nộp cho đại trận lưu trữ, nó sẽ vĩnh viễn bị bào mòn, tan biến từng chi tiết một, không bao giờ có thể gom nhặt hay phục hồi nguyên vẹn được nữa.

"Ngươi có biết cái giá tàn khốc của nó là gì không hả Trình Dạ?" Vũ Kính ngước đôi mắt đẫm lệ, đỏ ngầu nhìn anh, giọng ông vỡ vụn trong cay đắng ngút ngàn. "Mỗi một năm trôi qua, hình bóng của nó trong tâm trí ta lại mờ nhạt đi một chút. Ban đầu, ta quên mất âm sắc tiếng cười của nó lúc hai anh em còn cùng nhau kéo lưới trên sông. Vài năm sau, ta không còn nhớ nổi nó thích ăn món gì, dáng đi của nó nghiêng về bên nào khi vác mái chèo nặng. Và đến ba năm trở lại đây..."

Vũ Kính giơ nắm đấm khẳng khiu nện thình thình vào lồng ngực mình, đau đớn đến mức quặn thắt ruột gan:

"Ta không còn nhớ nổi khuôn mặt của em trai ta trông như thế nào nữa! Mỗi lần ta cố nhắm mắt lại, dốc hết sức bình sinh để nhớ về nó, ta chỉ nhìn thấy một khoảng trống mờ mịt, một cái bóng màu xám tro không có mắt mũi miệng, không có lấy một nét ngũ quan! Trí nhớ của ta ngày càng hao mòn, mục ruỗng như khúc gỗ mục dưới bùn lầy. Ta bắt đầu quên dần tên của những người chèo đò trong hội, ta quên cả những khúc sông hiểm trở đầy đá ngầm mà thời trai trẻ ta từng thuộc như lòng bàn tay mình... Đó là cái giá mà ta phải trả, Dạ à! Ta phải trả bằng chính máu thịt linh hồn mình để giữ lấy cái bến đò này, để giữ cho con đò của cha ngươi biến mất một cách trọn vẹn và an toàn trong hồ sơ lưu trữ của tiên môn!"

Trình Dạ đứng sững sờ như hóa đá.

Cơn giận dữ âm ỉ, cuộn trào trong lồng ngực anh suốt từ đêm hôm qua bỗng chốc bị dập tắt hoàn toàn bởi một nỗi xót xa, bi tráng đến nghẹt thở.

Trước mắt anh lúc này không phải là một kẻ phản bội đê hèn, bán đứng bạn bè đồng nghiệp để đổi lấy bổng lộc hay sự bình an cho riêng mình. Đó chỉ là một người giữ bến già nua, bất lực, một mắt xích nhỏ bé bị nghiền nát thảm thương giữa bánh xe quyền lực tàn bạo của tiên môn và trách nhiệm nặng tựa thái sơn của một thể chế tự quản đang bước vào thời kỳ tàn lụn. Vũ Kính đã chọn cách tự hủy hoại một phần linh hồn mình, chấp nhận quên đi người thân ruột thịt duy nhất, chỉ để làm một tấm lá chắn mỏng manh che chở cho Bến Lau Tàn và bảo vệ mạng sống cho những kẻ ở lại bên dòng sông đầy sóng gió.

Cót két...

Tiếng cánh cửa liếp đan bằng nứa ngăn cách gian nhà chờ với gian buồng tối phía sau khẽ chuyển động, cọ vào then cài phát ra âm thanh khô khốc.

Lê An từ trong bóng tối chầm chậm bước ra.

Bà mặc bộ áo vải nâu sồng cũ kỹ vá chằng vá đụp nơi khuỷu tay, hai bàn tay thô ráp nứt nẻ vì ngâm nước lạnh đang ôm một chiếc chậu đồng nhỏ chứa đầy lớp tro tàn màu xám của những tờ tiền vàng mã chưa kịp cháy hết. Bà đã đứng nép sau cánh liếp ấy từ bao giờ, lặng lẽ nuốt từng lời thú tội đẫm máu và nước mắt của người bạn nghề cũ của chồng vào tận đáy lòng.

Ánh mắt bà Lê An trũng sâu xuống, viền mắt đỏ hoe vì những đêm dài thức trắng bên ngọn đèn dầu, nhưng trên khuôn mặt gầy guộc, khắc khổ của người đàn bà vùng bãi lau ấy tuyệt nhiên không có nét giận dữ cuồng nộ hay oán hờn cay độc. Chỉ có một nỗi đau đớn tột cùng, sâu thẳm và lạnh lẽo như đáy sông Dạ Thủy vào mùa nước cạn, được kiềm giữ lại dưới sự nhẫn nại phi thường của một người phụ nữ đã quen với cảnh chia ly và ranh giới sinh tử mong manh nơi bến nước.

