Ký Ức Người So Sổ
Gian phòng đọc hồ sơ của Tàng Danh Các chìm sâu trong ánh nến thử danh màu vàng nhạt, tĩnh mịch đến mức từng tiếng thở đứt quãng và nhịp đập hoảng loạn nơi lồng ngực người vô danh dội lại rành rọt trên những vách đá dày.
Thứ ánh sáng phát ra từ bảy ngọn nến sáp ong pha bột chu sa không hề tỏa ra chút hơi ấm nào của cõi nhân gian. Nó chỉ rọi thẳng xuống mặt sàn đá hoa cương những quầng sáng tròn trịa, sắc cạnh, lạnh tanh như những chiếc đĩa đồng han gỉ đặt rải rác trong bóng tối. Trên phiến nền đá cổ xưa vốn được các thợ khắc đá đời đầu đục đẽo từ khối đá ngầm nguyên khối nhằm cách ly hoàn toàn với mạch ngầm u ám của dòng Dạ Thủy, Khách Vô Danh nửa nằm nửa ngồi trên một tấm bồ đoàn bện bằng rơm nếp khô. Lớp da thịt xám ngoét của anh ta chốc chốc lại giật nảy lên từng hồi co quắp; mồ hôi lạnh rịn ra từng hạt lớn trên vầng trán nhăn nhúm vì đớn đau, chảy tràn qua hai hốc mắt trũng sâu, men theo hai hõm má hốc hác rồi đọng lại thành từng giọt đục ngầu nơi cằm.
Cấm chế hoa sen ngược màu xám tro trên thái dương anh ta dù đã tạm thời bị kiếm ý Chiếu Hồn của Lâm Chiêu ghìm giữ, nhưng từng sợi vân đen li ti vẫn như những chiếc rễ cây tầm gửi độc địa, không ngừng ngo ngoe luồn lách dưới lớp biểu bì mỏng manh. Chúng chực chờ bung nở, chực chờ xé toạc thức hải của người bị nạn nếu có bất kỳ luồng ngoại lực thô bạo nào vô tình chạm vào.
Trước đó chưa đầy một canh giờ, sau khi dùng con dấu gỗ thị cổ tạm thời đè ép cơn co giật nguy kịch của người khách ngay tại sàn gỗ ẩm mục ở Bến Lau Tàn, Đỗ Từ Uyên đã lập tức ra lệnh chuyển người về Tàng Danh Các. Bà hiểu rõ hơn ai hết cái giá của sự chần chừ: bến sông ngoài kia chướng khí Dạ Thủy bốc lên ngùn ngụt theo con nước triều đêm, lại thêm tai mắt rình rập của đám sai nha Ninh Sắc và Thủy Sứ quán lảng vảng quanh các bờ lau sậy; chỉ cần ngọn đèn dầu lạc của Lê An chập chờn lụi tắt trong một thoáng gió chướng, cấm chế trong đầu người khách sẽ lập tức bùng phát, biến anh ta thành một kẻ điên dại bị nghiền nát sạch sẽ cả hồn lẫn vía. Chỉ có khối đá hoa cương độc lập nghìn năm của Tàng Danh Các, nơi được yểm phong ấn chống tà từ ba trăm năm trước, mới đủ độ thuần khiết để dựng trận pháp kích hoạt ký ức mà không bị dòng âm ty quấy nhiễu.
Đỗ Từ Uyên đứng sừng sững ở góc càn của căn phòng. Hai tay áo dài màu xám tro của bà buông thõng, thân hình bất động, thần sắc nghiêm nghị tựa như một pho tượng đá cổ canh giữ cánh cửa thời gian. Đôi mắt từng trải của bà quét qua từng góc sàn, cẩn trọng ước lượng từng bước chân và khoảng cách giữa các điểm giao thoa linh khí. Bà khẽ phất tay áo, ba dải lụa điều màu trắng ngà giấu trong ống tay áo bay lượn ra không trung như ba dải mây mỏng rồi cắm phập xuống ba góc nền đá hoa cương bằng ba chiếc đinh đồng gỉ sét. Ba góc lụa lập tức được nối liền với nhau bằng một sợi chỉ tơ đỏ thắm đã ngâm qua dầu trừ tà nấu từ rễ ngải cứu bảy năm và bột thần sa.
"Lâm Chiêu, cắm kiếm Chiếu Hồn vào phương Chấn," Đỗ Từ Uyên trầm giọng phân phó. Thanh âm của bà không hề có một gợn sóng dao động, nhưng lại chứa đựng một uy lực vô hình khiến gian phòng dường như càng thêm ngưng đọng. "Tâm thức con người một khi bị tước danh sẽ tự động hình thành một lớp kén sương mù dày đặc để tự vệ. Đó là bản năng cuối cùng của hồn phách nhằm trốn tránh nỗi đau bị xé rách bản ngã. Nếu các ngươi dùng vũ lực phá vỡ cái kén ấy từ bên ngoài, người đó sẽ chết ngay tức khắc vì nứt vỡ hồn phách. Trận pháp này chỉ có tác dụng soi đường và làm dịu phản phệ của cấm chế, tuyệt đối không được dùng linh lực cưỡng ép tâm trí anh ta."