"Anh Kính..." Bà Lê An cất tiếng gọi. Giọng bà khàn đặc, run rẩy nhưng rành rọt từng tiếng giữa gian phòng im ắng.

Vũ Kính giật bắn người, toàn thân run rẩy như bị sét đánh ngang tai. Ông quay phắt lại, và khi nhìn thấy bóng dáng gầy guộc của bà Lê An đứng bên ngưỡng cửa buồng, người trưởng bến già bỗng co rúm lại như một kẻ tử tù vừa bước lên trước đoạn đầu đài. Ông vội vã lùi thụt lại một bước, hai bàn tay luống cuống không biết giấu vào đâu, đầu cúi gằm xuống, không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào đôi mắt trũng sâu của người vợ bạn mình.

"Chị dâu... ta... ta có lỗi với anh Hoài... ta có tội lớn với mẹ con chị..." Vũ Kính nghẹn ngào, bờ vai gầy sụp hẳn xuống, giọng nói vỡ ra thành từng tiếng nấc cụt cay đắng.

"Anh không có lỗi gì với tôi cả," bà Lê An bước từng bước chậm rãi đến mép bàn gỗ, đặt chiếc chậu đồng đựng tro tàn xuống bên cạnh cuốn sổ bến đã rách gáy. Ánh mắt bà lướt qua đoạn dây đò bện bằng vỏ dâu rừng mang ba nút thắt ngược, rồi dừng lại thật lâu trên mái tóc bạc phơ xơ xác của Vũ Kính. "Mười hai năm qua, nếu không có anh đứng ra chống đỡ trước những đợt tra hạch của Ty Danh Tịch và những đợt kiểm tra gắt gao của Hội Giữ Bến, mẹ con tôi làm sao giữ nổi mái nhà chờ này mà sống đến ngày hôm nay. Anh Hoài... nhà tôi đã tự mình chọn con đường đó, ông ấy là người chèo đò, ông ấy tự hiểu cái giá phải trả cho một chuyến đò trái luật. Nhưng còn anh..."

Bà Lê An hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy gò phập phồng dưới lớp áo nâu:

"Anh giấu chúng tôi suốt mười hai năm trời, một mình chịu đựng sự cắn rứt của thức hải, chấp nhận quên đi cả đứa em ruột của mình... rốt cuộc là vì cái gì? Anh Hoài trước khi bước xuống thuyền vào cái đêm giông bão đó, ngoài việc quỳ lạy xin anh làm khuyết chuyến đò... ông ấy còn để lại thứ gì nữa không?"

Câu hỏi của bà Lê An tựa như một luồng gió mạnh xé toạc màn sương mù u tối đang bao trùm khắp gian phòng nhỏ.

Trình Dạ lập tức quay sang nhìn Vũ Kính. Trong đầu anh bỗng vang vọng lại những lời dặn dò đầy ẩn ý của Đỗ Từ Uyên tại góc tối Tàng Danh Các hôm trước: Trình Hoài là một người chèo đò cẩn trọng đến mức cực đoan, cả đời ông không bao giờ đặt toàn bộ manh mối hay chứng tích sinh mệnh vào cùng một chỗ. Ông đã xé vạt áo gai gửi lại cho vợ làm tin, gửi lại bản nhật ký hành trình ở Tàng Danh Các thông qua Đỗ Từ Uyên, vậy thì đối với người bạn nghề thân tín nhất, người giữ chốt chặn cuối cùng ngay tại bến xuất phát Bến Lau Tàn, ông tuyệt đối không thể không để lại một vật định hướng sinh tử.

Vũ Kính ngước khuôn mặt đầm đìa nước mắt lên, nhìn bà Lê An rồi lại nhìn sang Trình Dạ. Trong đôi mắt đục ngầu, mờ mịt của người trưởng bến già, một tia sáng giải thoát muộn màng khẽ lóe lên, xua tan đi phần nào bóng tối của nỗi mặc cảm tội lỗi đã đè nặng trên lưng ông suốt hơn bốn ngàn ngày đêm.

"Có..." Vũ Kính run rẩy thốt lên thành lời. "Ông ấy có để lại một vật. Đêm đó, Hoài đã dặn ta rất kỹ... rằng ta chỉ được phép trao lại vật này cho thằng Dạ... khi nào chính mắt ta thấy nó tự mình tìm ra ba nút thắt ngược, và tự đôi chân nó bước vào ranh giới sinh tử của một người giữ danh thực thụ."

Nói đoạn, Vũ Kính run rẩy đưa tay vào sâu trong túi áo ngực lót bông cũ nát—nơi áp sát nhất với da thịt và nhịp đập yếu ớt của trái tim ông.

Những ngón tay chai sần, gầy guộc lần mò tháo từng đường chỉ khâu giấu kín bên trong lớp vải lót ẩm mốc. Sau một hồi ngập ngừng, ông cẩn thận lôi ra một bọc nhỏ bằng vải sáp màu đen, kích thước chỉ bằng lòng bàn tay. Lớp vải sáp bên ngoài đã bị mồ hôi, hơi ấm cơ thể và bụi bặm qua năm tháng làm cho bóng nhẫy, ngả sang màu xám xịt.

Vũ Kính đặt bọc nhỏ lên mặt bàn gỗ, rồi dùng những ngón tay run rẩy gỡ từng lớp vải sáp đã khô cứng ra.

Bên trong lớp vải sáp là một mảnh kim loại mỏng dính, chỉ nhỉnh hơn nửa bàn tay một chút. Mảnh kim loại dường như được cắt vụn ra từ một tấm giáp đồng cổ của những chiến thuyền thời xa xưa, bề mặt của nó đã bị dòng nước âm bào mòn và oxy hóa nặng nề, loang lổ những vệt gỉ đồng màu xanh lục đậm pha lẫn sắc xám chì đặc trưng của lớp bùn ngầm Dạ Thủy.

Thế nhưng, dưới ánh sáng vàng đục của ngọn đèn dầu hạt cải đang chập chờn cháy, những đường rãnh khắc chìm li ti trên bề mặt kim loại vẫn hiện lên vô cùng rõ nét và tinh xảo.

Đó tuyệt nhiên không phải là văn tự hành chính thông thường của triều đình, cũng không phải là các ký hiệu thủy triều, bến bãi quen thuộc của Hội Giữ Bến. Đó là một mạng lưới những đường cong uốn lượn chằng chịt, đan xen chéo vào nhau tựa như những đường gân máu trên một phiến lá khô, ở giữa các nhánh rẽ có những điểm chấm tròn nông sâu khác nhau được đóng dấu cẩn thận bằng một mũi dùi nhọn hoắt.

"Hải đồ dòng âm..." Trình Dạ nín thở, lồng ngực anh đập thình thịch khi nhận ra quy chuẩn vẽ luồng lạch bí truyền của những người chèo đò thượng cổ đất Dạ Thủy.

"Đúng vậy," Vũ Kính nâng mảnh kim loại lên bằng cả hai bàn tay run rẩy, trịnh trọng đặt nó vào lòng bàn tay mở rộng của Trình Dạ. "Trước khi bước chân xuống con đò đêm rằm tháng Bảy năm đó, Hoài đã nhét mảnh đồng này vào tay ta. Ông ấy bảo, nếu chuyến đi của ông ấy trót lọt, ông ấy sẽ tự mình quay về bến để lấy lại nó. Còn nếu ông ấy một đi không trở lại... thì dòng chảy của con sông Dạ Thủy này tuyệt đối không kết thúc ở Bờ Tịch Danh như những gì người đời và quan phủ vẫn hằng tin tưởng."

Trình Dạ siết chặt những ngón tay lại, nắm chặt lấy mảnh kim loại trong lòng bàn tay. Cảm giác lạnh buốt thấu xương từ chất kim khí cổ xưa ngâm nước ngầm lập tức truyền qua lớp da thịt dày dạn, chạy dọc theo các đường kinh mạch lên tận bả vai anh. Nhưng kỳ lạ thay, ngay tại vị trí vết sẹo ăn thề giữ bến trên lòng bàn tay anh—vết sẹo anh tự rạch năm mười sáu tuổi khi chính thức tiếp nhận cây sào của cha—lại bùng lên một luồng nhiệt khí ấm nóng, râm ran như thể đang đáp lại lời vẫy gọi từ một hải trình xa xăm bị lãng quên dưới đáy vực.