Lâm Chiêu khẽ gật đầu, lồng ngực phập phồng sau một hơi thở dài kìm nén. Nàng bước từng bước thận trọng tới góc đông của gian phòng, hai bàn tay nắm chặt lấy chuôi kiếm Chiếu Hồn đã tuốt khỏi vỏ. Mũi kiếm bằng thép nguội ánh lên sắc xanh lơ cắm sâu nửa tấc vào khe nối giữa hai phiến đá hoa cương.
Một tiếng "ong" thanh mảnh vang lên từ thân kiếm. Một dải lam quang thanh khiết lập tức từ sống kiếm tỏa ra, men theo sợi chỉ tơ đỏ thắm chạy quanh sàn nhà, tạo thành một lồng ánh sáng mờ ảo, dịu dàng bao bọc lấy thân thể đang run rẩy của Khách Vô Danh. Khuôn mặt thanh tú của nữ tu Huyền Đăng Môn lộ rõ vẻ căng thẳng tột cùng; từng đốt ngón tay nàng trắng bệch ra vì siết chặt chuôi kiếm không dám lơi lỏng nửa phần. Trong những năm tháng tu tập tại tổng viện Lạc Châu, nàng đã chứng kiến biết bao cảnh tượng tước danh tàn bạo do chính các vị trưởng lão và chấp pháp trong môn phái thực hiện, nhưng đây là lần đầu tiên nàng dùng toàn bộ căn cơ, kiếm ý và đạo hạnh của mình để bảo hộ một kẻ bị tước danh tìm lại chính mình—hành động đi ngược lại hoàn toàn với những giáo điều sắt đá mà môn phái từng nhồi nhét vào tâm trí nàng từ thuở thiếu thời.
Đỗ Từ Uyên chậm rãi bước tới trước mặt Khách Vô Danh. Tà áo xám của bà quét qua mặt sàn đá tạo nên những tiếng sột soạt khô khốc. Ánh mắt sắc sảo như lưỡi dao găm nhìn xoáy thẳng vào đôi con ngươi mờ đục, dại dột và thất thần của người đàn ông khốn khổ:
"Theo quy chế ba đời của Tàng Danh Các, không một ký ức nào được phép mở ra nếu thiếu đi sự đồng thuận tuyệt đối của chính chủ thể. Ngươi phải hiểu cho rõ: một khi bàn tay ngươi chạm vào con dấu chức nghiệp này, toàn bộ những đau đớn tột cùng mà ngươi từng gánh chịu mười hai năm trước sẽ tái hiện trọn vẹn trong tâm khảm. Không có thuốc giảm đau, không có bùa xoa dịu, và tuyệt đối không có đường lui. Nếu giữa chừng ngươi sợ hãi thối lui, nếu ý chí ngươi buông xuôi đầu hàng trước thống khổ, thức hải của ngươi sẽ sụp đổ hoàn toàn và vĩnh viễn bị chôn vùi trong bóng tối hư vô. Ngươi có chấp thuận mở ra hay không?"
Trình Dạ bước lên một bước, đầu gối áo tơi chạm xuống nền đá lạnh ngắt. Anh quỳ một chân xuống bên cạnh chiếc bồ đoàn rơm rạ, nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu đang co giật của người thanh niên mà chính tay mình đã liều mạng vớt lên từ giữa xoáy nước cuộn xiết của dòng sông Dạ Thủy. Bàn tay chai sần vì cầm sào đò của Trình Dạ siết chặt lấy đầu gối, giọng nói của anh trầm thấp, thô mộc nhưng lại vững chãi tựa như một chiếc cọc đò cắm sâu hàng trượng vào lòng phù sa đáy sông:
"Anh từng là một con người bằng xương bằng thịt, từng có họ có tên, có công việc rõ ràng và có cả một cuộc đời riêng biệt dưới ánh mặt trời. Tôi đã đứng ra nhận nợ bảo chứng cho anh, dùng máu và chính ký ức của bản thân để cược với Tàng Danh Các một con đường sống. Nhưng tôi chỉ có thể đưa đò, tôi không thể sống thay cho anh được. Muốn tự mình bước chân lên bờ cõi sống, muốn thoát khỏi kiếp làm mồi cho cá tôm dưới đáy sông sâu, anh bắt buộc phải tự nhớ lại xem mình thực sự là ai."
Khách Vô Danh run rẩy dữ dội. Lời nói của Trình Dạ dường như đã len lỏi qua tầng tầng lớp lớp sương mù u ám đang bủa vây lấy tâm trí anh ta, chạm vào một góc sâu thẳm nào đó chưa bị cấm chế bóp chết hoàn toàn. Dưới ánh lam quang dìu dịu tỏa ra từ thanh kiếm Chiếu Hồn, đôi môi nứt nẻ, khô khốc và rướm máu của người khách khẽ mấp máy từng chặp. Cổ họng anh ta rung lên, phát ra những âm thanh nghẹn ngào, khàn đặc và đứt quãng tựa như tiếng cọ xát ken két của những hòn sỏi thô ráp bị dòng nước ngầm nghiền nát dưới lòng sông:
"Tôi... không muốn... tiếp tục làm một cái bóng... câm lặng... Tôi muốn... được... nhớ lại..."
Cánh tay gầy guộc trơ xương của anh ta giơ lên giữa không trung một cách khó nhọc. Trên cổ tay và cánh tay ấy chằng chịt những vết sẹo sâu hoắm do xích sắt huyền thiết siết chặt lâu năm để lại, những vết sẹo lồi lõm màu tím tái chưa bao giờ lành lặn. Năm ngón tay run rẩy xòe ra, hướng về phía chiếc hộp gấm trong tay Đỗ Từ Uyên như một lời khẩn cầu tuyệt vọng và bi thiết nhất trần đời.
Đỗ Từ Uyên khẽ thở hắt ra một hơi dài, nét nghiêm nghị khắc nghiệt nơi khóe mắt bà thoáng chốc giãn ra đôi chút. Bà chậm rãi quỳ một gối xuống, hai tay cẩn trọng mở nắp chiếc hộp gấm màu nâu sẫm, lấy con dấu gỗ thị cổ đặt lên lòng bàn tay mình. Khối gỗ thị hình búp sen đã ngả sang màu nâu sậm bóng loáng của năm tháng, mặt đáy khắc dấu vốn vuông vức nay bị dao búa mài gọt nham nhở, chỉ còn trơ trọi lại bộ thủ Mộc cùng một nét phẩy sắc nhọn chơ vơ.
"Cầm lấy," Đỗ Từ Uyên nói khẽ, thanh âm như rót thẳng vào màng nhĩ người đối diện. "Đây chính là cái neo duy nhất còn sót lại của ngươi giữa trần gian này."
Giây phút những đầu ngón tay chai sần, run rẩy của Khách Vô Danh vừa chạm vào bề mặt nhẵn bóng, mát lạnh của khối gỗ thị, cả gian phòng đọc hồ sơ bỗng nhiên chấn động dữ dội.
Một tiếng "ong" trầm đục và sâu thẳm vang vọng từ sâu trong lòng khối đá hoa cương, tựa như tiếng chuông đồng cổ xưa bị chôn vùi dưới đáy vực sâu vừa được đánh thức!
Bảy ngọn nến thử danh đặt quanh bồ đoàn đồng loạt bùng phát ngọn lửa dữ dội. Ngọn lửa vàng nhạt vốn êm dịu bỗng chốc biến thành màu xanh biếc rực rỡ, ngọn lửa vọt cao vút lên tới nửa trượng, liếm láp vào không khí tạo nên những tiếng lách tách rợn người!
Ngay tại điểm tiếp xúc mong manh giữa lớp da thịt khô héo của người khách và thớ gỗ thị cổ xưa, một luồng linh quang màu vàng óng bừng nở. Luồng sáng rực rỡ và ấm áp đến mức chói lòa, hắt bóng ba người đứng cạnh lên vách đá thành những hình thù méo mó, khiến cả Trình Dạ lẫn Lâm Chiêu đều phải bất giác giơ tay che mắt, nheo mày trước luồng áp lực đột ngột bùng phát. Đó hoàn toàn không phải là thứ linh lực cưỡng đoạt ngoại lai do trận pháp tạo nên, mà chính là tàn dư của chân khí bản mệnh—luồng sinh khí nghề nghiệp tích tụ qua hàng chục năm trời vốn bị giam cầm, phong kín suốt mười hai năm đằng đẵng trong chính con dấu công quyền ấy, nay gặp lại hơi ấm và vân tay quen thuộc của chủ nhân cũ liền cuộn trào thức tỉnh như một dòng thác lũ bị vỡ bờ.
Các sợi khí tức màu lam nhạt từ kiếm Chiếu Hồn và sắc vàng ấm áp từ khối gỗ thị xoắn xuýt lấy nhau, tạo thành những vòng xoáy ánh sáng kỳ ảo. Chúng từ mặt khắc gỗ thị phóng thẳng vào từng đầu ngón tay khẳng khiu của người khách, chạy rần rật dọc theo kinh mạch cánh tay đã khô héo, vượt qua các khớp xương rệu rã rồi xông thẳng lên nê hoàn cung nơi đỉnh đầu.
"Ư... a... a a a!"
Khách Vô Danh ngửa phắt cổ ra sau, lồng ngực gầy guộc ưỡn căng lên như một cánh cung sắp đứt dây. Toàn bộ thân thể anh ta như mất đi trọng lực, lơ lửng cách mặt bồ đoàn nửa tấc, được nâng đỡ hoàn toàn bởi sự giao thoa mãnh liệt giữa hai luồng khí tức thanh lam và hoàng kim. Vệt đen hình hoa sen úp ngược trên thái dương anh ta điên cuồng vặn vẹo, giãy giụa như một sinh vật sống bị ném vào lửa đỏ. Nó phát ra những tiếng xèo xèo ghê rợn tựa như mỡ tươi sôi sùng sục trên chảo gang nóng rẫy.
Một làn khói xám mỏng bốc lên nghi ngút từ chân tóc bên thái dương anh ta, mang theo mùi tanh nồng nặc của bùn lầy đáy sông Dạ Thủy lẫn với mùi hôi thối đặc trưng của tử khí bị trục xuất khỏi thể xác. Thanh kiếm Chiếu Hồn cắm sâu dưới nền đá trong tay Lâm Chiêu rung lên bần bật; thân kiếm thép ngân vang những hồi thanh thúy, dồn dập, đóng vai trò như chiếc la bàn linh lực dẫn đường cho luồng quang minh vàng óng xé toạc từng tầng sương mù dày đặc đang phong tỏa thức hải của người vô danh.
Lớp sương mù che phủ tâm trí anh ta suốt một giáp—lớp sương mù kiên cố được dệt nên bởi cấm thuật tước đoạt tàn độc và tinh vi của kẻ cầm quyền—bắt đầu rạn vỡ từng mảng lớn. Từng mảng ký ức đóng băng tựa như mặt hồ mùa đông nứt toác dữ dội trước dòng nước lũ cuồn cuộn của mùa xuân tan băng.
Một hơi thở sâu hoắm, dài dại và buốt nhói như nuốt phải mảnh sành tràn thẳng vào buồng phổi người khách. Đôi mắt đang trợn trừng của anh ta bỗng nhiên ngưng đọng lại; con ngươi co rút tột độ, phản chiếu lại những hình ảnh xa xưa từ mười hai năm trước đang ùa về cuồn cuộn trong tâm khảm.
Mảnh ký ức tự thân đầu tiên bừng sáng rực rỡ giữa bóng tối vô tận.
Đó là một buổi chiều mùa thu ẩm ướt và bảng lảng khói sương của mười hai năm về trước. Anh không phải là một bóng ma vô danh trôi dạt vô định trên dòng sông Dạ Thủy, không phải là một kẻ tàn tạ mang trên mình bản án truy sát ngấm ngầm. Khi ấy, anh ngồi ngay ngắn trong một gian phòng rộng lớn và thênh thang, nồng nặc mùi mực tàu hảo hạng, mùi giấy dó ủ lâu ngày trong hòm kín và mùi bụi gỗ mục quen thuộc của Ty Danh Tịch Lạc Châu.
Trên chiếc bàn dài làm bằng gỗ nghiến bóng loáng được lau chùi cẩn thận mỗi sáng, anh—trong bộ áo dài bằng vải thô màu xanh xám của một lại viên đối chiếu sổ sách bậc trung—đang thoăn thoắt gạt từng hạt bàn tính bằng gỗ mun đen nhánh. Tiếng lách cách giòn giã của những con tính va vào nhau vang lên đều đặn, hòa cùng tiếng sột soạt của ngòi bút lông lướt trên mặt giấy khi anh tỉ mỉ đối chiếu từng bản khai hộ tịch mới gửi lên với các tập địa bạ lưu trữ thực tế.
Bên tay phải của anh khi ấy, đặt ngay ngắn trên nghiên mực chu sa đỏ thắm, chính là con dấu gỗ thị hình búp sen này. Mỗi khi một trang sổ bến sông được kiểm tra chuẩn xác từng con số, mỗi khi một tờ đinh bạ được chứng thực không sai sót một li, bàn tay rắn rỏi của người lại viên trẻ tuổi lại cầm lấy cán dấu gỗ thị, ấn mạnh xuống nghiên chu sa ướt mềm rồi gõ một tiếng "cộp" đanh gọn, dứt khoát lên góc trên của trang giấy dó.
"Sổ điền Làng Sau Miếu... ba trăm mẫu ruộng... mười bảy hộ đinh..."
Âm thanh thì thào, trầm bổng trong ký ức xa xăm vang vọng mồn một bên tai Khách Vô Danh. Từng chữ, từng con số hiện lên rõ ràng như vừa mới diễn ra ngày hôm qua. Nhưng rồi, khung cảnh êm ả, trật tự và mẫu mực của chốn công đường nha môn bỗng chốc bị xé toạc ra thành từng mảnh vụn bởi một đêm mưa bão kinh hoàng.
Đó là đêm rằm tháng Bảy của năm định mệnh ấy. Mưa tầm tã trút xuống như trút nước, gió bấc gầm rít từng cơn thổi bạt những rặng lau sậy ven thành. Với phận sự của một giám sát viên kho cơ mật được giao giữ chìa khóa ca đêm, anh đã vô tình bắt gặp một cảnh tượng rùng rợn không tưởng ngay tại bến nước ngầm bí mật thuộc quyền quản lý của Ty Danh Tịch.
Dưới ánh đuốc chập chờn bị che khuất một cách lén lút bởi những tấm bạt đen dày cộm ướt sũng nước mưa, hàng chục cỗ xe trâu ngụy trang không hề gắn bất kỳ biển hiệu hay phù hiệu nào của nha môn đang lũ lượt nối đuôi nhau lăn bánh qua cổng phụ. Tiếng bánh xe nghiến ken két trên nền đá ướt át vang lên nặng nề. Trên thùng xe không hề chở ngũ cốc cứu tế, không chở quân lương hay gạch đá công trình, mà chất tầng tầng lớp lớp những chiếc hòm gỗ lớn khóa kín bằng xích sắt hoen gỉ.
Một cỗ xe đi sau cùng bất thần bị trượt bánh vào một hố sụt lầy lội, va đập cực mạnh vào thành đá bờ tường khiến nắp hòm bật tung ra. Trước đôi mắt kinh hoàng của người lại viên đang nép mình sau cột đá, từ trong chiếc hòm vỡ văng tung tóe ra nền đất bùn nhão nhoét những cuốn gia phả bọc da bò cổ xưa, những tấm bài vị tổ tiên bằng gỗ thị, gỗ mít chạm trổ tinh xảo ghi rõ tên họ, chức tước, ngày sinh tháng mất của hàng trăm dòng tộc lâu đời ven sông—từ Làng Sau Miếu, xóm Vạn Phúc cho đến những trại chài nghèo xơ xác tận miệt thượng nguồn xa xôi.
Đứng vây quanh bảo hộ cho đoàn xe ma quái ấy không phải là lính tuần đinh bình thường, mà là những tu sĩ mặc đạo bào màu lam sẫm thêu hoa văn sóng cuộn của Huyền Đăng Môn, phối hợp chặt chẽ cùng đám lính cơ mật bịt mặt của Thủy Sứ quán. Mặt họ lạnh tanh không một chút cảm xúc, ánh mắt sắc lạnh như mắt loài bò sát. Họ không hề có ý định kiểm kê hay ghi chép lại những thứ vương vãi trên mặt đất, mà lạnh lùng vung những chiếc xẻng sắt hất tung bài vị và gia phả trở lại thùng xe, rồi cầm những chiếc bình đồng vẩy lên đó một thứ chất lỏng màu tím đen sền sệt, bốc lên mùi khét lẹt nồng nặc—Linh Tức Tỏa Hồn Dầu.
Đoàn xe đó sau khi rời khỏi bến ngầm không hề tiến về phía các kho lưu trữ hay thư viện công của thành Lạc Châu, mà lầm lũi men theo con đường đê quai số chín heo hút, bí mật tiến thẳng về phía thượng nguồn sông Dạ Thủy—nơi đại công trình Đập Khóa Mạch đang được ngày đêm gấp rút thi công dưới sự giám sát tối cao của các đại phái.
Khách Vô Danh run rẩy nhớ lại mùi vị của đêm mưa định mệnh ấy. Đó không chỉ đơn thuần là mùi bùn non tanh tưởi và mùi nước mưa tầm tã bốc lên từ lòng cống rãnh, mà kinh khiếp hơn cả là mùi khói nung đá vôi nồng nặc, khét lẹt và ngột ngạt xộc ra từ hàng chục lò tôi vôi khổng lồ dựng đứng dưới chân Đập Khóa Mạch. Hàng ngàn hòm gia phả, hàng vạn bài vị tổ tiên và văn tự ruộng đất của cả một vùng dân cư rộng lớn trù phú ven sông đã bị bí mật tập kết về một trạm ngầm ven sông để thiêu hủy thành tro bụi.
Họ đang cướp đoạt danh tính! Họ đang biến tên tuổi, gốc gác và sự tồn tại của hàng nghìn con người sống lẫn người chết thành tro tàn cát bụi để nghiền nát, trộn vào vôi vữa xây đập, nhằm phục vụ cho đại trận phong tỏa vĩnh viễn thủy mạch cõi âm!
"Họ... họ gom bài vị... họ cướp tên của cả một dải bờ sông..."
Khách Vô Danh thốt lên thành từng tiếng nấc nghẹn ngào, giọng nói vỡ òa ra trong một nỗi kinh hoàng tột độ đã bị kìm nén suốt hơn bốn ngàn ngày đêm. Thân thể anh ta run rẩy dữ dội như chiếc lá rách trước cơn cuồng phong, hai bàn tay khẳng khiu nắm chặt lấy con dấu gỗ thị đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra không còn một giọt máu, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến mức ứa máu tươi nhỏ xuống mặt gỗ thị.
"Bình tĩnh! Giữ vững lấy tâm thức của ngươi!" Đỗ Từ Uyên khẽ quát lớn, bàn tay khẳng khiu của bà lập tức vỗ mạnh lên vai anh ta, truyền vào kinh mạch một đạo thanh tâm quyết mát lạnh tựa như dòng suối đầu nguồn để kịp thời ngăn chặn luồng xung động tâm lý cuồng loạn không làm đứt các huyết quản trong não bộ. "Nhìn tiếp đi! Ngươi đã bị bắt như thế nào? Chuyện gì đã xảy ra sau đó?"
Ký ức của người khách lại một lần nữa xoay chuyển cuồng loạn, kéo giật anh ta vào một khoảng không gian tối tăm, lạnh lẽo, ẩm mốc và ngột ngạt đến nghẹt thở.
Đó là một buồng giam ngầm bằng đá xanh ẩm ướt nằm sâu dưới chân thân đê Lạc Châu. Sau cái đêm mưa bão rùng rợn ấy, khi anh lén lút sao chép lại bản nháp sai lệch của các số liệu thuế đất, gom góp một số trang chứng tích bài vị bị thất lạc toan trốn khỏi thành để tìm đường tố cáo lên cấp trên, Ty Phòng Vệ Nội Bộ đã bất ngờ ập vào nhà riêng lúc rạng sáng. Anh bị bắt giữ ngay trên giường ngủ, bị tước đoạt toàn bộ giấy tờ tùy thân, chức vị và bằng cấp; hai cổ tay bị xích chặt bằng khóa chỉ huyền thiết xanh buốt thấu xương tủy, rồi bị ném vào ngục tối không một tia sáng lọt qua khe cửa, chờ đợi ngày bị đưa lên giàn thiêu tước danh bí mật.
Và rồi, đêm định mệnh giải thoát anh đã đến trong màn sương mù mịt.
Cánh cửa sắt nặng nề của buồng giam ngầm khẽ rít lên một tiếng khô khốc, rợn người khi then cài bị bẻ gãy. Một bóng người vạm vỡ, ướt sũng nước sông Dạ Thủy, khoác chiếc áo tơi đan bằng lá cọ rách rưới lặng lẽ bước vào. Người đàn ông đó mang theo hơi lạnh thấu xương của sương đêm bến bãi và một mùi hương vô cùng đặc trưng—mùi dầu cá trắm đen ngâm ngải cứu khô đã phơi qua bảy lượt nắng gắt.
Đó chính là Trình Hoài.
Người khách nhớ rõ mồn một từng đường nét trên khuôn mặt vuông vức góc cạnh, đôi mắt đượm buồn nhưng kiên nghị vô cùng của người chèo đò huyền thoại xứ Bến Lau Tàn. Đêm ấy, Trình Hoài đã dùng chiếc đòn gánh bọc sắt sắc bén bẩy gãy then cài cửa ngục kiên cố, một mình đột nhập vào tận buồng giam sâu nhất dưới lòng đất để tìm anh.
"Cầm lấy cái này," giọng nói trầm đục, ấm áp của Trình Hoài vang vọng trong ký ức. Dù Trình Dạ ở bên ngoài gian phòng không thể nghe thấy được âm sắc thực sự của người cha quá cố, nhưng từng lời nói rành rọt ấy lại được người khách lặp lại từng chữ một bằng thanh âm run rẩy của chính mình: "Đây là vé bảo danh mang thủ ấn bản mệnh của ta. Tấm vé này được làm bằng thứ giấy lau ngâm nước âm chín năm ròng rã. Chừng nào thủ ấn này chưa tan biến, danh tính của cậu còn được giữ lại một tia sinh tức cuối cùng. Đêm nay, ta sẽ đưa cậu vượt sông Dạ Thủy tẩu thoát sang bờ bên kia trước khi toàn bộ trạm đò bị tấn công... Đi theo ta!"
Thế nhưng, chuyến vượt sông định mệnh ấy đã vĩnh viễn không bao giờ có thể cập bến an lành.
Ký ức của người khách vỡ òa ra trong một chuỗi âm thanh hỗn loạn của tiếng nổ kinh thiên động địa và tiếng gào thét man dại. Khi Trình Hoài vừa đưa anh tới trạm đò bí mật nằm ẩn mình ven nhánh sông Chết, một đàn phi tiêu hình lá liễu xé toạc màn sương đêm dày đặc lao vun vút tới. Lửa bốc lên ngùn ngụt, bén nhanh vào mái lợp bằng lá gối hạc khô khốc của trạm đò, biến nơi trú ẩn thành một biển lửa rực đỏ góc trời.
Từ trong những rặng lau sậy rậm rạp xung quanh, hàng chục bóng đen mang mặt nạ chì xám ngoét của Những Kẻ Cắt Danh cùng toán tu sĩ chấp pháp của Huyền Đăng Môn ùa ra như đàn quạ đen ngửi thấy mùi xác chết. Trình Hoài đã vung chiếc đòn gánh bọc sắt và sợi dây đò tẩm dầu, một mình đứng chắn ngang cây cầu gỗ ọp ẹp, chặn đứng toàn bộ vòng vây hung bạo của quân thù. Tiếng gào thét vang trời của Trình Hoài dội vào màng nhĩ anh giữa tiếng sóng nước cuộn trào và tiếng nỏ bắn xé gió:
"Nhảy xuống nước mau! Giữ chặt lấy tấm vé bảo danh! Đừng để chúng đoạt mất tờ giấy lau!..."
Trạm đò bí mật bị đánh sập hoàn toàn trong biển lửa ngút trời và những đợt sóng nước đen ngòm ập lên bờ bến. Tấm vé bảo danh mang thủ ấn bản mệnh kia chưa từng có cơ hội được sử dụng để vượt sông sang Bờ Tịch Danh, bởi vì chuyến đò định mệnh mười hai năm trước đã bị quân địch chặn đứng giữa chừng ngay trên bến đỗ!
Người khách bị trúng một đòn trùy tàn độc từ phía sau lưng, ngã gục xuống lớp bùn lầy ven sông. Anh bị khóa chỉ huyền thiết siết chặt đến tận xương tủy, bị tống giam vào mật thất tối tăm và ngâm thân thể trong Linh Tức Tỏa Hồn Dầu suốt mười hai năm đằng đẵng...
"A!"
Khách Vô Danh hét lên một tiếng thảm thiết, thanh âm như xé toạc cổ họng rồi gục đầu xuống bồ đoàn rơm rạ, hai vai run rẩy, thở dốc từng cơn nặng nhọc như người vừa thoát chết khỏi đáy vực sâu.
Luồng linh quang màu vàng óng từ con dấu gỗ thị từ từ thu nhỏ lại, dịu dàng chìm sâu vào từng thớ da thịt nơi bàn tay anh ta. Bảy ngọn nến thử danh xung quanh dần hạ bớt ngọn lửa xanh biếc, trở về sắc vàng nhạt ấm áp bình thường. Đốm đen hình hoa sen úp ngược trên thái dương anh ta đã mờ đi trông thấy, từ một mảng đen ngòm ghê rợn nay co cụm lại chỉ còn bằng một nốt ruồi xám tro nhỏ như hạt đỗ, hoàn toàn mất đi khả năng cắn nuốt và đe dọa thức hải.
Hơi thở của người khách bắt đầu đều đặn trở lại, lồng ngực phập phồng nhịp nhàng. Trong cõi huyền thuật của việc định danh, một người có thể giữ được sinh tức nhờ vào những điểm neo tạm bợ từ bên ngoài, nhưng chỉ khi khôi phục được ít nhất một mảnh ký ức tự thân thuộc về cuộc đời thực tế của mình, kẻ đó mới có đủ tư cách và sức mạnh nội tại để tự đáp lại lời gọi tha thiết của thế gian. Việc khôi phục lại toàn bộ ký ức về nghề nghiệp lại viên so sổ và bối cảnh bị tước đoạt đã củng cố vững chắc điểm neo sinh mạng của anh ta, ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ phân rã thể xác thành cát bụi.
Thế nhưng, cả Trình Dạ lẫn Đỗ Từ Uyên đều nhận ra một sự thật nghiệt ngã: anh ta vẫn chưa thể nhớ ra được tên riêng trọn vẹn của mình. Cấm thuật phong ấn của Bạch Huyền quá mức thâm sâu và quỷ quyệt; việc nhớ lại nghề nghiệp, chức trách và thảm kịch bị hại chỉ mới là tầng phòng ngự thứ nhất bị phá bỏ. Cái tên thật sự—danh tính cốt lõi linh thiêng nhất nối liền anh ta với dòng máu tổ tiên và gia đình—vẫn còn bị giam giữ chặt chẽ trong một vật chứa bí mật nào đó tại tổng viện Lạc Châu mà chưa thể chạm tới.
"Ta... ta từng là người so sổ của Ty Danh Tịch..." Người khách khó nhọc ngẩng đầu lên khỏi bồ đoàn. Trong đôi mắt sâu hoắm của anh ta lúc này không còn nét đờ đẫn, ngây dại của một kẻ vô danh trôi dạt, mà đã ánh lên sự tỉnh táo đau đớn, trĩu nặng của một con người vừa tỉnh lại sau cơn ác mộng kéo dài suốt mười hai năm trời. "Ta họ Tống... nhưng tên ta... tên thật của ta vẫn còn bị nhốt trong bóng tối..."
"Không sao cả," Trình Dạ tiến lại gần hơn, bàn tay thô ráp của anh đặt lên bờ vai gầy guộc của người khách họ Tống, siết nhẹ một cái đầy vững chãi. "Anh đã nhớ được mình từng làm gì, đã nhớ được những việc bất công mà bản thân phải gánh chịu. Như vậy là đã đủ để đôi chân anh tự đứng vững trên mặt đất này rồi."
Trong khi Trình Dạ và Đỗ Từ Uyên đang đỡ người khách họ Tống ngồi tựa lưng vào vách đá để hồi sức, Lâm Chiêu vẫn đứng chôn chân tại chỗ ở góc đông của gian phòng. Cả thân hình nàng cứng đờ, sắc mặt trắng bệch ra không còn một giọt máu, tựa như một tờ giấy dó vừa bị ngâm qua nước đá lạnh ngắt.
Ánh mắt nàng dán chặt vào cuốn "Nhật Ký Hành Trình Bảo Danh — Bến Lau Tàn" bọc da cá trắm đen bóng mà Đỗ Từ Uyên vừa lấy ra từ chiếc hòm huyền thiết của Trình Hoài, hiện đang được đặt mở rộng trên chiếc bàn đá cẩm thạch cách đó vài bước chân.
Bên cạnh cuốn nhật ký phong trần nhuốm màu sương gió ấy là một xấp văn thư lưu trữ cơ mật của Huyền Đăng Môn mà chính tay Lâm Chiêu đã mang theo bên mình từ tổng viện Lạc Châu khi nhận lệnh xuống bến sông—những bản sao công văn điều động nhân sự, dẹp bỏ các cơ sở ngoại vi và thanh trừng tà vụ trong mười hai năm qua mà nàng từng bí mật thu thập để phục vụ công tác giám sát nội bộ.
Bàn tay Lâm Chiêu run rẩy đến mức mất kiểm soát. Nàng bước từng bước nặng nề như đeo chì tới bên bàn đá, ngón tay run rẩy lật giở từng trang giấy ố vàng.
Trang thứ chín của cuốn nhật ký do chính tay người chèo đò Trình Hoài ghi lại bằng thứ mực tàu pha mật cá trắm đen đặc quánh:
*"Ngày mười chín tháng Bảy, trạm đò bí mật tại nhánh sông Chết bị dẹp bỏ hoàn toàn. Bến bị san phẳng, cọc neo bị nhổ, thuyền bè bị chẻ làm củi đốt. Lệnh triệt hạ ban ra từ cấp cao nhất của Huyền Đăng Môn phối hợp cùng Thủy Sứ quán, lấy danh nghĩa 'thu dọn chướng ngại vật cản trở dòng chảy phục vụ đại tu Đập Khóa Mạch'. Kẻ ký lệnh mang ấn hoa sen ba ngọn lửa..."*
Đôi mắt Lâm Chiêu cay xè, hơi thở dồn dập nghẹn ứ nơi cổ họng. Nàng run rẩy mở tờ công văn điều động cơ mật phủ bụi mười hai năm của Huyền Đăng Môn ra đối chiếu ngay bên cạnh trang nhật ký.
Đó là một bức lệnh điều động mang số hiệu "Trừ Chướng Thất Giáp", ban hành vào đúng ngày mười bảy tháng Bảy của mười hai năm trước. Trên mặt giấy xuyến chỉ vàng đã ngả màu thời gian, dòng chữ son đỏ phê duyệt việc tiêu hủy toàn bộ các bến đò tự quản không có môn bài quanh khu vực chân Đập Khóa Mạch hiện lên rõ mồn một từng nét sắc nhọn:
*"Triệt hạ toàn bộ trạm trung chuyển trái phép. Thu hồi triệt để mọi vật trung gian và chứng tích liên quan đến danh tịch các làng vùng đệm. Kẻ nào cản trở, liệt vào tội nghịch giới phản môn."*
Ở góc dưới bên phải của bức lệnh chết chóc ấy, bên cạnh vết triện sáp đỏ mang hình hoa sen nâng ba ngọn lửa và hoa văn sóng nước xoắn ốc của Huyền Đăng Môn, là một chữ ký phê duyệt bằng mực tím đen.
Nét chữ thanh thoát, sắc sảo như một lưỡi kiếm xé gió qua màn đêm, từng nét phẩy và nét mác đều mang một khí khái đạo mạo, ngạo nghễ và uy nghiêm tuyệt đối—đó chính là thủ bút độc môn không thể nhầm lẫn của người đứng đầu Viện Nghiên Cứu Bảo Danh, người đã nuôi nấng nàng từ thuở còn là một đứa trẻ mồ côi, người đã từng ngày nắn nót chỉ dạy cho nàng từng đường kiếm Chiếu Hồn và từng đạo lý trừ tà vệ đạo.
Một tiếng nấc nghẹn ngào, đau đớn tột cùng bật ra từ sâu trong lồng ngực Lâm Chiêu.
Bàn tay nàng buông thõng. Thanh kiếm Chiếu Hồn trượt khỏi lòng bàn tay, rơi thẳng xuống nền đá hoa cương lạnh ngắt, phát ra một tiếng "keng" chát chúa, chói tai vang vọng khắp gian phòng tịch mịch.
Lâm Chiêu lảo đảo lùi lại nửa bước, tấm lưng mảnh khảnh va mạnh vào kệ sách bằng đá hoa cương phía sau. Hai mắt nàng mở to, đờ đẫn nhìn chằm chằm vào dòng chữ son trên tờ công văn rồi lại nhìn sang cuốn nhật ký vấy máu khô của người chèo đò quá cố. Toàn bộ đức tin thanh cao, toàn bộ lý tưởng mà nàng tôn thờ và dùng cả sinh mạng để cống hiến suốt bao nhiêu năm qua bỗng chốc sụp đổ tan tành thành tro bụi ngay trước mắt, biến thành một nhát dao vô hình đâm xuyên qua tim gan nàng.
Lâm Chiêu ngước khuôn mặt đẫm nước mắt nhìn Trình Dạ, đôi môi run rẩy bàng hoàng thốt lên từng lời cay đắng:
"Người ký lệnh xóa sổ trạm bến năm đó... chính là sư phụ ta."