Anh nheo mắt, chăm chú rọi mảnh kim loại dưới ánh đèn dầu hạt cải, lần theo những đường rãnh khắc chìm li ti. Hướng đi thực sự của con đò đêm rằm tháng Bảy năm đó hoàn toàn không hề xuôi dòng về phía các trạm trung chuyển quen thuộc ở hạ lưu, cũng không hề hướng sang bờ cõi chết như những bản báo cáo tử tuất thường ghi chép. Những đường rãnh ngoằn ngoèo trên mảnh hải đồ lại rẽ một góc ngoặt hiểm trở vào một nhánh thủy mạch ngầm sâu hun hút dưới đáy sông, đâm thẳng ngược lên phía thượng nguồn—nơi Đập Khóa Mạch khổng lồ đang sừng sững ngự trị, chặn đứng long mạch của cả vùng Lạc Châu.

"Nhưng Dạ à..." Giọng Vũ Kính bỗng chùng hẳn xuống, run rẩy và nghẹn ngào, mang theo lời cảnh báo nghiêm khắc cuối cùng của một người thầy cả đời gắn bó với sông nước đối với đứa học trò duy nhất. "Mảnh hải đồ này chỉ là một chứng cứ lịch sử về hướng đi của cha ngươi vào đêm hôm đó mà thôi. Nó chứng minh rằng Trình Hoài đã từng quyết tâm chèo con đò hướng về nhánh sông ngầm đó, nhưng nó tuyệt đối không phải là một bằng chứng xác thực để khẳng định rằng... cha ngươi hiện tại còn sống hay đã vùi xác dưới chân đập. Ngươi dấn thân đi theo con đường này, là ngươi đang tự mình bước thẳng vào miệng hùm miệng cọp của kẻ đã giăng sẵn thiên la địa võng suốt mười hai năm trời qua đấy con ơi."

"Con biết chứ," Trình Dạ ngẩng đầu lên, ánh mắt anh sáng quắc, chưa bao giờ trong đời anh kiên định và bình thản đến thế trước hiểm nguy trùng trùng. "Nhưng con là người chèo đò của Bến Lau Tàn này. Món nợ bảo chứng mà cha con đã gánh trên lưng suốt mười hai năm qua, con là con trai của người, con buộc phải thay người sang sông để thanh toán cho trọn vẹn."

Bà Lê An đứng bên cạnh khẽ đưa bàn tay gầy guộc, thô ráp đầy những vết nứt nẻ của mình đặt lên bờ vai vạm vỡ của con trai. Bà không mở miệng buông một lời ngăn cản, chỉ siết nhẹ những ngón tay ấm áp lại, như muốn truyền toàn bộ hơi ấm của mái nhà tranh đơn sơ và những bữa cơm đạm bạc nơi bến sông cho đứa con duy nhất trước khi cơn giông bão kinh hoàng ập đến.

Đúng lúc đó, một chuỗi âm thanh lạ lùng và sắc lạnh từ ngoài con đường đê dẫn vào ngõ bến bỗng vọng đến, xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, ngột ngạt của buổi sớm mai.

Đó không phải là tiếng bước chân lẹp xẹp của đám phu chèo đò dậy sớm chuẩn bị mở luồng, cũng không phải tiếng lạch cạch quen thuộc của những chiếc xe bò chở vôi đá của dân phu ven đê quai.

Đó là tiếng bánh xe gỗ bọc sắt nặng trịch nghiến rào rạo, nghiền nát những viên sỏi đá ẩm ướt trên mặt đường đất bùn, xen lẫn với tiếng móng ngựa bọc đồng nện xuống mặt đê từng nhịp trầm đục, đanh gọn và đầy vẻ uy nghiêm, áp chế.

Từ gian nhà chờ ẩm thấp, qua khung cửa sổ ghép bằng ván gỗ đang hé mở một khe nhỏ, một cỗ xe ngựa lộng lẫy sơn son thếp vàng, được kéo bởi bốn thớt hắc mã bờm đen tuyền cắt tỉa gọn gàng, từ từ xé toạc màn sương mù dày đặc đang bao phủ bãi lau, dừng lại sừng sững ngay trước cổng gỗ xiêu vẹo của Bến Lau Tàn. Trên nóc cỗ xe tráng lệ ấy, một lá cờ đuôi nheo may bằng lụa tím thượng hảo hạng, thêu hình đóa hoa sen nâng ba ngọn lửa rực sáng bằng chỉ bạc khẽ phần phật bay trong từng cơn gió bấc lạnh buốt.

Cánh cửa xe bằng gỗ đàn hương chậm rãi đẩy mở sang hai bên. Một bóng người vận đạo bào trắng muốt viền chỉ bạc lấp lánh, phong thái ung dung, đĩnh đạc tựa như bậc thần tiên giáng thế giữa chốn bùn lầy nước đọng, chầm chậm bước xuống bậc xe.

Bạch Huyền đích thân bước xuống xe.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn